

















Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG & NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành nội bộ dành cho bậc đại học)
Người biên soạn: TS Phan Thanh Hải Hà Nội 2020 1 HƯỚNG DẪN HỌC 1. Tài liệu học tập:
TS. Phan Thanh Hải (Chủ biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân
văn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PGS,TS. Đỗ Công Tuấn, Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa
học, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
2. Phương pháp học tập:
Học đúng lịch trình của môn học, làm bài tập đầy
đủ và tham gia thảo luận trên lớp.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng
viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Sinh đọc và nghiên cứu trước tài liệu trước khi đến lớp 2 CẤU TRÚC MÔN HỌC Môn học gồm 05 bài
Bài 1. Nhập môn phương pháp nghiên cứu khoa học KHXH &NV
Bài 2. Vấn đề nghiên cứu, xây dựng và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu
Bài 3: Đề tài nghiên cứu khoa học
Bài 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Bài 5: Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu một đề tài khoa học 3 CHƯƠNG II
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG VÀ KIỂM CHỨNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
I. Vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu là những mâu thuẫn nhà nghiên cứu phát hiện
trong quá trình quan sát sự kiện.
Quá trình phát triển nhận thức khoa học của nhân loại thể hiện trong
bước chuyển liên tục: từ đặt vấn đề nghiên cứu đến giải quyết chúng. Nhận
thức và giải quyết những mâu thuẫn tồn tại trong hiện thực là nhiệm vụ của công tác nghiên cứu.
Bản chất của vấn đề nghiên cứu là mâu thuẫn đang đặt ra yêu cầu
nhận thức và giải quyết. Mâu thuẫn được đề cập đến trong vấn đề nghiên
cứu thuộc về khách thể, gắn với khách thể, là cái vốn có của hiện thực khách
quan. Song việc phát hiện ra mâu thuẫn lại thuộc về cảm nhận chủ quan của
nhà nghiên cứu. Mâu thuẫn trong lĩnh vực xã hội hết sức phong phú, tồn tại
muôn hình, muôn vẻ, có thể được che phủ dưới nhiều hình thức khác nhau.
Bản than những mâu thuẫn xã hội cũng thường xuyên vận động theo nhiều
xu hướng. Việc nhận diện mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong đời sống xã hội
đòi hỏi nhà nghiên cứu có cảm quan nhạy bén, tư duy khoa học và trách nhiệm xã hội. 4
Vấn đề nghiên cứu được phát hiện trong quá trình quan sát sự kiện.
Người nghiên cứu có thể thiết lập sự kiện để tiến hành quan sát bằng cách
chọn những sự kiện vốn tồn tại trong xã hội hoặc chủ động tạo ra sự kiện xã
hội bằng con đường thực nghiệm.
Sự kiện là cơ sở tất yếu của khoa học. Song sự kiện biểu hiện ra bên
ngoài là những quan hệ mang tính ngẫu nhiên, hiện tượng. Để nhận thức và
giải quyết chúng cần sự tham gia của tư duy lý luận khoa học.
Trong nghiên cứu khoa học, quan sát có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Quan sát không chỉ nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu mà còn giúp nhà khoa
học xây dựng giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết trong suốt quá trình triển
khai hoạt động nghiên cứu sau này.
Câu hỏi nghiên cứu là hình thức ban đầu của vấn đề nghiên cứu. Câu
hỏi nghiên cứu là biểu hiện của mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của chủ
thể với vốn tri thức đã có; giữa mong muốn của nhà nghiên cứu với những gì
đang diễn ra trong hiện thực. Câu hỏi nghiên cứu biểu hiện nhu cầu nhận
thức và cải tạo xã hội của bản thân nhà nghiên cứu, mang tính chủ quan. Vấn
đề nghiên cứu chỉ có ý nghĩa khi nó phản ánh nhu cầu của xã hội, do thực
tiễn đặt ra, mang tính khách quan.
Trong khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề nghiên cứu biểu hiện là
những mâu thuẫn về nhận thức của giới khoa học trước các hiện tượng xã
hội, về việc xác định phương hướng, cách thức tổ chức quản lý xã hội so với
yêu cầu phát triển của thực tiễn đặt ra. Việc nhận thức và giải quyết vấn đề
nghiên cứu có ý nghĩa thúc đẩy tích cực quá trình phát triển xã hội, phát triển con người.
2. Phương pháp phát hiện vấn đề nghiên cứu
- Phát hiện những “kẽ hở” trong các tài liệu khoa học 5
Tài liệu khoa học là sản phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học. Kết
quả nghiên cứu là những luận giải các vấn đề nghiên cứu cụ thể mà lý luận
và thực tiễn đặt ra trong một điều kiện lịch sử cụ thể. Song thực tiễn vận
động và biến đổi không ngừng. Những kiến giải đó trở nên không phù hợp
hoàn toàn với hiện thực. Tri thức mà tài liệu khoa học ấy chuyển tải không
đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn. Khi những vấn đề của
thực tiễn không thể giải quyết được trong khuôn khổ các lý thuyết hiện có -
vấn đề nghiên cứu cần được xác định. Nghiên cứu tài liệu là phương thức
phát hiện vấn đề nghiên cứu.
Hơn nữa, vấn đề nghiên cứu còn xuất hiện khi những nội dung chưa
được nhận thức và giải quyết trọn vẹn về mặt khoa học trong các tài liệu
khoa học, khi nhà nghiên cứu tham gia phản biện các công trình khoa học của đồng nghiệp.
Tất nhiên, để có thể phát hiện vấn đề nghiên cứu trong quá trình
nghiên cứu tài liệu đòi hỏi nhà khoa học phải phát huy tính phân tích, phản biện của tư duy.
- Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học
Khi tham dự các cuộc tranh luận khoa học, trong hội nghị, hội thảo
hay các buổi tọa đàm khoa học, trước những ý kiến trái chiều cùng bàn về
một vấn đề khoa học, người nghiên cứu có thể nhận dạng vấn đề khoa học
cần được giải quyết thấu đáo và sâu sắc hơn. Tranh luận khoa học là điều
kiện, môi trường tốt cho sự nhận diện vấn đề nghiên cứu và hình thành ý tưởng nghiên cứu.
- Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tiễn
Những khó khăn nảy sinh trong hoạt động sản xuất, tổ chức và quản
lý xã hội không thể sử dụng biện pháp thông thường, hay biện pháp thông
thường không thể đưa lại kết quả mong muốn. Thực tế ấy đặt ra yêu cầu phải 6
thay đổi nhận thức và hành động. Những vấn đề khoa học được phát hiện từ
nhu cầu đổi mới nội dung, phương pháp làm việc trong lĩnh vực công tác
chuyên môn. Song để có thể phát hiện vấn đề nghiên cứu, nhà khoa học cần
có ý thức trách nhiệm cao, tích cực trong lao động, yêu nghề mới có thể
nhận diện những vấn đề khoa học đang tồn tại trong lĩnh vực hoạt động của mình.
- Sự phản ánh của quần chúng nhân dân
Mục đích cao nhất của hoạt động nghiên cứu là hướng đến giải quyết
các vấn đề thực tiễn cuộc sống, tạo nên điều kiện tốt nhất cho sự phát triển
của con người và xã hội. Đối tượng thụ hưởng những thành tựu ấy là quần
chúng nhân dân. Những ý kiến đánh giá về cái đã lạc hậu, sự chưa hợp lý,
chưa toàn vẹn thậm chí là sự sai lầm… trong khi áp dụng các thành tựu
nghiên cứu trước đây luôn là gợi ý tốt nhất cho nhà khoa học về vấn đề nghiên cứu.
Đôi khi vấn đề nghiên cứu xuất hiện khi nhà nghiên cứu lắng nghe ý
kiến phàn nàn của quần chúng nhân dân về những vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống mà họ không đủ am hiểu để lý giải chúng.
- Nghĩ ngược lại những quan niệm thông thường
Tri thức được hình thành trong quá trình phản ánh thực tiễn. Tri thức
có nhiều cấp độ, trình độ và được xác định vị trí tương đối bền vững trong
nhận thức của con người, trở thành những quan niệm thông thường, phổ
biến. Song bên cạnh sự thừa nhận những quan niệm thông thường, nhà khoa
học cần có thái độ hoài nghi khoa học, không tự bằng lòng với những tri
thức đã có, biết lật đi lật lại vấn đề, đặt ra hướng giải quyết khác biệt, đôi khi
là trái ngược với những kiến giải và phương pháp đã được thừa nhận rộng
rãi. Khi ấy, tình huống mâu thuẫn nảy sinh ấy sẽ là điểm khởi đầu cho một
hướng nghiên cứu mới mẻ. 7
Vấn đề nghiên cứu thường tồn tại dưới dạng các câu hỏi nghiên cứu.
Trong nghiên cứu khoa học thường xuất hiện hai lớp vấn đề. Một là, vấn đề
về bản thân sự vật và quy luật vận động của nó. Hai là, vấn đề về phương
pháp tác động vào sự vật hiện tượng. Giải quyết vấn đề sẽ mở ra những khả
năng mới cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Trong khi nhận dạng vấn đề nghiên cứu, ý tưởng nghiên cứu xuất hiện.
3. Ý tưởng nghiên cứu
Ý tưởng nghiên cứu là những phán đoán trực cảm về bản chất hay
phương pháp tác động vào sự vật, hiện tượng hay quá trình. Ý tưởng nghiên
cứu xuất hiện nhanh theo sự cảm nhận, dường như bỏ qua các bước tư duy
logic thong thường, chưa được tổng kết và có căn cứ đầy đủ để nhận thức.
Giải thích và đánh giá sự xuất hiện ý tưởng có những ý kiến khác nhau. Chủ
nghĩa duy tâm tuyệt đối hóa trực giác, cho rằng trực giác nằm ngoài logic
nhận thức, là món quà của thượng đế. Chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngược
lại, khẳng định ý tưởng là kết tinh lao động khoa học không mệt mỏi của con
người, là bước nhảy vọt của tư duy. Ý tưởng khoa học là sản phẩm của quá
trình tích lũy tri thức, quá trình lao động khoa học say mê, kiên trì và sang
tạo. Sẽ không thể có bất kỳ ý tưởng khoa học nào bên ngoài sự nỗ lực lao
động và định hướng khoa học nghiêm túc của con người.
Có thể phân biệt một số loại ý tưởng nghiên cứu:
- Ý tưởng về quy luật là những phán đoán trực cảm mô tả, giải thích
về sự vật hiện tượng, về quy luật vận động của sự vật hiện tượng. Trong lịch
sử khoa học, loại ý tưởng này thường dẫn đến việc phát hiện, phát minh
những hệ tiên đề, nền tảng lý thuyết cho một phương hướng khoa học mới.
- Ý tưởng về giải pháp 8
Đây là những ý tưởng về biện pháp tác động vào sự vật hiện tượng.
Chẳng hạn, Acsimet phát hiện ra nguyên tắc đòn bẩy, ông nảy ra ý tưởng
“nếu cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy được cả trái đất”.
- Ý tưởng về hình mẫu
Sự hình dung một mô hình cụ thể với các tham số xác định. Ý tưởng
này xuất hiện khi người nghiên cứu gặp một tình huống có tính mô phỏng
quá trình mà người nghiên cứu đang quan tâm.
Ý tưởng nghiên cứu thường xuất hiện rất nhanh, đôi khi chỉ là một ý
nghĩ thoáng qua trong tư duy và rất có thể bộ nhớ sinh học của con người sẽ
xóa rất nhanh nếu nó không được ghi nhớ và giao nhiệm vụ tiếp tục xử lý. Ý
tưởng nghiên cứu có vai trò quan trọng trong khoa học. Sự xuất hiện ý tưởng
còn được coi là giai đoạn tiền giả thuyết trong nghiên cứu. Song bản thân ý
tưởng chưa mang ý nghĩa thực tế cho sự phát triển của khoa học. Nó cần
được người nghiên cứu phát triển tư duy để nâng lên một trình độ cao hơn.
Đó là giai đoạn xây dựng giả thuyết nghiên cứu.
4. Thẩm định vấn đề nghiên cứu
Thẩm định vấn đề nghiên cứu là quá trình xem xét nhằm củng cố ý
tưởng nghiên cứu, loại bỏ hướng nghiên cứu không phù hợp để chuẩn bị xây
dựng giả thuyết nghiên cứu.
Các phương pháp thẩm định vấn đề nghiên cứu:
- Thay đổi phương thức quan sát
- Mở rộng phạm vi quan sát - Thu thập tài liệu
- Trao đổi với đồng nghiệp.
Sau khi tiến hành thẩm định vấn đề nghiên cứu, có ba khả năng được
ghi nhận. Một là, vấn đề nghiên cứu được khẳng định, ý tưởng nghiên cứu
được củng cố. Hai là, vấn đề nghiên cứu có thể không tồn tại hoặc đã được 9
giải quyết. Ba là, vấn đề nghiên cứu được xác định là “giả - vấn đề” (pseudo
- problem). Vấn đề nghiên cứu tồn tại nhưng nguyên nhân của nó nằm ngoài
hướng tiếp cận ban đầu. Xét về nguồn gốc, giả - vấn đề xuất hiện có thể do
thế giới quan sai lầm hoặc vấn đề nảy sinh từ tư duy tư biện, phiến diện của
một số học giả. Trong một số trường hợp, giả - vấn đề còn xuât hiện khi ý
tưởng nghiên cứu xuất hiện quá sớm so với điều kiện cho phép để giải quyết
chúng. Chẳng hạn những tiên đoán về vấn đề nghiên cứu có thể xuất hiện
trong tương lai, xa vời so với thời điểm hiện thực đặt vấn đề.
II. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
1. Giả thuyết và phân loại giả thuyết nghiên cứu
a. Giả thuyết khoa học là một kết luận giả định về bản chất, biện pháp
tác động đến một hiện tượng hay một quá trình xã hội đã được đặt ra trong vấn đề nghiên cứu.
Giả thuyết là hình thức độc đáo của tư duy, do người nghiên cứu đặt
ra, theo đó mà xem xét, phân tích kiểm chứng trong suốt quá trình nghiên
cứu. Giả thuyết khoa học trước hết phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của
người nghiên cứu. Thực chất đó là sự phỏng đoán tạm thời, một nhận định
sơ bộ chưa được xác nhận bằng các luận cứ và luận chứng. Nhận định sơ bộ
ấy có thể được khẳng định, điều chỉnh hoặc bác bỏ trong quá trình nghiên cứu.
Tiêu chí để xem xét giả thuyết khoa học:
Một là, giả thuyết phải được xây dựng trên cơ sở quan sát. Người
nghiên cứu dựa trên kết quả quan sát từ các sự vật hiện tượng để hình thành
giả thuyết. Khả năng quan sát hữu hạn các sự kiện cho phép khẳng định bản
chất thống kê của giả thuyết. Mọi ý đồ tuyệt đối hóa giả thuyết đều là sự sai
phạm logic về bản chất quan sát khoa học. 10
Hai là, giả thuyết khoa học không được trái với lý thuyết đã được xác
nhận tính đúng đắn về mặt khoa học. Khi xem xét tiêu chí này, người nghiên
cứu và cơ quan khoa học cần lưu ý ba trường hợp.
- Cần phân biệt lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về mặt
khoa học với những lập luận bị ngộ nhận là lý thuyết đã được xác nhận.
Trường hợp này, giả thuyết khoa học khi được chứng minh và khẳng định
sau quá trình nghiên cứu sẽ thay thế lý thuyết đang tồn tại.
- Có những lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về mặt khoa học
nhưng với sự phát triển của nhận thức khoa học, những giả thuyết này thể
hiện tính chưa hoàn thiện. Trường hợp này giả thuyết mới sẽ bổ sung, phát
triển lý thuyết đang tồn tại.
- Giả thuyết mới mang một ý nghĩa khái quát, lý thuyết đang tồn tại là
một trường hợp riêng của lý thuyết tổng quát được xây dựng từ giả thuyết mới.
Ba là, giả thuyết có thể kiểm chứng bằng lý thuyết hoặc thực nghiệm.
Giới nghiên cứu thừa nhận giả thuyết khoa học có thể kiểm chứng bằng lý
thuyết. Song giả thuyết cần và có thể chứng minh bằng thực nghiệm khoa
học. Tuy nhiên, lịch sử phát triển khoa học cho thấy không phải giả thuyết
nào cũng có thể được chứng minh hoặc bị bác bỏ ngay trong thời đại của nó.
Nhà bác học thời cổ đại Acsimet dùng gương tập trung ánh sáng đốt cháy
các chiến thuyền La mã song đến năm 1939 mới được các nhà khoa học xây
dựng thành lý thuyết khuyếch đại lượng tử, lý thuyết khoa học về tia lade
mới được hình thành và mở đường cho sự phát triển của một khuynh hướng
vận dụng mới. Trong khoa học xã hội, việc kiểm chứng giả thuyết còn khó khăn hơn nhiều.
b. Phân loại giả thuyết 11
- Theo chức năng của nghiên cứu khoa học, người ta chia thành giả
thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết dự báo, giả thuyết giải pháp
Giả thuyết mô tả là giả thuyết về trạng thái tồn tại của một sự vật, hiện tượng hay quá trình.
Giả thuyết giải thích là kết luận giả định về nguyên nhân dẫn đến
trạng thái của sự vật, hiện tượng.
Giả thuyết dự báo là phỏng đoán về trạng thái của sự vật hiện tượng
tạo một thời điểm hoặc một quãng thời gian nào đó trong tương lai.
Giả thuyết giải pháp là những giả thuyết biện pháp, hình mẫu được
nhà nghiên cứu trình bày.
- Theo loại hình nghiên cứu khoa học có giả thuyết về quy luật, giả
thuyết giải pháp hay giả thuyết hình mẫu. Các loại giả thuyết này ứng với
loại hình nghiên cứu cơ bản, loại hình nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu
triển khai thực nghiệm.
2. Vai trò của giả thuyết nghiên cứu
Đặt giả thuyết là công việc quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học.
Không có giả thuyết thì không có nghiên cứu khoa học.
Giả thuyết khoa học định hướng, đặt ra yêu cầu cho quá trình tổ chức
và triển khai hoạt động nghiên cứu. Giả thuyết dẫn đường, giúp nhà khoa
học rút ngắn đoạn đường vòng vô ích. Đồng thời đối với mỗi ngành khoa
học, giả thuyết vạch đường đi cho quá trình nghiên cứu của tập thể khoa học.
Giả thuyết có thể không phù hợp và bị bác bỏ sau quá trình kiểm
chứng. Song thực tế phát triển khoa học đã chứng minh khi từ bỏ một giả
thuyết cũng có nghĩa là đã tiến một bước thực sự sâu thêm vào con đường tìm kiếm chân lý.
3. Các phương pháp xây dựng giả thuyết nghiên cứu 12
Giả thuyết là một kết luận giả định, một nhận định sơ bộ do nhà
nghiên cứu đưa ra về vấn đề nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu là kết quả tư
duy của nhà khoa học. Trên cơ sở phân tích những thông tin thu nhận được
từ quá trình quan sát và dựa trên nền tảng tri thức đã tích lũy, nhà nghiên
cứu rút ra kết luận (phỏng đoán) về bản chất của sự vật, biện pháp tác động
hay hình mẫu về một sự vật hiện tượng hay cách thức tổ chức quản lý mới.
Về mặt logic học, quá trình hình thành giả thuyết thực chất là quá trình suy luận của nhà khoa học.
Suy luận là một hình thức tư duy, từ một hay một số phán đoán mà
tính chân xác đã được công nhận (tiền đề), đưa ra phán đoán mới (kết đề).
Phán đoán mới chính là giả thuyết.
Ba hình thức suy luận đề hình thành giả thuyết là suy luận quy nạp,
suy luận diễn dịch và loại suy.
- Suy luận quy nạp là hình thức suy luận trong đó kết luận là tri thức
chung được khai quát từ những tri thức ít chung hơn.
Nhà bác học Nga Lômônôxốp viết: ta biết rất rõ rằng nhiệt là do
chuyển động gây nên. Hai tay xát vào nhau thì nóng lên, có tia lửa bật ra khi
ta đánh đá vào thép, sắt nóng lên khi ta rèn nó bằng những nhát búa giáng
mạnh... những điều trên đây cho thấy chuyển động là cơ sở tất yếu của nhiệt.
Như vậy, bản chất của nhiệt là ở trong sự chuyển động của các phân tử tạo thành.
Phương pháp xét tất cả các lớp đối tượng nghiên cứu rồi rút ra kết
luận về thuộc tính, tính chất chung của chúng là quy nạp hoàn toàn. Ngược
lại, kết luận thu được bằng cách chỉ xét một số bộ phận của lớp đối tượng
gọi là quy nạp không hoàn toàn. Trong khoa học không phải lúc nào cũng
cho phép chúng ta xem xét tất cả các thành phần của lớp đối tượng nên
phương pháp suy luận quy nạp không hoàn toàn rất cần thiết và có ý nghĩa 13
khoa học, là điều kiện tất yếu của quá trình nhận thức các quy luật của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, tri thức kết luận thu được nhờ suy luận
không hoàn toàn chỉ được tin cậy khi tri thức đó lý giải được các dấu hiệu
bản chất, tất yếu quy định sự tồn tại của sự vật hiện tượng ấy.
- Suy luận diễn dịch
Khi đã có những khái quát về thuộc tính chung của một loại đối
tượng, người ta xây dựng những kết luận (giả định) về các sự vật, hiện tượng
mới trong cùng tập hợp. Đó là diễn dịch.
Diễn dịch trực tiếp là suy luận diễn dịch mà kết luận được rút ra từ
một tiền đề. Có thể thực hiện diễn dịch trực tiếp bằng phép chuyển hóa, phép
đảo ngược hay phép đối lập vị từ. Chẳng hạn, từ luận đề: chúng ta không thể
nâng cao chất lượng giáo dục nếu không xây dựng được đội ngũ giảng viên
đủ tiêu chuẩn, có thể xây dựng thành giả thuyết:
(1) Nếu không có đội ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn thì không thể nâng
cao chất lượng giáo dục.
(2) Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì phải xây dựng đội ngũ
giảng viên đủ tiêu chuẩn.
(3) Nếu có đội ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn thì (mới có thể) nâng cao chất lượng giáo dục.
Diễn dịch gián tiếp là suy luận diễn dịch mà kết luận được rút ra từ
nhiều tiền đề. Trong đó, tam đoạn luận là trường hợp được sử dụng khá phổ biến trong suy luận.
Chẳng hạn: Toàn cầu hóa là xu thế chung của sự phát triển, tác động
một cách mạnh mẽ, sâu rộng tới các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi
quốc gia trên thế giới. Việt Nam xây dựng và phát triển kinh tế trong bối
cảnh toàn cầu hóa. (Do vậy) Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động của toàn cầu hóa. 14
III. Kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu
1. Kiểm chứng giả thuyết và các thành tố của một quá trình kiểm chứng
Một giả thuyết đưa ra cần phải được kiểm chứng dựa trên những căn
cứ khoa học. Kết quả kiểm chứng là sự khẳng định hay phủ định giả thuyết.
Quá trình này gồm ba bộ phận hợp thành.
Luận đề (giả thuyết) là những phán đoán do nhà nghiên cứu đưa ra và
tính chân xác của nó cần được chứng minh hoặc bác bỏ.
Trong nghiên cứu khoa học, luận đề phải được trình bày rõ ràng, xác định và đơn nghĩa.
Luận cứ là những căn cứ, những bằng chứng được đưa ra để chứng
minh (hoặc bác bỏ) luận đề. Tính chân xác của luận cứ đã được công nhận
và được sử dụng làm tiền đề để chứng minh giả thuyết (luận đề) do người
nghiên cứu đặt ra. Có hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn.
Luận cứ lý thuyết là cơ sở lý thuyết khoa học, các luận điểm khoa học,
các định luật, định lý, quy luật mà tính đúng đắn của nó đã được khoa học xác nhận.
Luận cứ thực tiễn là những căn cứ thu được từ quan sát hoặc thực
nghiệm khoa học, bao gồm các số liệu, dữ kiện…
Luận cứ sử dụng để kiểm chứng giả thuyết phải chính xác, có liên hệ
với luận đề và đảm bảo đủ cơ sở để rút ra kết luận cho luận đề.
Luận chứng là cách thức tổ chức, nối kết các luận cư và liên hệ giữa
các luận cứ với luận đề nhằm khẳng định hoặc phủ định luận đề ấy
Luận chứng bao gồm một chuối các phép suy luận khác nhau được
liên kết lại với nhau theo một trật tự xác định. Luận chứng phải thực hiện
theo đúng các quy tắc suy luận.
2. Các phương pháp kiểm chứng giả thuyết 15
a. Chứng minh giả thuyết
Chứng minh là hình thức suy luận trong đó người nghiên cứu dựa vào
những luận cứ để khẳng định tính chân xác của luận đề.
Chứng minh giả thuyết được thực hiện bằng hai cách: chứng minh
trực tiếp và chứng minh gián tiếp.
Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh đựa vào những luận cứ
chân thực và bằng các quy tắc quy luận để khẳng định tính chân xác của một giả thuyết.
Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh trong đó tính chân xác của
luận đề được khẳng định khi nhà nghiên cứu đã chứng minh tính phi chân
xác của phản luận đề. Nghĩa là từ việc khẳng định phản luận đề là giả dối,
nhà nghiên cứu rút ra luận đề là chân thực.
Chứng minh gián tiếp được chia thành hai loại: chứng minh phản
chứng và chứng minh phân liệt.
Chứng minh phản chứng là phép chứng minh trong đó tính chân xác
của giả thuyết được chứng minh bằng tính phi chân xác của phản luận đề,
tức là một giả thuyết đặt ngược lại với giả thuyết ban đầu.
Chứng minh phân liệt là phép chứng minh gián tiếp dựa trên cơ sở
loại bỏ một số luận cứ này để khẳng định những luận cứ khác. Do vậy,
chứng minh phân liệt còn được gọi là chứng minh bằng phương pháp loại
trừ. Phương pháp này rất có ý nghĩa và nhiều sức thuyết phục trong khoa học xã hội.
b. Bác bỏ giả thuyết
Bác bỏ là một hình thức chứng minh nhằm chỉ rõ tính phi chân xác,
sai lầm của một giả thuyết. Bác bỏ giả thuyết được thực hiện khi phủ định cả
ba hoặc một trong ba thành tố cấu thành của quá trình kiểm chứng. 16
Một là, bác bỏ luận đề. Một luận đề (tức một giả thuyết) bị bác bỏ khi
người nghiên cứu chứng minh được rằng luận đề không hội đủ các điều kiện
của một giả thuyết, không thỏa mãn các tiêu chí của một giả thuyết.
Hai là, bác bỏ luận cứ. Nhà nghiên cứu chứng minh rằng luận cứ được
sử dụng để chứng minh luận đề là sai, thiếu luận cứ để rút ra kết luận.
Ba là, bác bỏ luận chứng, vạch rõ tính phi logic, sự vi phạm nguyên tắc trong chứng minh. VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Vấn đề nghiên cứu và các phương pháp phát hiện vấn đề nghiên cứu.
2. Các phương pháp thẩm định vấn đề nghiên cứu và xử lý kết quả thẩm
định vấn đề nghiên cứu.
3. Giả thuyết nghiên cứu và phân loại giả thuyết nghiên cứu.
4. Các phương pháp suy luận xây dựng giả thuyết nghiên cứu.
5. Yêu cầu đối với các thành tố của quá trình kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu.
6. Các phương thức chứng minh giả thuyết nghiên cứu.
7. Thực hành: Thực hiện suy luận quy nạp để xây dựng một giả thuyết nghiên cứu.
8. Thực hành: Thực hiện suy luận diễn dịch để xây dựng một giả thuyết nghiên cứu.
9. Thực hành: Thực hiện suy luận loại suy để xây dựng một giả thuyết nghiên cứu.
10. Nghiên cứu một bài báo khoa học và cho biết luận đề, luận cứ và phương
pháp luận chứng của bài báo khoa học ấy. 17 18