





Preview text:
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ----------
BÀI KIỂM TRA TỰ HỌC SỐ 01
Họ và tên sinh viên: Trần Thị Thúy Quỳnh Mã sinh viên: 2456140037
Lớp tín chỉ: TG01004_1.25_K44.5 Hà Nội, 2025 1
BÀI KIỂM TRA TỰ HỌC SỐ 01
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XH&NV
-------------------------------
Câu 1 (5đ): Anh/chị hãy trình bày chức năng và đặc điểm của hoạt động
nghiên cứu khoa học?
- Khái niệm: Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa
học nhằm tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới,
ứng dụng vào các quá trình xã hội để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần
thoả mãn nhu cầu của con người.
- Đặc điểm:
+ Tính mới và sự kế thừa: Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những
phát hiện mới hoặc sáng tạo những sự vật, những giải pháp quản lý và công
nghệ mới. Biểu hiện tính mới trong nghiên cứu khoa học là sự không chấp nhận
lặp lại về phương pháp, cách tiếp cận hay sản phẩm tạo ra. Con người dù đã đạt
được những thành tựu khoa học vĩ đại thì vẫn không ngừng tìm kiếm và sáng
tạo, liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới trong nhận thức và hiệu quả cải tạo
thế giới. Tính mới không mâu thuẫn mà bao hàm trong nó sự kế thừa những kết
quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước. Thành quả nghiên cứu khoa học
phụ thuộc vào thái độ của nhà khoa học trước những giá trị khoa học mà nhân loại đã sáng tạo ra.
+ Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin: Sản phẩm của
nghiên cứu khoa học là những tri thức thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như bài báo khoa học, mẫu sản phẩm, mô hình sản xuất thí điểm,… song đều
đem đến cho người tiếp nhận những tri thức, thông báo và hiểu biết mới. Thông
tin là nguyên liệu của hoạt động nghiên cứu, là sản phẩm của nghiên cứu khoa
học. Đặc thù này đòi hỏi thông tin trong nghiên cứu phải đạt yêu cầu về sự
khách quan, trung thực, đa chiều và cập nhật. Đồng thời, quá trình nghiên cứu
chỉ có chất lượng khi nhà khoa học có những phẩm chất chính trị, đạo đức và 2
năng lực tư duy lý luận khoa học.
+ Tính mạnh dạn, mạo hiểm: Thất bại hay không thành công trong
nghiên cứu khoa học là điều có thể xảy ra. Thất bại trong nghiên cứu cũng được
xem là kết quả có ý nghĩa, sự thất bại ấy cần được tổng kết, lưu giữ như một tài
liệu khoa học, trở thành bài học kinh nghiệm quý giá cho người đi sau. Đặc
điểm này còn thể hiện ở sự vượt lên trên lối mòn và rào cản tâm lý, đề xuất
những ý tưởng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận mới.
+ Tính phi kinh tế: Lợi ích kinh tế trước mắt không được xem là mục
đích trực tiếp, động lực duy nhất. Tính phi kinh tế trong nghiên cứu khoa học được thể hiện:
● Lao động nghiên cứu khoa học khó định mức một cách chính xác
như trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Trong 1 số trường hợp, lao động khoa học không thể định mức.
● Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như
không thể khấu hao bởi tần suất sử dụng không ổn định.
● Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định.
+ Tính cá nhân và vai trò của tập thể khoa học:
● Trong nghiên cứu, những sáng tạo, những phát minh, sáng chế
luôn gắn với vai trò đột phá của cá nhân, các nhà khoa học đầu đàn. Tính cá
nhân thể hiện trong tư duy và chủ kiến độc đáo của nhà nghiên cứu.
● Trong hoạt động nghiên cứu, cá nhân không thể tách rời tập thể
khoa học. Tập thể khoa học là môi trường nâng đỡ cho sự ra đời ý tưởng mới
của cá nhân, phản biện, hoàn thiện ý tưởng ấy, tập trung trí tuệ thực hiện quá trình nghiên cứu. - Chức năng:
+ Mô tả: Trong nghiên cứu khoa học, sự vật được mô tả chân thực như
sự tồn tại, vận động vốn có của nó. Mô tả giúp con người nhận dạng, phân biệt 3
sự vật hiện tượng ấy với sự vật hiện tượng khác thông qua những dấu hiệu của
nó. Mô tả gồm mô tả định lượng (chỉ rõ đặc trưng về lượng của sự vật) và mô
tả định thức (cho phép nhận thức đặc trưng về chất của sự vật).
+ Giải thích: Giải thích trong nghiên cứu khoa học là lãm rõ căn nguyên
dẫn đến sự hình thành, phát triển và quy luật chi phối quá trình vận động của
sự vật hiện tượng. Trong nghiên cứu khoa học, giải thích bao gồm làm rõ nguồn
gốc, mối quan hệ, sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành sự vật và giữa sự vật
hiện tượng ấy với sự vật hiện tượng khác. Mục đích của giải thích là đưa ra
thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật nhằm nhận thức cả những thuộc tính bên trong sự vật.
+ Tiên đoán, dự báo: nhìn trước quá trình hình thành, sự vận động và
biến đổi của sự vật hiện tượng trong tương lai. Tiên đoán được thực hiện trên
cơ sở mô tả và giải thích. Với phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu,
con người có thể tiên đoán với độ chuẩn xác cao về nhiều hiện tượng, quá trình
diễn ra trong tự nhiên, xã hội. Trong nghiên cứu khoa học, mặc dù thừa nhận
khả năng tiên đoán của con người về sự vật, hiện tượng song chúng ta cần chấp
nhận sự sai lệch nhất định trong chính khả năng ấy.
+ Sáng tạo: làm ra 1 sự vật mới chưa từng tồn tại. Sứ mệnh lớn lao của
khoa học là sáng tạo ra các giải pháp nhằm cải tạo thế giới. Đó có thể là những
phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của con người, có thể là những giải pháp kỹ thuật trong sản xuất, nguyên
lý công nghệ mới, vật liệu hay sản phẩm mới.
Câu 2 (5đ): Anh/chị hãy trình bày phương pháp kiểm chứng giả thuyết
nghiên cứu và yêu cầu cơ bản đối với các thành tố của quá trình kiểm
chứng giả thuyết nghiên cứu?
* Các phương pháp kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu:
- Chứng minh giả thuyết:
+ Là hình thức suy luận trong đó người nghiên cứu dựa vào những luận
cứ để khẳng định tính chân xác của luận đề. 4 + Có 2 cách thực hiện:
● Chứng minh trực tiếp: phép chứng minh dựa vào những luận cứ
chân thực và bằng các quy tắc quy luật để khẳng định tính chân xác của giả thuyết.
● Chứng minh gián tiếp: là phép chứng minh trong đó tính chân xác
của luận đề được khẳng định khi nhà nghiên cứu đã chứng minh tính phi chân
xác của phản luận đề, tức là việc khẳng định phản luận đề là giả dối, nhà nghiên
cứu rút ra luận đề là chân thực. Chứng minh gián tiếp tiếp tục được chia thành 2 loại:
▪ Chứng minh phản chứng: tính chân xác của giả thuyết được
chứng minh bằng tính phi chân xác của phản luận đề, tức là 1 giả thuyết đặt
ngược lại với giả thuyết ban đầu.
▪ Chứng minh phân liệt: chứng minh gián tiếp dựa trên cơ sở
loại bỏ 1 số luận cứ này để khẳng định luận cứ khác. Chứng minh phân liệt còn
được gọi là chứng minh bằng phương pháp loại trừ.
- Bác bỏ giả thuyết:
+ Là hình thức chứng minh nhằm chỉ rõ tính phi chân xác, sai lầm của
1 giả thuyết. Bác bỏ giả thuyết được thực hiện khi phủ định cả 3 hoặc 1 trong
3 thành tố cấu thành của quá trình kiểm chứng.
● Bác bỏ luận đề: 1 luận đề bị bác bỏ khi người nghiên cứu chứng
minh được rằng luận đề không hội tụ đủ các điều kiện của 1 giả thuyết, không
thoả mãn các tiêu chí của một giả thuyết.
● Bác bỏ luận cứ: Nhà nghiên cứu chứng minh rằng luận cứ được sử
dụng để chứng minh luận đề là sai, thiếu luận cứ để rút ra kết luận.
● Bác bỏ luận chứng: vạch rõ tính phi logic, sự vi phạm nguyên tắc trong chứng minh.
* Các yêu cầu cơ bản đối với các thành tố của quá trình kiểm chứng giả
thuyết nghiên cứu: 5
- Một giả thuyết đưa ra cần được kiểm chứng dựa trên những căn cứ khoa
học. Kết quả kiểm chứng là sự khẳng định hay phủ định giả thuyết. Quá trình
này bao gồm 3 bộ phận hợp thành: + Luận đề:
● Là phán đoán do nhà nghiên cứu đưa ra và tính chân thực của nó
cần được chứng minh/ bác bỏ.
● Phải được trình bày rõ ràng, xác định và đơn nghĩa.
● Đúng với văn phong khoa học. + Luận cứ:
● Là những căn cứ, những bằng chứng, phán đoán chân thực, có mối
quan hệ trực tiếp với luận đề, dùng để chứng minh (hoặc bác bỏ) luận đề.
● Tính chân xác của luận cứ được công nhận và sử dụng làm tiền đề chứng minh luận đề. + Luận chứng:
● Là cách thức tổ chức, nối kết các luận cứ và liên hệ giữa các luận
cứ với luận đề nhằm khẳng định/ phủ định luận đề ấy.
● Luận chứng gồm 1 chuỗi các phép suy luận khác nhau được liên
kết theo trật tự xác định.
● Luận chứng phải thực hiện theo đúng các quy tắc suy luận. 6