


















Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG & NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành nội bộ dành cho bậc đại học)
Người biên soạn: TS Phan Thanh Hải Hà Nội 2020 1 HƯỚNG DẪN HỌC 1. Tài liệu học tập:
TS. Phan Thanh Hải (Chủ biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân
văn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PGS,TS. Đỗ Công Tuấn, Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa
học, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
2. Phương pháp học tập:
Học đúng lịch trình của môn học, làm bài tập đầy
đủ và tham gia thảo luận trên lớp.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng
viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Sinh viên đọc và nghiên cứu trước tài liệu trước khi đến lớp 2
II. Tổng quan về khoa học và nghiên cứu khoa học
1. Khoa học và phân loại khoa học
a. Quan niệm về khoa học
Thuật ngữ khoa học xuất hiện sớm và được hiểu theo nghĩa là một
hình thức hoạt động sáng tạo đặc biệt, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống
xã hội. Ở mỗi góc độ tiếp cận, khoa học hàm nghĩa khác nhau.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Sự hình thành, phát triển
của khoa học không tách rời sự hình thành và phát triển của tồn tại xã hội.
Khoa học vừa phản ánh đời sống xã hội, trước hết là đời sống vât chất của
xã hội ấy, vừa có tính vượt trước so với tồn tại xã hội sinh ra nó. Đồng thời
khoa học có tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác trong quá
trình phát triển của chúng.
Khoa học là một hoạt động nghề nghiệp xã hội. Sản phẩm của hoạt
động khoa học là những tri thức về thế giới, về sự cải tiến kỹ thuật công
nghệ, cách thức tổ chức sản xuất. Hoạt động khoa học đòi hỏi phải có một
đội ngũ cán bộ làm khoa học có trình độ chuyên môn cao, có phương pháp
làm việc thực sự chuyên nghiệp.
Khoa học là hệ thống tri thức phản ánh cái bản chất, tính quy luật
của sự vật hiện tượng hay quá trình, hình thành trong lịch sử và không
ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn.
Khoa học là kết quả của quá trình nhận thức, chiếm lĩnh chân lý và
chỉ có ý nghĩa khi chúng được áp dụng vào thực tiễn, làm thay đổi theo
hướng tích cực hơn hiện thực. Quá trình phát triển của khoa học không có giới hạn cuối cùng. 3
b. Phân loại khoa học
Phân loại khoa học là sắp xếp các bộ môn khoa học thành một hệ
thống thứ bậc trên cơ sở những dấu hiệu đặc trưng bản chất của chúng. Việc
phân loại khoa học nhằm nhận dạng cấu trúc của toàn bộ hệ thống tri thức,
xác định vị trí của mỗi bộ môn khoa học và con đường phát triển cho khoa học.
Phân loại khoa học là yêu cầu khách quan cho sự phát triển của
chúng. Trong khi phân loại, giới khoa học thừa nhận vùng giáp ranh giữa
các bộ môn nghiên cứu. Ở đây diễn ra quá trình tích hợp phương pháp luận
để hình thành một môn khoa học mới.
Hơn nữa, quy luật phát triển của khoa học cho phép sự phân lập và
tích hợp khoa học diễn ra. Hiện tượng những khoa học mới được hình thành
(có đối tượng, phương pháp nghiên cứu) trên cơ sở phân lập và tích hợp
khoa học phá vỡ các bảng phân loại các khoa học vốn đã hình thành. Vì vậy,
mọi bảng phân loại khoa học cần được xem là hệ thống mở, luôn được hoàn thiện và phát triển.
Lịch sử phát triển khoa học ghi nhận những bảng phân loại khoa học
khác nhau. Thời cổ đại, Arixtốt đã chia khoa học thành ba loại: khoa học lý
thuyết, khoa học sáng tạo và khoa học thực hành. Thời trung cổ, khoa học
được phân thành thần học, logic học và ngữ pháp. Thời cận đại, Bêcơn lại
chia khoa học thành lịch sử, thơ ca và triết học, Xanhximông chia khoa học
thành vật lý vô cơ, vật lý hữu cơ. Khoa học xã hội là bộ phận của khoa học
tự nhiên - gọi là vật lý xã hội. Hêghen chia khoa học tự nhiên thành ngành
cơ học, ngành hóa học và ngành cơ thể học.
Căn cứ vào các hình thức vận động của vật chất, mối liên hệ, sự
chuyển hóa giữa chúng, Mác - Ăngghen cho rằng sự phân loại khoa học phải
dựa trên nguyên tắc khách quan, dựa vào đối tượng mà nó nghiên cứu và 4
nguyên tắc phối thuộc, tri thức có sau xuất phát từ tri thức có trước và bao
hàm tri thức có trước ấy.
Hiện nay, nhiều quan điểm phân loại khoa học dựa trên cách tiếp cận
khác nhau cùng tồn tại. Chẳng hạn, theo mục đích ứng dụng của khoa học,
người ta phân thành khoa học mô tả, khoa học phân tích, khoa học ứng
dụng, khoa học sáng tạo...Theo mức độ khái quát hóa của khoa học có khoa
học cụ thể, khoa học trừu tượng, khoa học khái quát, khoa học đặc
thù...Theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo có khoa
học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học chuyên môn.
Dựa vào khách thể mà tri thức khoa học phản ánh, xuất phát từ đối
tượng nghiên cứu của khoa học, người ta phân chia thành khoa học tự nhiên,
khoa học kỹ thuật - công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn.
Khoa học xã hội và nhân văn, nghĩa rộng, là một nhóm các ngành
khoa học bao gồm cả khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Khoa học xã
hội nghiên cứu các quan hệ giữa con người với con người, đối tượng nghiên
cứu của khoa học xã hội là những quan hệ con người trong xã hội, điều kiện
sinh hoạt, quá trình vận động của xã hội con người. Khoa học nhân văn được
coi là hệ thống các môn khoa học về con người và những hoạt động tinh
thần của con người, gắn liền với những phương thức đặc thù sang tạo ra các
giá trị văn hóa tinh thần. Đối tượng của khoa học nhân văn chú trọng nhiều
hơn tới những giá trị tinh thần và những hoạt động tinh thần của con người.
Ở Việt Nam hiện nay, dù thừa nhận khoa học xã hội và khoa học
nhân văn vẫn có sự phân biệt nhất định song vẫn được xếp chung vào một
nhóm ngành gọi là khoa học xã hội và nhân văn. Xuất phát điểm của quan
niệm này là bất kỳ một nghiên cứu nào về xã hội (quy luật vận động của xã
hội, của lịch sử…) cuối cùng đều hướng tới con người. Không một nghiên
cứu nào về con người (về những giá trị tinh thần của con người) được coi là 5
khoa học nếu thoát ly xã hội với những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị.
Con người và hoạt động tinh thần của con người không thể tồn tại ở đâu
khác bên ngoài xã hội. Phát triển xã hội không có gì khác là hướng tới một
xã hội nhân văn, giải phóng con người và đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc.
Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học về các quy luật hình thành,
phát triển của xã hội và con người, mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn không chỉ nhằm phát hiện ra các quy luật
khách quan trong quan hệ con người, mà còn phải nắm được cơ chế
vận động của những quy luật, quan hệ này, từ đó xây dựng cơ chế vận
dụng chúng một cách hiệu quả.
Những thành tựu trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tạo
nên nền tảng, cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối chính trị, đường
lối phát triển đất nước. Khoa học xã hội và nhân văn giúp cho việc hình
thành những chính sách, giải pháp tổ chức quản lý xã hội, huy động và khai
thác tiềm lực khoa học vào quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Với ý
nghĩa ấy, bàn về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta chỉ rõ: “khoa học xã hội và nhân văn làm
tốt nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo xu hướng phát
triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển
đất nước trong giai đoạn mới”1
Khoa học xã hội và nhân văn, ngoài những đặc điểm chung, vốn có
của các khoa học, còn có những đặc thù.
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 219 6
Thứ nhất, khoa học xã hội và nhân văn mang tính trừu tượng. Tính
trừu tượng của khoa học xã hội và nhân văn được biểu hiện ở nhiều khía
cạnh. Nhìn tổng thể từ đối tượng, phương pháp cho đến sản phẩm nghiên
cứu đều mang tính đặc thù này.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn là đời sống
tin thần và những quan hệ xã hội của con người. Vấn đề nghiên cứu thường
trừu tượng, chịu ảnh hưởng của những quan hệ phức tạp và khó xác định.
Tính trừu tượng của khoa học xã hội và nhân văn còn thể hiện trong
tính đặc thù của sản phẩm khoa học mà nó tạo ra. Khoa học xã hội và nhân
văn không trực tiếp tạo ra vật phẩm - sản phẩm vật chất cho xã hội. Sản
phẩm của khoa học xã hội và nhân văn chủ yếu là tri thức tồn tại dưới dạng
tinh thần, tư tưởng mặc dù trong điều kiện hiện nay, những nghiên cứu thuộc
ngành khoa học đã chú ý nhiều hơn đến việc sáng tạo những công cụ,
phương tiện quản lý và mô hình thực nghiệm. Sản phẩm khoa học xã hội và
nhân văn khi được áp dụng có thể tạo nên sự thay đổi sâu rộng cho một
ngành, một phương diện của đời sống xã hội. Thậm chí có thể tạo nên sự
thay đổi của một dân tộc, một thời đại.
Tính trừu tượng còn thể hiện trong việc đánh giá giá trị của sản phẩm
khoa học xã hội và nhân văn.Khác với cách thức đánh giá trong khoa học kỹ
thuật và công nghệ, sản phẩm của nghiên cứu trong khoa học xã hội không
thể “cân, đong, đo, đếm” hay định giá theo kiểu thông thường. Tính chính
xác của khoa học xã hội là tính chính xác của quan điểm và phương pháp.
Thứ hai, khoa học xã hội và nhân văn là khoa học có tính giai cấp.
Khoa học xã hội và nhân văn là cơ sở trí tuệ - tinh thần của chế độ và
biểu đạt tư tưởng của chế độ đó. Khoa học xã hội và nhân văn gắn liền với
việc củng cố và phát triển hệ ý thức của xã hội thông qua hệ thống quan
điểm về chính trị, về đạo đức, lối sống… vũ trang nhận thức cho xã hội theo 7
định hướng và mục đích chính trị mà giai cấp cầm quyền cùng thể chế của nó đòi hỏi.
Nhà nghiên cứu hoặc đứng trên lập trường tư tưởng của giai cấp này
hoặc giai cấp khác khi nghiên cứu, lý giải sự vận động của xã hội, vận dụng
quy luật xã hội sao cho đảm bảo cao nhất lợi ích của giai cấp mình.
Tiêu chí kiểm chứng tính chính xác của khoa học xã hội phụ thuộc
rất nhiều vào thái độ của giai cấp cầm quyền đối với sản phẩm của khoa học này.
Thừa nhận tính giai cấp của khoa học xã hội và nhân văn không có
nghĩa là phủ nhận tính dân tộc và nhân loại của nó.
Quan hệ của con người với thiên nhiên cũng như với con người
luôn gắn bó chặt chẽ trong cộng đồng người, bị sự chi phối cộng đồng
mà họ đang sống. Mỗi một quốc gia dân tộc có điều kiện địa lý tự
nhiên riêng, lịch sử truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo, văn
hóa của mình và trình độ phát triển kinh tế xã hội nhất định. Nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn, do vậy luôn gắn bó với các đặc thù
của cộng đồng xã hội nơi nó được nảy sinh và nuôi dưỡng. Khoa học xã
hội và nhân văn là bộ phận của văn hóa, xây dựng trên nền tảng văn hóa của
mỗi dân tộc và chỉ có thể phát triển khi thể hiện sâu sắc tinh thần của dân tộc ấy.
Bên cạnh đó, với tư cách là văn hóa, ý nghĩa nhân bản, nhân văn của
khoa học xã hội có thể vượt ra ngoài biên giới quốc gia, dân tộc, là thành
quả nghiên cứu của nhân loại, vì sự phát triển của nhân loại tiến bộ.
Thứ ba, khoa học xã hội và nhân văn vận động và phát triển trong sự
vận động của các khoa học như một hệ thống chỉnh thể.
Sự giao thoa giữa đối tượng nghiên cứu của các khoa học tạo ra mối
liên kết tất nhiên giữa khoa học xã hội và nhân văn với các khoa học khác 8
trong quá trình nghiên cứu. Điều này thể hiện rõ trong mối quan hệ nội bộ
của các khoa học thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn. Đồng thời sự tương tác,
hợp tác này cũng thể hiện trong mối quan hệ của khoa học xã hội và nhân
văn với các lĩnh vực khoa học khác. Giải quyết nhiệm vụ của mỗi ngành
khoa học đòi hỏi sự hợp tác thường xuyên, liên tục của các khoa học khác
nhau. Do vậy, sự thâm nhập, hỗ trợ, vận dụng phương pháp, kết quả nghiên
cứu của các khoa học là đòi hỏi tất yếu khách quan trong khoa học. Nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn đặt ra yêu cầu sử dụng kiến thức, phương
pháp của khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ. Ngược lại, thành tựu khoa
học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ đạt được lại đặt ra những vấn đề mới
cho khoa học xã hội và nhân văn. Chẳng hạn, thành tựu chinh phục tự nhiên
đang đặt ra các vấn đề như môi trường, bệnh tật, dân số…đòi hỏi khoa học
xã hội và nhân văn giải quyết.
2. Nghiên cứu khoa học a. Khái niệm
Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học
nhằm tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, ứng
dụng vào các quá trình xã hội để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần
mãn nhu cầu của con người.
Chủ thể của hoạt động nghiên cứu là các nhà khoa học có phẩm chất
trí tuệ và năng lực hoạt động nhất định. Bên cạnh yêu cầu chung đối với nhà
khoa học, chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn là
những người xác định rõ mục đích nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên
cứu. Họ hoạt động vì sự phát triển của giai cấp, dân tộc và nhân loại.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất, các
quy luật vận động của thế giới tự nhiên và xã hội, nhằm ứng dụng chúng vào
sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao 9
của con người. Có thể nói, sáng tạo tri thức được coi là mục đích chủ yếu,
tổng quát, quy định các mục đích khác của hoạt động này. Tri thức khoa học
- sản phẩm của quá trình nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn xác định: tính
khách quan, tất yếu và phổ biến, phân biệt với tri thức là kết quả nhận thức
trong các hoạt động khác của con người.
Nghiên cứu khoa học không chỉ đơn thuần để nhận thức thế giới mà
còn nhằm phục vụ lợi ích của con người và xã hội. Để đạt được mục đích ấy,
chủ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Sản phẩm của nghiên
cứu khoa học là những sản phẩm mới, tồn tại dưới sản phẩm vật chất hay
tinh thần, phục vụ đời sống xã hội và không ngừng phát triển.
Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
trước hết là tri thức phản ánh bản chất, quy luật của quan hệ xã hội và các
quá trình xã hội, những phương hướng, biện pháp và mô hình xã hội phục vụ
trực tiếp cho hoạt động tổ chức, quản lý xã hội theo định hướng xác định của mỗi quốc gia.
b. Chức năng của nghiên cứu khoa học - Mô tả
Nhận thức một sự vật hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ mô tả sự
vật hiện tượng ấy. Mô tả sự vật là trình bày bằng ngôn ngữ, hình ảnh về cấu
trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật. Trong nghiên cứu khoa học, sự vật
được mô tả một cách chân thực như sự tồn tại, vận động vốn có của nó. Mô
tả giúp con người nhận dạng, phân biệt sự vật hiện tượng ấy với các sự vật
hiện tượng khác thong qua những dấu hiệu của nó. Mô tả định lượng nhằm
chỉ rõ những đặc trưng về lượng của sự vật. Mô tả định tính cho phép nhận
thức đặc trưng về chất của sự vật ấy. - Giải thích 10
Giải thích trong nghiên cứu khoa học là làm rõ căn nguyên dẫn đến
sự hình thành, phát triển và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật
hiện tượng. Trong nghiên cứu khoa học, giải thích bao gồm làm rõ nguồn
gốc, mối quan hệ, sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành sự vật và giữa sự
vật hiện tượng ấy với các sự vật hiện tượng khác. Mục đích của giải thích là
đưa ra thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật nhằm nhận thức cả những
thuộc tính bên trong của sự vật.
- Tiên đoán, dự báo
Tiên đoán là nhìn trước quá trình hình thành, sự vận động và biến đổi
của sự vật hiện tượng trong tương lai. Tiên đoán được thực hiện trên cơ sở
mô tả và giải thích. Với phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, con
người có thể tiên đoán với độ chuẩn xác cao về nhiều hiện tượng, quá trình
diễn ra trong tự nhiên và xã hội. Những dự báo của khoa học thiên văn, về
những biến cố chính trị - xã hội hay các hiện tượng kinh tế... đã chứng minh
khả năng tiên đoán trong nghiên cứu khoa học.
Trong nghiên cứu khoa học, mặc dù thừa nhận khả năng tiên đoán
của con người về sự vật, hiện tượng song chúng ta cần chấp nhận sự sai lệch
nhất định trong chính khả năng ấy. Sự sai lệch này có nhiều nguyên nhân: do
nhận thức ban đầu về sự vật chưa chuẩn xác, môi trường vận động của sự
vật biến động... Phương pháp luận biện chứng duy vật không cho phép
người nghiên cứu tự thỏa mãn với những tiên đoán hoặc lạm dụng tiên đoán.
Mọi tiên đoán phải được kiểm chứng trong đời sống hiện thực. - Sáng tạo
Sáng tạo là làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại. Sứ mệnh
lớn lao của khoa học là sáng tạo ra các giải pháp nhằm cải tạo thế giới. Giải
pháp ấy có thể là những phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức nhằm 11
nâng cao hiệu quả hoạt động của con người; có thể là những giải pháp kỹ
thuật trong sản xuất, nguyên lý công nghệ mới, vật liệu hay sản phẩm mới.
c. Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học
- Tính mới và sự kế thừa
Tính mới là biểu hiện quan trọng nhất, là thuộc tính số một của lao
động khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện mới
hoặc sáng tạo những sự vật, những giải pháp quản lý và công nghệ mới.
Biểu hiện tính mới trong nghiên cứu khoa học là sự không chấp nhận lặp lại
về phương pháp, cách tiếp cận hay sản phẩm tạo ra. Con người dù đã đạt
được những thành tựu khoa học vĩ đại thì vẫn không ngừng tìm kiếm và
sáng tạo, liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới trong nhận thức và hiệu
quả cải tạo thế giới.
Tính mới không mâu thuẫn mà bao hàm trong nó sự kế thừa những
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước. Thành quả nghiên cứu
khoa học phụ thuộc vào thái độ của nhà khoa học trước những giá trị khoa
học mà nhân loại đã sáng tạo ra.
- Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những tri thức thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như bài báo khoa học, mẫu sản phẩm, mô hình
sản xuất thí điểm… song đều đem đến cho người tiếp nhận những tin tức,
thông báo và hiểu biết mới. Sự gắn bó giữa thông tin - tri thức, tri thức -
thông tin ở hoạt động nghiên cứu khoa học làm nên đặc trưng của hoạt động
này. Thông tin là nguyên liệu của hoạt động nghiên cứu. Thông qua quá
trình xử lý thông tin của tư duy (phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, trừu
tượng hóa…) để hình thành tri thức mới. Khi đưa vào hệ thống lưu chuyển
xã hội, tri thức ấy lại đóng vai trò là thông tin trong một quá trình nghiên
cứu tiếp theo. Do vậy, thông tin cũng là sản phẩm của nghiên cứu khoa học. 12
Đặc thù này đòi hỏi thông tin trong nghiên cứu phải đạt yêu cầu về sự khách
quan, trung thực, đa chiều và cập nhật. Đồng thời, quá trình nghiên cứu chỉ
có chất lượng khi nhà khoa học có những phẩm chất chính trị, đạo đức và
năng lực tư duy lý luận khoa học.
- Tính mạnh dạn, mạo hiểm
Đặc trưng tính mới của hoạt động này đặt ra yêu cầu người nghiên
cứu dám đảm nhận việc những vấn đề nghiên cứu hết sức mới mẻ. Do vậy,
dù cân nhắc đến tính hiệu quả, sự thành công thì người nghiên cứu phải luôn
chấp nhận những rủi ro, khả năng thất bại trong nghiên cứu.Thất bại trong
nghiên cứu có thể do nhiều nguyên nhân với những mức độ khác nhau.
Chẳng hạn như thiếu thông tin và thông tin thiếu tin cậy làm cơ sở cho công
trình nghiên cứu; năng lực thực hiện của nhà khoa học; mức độ đầy đủ và
trình độ kỹ thuật của phương tiện nghiên cứu; các tác nhân bất khả kháng
trong quá trình nghiên cứu… Ngay cả những công trình đã tạo ra sản phẩm
thử nghiệm thành công vẫn chịu những rủi khi áp dụng trong thực tiễn. Thất
bại trong nghiên cứu cũng được xem là kết quả có ý nghĩa. Sự thất bại ấy
cần được tổng kết, lưu giữ như một tài liệu khoa học, trở thành bài học kinh
nghiệm quý giá cho đồng nghiệp đi sau, tránh lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, sự mạnh dạn mạo hiểm còn thể hiện
ở sự vượt lên trên lối mòn và rào cản tâm lý, đề xuất những ý tưởng nghiên
cứu, phương pháp tiệm cận mới. Đôi khi một số ý tưởng nghiên cứu được đề
xuất không phải bao giờ cũng dễ dàng được ủng hộ, chấp nhận ngay. C. Mác
từng nhận định: đối với khoa học không có con đường nào bằng phẳng thênh
thang cả, chỉ có những con người không sợ mỏi gối chồn chân để trèo lên
những con đường nhỏ bé gập ghềnh của khoa học thì mới có hy vọng đạt tới
đỉnh cao sán lạnh của khoa học mà thôi. Lịch sử khoa học thế giới ghi nhận 13
những tấm gương như Galilê, Côpecnic… Hơn bất kỳ một lĩnh vực nào,
hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động mang tính mạnh dạn, mạo
hiểm. Song hoạt động này cũng đòi hỏi nhà khoa học phải biết cân nhắc, tìm
ra những vấn đề mang tính bản chất, phương pháp hiệu quả và hướng triển khai khả thi. - Tính phi kinh tế
Mục đích của nghiên cứu khoa học là giải phóng sức lao động, nâng
cao hiệu quả chinh phục tự nhiên và tổ chức quản lý, phát triển kinh tế xã
hội. Song trong nghiên cứu khoa học, lợi ích kinh tế trước mắt không được
xem là mục đích trực tiếp, động lực duy nhất.
Tính phi kinh tế trong nghiên cứu khoa học thể hiện:
+ Lao động nghiên cứu khoa học khó định mức một cách chính xác
như trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Trong một số trường hợp, lao động
khoa học không thể định mức.
+ Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như
không thể khấu hao bởi tần suất sử dụng không ổn định. Tốc độ hao mòn vô
hình luôn vượt trước xa so với hao mòn hữu hình. Chẳng hạn một thiết bị thí
nghiệm có thể chưa hao mòn hữu hình thì đã trở nên lỗi thời về kỹ thuật.
+ Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác
định. Ngay cả những kết quả nghiên cứu về kỹ thuật có giá trị mua bán cao
trên thị trường song vẫn có thể không được áp dụng bởi lý do thuần thúy xã hội.
Hơn nữa, trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, hiệu quả kinh
tế của công trình trình nghiên cứu không dễ xác định ngay và rõ ràng. Nhiều
công trình nghiên cứu sau khi áp dụng, có thể đem lại sự thay đổi to lớn cho
xã hội, song điều đó chỉ có thể nhận thấy qua thời gian dài hay khi xem xét
một cách trừu tượng cả quá trình phát triển. 14
- Tính cá nhân và vai trò của tập thể khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một dạng lao động xã hội. Vai trò
của tập thể khoa học được khẳng định. Song, trong nghiên cứu, những sáng
tạo mới, những phát minh, sáng chế luôn gắn với vai trò đột phá của cá
nhân, của các nhà khoa học đầu đàn. Tính cá nhân thể hiện trong tư duy và
chủ kiến độc đáo của nhà nghiên cứu.
Uy tín của nhà khoa học được xem xét thông qua tập hợp các tiêu chí
định tính và định lượng thể hiện phẩm chất, năng lực, sức cống hiến của một
nhà khoa học cho nhân loại. Các tiêu chí đó bao gồm: số lượng và chất
lượng công trình nghiên cứu đã hoàn thành, được công bố hay áp dụng; Số
lượng, chất lượng và trình độ học vấn các học viên do nhà khoa học đào tạo…
Trong hoạt động nghiên cứu, cá nhân không tách rời tập thể khoa
học. Tập thể khoa học là môi trường nâng đỡ cho sự ra đời ý tưởng mới của
cá nhân, phản biện, hoàn thiện ý tưởng ấy, tập trung trí tuệ thực hiện quá
trình nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên trên thế giới, hình thành trung tâm
nghiên cứu lớn, từng bước chuyên môn hóa quá trình nghiên cứu trở thành
khuynh hướng cho sự phát triển khoa học.
III. Loại hình nghiên cứu khoa học
Loại hình nghiên cứu khoa học là khái niệm dung để chỉ tập hợp của
những công trình nghiên cứu được phân loại theo một cách thức nhất định.
Xuất phát từ sự phân chia các ngành khoa học, người ta phân chia công trình
khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau. Chẳng hạn, công trình
nghiên cứu thuộc ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hay khoa học kỹ thuật - công nghệ. 15
Dựa vào nhóm giải pháp mà nhà khoa học đề xuất nghiêng về lý
thuyết hay thực nghiệm, người ta chia các công trình nghiên cứu thành hai
loại: công trình nghiên cứu lý thuyết và công trình nghiên cứu thực nghiệm.
Căn cứ vào mục tiêu mà công trình nghiên cứu đề ra và thực hiện, ba
loại hình nghiên cứu được xác định là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng
dụng và nghiên cứu triển khai - thực nghiệm.
1. Nghiên cứu cơ bản (fundamental research)
Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất và
quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình.
Kết quả của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, phát kiến,
kết luận về tính quy luật, những định lý, định luật…. Trên cơ sở nghiên cứu
cơ bản, ngưởi nghiên cứu trình bày những phát hiện, phát kiến, phát minh.
Chẳng hạn, định luật về sức nâng của nước do Acsimet khám phá, phát hiện
châu Mỹ của Critxtôp Côlômbô và nhiều quy luật do nhiều nhà khoa học xã hội công bố.
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thường dẫn đến một hệ thống lý
thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tác
động của những phát kiến ấy thường vượt qua giới hạn nhận thức về một
lĩnh vực, phạm vi mà nó nghiên cứu. Chẳng hạn, những tác động của định
luật vạn vật hấp dẫn do Niutơn phát minh, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị
trường (Ađam Smith) hay quy luật giá trị thặng dư của C. Mac ở những
mức độ khác nhau trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người.
Nghiên cứu cơ bản gồm hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần túy và
nghiên cứu cơ bản định hướng.
Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu đơn thuần là nhằm
mục đích phát hiện ra bản chất, quy luật tồn tại, phát triển của sự vật hiện 16
tượng mà chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng của nghiên cứu ấy. Những nghiên
cứu cơ bản thuần túy nhằm mở rộng và nâng cao nhận thức của con người.
Nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu hướng tới mục
đích ứng dụng nhất định, dự kiến phạm vi và mức độ ứng dụng khi nghiên
cứu ấy thành công. Nghiên cứu cơ bản định hướng không chỉ dẫn đến những
cơ sở lý thuyết quan trọng mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý
nghĩa lớn lao trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
2. Nghiên cứu ứng dụng (applied research)
Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng kết quả của nghiên cứu cơ bản
(những định luật, định lý, quy luật…), thường là nghiên cứu cơ bản định
hướng để tìm ra nguyên lý về các giải pháp ứng dụng trong môi trường tồn
tại của sự vật, hiện tượng hay quá trình.
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là giải pháp về vật liệu,
công nghệ trong khoa học kỹ thuật hay giải pháp về tổ chức, quản lý trong khoa học xã hội.
Dù là kết quả của loại hình nghiên cứu có tên là nghiên cứu ứng
dụng nhưng kết quả của nó lại chưa ứng dụng được ngay. Để đưa kết quả
nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế cần tiến hành loại hình
nghiên cứu triển khai - thực nghiệm.
3. Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm (development reseach)
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm là loại hình nghiên cứu vận
dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý giải
pháp (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra những hình mẫu về một phương
diện kỹ thuật mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới với tính khả thi cao nhất cho
hoạt động thực tiễn của con người.
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm bao gồm cả quá trình thiết kế kỹ
thuật (thử nghiệm) và mô hình thử nghiệm. Nghiên cứu triển khai - thực 17
nghiệm được chia thành hai giai đoạn: triển khai trong phòng và triển khai bán đại trà.
Triển khai trong phòng hướng vào việc áp dụng nguyên lý giải pháp
để tạo ra cho được sản phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Triển khai bán đại trà là dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết
về một hình mẫu trên một quy mô nhất định, xác định điều kiện cần và đủ để
mở rộng phạm vi áp dụng, triển khai đại trà.
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm trong khoa học xã hội đem lại ý
nghĩa lớn lao trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng mô hình quản lý các
phương diện xã hội một cách hiệu quả.
4. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu và thực tiễn
Các loại hình nghiên cứu khoa học có mối quan hệ biện chứng, thống
nhất trong chỉnh thể hoạt động khoa học của mỗi ngành, mỗi quốc gia. Việc
phân chia các loại hình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cho định hướng và
xây dựng chính sách phát triển khoa học của mối ngành, mỗi quốc gia ấy.
Các loại hình nghiên cứu khoa học liên hệ với nhau theo trình tự:
nghiên cứu cơ bản - nghiên cứu ứng dụng - nghiên cứu triển khai, thực
nghiệm. Trong đó, kết quả nghiên cứu của loại hình trước là cơ sở, tiền đề,
điều kiện cho sự bắt đầu của loại hình nghiên cứu sau đó. Đồng thời, nghiên
cứu khoa học có mối quan hệ không thể tách rời với hoạt động thực tiễn bởi
suy đến cùng, mọi nghiên cứu đều hướng tới phát triển các phương diện hoạt
động thực tiễn của con người.
Mỗi đề tài khoa học, xét mục tiêu chính của nó đều thuộc một loại
hình nghiên cứu khoa học xác định. Song trong chính mỗi đề tài nghiên cứu,
sự xuất hiện của trật tự logic nội dung bao giờ cũng thể hiện đầy đủ các loại
hình nghiên cứu nêu trên ở các mức độ khác nhau. Chính đặc điểm này cho 18
phép chúng ta hiểu sự phân chia loại hình nghiên cứu khoa học chỉ là tương đối. VẤN ĐỀ ÔN TẬP 1.
Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học. 2.
Bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học và chức năng của nghiên cứu khoa học. 3.
Đặc điểm cơ bản của nghiên cứu khoa học và ý nghĩa rút ra đối
với bản thân hiện nay và khi trở thành nhà khoa học. 4.
Đặc thù trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. 5.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu cơ bản trong sự phát
triển khoa học và đời sống xã hội. 6.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu ứng dụng trong sự
phát triển khoa học và đời sống xã hội. 7.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu triển khai - thực
nghiệm trong sự phát triển khoa học và xã hội. 8.
Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học và thực tiễn. 19