1
HC VIN O CHÍ VÀ TUYÊN TRUYN
KHOA GIÁO DC ĐI CƯƠNG & NGHIP V SƯ PHM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
KHOA HC XÃ HI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành ni b dành cho bc đi hc)
Ngưi biên son: TS Phan Thanh Hi
Hà Ni 2020
2
HƯNG DN HC
1. Tài liu hc tp:
TS. Phan Thanh Hi (Ch biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cu Khoa hc xã hi và Nhân
văn, Hc vin Báo chí và Tuyên truyn
PGS,TS. Đ Công Tun, Lý lun và phương pháp
nghiên cu khoa hc
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cu khoa
hc, Nxb. Khoa hc K thut, Hà Ni.
2. Phương pháp hc tp:
Hc đúng lch trình ca môn hc, làm bài tp đy
đ và tham gia tho lun trên lp.
Sinh viên làm vic theo nhóm và trao đi vi ging
viên trc tip ti lp hc hoc qua email.
Sinh viên đc và nghiên cu trưc tài liu trưc khi
đn lp
3
II. Tổng quan về khoa học và nghiên cứu khoa học
1. Khoa học và phân loại khoa học
a. Quan niệm về khoa học
Thuật ngữ khoa học xuất hiện sớm được hiểu theo nghĩa một
hình thức hot động sáng to đc biệt, chim v trí quan trọng trong đời sống
xã hội. Ở mỗi góc độ tip cận, khoa học hàm nghĩa khác nhau.
Khoa học một hình thái ý thức xã hội. S hình thành, phát triển
của khoa học không tách rời s hình thành phát triển của tồn ti hội.
Khoa học vừa phản ánh đời sống hội, trước ht đời sống vât chất của
hội ấy, vừa tính vượt trước so với tồn ti hội sinh ra nó. Đồng thời
khoa học tác động qua li với các hình thái ý thức hội khác trong quá
trình phát triển của chúng.
Khoa học một hoạt động nghề nghiệp hội. Sản phẩm của hot
động khoa học những tri thức về th giới, về s cải tin kỹ thuật công
nghệ, cách thức t chức sản xuất. Hot động khoa học đòi hỏi phải một
đội ngũ cán bộ làm khoa học trình độ chuyên môn cao, phương pháp
làm việc thc s chuyên nghiệp.
Khoa học hệ thống tri thức phản ánh i bản chất, tính quy luật
của sự vật hiện tượng hay quá trình, hình thành trong lịch sử không
ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn.
Khoa học kt quả của quá trình nhận thức, chim lĩnh chân
chỉ ý nghĩa khi chúng được áp dụng vào thc tiễn, làm thay đi theo
hướng tích cc hơn hiện thc. Quá trình phát triển của khoa học không
giới hn cuối cùng.
4
b. Phân loại khoa học
Phân loi khoa học sắp xp c bộ n khoa học thành một hệ
thống thứ bậc trên cơ sở những dấu hiệu đc trưng bản chất của chúng. Việc
phân loi khoa học nhằm nhận dng cấu trúc của toàn bộ hệ thống tri thức,
xác đnh v trí của mỗi bộ môn khoa học con đường phát triển cho khoa
học.
Phân loi khoa học yêu cu khách quan cho s phát triển của
chúng. Trong khi phân loi, giới khoa học thừa nhận vùng giáp ranh giữa
các bộ môn nghiên cứu. đây diễn ra quá trình tích hợp phương pháp luận
để hình thành một môn khoa học mới.
Hơn nữa, quy luật phát triển của khoa học cho phép s phân lập
tích hợp khoa học diễn ra. Hiện tượng những khoa học mới được hình thành
(có đối tượng, phương pháp nghiên cứu) trên s phân lp tích hp
khoa hc phá vỡ các bảng phân loi các khoa học vốn đã hình thành. Vì vậy,
mọi bảng phân loi khoa học cn được xem hệ thống mở, luôn được hoàn
thiện và phát triển.
Lch sphát triển khoa học ghi nhận những bảng phân loi khoa học
khác nhau. Thời c đi, Arixtốt đã chia khoa học thành ba loi: khoa học
thuyt, khoa học sáng to khoa học thc hành. Thời trung c, khoa học
được phân thành thn học, logic học và ngữ pháp. Thời cận đi, Bêcơn li
chia khoa học thành lch sử, thơ ca trit học, Xanhximông chia khoa học
thành vật , vật lý hữu . Khoa học hội bộ phận của khoa học
t nhiên - gọi vật lý hội. Hêghen chia khoa học t nhiên thành ngành
cơ học, ngành hóa học và ngành cơ thể học.
Căn cứ vào các hình thức vận động của vật chất, mối liên hệ, s
chuyển hóa giữa chúng, Mác - Ăngghen cho rằng s phân loi khoa học phải
da trên nguyên tắc khách quan, da vào đối tượng nghiên cứu
5
nguyên tắc phối thuộc, tri thức sau xuất phát ttri thức trước bao
hàm tri thức có trước ấy.
Hiện nay, nhiều quan điểm phân loi khoa học da trên cách tip cận
khác nhau cùng tồn ti. Chẳng hn, theo mục đích ứng dụng của khoa học,
người ta phân thành khoa học tả, khoa học phân tích, khoa học ứng
dụng, khoa học sáng to...Theo mức độ khái quát hóa của khoa học khoa
học cụ thể, khoa học trừu tượng, khoa học khái quát, khoa học đc
thù...Theo cấu của hệ thống tri thức hoc chương trình đào to khoa
học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học chuyên môn.
Da vào khách thể tri thức khoa học phản ánh, xuất phát từ đối
tượng nghiên cứu của khoa học, người ta phân chia thành khoa học t nhiên,
khoa học kỹ thuật - công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn.
Khoa học hội nhân n, nghĩa rộng, một nhóm các ngành
khoa học bao gồm cả khoa học hội khoa học nhân văn. Khoa học
hội nghiên cứu các quan hệ giữa con người với con người, đối tượng nghiên
cứu của khoa học hội những quan hệ con người trong hội, điều kiện
sinh hot, quá trình vận động của xã hội con người. Khoa học nhân văn được
coi hệ thống các môn khoa học về con người và những hot động tinh
thn của con người, gắn liền với những phương thức đc thù sang to ra các
giá tr văn hóa tinh thn. Đối tượng của khoa học nhân văn chú trọng nhiều
hơn tới những giá tr tinh thn và những hot động tinh thn của con người.
Việt Nam hiện nay, thừa nhận khoa học hội khoa học
nhân văn vẫn s phân biệt nhất đnh song vẫn được xp chung vào một
nhóm ngành gọi khoa học hội nhân văn. Xuất phát điểm của quan
niệm này bất kỳ một nghiên cứu nào vhội (quy luật vận động của xã
hội, của lch sử…) cuối cùng đều hướng tới con người. Không một nghiên
cứu nào về con người (về những giá tr tinh thn của con người) được coi
6
khoa học nu thoát ly xã hội với những điều kiện lch sử, kinh t, chính tr.
Con người hot động tinh thn của con người không thể tồn ti đâu
khác bên ngoài hội. Phát triển hội không khác hướng tới một
hội nhân văn, giải phóng con người đem li cho con người cuộc sống
hnh phúc.
Khoa học xã hội nhân văn là khoa học v các quy lut hình thành,
phát trin ca hội con người, mi quan h giữa con người vi con
ngưi, giữa con người với môi trường t nhiên hi. Nghiên cu khoa
hc xã hi và nhân văn không ch nhm phát hin ra các quy lut
khách quan trong quan h con ngưi, mà còn phi nm đưc cơ ch
vn đng ca nhng quy lut, quan h này, t đó xây dng cơ ch vn
dng chúng mt cách hiu qu.
Những thành tu trong nghiên cứu khoa học hội nhân văn to
nên nền tảng, cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối chính tr, đường
lối phát triển đất nước. Khoa học hội nhân văn giúp cho việc hình
thành những chính sách, giải pháp t chức quản hội, huy động khai
thác tiềm lc khoa học vào quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Với ý
nghĩa ấy, bàn về phương hướng phát triển khoa học công nghệ Việt Nam
trong giai đon hiện nay, Đảng ta chỉ rõ: “khoa học hội nhân văn làm
tốt nhiệm vụ tng kt thc tiễn, nghiên cứu luận, dbáo xu hướng phát
triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dng đường lối, chính sách phát triển
đất nước trong giai đon mới
1
Khoa hc hội nhân văn, ngoài những đc điểm chung, vn
ca các khoa hc, còn có những đc thù.
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đi hội đi biểu toàn quốc ln thứ XI, Nxb Chính tr quốc gia, Hà
Nội, tr 219
7
Th nht, khoa hc hội nhân văn mang tính trừu ng. Tính
trừu tượng của khoa học hội nhân văn được biểu hiện nhiều khía
cnh. Nhìn tng thể từ đối tượng, phương pháp cho đn sản phẩm nghiên
cứu đều mang tính đc thù này.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học hội nhân văn đời sống
tin thn những quan hệ hội của con người. Vấn đề nghiên cứu thường
trừu tượng, chu ảnh hưởng của những quan hệ phức tp và khó xác đnh.
Tính trừu tượng của khoa học hội nhân văn còn thể hiện trong
tính đc thù của sản phẩm khoa học to ra. Khoa học hội nhân
văn không trc tip to ra vật phẩm - sản phẩm vật chất cho hội. Sản
phẩm của khoa học hội nhân văn chủ yu tri thức tồn ti dưới dng
tinh thn, tư tưởng mc dù trong điều kiện hiện nay, những nghiên cứu thuộc
ngành khoa học đã chú ý nhiều hơn đn việc sáng to những công cụ,
phương tiện quản hình thc nghiệm. Sản phẩm khoa học hội
nhân văn khi được áp dụng thể to nên s thay đi sâu rộng cho một
ngành, một phương diện của đời sống hội. Thậm chí có thể to nên s
thay đi của một dân tộc, một thời đi.
Tính trừu tượng còn thể hiện trong việc đánh giá giá tr của sản phẩm
khoa học hội nhân văn.Khác với cách thức đánh giá trong khoa học kỹ
thuật và công nghệ, sản phẩm của nghiên cứu trong khoa học hội không
thể “cân, đong, đo, đm” hay đnh giá theo kiểu thông thường. Tính chính
xác của khoa học xã hội là tính chính xác của quan điểm và phương pháp.
Thứ hai, khoa học xã hội và nhân văn là khoa học có tính giai cấp.
Khoa học xã hội và nhân văn là cơ sở trí tuệ - tinh thn của ch độ và
biểu đt tưởng của ch độ đó. Khoa học hội nhân văn gắn liền với
việc củng cố phát triển hệ ý thức của hội thông qua hệ thống quan
điểm về chính tr, về đo đức, lối sống… vũ trang nhận thức cho hội theo
8
đnh hướng mục đích chính tr giai cấp cm quyền cùng thể ch của
nó đòi hỏi.
Nhà nghiên cứu hoc đứng trên lập trường tưởng của giai cấp này
hoc giai cấp khác khi nghiên cứu, giải s vận động của hội, vận dụng
quy luật xã hội sao cho đảm bảo cao nhất lợi ích của giai cấp mình.
Tiêu chí kiểm chứng tính chính xác của khoa học hội phụ thuộc
rất nhiều vào thái độ của giai cấp cm quyền đối với sản phẩm của khoa học
này.
Thừa nhận tính giai cấp của khoa học hội nhân văn không
nghĩa là phủ nhận tính dân tộc và nhân loi của nó.
Quan h ca con ngưi vi thiên nhiên cũng như vi con ngưi
luôn gn bó cht ch trong cng đng ngưi, b s chi phi cng đng
mà h đang sng. Mi mt quc gia dân tc có điu kin đa lý t
nhiên riêng, lch s truyn thng, phong tc tp quán, tôn giáo, văn
hóa ca mình và trình đ phát trin kinh t xã hi nht đnh. Nghiên
cu khoa hc xã hi và nhân văn, do vy luôn gn bó vi các đc thù
ca cng đng xã hi nơi nó đưc ny sinh và nuôi dưng. Khoa học xã
hội và nhân văn là bộ phận của văn hóa, xây dng trên nền tảng văn hóa của
mỗi dân tộc và chỉ có thể phát triển khi thể hiện sâu sắc tinh thn của dân tộc
ấy.
Bên cnh đó, với cách là văn hóa, ý nghĩa nhân bản, nhân văn của
khoa học xã hội thể vượt ra ngoài biên giới quốc gia, dân tộc, thành
quả nghiên cứu của nhân loi, vì s phát triển của nhân loi tin bộ.
Thứ ba, khoa học xã hội và nhân văn vận động và phát triển trong sự
vận động của các khoa học như một hệ thống chỉnh thể.
S giao thoa giữa đối tượng nghiên cứu của các khoa học to ra mối
liên kt tất nhiên giữa khoa học hội nhân văn với các khoa học khác
9
trong quá trình nghiên cứu. Điều này thể hiện trong mối quan hệ nội bộ
của các khoa học thuộc lĩnh vc xã hội và nhân văn. Đồng thời s tương tác,
hợp tác này cũng thể hiện trong mối quan hệ của khoa học hội nhân
văn với các lĩnh vc khoa học khác. Giải quyt nhiệm vụ của mỗi ngành
khoa học đòi hỏi shợp tác thường xuyên, liên tục của các khoa học khác
nhau. Do vậy, s thâm nhập, hỗ trợ, vận dụng phương pháp, kt quả nghiên
cứu của các khoa học đòi hỏi tất yu khách quan trong khoa học. Nghiên
cứu khoa học hội nhân văn đt ra yêu cu sử dụng kin thức, phương
pháp của khoa học t nhiên, kỹ thuật công nghệ. Ngược li, thành tu khoa
học t nhiên, kỹ thuật công nghệ đt được li đt ra những vấn đề mới
cho khoa học hội nhân văn. Chẳng hn, thành tu chinh phục t nhiên
đang đt ra các vấn đề như môi trường, bệnh tật, dân số…đòi hỏi khoa học
xã hội và nhân văn giải quyt.
2. Nghiên cứu khoa học
a. Khái niệm
Nghiên cứu khoa học hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học
nhằm tìm tòi, khám phá bản chất các quy luật vận động của thế giới, ứng
dụng vào các quá trình hội để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần
mãn nhu cầu của con người.
Ch th của hot động nghiên cu các nhà khoa hc phm cht
trí tu và năng lc hot động nhất đnh. Bên cnh yêu cu chung đối với nhà
khoa học, chủ thể của hot động nghiên cứu khoa học hội nhân văn
những người xác đnh mục đích nghiên cứu ứng dụng kt quả nghiên
cứu. Họ hot động vì s phát triển của giai cấp, dân tộc và nhân loi.
Mục đích của nghiên cu khoa hc là tìm tòi, khám phá bản chất, các
quy lut vận động ca th gii t nhiên và xã hi, nhm ng dng chúng vào
sn xut hay to ra nhng giá tr tinh thn, tho mãn nhu cu ngày càng cao
10
ca con người. thể nói, sáng to tri thức được coi mục đích chủ yu,
tng quát, quy đnh các mục đích khác của hot động này. Tri thức khoa học
- sản phẩm của quá trình nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn xác đnh: tính
khách quan, tất yu ph bin, phân biệt với tri thức kt quả nhận thức
trong các hot động khác của con người.
Nghiên cu khoa hc không ch đơn thun đ nhn thc th gii
còn nhm phc v li ích ca con người và xã hội. Để đt được mục đích ấy,
chủ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Sản phm ca nghiên
cu khoa học là những sn phm mới, tồn ti dưới sản phẩm vật chất hay
tinh thn, phục vụ đời sống xã hội và không ngừng phát triển.
Sản phẩm của hot động nghiên cứu khoa học hội nhân văn
trước ht tri thức phản ánh bản chất, quy luật của quan hệ hội các
quá trình xã hội, những phương hướng, biện pháp và mô hình xã hội phục vụ
trc tip cho hot động t chức, quản lý xã hội theo đnh hướng xác đnh của
mỗi quốc gia.
b. Chức năng của nghiên cứu khoa học
- Mô tả
Nhận thức một s vật hiện tượng bao giờ cũng bắt đu từ tả s
vật hiện tượng ấy. tả s vật trình bày bằng ngôn ngữ, hình ảnh về cấu
trúc, trng thái, s vận động của svật. Trong nghiên cứu khoa học, s vật
được tả một cách chân thc như stồn ti, vận động vốn của nó.
tả giúp con người nhận dng, phân biệt s vật hiện tượng ấy với các s vật
hiện tượng khác thong qua những dấu hiệu của . tả đnh lượng nhằm
chỉ những đc trưng vlượng của s vật. tả đnh tính cho phép nhận
thức đc trưng về chất của s vật ấy.
- Giải thích
11
Giải thích trong nghiên cứu khoa học làm căn nguyên dẫn đn
s hình thành, phát triển quy luật chi phối quá trình vận động của s vật
hiện tượng. Trong nghiên cứu khoa học, giải thích bao gồm làm rõ nguồn
gốc, mối quan hệ, stương tác giữa các yu tố cấu thành s vật giữa s
vật hiện tượng ấy với các s vật hiện tượng khác. Mục đích của giải thích
đưa ra thông tin về thuộc tính bản chất của svật nhằm nhận thức cả những
thuộc tính bên trong của s vật.
- Tiên đoán, dự báo
Tiên đoán là nhìn trước quá trình hình thành, s vận động và bin đi
của s vật hiện tượng trong tương lai. Tiên đoán được thc hiện trên sở
tgiải thích. Với pơng pháp luận phương pháp nghiên cứu, con
người thể tiên đoán với độ chuẩn xác cao về nhiều hiện tượng, quá trình
diễn ra trong t nhiên hội. Những d báo của khoa học thiên văn, về
những bin cố chính tr - hội hay các hiện tượng kinh t... đã chứng minh
khả năng tiên đoán trong nghiên cứu khoa học.
Trong nghiên cứu khoa học, mc thừa nhận khả năng tiên đoán
của con người về s vật, hiện tượng song chúng ta cn chấp nhận s sai lệch
nhất đnh trong chính khả năng ấy. S sai lệch này có nhiều nguyên nhân: do
nhận thức ban đu về s vật chưa chuẩn xác, môi trường vận động của s
vật bin động... Phương pháp luận biện chứng duy vật không cho phép
người nghiên cứu t thỏa mãn với những tiên đoán hoc lm dụng tiên đoán.
Mọi tiên đoán phải được kiểm chứng trong đời sống hiện thc.
- Sáng tạo
Sáng to làm ra một s vật mới chưa từng tồn ti. Sứ mệnh
lớn lao của khoa học sáng to ra các giải pháp nhằm cải to th giới. Giải
pháp ấy thể những phương pháp, phương tiện, cách thức t chức nhằm
12
nâng cao hiệu quả hot động của con người; thể những giải pháp kỹ
thuật trong sản xuất, nguyên lý công nghệ mới, vật liệu hay sản phẩm mới.
c. Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học
- Tính mới và sự kế thừa
Tính mới biểu hiện quan trọng nhất, thuộc tính số một của lao
động khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện mới
hoc sáng to những s vật, những giải pháp quản công nghệ mới.
Biểu hiện tính mới trong nghiên cứu khoa học s không chấp nhận lp li
về phương pháp, cách tip cận hay sản phẩm to ra. Con người đã đt
được những thành tu khoa học đi thì vẫn không ngừng tìm kim
sáng to, liên tục chim lĩnh những đỉnh cao mới trong nhận thức hiệu
quả cải to th giới.
Tính mới không mâu thuẫn bao hàm trong s kthừa những
kt quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước. Thành quả nghiên cứu
khoa học phụ thuộc vào thái độ của nhà khoa học trước những giá tr khoa
học mà nhân loi đã sáng to ra.
- Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học những tri thức thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như bài báo khoa học, mẫu sản phẩm, hình
sản xuất thí điểm… song đều đem đn cho người tip nhận những tin tức,
thông o hiểu bit mới. S gắn giữa thông tin - tri thức, tri thức -
thông tin hot động nghiên cứu khoa học làm nên đc trưng của hot động
này. Thông tin nguyên liệu của hot động nghiên cứu. Thông qua q
trình xử lý thông tin của duy (phân tích - tng hợp, khái quát hóa, trừu
tượng hóa…) đhình thành tri thức mới. Khi đưa vào hệ thống lưu chuyển
hội, tri thức ấy li đóng vai trò là thông tin trong một quá trình nghiên
cứu tip theo. Do vậy, thông tin cũng sản phẩm của nghiên cứu khoa học.
13
Đc thù này đòi hỏi thông tin trong nghiên cứu phải đt yêu cu về s khách
quan, trung thc, đa chiều cập nhật. Đồng thời, quá trình nghiên cứu ch
chất lượng khi nhà khoa học có những phẩm chất chính tr, đo đức
năng lc tư duy lý luận khoa học.
- Tính mạnh dạn, mạo hiểm
Đc trưng tính mới của hot động này đt ra yêu cu người nghiên
cứu dám đảm nhận việc những vấn đề nghiên cứu ht sức mới mẻ. Do vậy,
dù cân nhắc đn tính hiệu quả, s thành công thì người nghiên cứu phải luôn
chấp nhận những rủi ro, khả năng thất bi trong nghiên cứu.Thất bi trong
nghiên cứu thể do nhiều nguyên nhân với những mức độ khác nhau.
Chẳng hn như thiu thông tin và thông tin thiu tin cậy làm sở cho công
trình nghiên cứu; năng lc thc hiện của nhà khoa học; mức độ đy đủ
trình độ kỹ thuật của phương tiện nghiên cứu; các tác nhân bất khả kháng
trong quá trình nghiên cứu… Ngay cả những công trình đã to ra sản phẩm
thử nghiệm thành công vẫn chu những rủi khi áp dụng trong thc tiễn. Thất
bi trong nghiên cứu cũng được xem là kt quả ý nghĩa. S thất bi ấy
cn được tng kt, lưu giữ như một tài liệu khoa học, trở thành bài học kinh
nghiệm quý giá cho đồng nghiệp đi sau, tránh lãng phí các nguồn lc nghiên
cứu.
Trong lĩnh vc khoa học xã hội, s mnh dn mo hiểm còn thể hiện
s vượt lên trên lối mòn và rào cản tâm , đề xuất những ý tưởng nghiên
cứu, phương pháp tiệm cận mới. Đôi khi một số ý tưởng nghiên cứu được đề
xuất không phải bao giờ cũng dễ dàng được ủng hộ, chấp nhận ngay. C. Mác
từng nhận đnh: đối với khoa học không có con đường nào bằng phẳng thênh
thang cả, chỉ những con người không sợ mỏi gối chồn chân để trèo lên
những con đường nhỏ gập ghềnh của khoa học thì mới có hy vọng đt tới
đỉnh cao sán lnh của khoa học thôi. Lch sử khoa học th giới ghi nhận
14
những tấm gương như Galilê, Côpecnic… Hơn bất kỳ một lĩnh vc nào,
hot động nghiên cứu khoa học hot động mang tính mnh dn, mo
hiểm. Song hot động này cũng đòi hỏi nhà khoa học phải bit cân nhắc, tìm
ra những vấn đề mang tính bản chất, phương pháp hiệu quả hướng triển
khai khả thi.
- Tính phi kinh tế
Mục đích của nghiên cứu khoa học là giải phóng sức lao động, nâng
cao hiệu quả chinh phục t nhiên t chức quản lý, phát triển kinh t
hội. Song trong nghiên cứu khoa học, lợi ích kinh t trước mắt không được
xem là mục đích trc tip, động lc duy nhất.
Tính phi kinh t trong nghiên cứu khoa học thể hiện:
+ Lao động nghiên cứu khoa học khó đnh mức một cách chính xác
như trong lĩnh vc sản xuất vật chất. Trong một số trường hợp, lao động
khoa học không thể đnh mức.
+ Những thit b chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hu như
không thể khấu hao bởi tn suất sử dụng không n đnh. Tốc độ hao mòn
hình luôn vượt trước xa so với hao mòn hữu hình. Chẳng hn một thit b thí
nghiệm có thể chưa hao mòn hữu hình thì đã trở nên lỗi thời về kỹ thuật.
+ Hiệu qukinh t của nghiên cứu khoa học hu như không thể xác
đnh. Ngay cả những kt quả nghiên cứu về kỹ thuật có giá tr mua bán cao
trên th trường song vẫn thể không được áp dụng bởi lý do thun thúy
hội.
Hơn nữa, trong lĩnh vc khoa học hội nhân văn, hiệu quả kinh
t của công trình trình nghiên cứu không dễ xác đnh ngay và rõ ràng. Nhiều
công trình nghiên cứu sau khi áp dụng, thể đem li s thay đi to lớn cho
hội, song điều đó chcó thể nhận thấy qua thời gian dài hay khi xem xét
một cách trừu tượng cả quá trình phát triển.
15
- Tính cá nhân và vai trò của tập thể khoa học
Hot động nghiên cứu khoa học một dng lao động hội. Vai trò
của tập thể khoa học được khẳng đnh. Song, trong nghiên cứu, những sáng
to mới, những phát minh, sáng ch luôn gắn với vai trò đột phá của
nhân, của các nhà khoa học đu đàn. Tính nhân thể hiện trong duy
chủ kin độc đáo của nhà nghiên cứu.
Uy tín của nhà khoa học được xem xét thông qua tp hp các tiêu chí
đnh tính và đnh lượng thể hiện phẩm cht, năng lc, sức cống hin ca mt
nhà khoa hc cho nhân loi. Các tiêu chí đó bao gm: s lượng cht
lượng công trình nghiên cứu đã hoàn thành, được công b hay áp dng; S
lượng, cht lượng trình đ hc vn các hc viên do nhà khoa học đào
to…
Trong hot động nghiên cứu, nhân không tách rời tập thể khoa
học. Tập thể khoa học môi trường nâng đỡ cho s ra đời ý tưởng mới của
nhân, phản biện, hoàn thiện ý tưởng ấy, tập trung trí tuệ thc hiện q
trình nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên trên th giới, hình thành trung tâm
nghiên cứu lớn, từng bước chuyên môn hóa quá trình nghiên cứu trở thành
khuynh hướng cho s phát triển khoa học.
III. Loại hình nghiên cứu khoa học
Loi hình nghiên cu khoa hc khái niệm dung để ch tp hp ca
nhng công trình nghiên cứu được phân loi theo mt cách thc nhất đnh.
Xut phát t s phân chia các ngành khoa học, người ta phân chia công trình
khoa hc thuc các ngành khoa hc khác nhau. Chng hn, công trình
nghiên cu thuc ngành khoa hc t nhiên, khoa hc xã hi hay khoa hc k
thut - công ngh.
16
Da vào nhóm gii pháp nhà khoa học đề xut nghiêng v
thuyt hay thc nghiệm, người ta chia các công trình nghiên cu thành hai
loi: công trình nghiên cu lý thuyt và công trình nghiên cu thc nghim.
Căn cứ vào mc tiêu mà công trình nghiên cứu đề ra và thc hin, ba
loi hình nghiên cứu được xác đnh nghiên cứu bản, nghiên cu ng
dng và nghiên cu trin khai - thc nghim.
1. Nghiên cứu cơ bản (fundamental research)
Nghiên cứu bản là nhng nghiên cu nhm phát hin bn cht
quy lut ca các s vt, hiện tượng, quá trình.
Kt qu ca nghiên cứu cơ bn là nhng phân tích lý lun, phát kin,
kt lun v tính quy lut, những đnh lý, đnh luật…. Trên sở nghiên cu
bản, ngưởi nghiên cu trình bày nhng phát hin, phát kin, phát minh.
Chng hn, đnh lut v sc nâng của nước do Acsimet khám phá, phát hin
châu M ca Critxtôp Côlômbô và nhiu quy lut do nhiu nhà khoa hc
hi công b.
Sn phm ca nghiên cứu bản thường dn đn mt h thng lý
thuyt ảnh hưởng đn mt hoc nhiều lĩnh vc khoa hc khác nhau. Tác
động ca nhng phát kin y thường vượt qua gii hn nhn thc v mt
lĩnh vc, phm vi nghiên cu. Chng hn, những tác động của đnh
lut vn vt hp dẫn do Niutơn phát minh, “bàn tay hình” ca kinh t th
trường (Ađam Smith) hay quy luật giá tr thng dư của C. Mac nhng
mức độ khác nhau trong nhiều lĩnh vc hot động của con người.
Nghiên cứu cơ bản gm hai loi: nghiên cứu bản thun túy
nghiên cứu cơ bản đnh hướng.
Nghiên cứu cơ bản thun túy là nhng nghiên cứu đơn thun là nhm
mục đích phát hin ra bn cht, quy lut tn ti, phát trin ca s vt hin
17
ợng chưa bàn đn ý nghĩa ng dng ca nghiên cu y. Nhng nghiên
cứu cơ bản thun túy nhm m rng và nâng cao nhn thc của con người.
Nghiên cứu bản đnh hướng nhng nghiên cứu hướng ti mc
đích ng dng nhất đnh, d kin phm vi mức độ ng dng khi nghiên
cu y thành công. Nghiên cứu cơ bản đnh hướng không ch dẫn đn nhng
sở lý thuyt quan trng còn th dẫn đn nhng ng dng ý
nghĩa lớn lao trong các lĩnh vc hot động khác nhau của đời sng xã hi.
2. Nghiên cu ng dng (applied research)
Nghiên cu ng dng s vn dng kt qu ca nghiên cứu bản
(những đnh luật, đnh lý, quy luật…), thường nghiên cứu bản đnh
ớng để tìm ra nguyên v các gii pháp ng dụng trong môi trường tn
ti ca s vt, hiện tượng hay quá trình.
Sn phm ca nghiên cu ng dng th gii pháp v vt liu,
công ngh trong khoa hc k thut hay gii pháp v t chc, qun trong
khoa hc xã hi.
kt qu ca loi hình nghiên cu tên nghiên cu ng
dụng nhưng kt qu ca li chưa ng dụng được ngay. Để đưa kt qu
nghiên cu ng dng vào s dng trong thc t cn tin hành loi hình
nghiên cu trin khai - thc nghim.
3. Nghiên cu trin khai - thc nghim (development reseach)
Nghiên cu trin khai - thc nghim loi hình nghiên cu vn
dng các quy luật (thu được t nghiên cứu bản) và các nguyên gii
pháp (t nghiên cu ng dụng) để đưa ra nhng hình mu v một phương
din k thut mi, sn phm mi, dch v mi vi tính kh thi cao nht cho
hot động thc tin của con người.
Nghiên cu trin khai - thc nghim bao gm c quá trình thit k k
thut (th nghim) hình th nghim. Nghiên cu trin khai - thc
18
nghiệm được chia thành hai giai đon: trin khai trong phòng trin khai
bán đi trà.
Triển khai trong phòng ng vào vic áp dng nguyên gii pháp
để to ra cho được sn phẩm trong điều kin phòng thí nghim.
Triển khai bán đi trà là dng trin khai nhm kim chng gi thuyt
v mt hình mu trên mt quy mô nhất đnh, xác đnh điều kin cn và đủ để
m rng phm vi áp dng, triển khai đi trà.
Nghiên cu trin khai - thc nghim trong khoa hc hội đem li ý
nghĩa ln lao trong phát trin kinh t - xã hi, xây dng mô hình qun các
phương diện xã hi mt cách hiu qu.
4. Mi quan h gia các loi hình nghiên cu và thc tin
Các loi hình nghiên cu khoa hc có mi quan h bin chng, thng
nht trong chnh th hot động khoa hc ca mi ngành, mi quc gia. Vic
phân chia các loi hình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cho đnh ng và
xây dng chính sách phát trin khoa hc ca mi ngành, mi quc gia y.
Các loi hình nghiên cu khoa hc liên h vi nhau theo trình t:
nghiên cứu bản - nghiên cu ng dng - nghiên cu trin khai, thc
nghiệm. Trong đó, kt qu nghiên cu ca loi hình trước sở, tiền đề,
điu kin cho s bắt đu ca loi hình nghiên cứu sau đó. Đồng thi, nghiên
cu khoa hc mi quan h không th tách ri vi hot động thc tin bi
suy đn cùng, mi nghiên cứu đều hướng ti phát triển các phương din hot
động thc tin của con người.
Mỗi đề tài khoa hc, xét mc tiêu chính ca nó đu thuc mt loi
hình nghiên cu khoa học xác đnh. Song trong chính mỗi đ tài nghiên cu,
s xut hin ca trt t logic ni dung bao gi cũng thể hiện đy đủ các loi
hình nghiên cu nêu trên các mức đ khác nhau. Chính đc điểm này cho
19
phép chúng ta hiu s phân chia loi hình nghiên cu khoa hc ch là tương
đối.
VẤN ĐỀ ÔN TẬP
1. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học.
2. Bản chất của hot động nghiên cứu khoa học chức năng của
nghiên cứu khoa học.
3. Đc điểm bản của nghiên cứu khoa học và ý nghĩa rút ra đối
với bản thân hiện nay và khi trở thành nhà khoa học.
4. Đc thù trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
5. Đc điểm, v trí vai trò của nghiên cứu bản trong s phát
triển khoa học và đời sống xã hội.
6. Đc điểm, v trí vai trò của nghiên cứu ng dụng trong s
phát triển khoa học và đời sống xã hội.
7. Đc điểm, v t vai trò của nghiên cứu triển khai - thc
nghiệm trong s phát triển khoa học và xã hội.
8. Mối quan hệ giữa các loi hình nghiên cứu khoa học thc
tiễn.

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA GIÁO DỤC ĐẠI CƯƠNG & NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Giáo trình lưu hành nội bộ dành cho bậc đại học)
Người biên soạn: TS Phan Thanh Hải Hà Nội 2020 1 HƯỚNG DẪN HỌC 1. Tài liệu học tập:
TS. Phan Thanh Hải (Chủ biên, 2015) Giáo trình
Phương pháp nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân
văn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PGS,TS. Đỗ Công Tuấn, Lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa
học, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
2. Phương pháp học tập:
Học đúng lịch trình của môn học, làm bài tập đầy
đủ và tham gia thảo luận trên lớp.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng
viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Sinh viên đọc và nghiên cứu trước tài liệu trước khi đến lớp 2
II. Tổng quan về khoa học và nghiên cứu khoa học
1. Khoa học và phân loại khoa học
a. Quan niệm về khoa học
Thuật ngữ khoa học xuất hiện sớm và được hiểu theo nghĩa là một
hình thức hoạt động sáng tạo đặc biệt, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống
xã hội. Ở mỗi góc độ tiếp cận, khoa học hàm nghĩa khác nhau.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Sự hình thành, phát triển
của khoa học không tách rời sự hình thành và phát triển của tồn tại xã hội.
Khoa học vừa phản ánh đời sống xã hội, trước hết là đời sống vât chất của
xã hội ấy, vừa có tính vượt trước so với tồn tại xã hội sinh ra nó. Đồng thời
khoa học có tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác trong quá
trình phát triển của chúng.
Khoa học là một hoạt động nghề nghiệp xã hội. Sản phẩm của hoạt
động khoa học là những tri thức về thế giới, về sự cải tiến kỹ thuật công
nghệ, cách thức tổ chức sản xuất. Hoạt động khoa học đòi hỏi phải có một
đội ngũ cán bộ làm khoa học có trình độ chuyên môn cao, có phương pháp
làm việc thực sự chuyên nghiệp.
Khoa học là hệ thống tri thức phản ánh cái bản chất, tính quy luật
của sự vật hiện tượng hay quá trình, hình thành trong lịch sử và không
ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn.
Khoa học là kết quả của quá trình nhận thức, chiếm lĩnh chân lý và
chỉ có ý nghĩa khi chúng được áp dụng vào thực tiễn, làm thay đổi theo
hướng tích cực hơn hiện thực. Quá trình phát triển của khoa học không có giới hạn cuối cùng. 3
b. Phân loại khoa học
Phân loại khoa học là sắp xếp các bộ môn khoa học thành một hệ
thống thứ bậc trên cơ sở những dấu hiệu đặc trưng bản chất của chúng. Việc
phân loại khoa học nhằm nhận dạng cấu trúc của toàn bộ hệ thống tri thức,
xác định vị trí của mỗi bộ môn khoa học và con đường phát triển cho khoa học.
Phân loại khoa học là yêu cầu khách quan cho sự phát triển của
chúng. Trong khi phân loại, giới khoa học thừa nhận vùng giáp ranh giữa
các bộ môn nghiên cứu. Ở đây diễn ra quá trình tích hợp phương pháp luận
để hình thành một môn khoa học mới.
Hơn nữa, quy luật phát triển của khoa học cho phép sự phân lập và
tích hợp khoa học diễn ra. Hiện tượng những khoa học mới được hình thành
(có đối tượng, phương pháp nghiên cứu) trên cơ sở phân lập và tích hợp
khoa học phá vỡ các bảng phân loại các khoa học vốn đã hình thành. Vì vậy,
mọi bảng phân loại khoa học cần được xem là hệ thống mở, luôn được hoàn thiện và phát triển.
Lịch sử phát triển khoa học ghi nhận những bảng phân loại khoa học
khác nhau. Thời cổ đại, Arixtốt đã chia khoa học thành ba loại: khoa học lý
thuyết, khoa học sáng tạo và khoa học thực hành. Thời trung cổ, khoa học
được phân thành thần học, logic học và ngữ pháp. Thời cận đại, Bêcơn lại
chia khoa học thành lịch sử, thơ ca và triết học, Xanhximông chia khoa học
thành vật lý vô cơ, vật lý hữu cơ. Khoa học xã hội là bộ phận của khoa học
tự nhiên - gọi là vật lý xã hội. Hêghen chia khoa học tự nhiên thành ngành
cơ học, ngành hóa học và ngành cơ thể học.
Căn cứ vào các hình thức vận động của vật chất, mối liên hệ, sự
chuyển hóa giữa chúng, Mác - Ăngghen cho rằng sự phân loại khoa học phải
dựa trên nguyên tắc khách quan, dựa vào đối tượng mà nó nghiên cứu và 4
nguyên tắc phối thuộc, tri thức có sau xuất phát từ tri thức có trước và bao
hàm tri thức có trước ấy.
Hiện nay, nhiều quan điểm phân loại khoa học dựa trên cách tiếp cận
khác nhau cùng tồn tại. Chẳng hạn, theo mục đích ứng dụng của khoa học,
người ta phân thành khoa học mô tả, khoa học phân tích, khoa học ứng
dụng, khoa học sáng tạo...Theo mức độ khái quát hóa của khoa học có khoa
học cụ thể, khoa học trừu tượng, khoa học khái quát, khoa học đặc
thù...Theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo có khoa
học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học chuyên môn.
Dựa vào khách thể mà tri thức khoa học phản ánh, xuất phát từ đối
tượng nghiên cứu của khoa học, người ta phân chia thành khoa học tự nhiên,
khoa học kỹ thuật - công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn.
Khoa học xã hội và nhân văn, nghĩa rộng, là một nhóm các ngành
khoa học bao gồm cả khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Khoa học xã
hội nghiên cứu các quan hệ giữa con người với con người, đối tượng nghiên
cứu của khoa học xã hội là những quan hệ con người trong xã hội, điều kiện
sinh hoạt, quá trình vận động của xã hội con người. Khoa học nhân văn được
coi là hệ thống các môn khoa học về con người và những hoạt động tinh
thần của con người, gắn liền với những phương thức đặc thù sang tạo ra các
giá trị văn hóa tinh thần. Đối tượng của khoa học nhân văn chú trọng nhiều
hơn tới những giá trị tinh thần và những hoạt động tinh thần của con người.
Ở Việt Nam hiện nay, dù thừa nhận khoa học xã hội và khoa học
nhân văn vẫn có sự phân biệt nhất định song vẫn được xếp chung vào một
nhóm ngành gọi là khoa học xã hội và nhân văn. Xuất phát điểm của quan
niệm này là bất kỳ một nghiên cứu nào về xã hội (quy luật vận động của xã
hội, của lịch sử…) cuối cùng đều hướng tới con người. Không một nghiên
cứu nào về con người (về những giá trị tinh thần của con người) được coi là 5
khoa học nếu thoát ly xã hội với những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị.
Con người và hoạt động tinh thần của con người không thể tồn tại ở đâu
khác bên ngoài xã hội. Phát triển xã hội không có gì khác là hướng tới một
xã hội nhân văn, giải phóng con người và đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc.
Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học về các quy luật hình thành,
phát triển của xã hội và con người, mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn không chỉ nhằm phát hiện ra các quy luật
khách quan trong quan hệ con người, mà còn phải nắm được cơ chế
vận động của những quy luật, quan hệ này, từ đó xây dựng cơ chế vận
dụng chúng một cách hiệu quả.
Những thành tựu trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tạo
nên nền tảng, cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối chính trị, đường
lối phát triển đất nước. Khoa học xã hội và nhân văn giúp cho việc hình
thành những chính sách, giải pháp tổ chức quản lý xã hội, huy động và khai
thác tiềm lực khoa học vào quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Với ý
nghĩa ấy, bàn về phương hướng phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta chỉ rõ: “khoa học xã hội và nhân văn làm
tốt nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo xu hướng phát
triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển
đất nước trong giai đoạn mới”1
Khoa học xã hội và nhân văn, ngoài những đặc điểm chung, vốn có
của các khoa học, còn có những đặc thù.
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 219 6
Thứ nhất, khoa học xã hội và nhân văn mang tính trừu tượng. Tính
trừu tượng của khoa học xã hội và nhân văn được biểu hiện ở nhiều khía
cạnh. Nhìn tổng thể từ đối tượng, phương pháp cho đến sản phẩm nghiên
cứu đều mang tính đặc thù này.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn là đời sống
tin thần và những quan hệ xã hội của con người. Vấn đề nghiên cứu thường
trừu tượng, chịu ảnh hưởng của những quan hệ phức tạp và khó xác định.
Tính trừu tượng của khoa học xã hội và nhân văn còn thể hiện trong
tính đặc thù của sản phẩm khoa học mà nó tạo ra. Khoa học xã hội và nhân
văn không trực tiếp tạo ra vật phẩm - sản phẩm vật chất cho xã hội. Sản
phẩm của khoa học xã hội và nhân văn chủ yếu là tri thức tồn tại dưới dạng
tinh thần, tư tưởng mặc dù trong điều kiện hiện nay, những nghiên cứu thuộc
ngành khoa học đã chú ý nhiều hơn đến việc sáng tạo những công cụ,
phương tiện quản lý và mô hình thực nghiệm. Sản phẩm khoa học xã hội và
nhân văn khi được áp dụng có thể tạo nên sự thay đổi sâu rộng cho một
ngành, một phương diện của đời sống xã hội. Thậm chí có thể tạo nên sự
thay đổi của một dân tộc, một thời đại.
Tính trừu tượng còn thể hiện trong việc đánh giá giá trị của sản phẩm
khoa học xã hội và nhân văn.Khác với cách thức đánh giá trong khoa học kỹ
thuật và công nghệ, sản phẩm của nghiên cứu trong khoa học xã hội không
thể “cân, đong, đo, đếm” hay định giá theo kiểu thông thường. Tính chính
xác của khoa học xã hội là tính chính xác của quan điểm và phương pháp.
Thứ hai, khoa học xã hội và nhân văn là khoa học có tính giai cấp.
Khoa học xã hội và nhân văn là cơ sở trí tuệ - tinh thần của chế độ và
biểu đạt tư tưởng của chế độ đó. Khoa học xã hội và nhân văn gắn liền với
việc củng cố và phát triển hệ ý thức của xã hội thông qua hệ thống quan
điểm về chính trị, về đạo đức, lối sống… vũ trang nhận thức cho xã hội theo 7
định hướng và mục đích chính trị mà giai cấp cầm quyền cùng thể chế của nó đòi hỏi.
Nhà nghiên cứu hoặc đứng trên lập trường tư tưởng của giai cấp này
hoặc giai cấp khác khi nghiên cứu, lý giải sự vận động của xã hội, vận dụng
quy luật xã hội sao cho đảm bảo cao nhất lợi ích của giai cấp mình.
Tiêu chí kiểm chứng tính chính xác của khoa học xã hội phụ thuộc
rất nhiều vào thái độ của giai cấp cầm quyền đối với sản phẩm của khoa học này.
Thừa nhận tính giai cấp của khoa học xã hội và nhân văn không có
nghĩa là phủ nhận tính dân tộc và nhân loại của nó.
Quan hệ của con người với thiên nhiên cũng như với con người
luôn gắn bó chặt chẽ trong cộng đồng người, bị sự chi phối cộng đồng
mà họ đang sống. Mỗi một quốc gia dân tộc có điều kiện địa lý tự
nhiên riêng, lịch sử truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo, văn
hóa của mình và trình độ phát triển kinh tế xã hội nhất định. Nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn, do vậy luôn gắn bó với các đặc thù
của cộng đồng xã hội nơi nó được nảy sinh và nuôi dưỡng. Khoa học xã
hội và nhân văn là bộ phận của văn hóa, xây dựng trên nền tảng văn hóa của
mỗi dân tộc và chỉ có thể phát triển khi thể hiện sâu sắc tinh thần của dân tộc ấy.
Bên cạnh đó, với tư cách là văn hóa, ý nghĩa nhân bản, nhân văn của
khoa học xã hội có thể vượt ra ngoài biên giới quốc gia, dân tộc, là thành
quả nghiên cứu của nhân loại, vì sự phát triển của nhân loại tiến bộ.
Thứ ba, khoa học xã hội và nhân văn vận động và phát triển trong sự
vận động của các khoa học như một hệ thống chỉnh thể.
Sự giao thoa giữa đối tượng nghiên cứu của các khoa học tạo ra mối
liên kết tất nhiên giữa khoa học xã hội và nhân văn với các khoa học khác 8
trong quá trình nghiên cứu. Điều này thể hiện rõ trong mối quan hệ nội bộ
của các khoa học thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn. Đồng thời sự tương tác,
hợp tác này cũng thể hiện trong mối quan hệ của khoa học xã hội và nhân
văn với các lĩnh vực khoa học khác. Giải quyết nhiệm vụ của mỗi ngành
khoa học đòi hỏi sự hợp tác thường xuyên, liên tục của các khoa học khác
nhau. Do vậy, sự thâm nhập, hỗ trợ, vận dụng phương pháp, kết quả nghiên
cứu của các khoa học là đòi hỏi tất yếu khách quan trong khoa học. Nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn đặt ra yêu cầu sử dụng kiến thức, phương
pháp của khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ. Ngược lại, thành tựu khoa
học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ đạt được lại đặt ra những vấn đề mới
cho khoa học xã hội và nhân văn. Chẳng hạn, thành tựu chinh phục tự nhiên
đang đặt ra các vấn đề như môi trường, bệnh tật, dân số…đòi hỏi khoa học
xã hội và nhân văn giải quyết.
2. Nghiên cứu khoa học a. Khái niệm
Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học
nhằm tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, ứng
dụng vào các quá trình xã hội để tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần
mãn nhu cầu của con người.
Chủ thể của hoạt động nghiên cứu là các nhà khoa học có phẩm chất
trí tuệ và năng lực hoạt động nhất định. Bên cạnh yêu cầu chung đối với nhà
khoa học, chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn là
những người xác định rõ mục đích nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên
cứu. Họ hoạt động vì sự phát triển của giai cấp, dân tộc và nhân loại.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất, các
quy luật vận động của thế giới tự nhiên và xã hội, nhằm ứng dụng chúng vào
sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao 9
của con người. Có thể nói, sáng tạo tri thức được coi là mục đích chủ yếu,
tổng quát, quy định các mục đích khác của hoạt động này. Tri thức khoa học
- sản phẩm của quá trình nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn xác định: tính
khách quan, tất yếu và phổ biến, phân biệt với tri thức là kết quả nhận thức
trong các hoạt động khác của con người.
Nghiên cứu khoa học không chỉ đơn thuần để nhận thức thế giới mà
còn nhằm phục vụ lợi ích của con người và xã hội. Để đạt được mục đích ấy,
chủ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Sản phẩm của nghiên
cứu khoa học là những sản phẩm mới, tồn tại dưới sản phẩm vật chất hay
tinh thần, phục vụ đời sống xã hội và không ngừng phát triển.
Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
trước hết là tri thức phản ánh bản chất, quy luật của quan hệ xã hội và các
quá trình xã hội, những phương hướng, biện pháp và mô hình xã hội phục vụ
trực tiếp cho hoạt động tổ chức, quản lý xã hội theo định hướng xác định của mỗi quốc gia.
b. Chức năng của nghiên cứu khoa học - Mô tả
Nhận thức một sự vật hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ mô tả sự
vật hiện tượng ấy. Mô tả sự vật là trình bày bằng ngôn ngữ, hình ảnh về cấu
trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật. Trong nghiên cứu khoa học, sự vật
được mô tả một cách chân thực như sự tồn tại, vận động vốn có của nó. Mô
tả giúp con người nhận dạng, phân biệt sự vật hiện tượng ấy với các sự vật
hiện tượng khác thong qua những dấu hiệu của nó. Mô tả định lượng nhằm
chỉ rõ những đặc trưng về lượng của sự vật. Mô tả định tính cho phép nhận
thức đặc trưng về chất của sự vật ấy. - Giải thích 10
Giải thích trong nghiên cứu khoa học là làm rõ căn nguyên dẫn đến
sự hình thành, phát triển và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật
hiện tượng. Trong nghiên cứu khoa học, giải thích bao gồm làm rõ nguồn
gốc, mối quan hệ, sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành sự vật và giữa sự
vật hiện tượng ấy với các sự vật hiện tượng khác. Mục đích của giải thích là
đưa ra thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật nhằm nhận thức cả những
thuộc tính bên trong của sự vật.
- Tiên đoán, dự báo
Tiên đoán là nhìn trước quá trình hình thành, sự vận động và biến đổi
của sự vật hiện tượng trong tương lai. Tiên đoán được thực hiện trên cơ sở
mô tả và giải thích. Với phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, con
người có thể tiên đoán với độ chuẩn xác cao về nhiều hiện tượng, quá trình
diễn ra trong tự nhiên và xã hội. Những dự báo của khoa học thiên văn, về
những biến cố chính trị - xã hội hay các hiện tượng kinh tế... đã chứng minh
khả năng tiên đoán trong nghiên cứu khoa học.
Trong nghiên cứu khoa học, mặc dù thừa nhận khả năng tiên đoán
của con người về sự vật, hiện tượng song chúng ta cần chấp nhận sự sai lệch
nhất định trong chính khả năng ấy. Sự sai lệch này có nhiều nguyên nhân: do
nhận thức ban đầu về sự vật chưa chuẩn xác, môi trường vận động của sự
vật biến động... Phương pháp luận biện chứng duy vật không cho phép
người nghiên cứu tự thỏa mãn với những tiên đoán hoặc lạm dụng tiên đoán.
Mọi tiên đoán phải được kiểm chứng trong đời sống hiện thực. - Sáng tạo
Sáng tạo là làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại. Sứ mệnh
lớn lao của khoa học là sáng tạo ra các giải pháp nhằm cải tạo thế giới. Giải
pháp ấy có thể là những phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức nhằm 11
nâng cao hiệu quả hoạt động của con người; có thể là những giải pháp kỹ
thuật trong sản xuất, nguyên lý công nghệ mới, vật liệu hay sản phẩm mới.
c. Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học
- Tính mới và sự kế thừa
Tính mới là biểu hiện quan trọng nhất, là thuộc tính số một của lao
động khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện mới
hoặc sáng tạo những sự vật, những giải pháp quản lý và công nghệ mới.
Biểu hiện tính mới trong nghiên cứu khoa học là sự không chấp nhận lặp lại
về phương pháp, cách tiếp cận hay sản phẩm tạo ra. Con người dù đã đạt
được những thành tựu khoa học vĩ đại thì vẫn không ngừng tìm kiếm và
sáng tạo, liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới trong nhận thức và hiệu
quả cải tạo thế giới.
Tính mới không mâu thuẫn mà bao hàm trong nó sự kế thừa những
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước. Thành quả nghiên cứu
khoa học phụ thuộc vào thái độ của nhà khoa học trước những giá trị khoa
học mà nhân loại đã sáng tạo ra.
- Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những tri thức thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như bài báo khoa học, mẫu sản phẩm, mô hình
sản xuất thí điểm… song đều đem đến cho người tiếp nhận những tin tức,
thông báo và hiểu biết mới. Sự gắn bó giữa thông tin - tri thức, tri thức -
thông tin ở hoạt động nghiên cứu khoa học làm nên đặc trưng của hoạt động
này. Thông tin là nguyên liệu của hoạt động nghiên cứu. Thông qua quá
trình xử lý thông tin của tư duy (phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, trừu
tượng hóa…) để hình thành tri thức mới. Khi đưa vào hệ thống lưu chuyển
xã hội, tri thức ấy lại đóng vai trò là thông tin trong một quá trình nghiên
cứu tiếp theo. Do vậy, thông tin cũng là sản phẩm của nghiên cứu khoa học. 12
Đặc thù này đòi hỏi thông tin trong nghiên cứu phải đạt yêu cầu về sự khách
quan, trung thực, đa chiều và cập nhật. Đồng thời, quá trình nghiên cứu chỉ
có chất lượng khi nhà khoa học có những phẩm chất chính trị, đạo đức và
năng lực tư duy lý luận khoa học.
- Tính mạnh dạn, mạo hiểm
Đặc trưng tính mới của hoạt động này đặt ra yêu cầu người nghiên
cứu dám đảm nhận việc những vấn đề nghiên cứu hết sức mới mẻ. Do vậy,
dù cân nhắc đến tính hiệu quả, sự thành công thì người nghiên cứu phải luôn
chấp nhận những rủi ro, khả năng thất bại trong nghiên cứu.Thất bại trong
nghiên cứu có thể do nhiều nguyên nhân với những mức độ khác nhau.
Chẳng hạn như thiếu thông tin và thông tin thiếu tin cậy làm cơ sở cho công
trình nghiên cứu; năng lực thực hiện của nhà khoa học; mức độ đầy đủ và
trình độ kỹ thuật của phương tiện nghiên cứu; các tác nhân bất khả kháng
trong quá trình nghiên cứu… Ngay cả những công trình đã tạo ra sản phẩm
thử nghiệm thành công vẫn chịu những rủi khi áp dụng trong thực tiễn. Thất
bại trong nghiên cứu cũng được xem là kết quả có ý nghĩa. Sự thất bại ấy
cần được tổng kết, lưu giữ như một tài liệu khoa học, trở thành bài học kinh
nghiệm quý giá cho đồng nghiệp đi sau, tránh lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, sự mạnh dạn mạo hiểm còn thể hiện
ở sự vượt lên trên lối mòn và rào cản tâm lý, đề xuất những ý tưởng nghiên
cứu, phương pháp tiệm cận mới. Đôi khi một số ý tưởng nghiên cứu được đề
xuất không phải bao giờ cũng dễ dàng được ủng hộ, chấp nhận ngay. C. Mác
từng nhận định: đối với khoa học không có con đường nào bằng phẳng thênh
thang cả, chỉ có những con người không sợ mỏi gối chồn chân để trèo lên
những con đường nhỏ bé gập ghềnh của khoa học thì mới có hy vọng đạt tới
đỉnh cao sán lạnh của khoa học mà thôi. Lịch sử khoa học thế giới ghi nhận 13
những tấm gương như Galilê, Côpecnic… Hơn bất kỳ một lĩnh vực nào,
hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động mang tính mạnh dạn, mạo
hiểm. Song hoạt động này cũng đòi hỏi nhà khoa học phải biết cân nhắc, tìm
ra những vấn đề mang tính bản chất, phương pháp hiệu quả và hướng triển khai khả thi. - Tính phi kinh tế
Mục đích của nghiên cứu khoa học là giải phóng sức lao động, nâng
cao hiệu quả chinh phục tự nhiên và tổ chức quản lý, phát triển kinh tế xã
hội. Song trong nghiên cứu khoa học, lợi ích kinh tế trước mắt không được
xem là mục đích trực tiếp, động lực duy nhất.
Tính phi kinh tế trong nghiên cứu khoa học thể hiện:
+ Lao động nghiên cứu khoa học khó định mức một cách chính xác
như trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Trong một số trường hợp, lao động
khoa học không thể định mức.
+ Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như
không thể khấu hao bởi tần suất sử dụng không ổn định. Tốc độ hao mòn vô
hình luôn vượt trước xa so với hao mòn hữu hình. Chẳng hạn một thiết bị thí
nghiệm có thể chưa hao mòn hữu hình thì đã trở nên lỗi thời về kỹ thuật.
+ Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác
định. Ngay cả những kết quả nghiên cứu về kỹ thuật có giá trị mua bán cao
trên thị trường song vẫn có thể không được áp dụng bởi lý do thuần thúy xã hội.
Hơn nữa, trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, hiệu quả kinh
tế của công trình trình nghiên cứu không dễ xác định ngay và rõ ràng. Nhiều
công trình nghiên cứu sau khi áp dụng, có thể đem lại sự thay đổi to lớn cho
xã hội, song điều đó chỉ có thể nhận thấy qua thời gian dài hay khi xem xét
một cách trừu tượng cả quá trình phát triển. 14
- Tính cá nhân và vai trò của tập thể khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một dạng lao động xã hội. Vai trò
của tập thể khoa học được khẳng định. Song, trong nghiên cứu, những sáng
tạo mới, những phát minh, sáng chế luôn gắn với vai trò đột phá của cá
nhân, của các nhà khoa học đầu đàn. Tính cá nhân thể hiện trong tư duy và
chủ kiến độc đáo của nhà nghiên cứu.
Uy tín của nhà khoa học được xem xét thông qua tập hợp các tiêu chí
định tính và định lượng thể hiện phẩm chất, năng lực, sức cống hiến của một
nhà khoa học cho nhân loại. Các tiêu chí đó bao gồm: số lượng và chất
lượng công trình nghiên cứu đã hoàn thành, được công bố hay áp dụng; Số
lượng, chất lượng và trình độ học vấn các học viên do nhà khoa học đào tạo…
Trong hoạt động nghiên cứu, cá nhân không tách rời tập thể khoa
học. Tập thể khoa học là môi trường nâng đỡ cho sự ra đời ý tưởng mới của
cá nhân, phản biện, hoàn thiện ý tưởng ấy, tập trung trí tuệ thực hiện quá
trình nghiên cứu. Không phải ngẫu nhiên trên thế giới, hình thành trung tâm
nghiên cứu lớn, từng bước chuyên môn hóa quá trình nghiên cứu trở thành
khuynh hướng cho sự phát triển khoa học.
III. Loại hình nghiên cứu khoa học
Loại hình nghiên cứu khoa học là khái niệm dung để chỉ tập hợp của
những công trình nghiên cứu được phân loại theo một cách thức nhất định.
Xuất phát từ sự phân chia các ngành khoa học, người ta phân chia công trình
khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau. Chẳng hạn, công trình
nghiên cứu thuộc ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hay khoa học kỹ thuật - công nghệ. 15
Dựa vào nhóm giải pháp mà nhà khoa học đề xuất nghiêng về lý
thuyết hay thực nghiệm, người ta chia các công trình nghiên cứu thành hai
loại: công trình nghiên cứu lý thuyết và công trình nghiên cứu thực nghiệm.
Căn cứ vào mục tiêu mà công trình nghiên cứu đề ra và thực hiện, ba
loại hình nghiên cứu được xác định là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng
dụng và nghiên cứu triển khai - thực nghiệm.
1. Nghiên cứu cơ bản (fundamental research)
Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất và
quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình.
Kết quả của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, phát kiến,
kết luận về tính quy luật, những định lý, định luật…. Trên cơ sở nghiên cứu
cơ bản, ngưởi nghiên cứu trình bày những phát hiện, phát kiến, phát minh.
Chẳng hạn, định luật về sức nâng của nước do Acsimet khám phá, phát hiện
châu Mỹ của Critxtôp Côlômbô và nhiều quy luật do nhiều nhà khoa học xã hội công bố.
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thường dẫn đến một hệ thống lý
thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Tác
động của những phát kiến ấy thường vượt qua giới hạn nhận thức về một
lĩnh vực, phạm vi mà nó nghiên cứu. Chẳng hạn, những tác động của định
luật vạn vật hấp dẫn do Niutơn phát minh, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị
trường (Ađam Smith) hay quy luật giá trị thặng dư của C. Mac ở những
mức độ khác nhau trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người.
Nghiên cứu cơ bản gồm hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần túy và
nghiên cứu cơ bản định hướng.
Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu đơn thuần là nhằm
mục đích phát hiện ra bản chất, quy luật tồn tại, phát triển của sự vật hiện 16
tượng mà chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng của nghiên cứu ấy. Những nghiên
cứu cơ bản thuần túy nhằm mở rộng và nâng cao nhận thức của con người.
Nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu hướng tới mục
đích ứng dụng nhất định, dự kiến phạm vi và mức độ ứng dụng khi nghiên
cứu ấy thành công. Nghiên cứu cơ bản định hướng không chỉ dẫn đến những
cơ sở lý thuyết quan trọng mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý
nghĩa lớn lao trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
2. Nghiên cứu ứng dụng (applied research)
Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng kết quả của nghiên cứu cơ bản
(những định luật, định lý, quy luật…), thường là nghiên cứu cơ bản định
hướng để tìm ra nguyên lý về các giải pháp ứng dụng trong môi trường tồn
tại của sự vật, hiện tượng hay quá trình.
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là giải pháp về vật liệu,
công nghệ trong khoa học kỹ thuật hay giải pháp về tổ chức, quản lý trong khoa học xã hội.
Dù là kết quả của loại hình nghiên cứu có tên là nghiên cứu ứng
dụng nhưng kết quả của nó lại chưa ứng dụng được ngay. Để đưa kết quả
nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế cần tiến hành loại hình
nghiên cứu triển khai - thực nghiệm.
3. Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm (development reseach)
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm là loại hình nghiên cứu vận
dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý giải
pháp (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra những hình mẫu về một phương
diện kỹ thuật mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới với tính khả thi cao nhất cho
hoạt động thực tiễn của con người.
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm bao gồm cả quá trình thiết kế kỹ
thuật (thử nghiệm) và mô hình thử nghiệm. Nghiên cứu triển khai - thực 17
nghiệm được chia thành hai giai đoạn: triển khai trong phòng và triển khai bán đại trà.
Triển khai trong phòng hướng vào việc áp dụng nguyên lý giải pháp
để tạo ra cho được sản phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Triển khai bán đại trà là dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết
về một hình mẫu trên một quy mô nhất định, xác định điều kiện cần và đủ để
mở rộng phạm vi áp dụng, triển khai đại trà.
Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm trong khoa học xã hội đem lại ý
nghĩa lớn lao trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng mô hình quản lý các
phương diện xã hội một cách hiệu quả.
4. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu và thực tiễn
Các loại hình nghiên cứu khoa học có mối quan hệ biện chứng, thống
nhất trong chỉnh thể hoạt động khoa học của mỗi ngành, mỗi quốc gia. Việc
phân chia các loại hình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cho định hướng và
xây dựng chính sách phát triển khoa học của mối ngành, mỗi quốc gia ấy.
Các loại hình nghiên cứu khoa học liên hệ với nhau theo trình tự:
nghiên cứu cơ bản - nghiên cứu ứng dụng - nghiên cứu triển khai, thực
nghiệm. Trong đó, kết quả nghiên cứu của loại hình trước là cơ sở, tiền đề,
điều kiện cho sự bắt đầu của loại hình nghiên cứu sau đó. Đồng thời, nghiên
cứu khoa học có mối quan hệ không thể tách rời với hoạt động thực tiễn bởi
suy đến cùng, mọi nghiên cứu đều hướng tới phát triển các phương diện hoạt
động thực tiễn của con người.
Mỗi đề tài khoa học, xét mục tiêu chính của nó đều thuộc một loại
hình nghiên cứu khoa học xác định. Song trong chính mỗi đề tài nghiên cứu,
sự xuất hiện của trật tự logic nội dung bao giờ cũng thể hiện đầy đủ các loại
hình nghiên cứu nêu trên ở các mức độ khác nhau. Chính đặc điểm này cho 18
phép chúng ta hiểu sự phân chia loại hình nghiên cứu khoa học chỉ là tương đối. VẤN ĐỀ ÔN TẬP 1.
Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học. 2.
Bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học và chức năng của nghiên cứu khoa học. 3.
Đặc điểm cơ bản của nghiên cứu khoa học và ý nghĩa rút ra đối
với bản thân hiện nay và khi trở thành nhà khoa học. 4.
Đặc thù trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. 5.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu cơ bản trong sự phát
triển khoa học và đời sống xã hội. 6.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu ứng dụng trong sự
phát triển khoa học và đời sống xã hội. 7.
Đặc điểm, vị trí và vai trò của nghiên cứu triển khai - thực
nghiệm trong sự phát triển khoa học và xã hội. 8.
Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học và thực tiễn. 19