Đề: Hãy phân tích và chỉ ra công trái là cầu nối giữa CSTK và CSTT. Quan điểm
của em về việc phát hành công trái bù đắp thâm hụt ngân sách ở Việt Nam
BÀI LÀM
I.CÔNG TRÁI – CẦU NỐI GIỮA CSTK VÀ CSTT
1. Công trái
1.1.Công trái, mục đích phát hành công trái
Công trái một hình thức tín dụng nhà nước, khoản nợ công trái được ghi trên
giấy gọi là “phiếu”, việc vay của chính quyền nhà nước để bù đắp chỉ tiêu được áp
dụng phổ biến ở các nước.
Công trái thu bằng đồng Việt Nam, thanh toán bằng đồng Việt Nam.Trường
hợp người mua công trái bằng vàng và ngoại tệ, sẽ được cơ quan phát hành chuyển
đổi thành đồng Việt Nam.
Công tráikhoản nợ vay của nhà nước hoặc chính quyền địa phương để chi tiêu
cho mục đích công hình thức tín dụng nhà nước, công trái thể được coi
biện pháp để chính phủ huy động nguồn lực tài chính của các thành phần trong
hội để từ đó thực hiện những mục tiêu công của nhà nước đã đề ra.
Khi các thành phần trong xã hội cung cấp những khoản tài chính cho nhà nước lợi
ích nhận được sẽnguồn lợi nhuận từ khác khoản cho vay này. Nguồn lợi nhuận
hay còn gọi lãi suất sẽ được quy định cụ thể khi thực hiện các hoạt động cho
vay.
So với các loại hình cho vay khác thì công trái được coi an toàn hơn tính
ổn định hơn. Nếu như các loại hình cho vay khác, chủ sở hữu tài sản phải tìm hiểu
người đi vay chịu rủi ro khi đầu tư. Còn đối với hình thức này thì chủ thể được
đảm bảo bằng uy tín nhà nước và đặc biệt là ngân sách nhà nước.
Mục đích sử dụng công trái được quy định ràng cụ thể trong quy định của
pháp luật, theo đó công trái đươc sử dụng vào những mục đích công. Những hoạt
động các chủ thể khác không đủ khả năng tài chính để làm hoặc không muốn
làm.
Các hoạt động sử dụng công trái như: Đầu phát triển kinh tế hội thuộc
nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà
nước. đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn
hạn. cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ. Cho doanh nghiệp, tổ chức tài
1
chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật. Các
mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
Những hoạt động thực hiện này thường mang giá trị lớn, để thực hiện được phải
theo kế hoạch của nhà nước tình hình phát triển của đất nước. Khi thực hiện
những dự án công nói trên góp phần làm thúc đẩy phát triển đất nước tạo nguồn
đầu tư lớn.
1.2.Đối tượng mua công trái
- Công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Người nước ngoài làm việc, cư trú ở Việt Nam.
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị hội, tổ chức chính trị hội nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
- Doanh nghiệp Nhà nước.
- Doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
1.3.Các loại công trái
Công trái được phân chia làm nhiều loại, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có công trái
trong nước công trái ngoài nước; căn cứ vào thời hạn thanh toán nợ vay,
công trái ngắn hạn (dưới 1năm), công trái trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm), công
trái dài hạn (từ 5 năm trở lên); căn cứ vào cấp chính quyền đứng ra tổ chức vay, có
công trái của chính quyền trung ương (công trái Chính phủ), công trái của chính
quyền địa phương.
2. Chính sách tài khóa
2.1. Chính sách tài khóa là gì?
Chính sách tài khóa chính sách chính phủ sử dụng hai công cụ thuế chi
tiêu của chính phủ để điều tiết nền kinh tế mô. Chính sách tài khóa thể hiện 3
nội dung: chính sách tài khóa với mục tiêu ổn định hóa nền kinh tế, vấn đề thâm
hụt NSNN và nợ quốc gia.
2.2. Vài trò của chính sách tài khóa
Trong kinh tế mô, chính sách tài khóa có vai tròý nghĩacùng quan trọng.
Theo đó:
- Chính sách tài khóa công cụ giúp Chính phủ điều tiết nền kinh tế thông
qua chính sách chi tiêu mua sắm thuế. trong điều kiện bình thường,
chính sách tài khóa được sử dụng để tác động vào tăng trường kinh tế. Còn
2
trong điều kiện nền kinh tế dấu hiệu suy thoái hay phát triển quá mức,
chính sách tài khóa lại trở thành công cụ được sử dụng để giúp đưa nền kinh
tế về trạng thái cân bằng.
- Về mặt thuyết, chính sách tài khóa một công cụ nhằm khắc phục thất
bại của thị trường, phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế
thông qua thực thi chính sách chi tiêu của chính phủ và thu ngân sách (thuế).
- Chính sách tài khóa một công cụ phân phối tái phân phối tổng sản
phẩm quốc dân. Mục tiêu của chính sách nhằm điều chỉnh phân phối thu
nhập, hội, tài sản, hay các rủi ro có nguồn gốc từ thtrường. Tức là chính
sách tài khóa nhằm tạo lập một sự ổn định về mặt hội để tạo ra môi
trường ổn định cho đầu tư và tăng trưởng.
- Chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trưởng định hướng phát
triển.Tăng trưởng (thu nhập), trực tiếp hay gián tiếp, đều mục tiêu cuối
cùng của chính sách tài khóa.
3.Chính sách tiền tệ
3.1.Chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ (CSTT) một bộ phận nằm trong tổng thể hệ thống chính sách
kinh tế mà nhà nước đề ra nhằm thực hiện quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế để đạt
được những mục tiêu về kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường, trong đó:
Theo nghĩa rộng, chính sách tiền tệ chính sách điều hành kiểm soát toàn bộ
khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, có tác động đến 04 mục tiêu lớn của
kinh tế để từ đó đạt được mục tiêu bản ổn định tiền tệ, giữ vững sức
mua của đồng tiền và ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa hẹp, chính sách tiền tệ là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung
ứng tăng thêm trong thời gian tới phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến
chỉ số lạm phát nếu có và cũng nhằm ổn định tiền tệ cũng như giá cả hàng hóa.
3.2.Vai trò của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ vai trò quan trọng trong trong việc điều tiết lượng tiền lưu
thông trong toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia. Thông qua chính sách tiền tệ,
ngân hàng trung ương thể kiểm soát hệ thống tiền tệ để thông qua đó thể
kiềm chế đẩy lùi lạm phát, ổn định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ đồng thời cũng là công cụ kiểm soát toàn
3
bộ hệ thống các Ngân hàng thương mại tổ chức tín dụng. Vai trò của chính
sách tiền tệ đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia như sau:
-Việc mở rộng hay thu hẹp chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng trực tiếp đến
việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực hội, quy sản xuất kinh doanh và
từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của một nền kinh tế. Một quốc gia
muốn giảm tỷ lệ thất nghiệp thì buộc phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng
lên.
-Mục tiêu hàng đầu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ tăng trưởng
kinh tế. Sự tăng trưởng này có thể đạt được thông qua 02 yếu tố chính đó
lượng cầu tổng quát lãi suất. Trong đó, lượng cầu tổng quát lãi suất
đều chịu tác động bởi khối lượng tiền tệ trong thị trường cho khối lượng
tiền tệ tăng hay giảm. Việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ lại tác động đến
sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc
gia, hay nói cách khác là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Chính
vì vậy, chính sách tiền tệ cần phải thông qua việc tăng hay giảm khối lượng
tiền tệ thích hợp để đạt được mục đích tăng trưởng kinh tế.
-Ổn định giá cả ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi kinh tế
của một quốc gia. Cùng với đó, việc ổn định lãi suất cũng không kém phần
quan trọng bởi những biến động của lãi suất làm cho nền kinh tế của một
quốc gia bấp bênh và khó lập kế hoạch định hướng cho tương lai.
4.Áp dụng công trái bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước
4.1.Thâm hụt ngân sách nhà nước
- Thâm hụt ngân sách nhà nước là khi chi tiêu vượt quá nguồn thu từ thuế.
Để hiểu sâu hơn về vấn đề thâm hụt, chúng ta cần phân biệt ba khái niệm sau:
Thâm hụt ngân sách thực tế: thâm hụt khi số chi thực tế vượt qua số thu thực
tế trong một thời kỳ nhất định
Thâm hụt ngân sách cơ cấu:thâm hụt tính toán trong trường hợp nếu nền kinh
tế đang hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng
Thâm hụt ngân sách chu kỳ: thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng của chu
kỳ kinh doanh. Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số của thâm hụt thực tế và thâm hụt
cấu
Tuy nhiên, để đánh gia chính sách tài khóa, người ta sử dụng thâm hụt cấu bởi
thâm hụt cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của chính sách tài khóa
như: định ra thuế suất, các chương trình thanh toán chuyển nhượng,
4
*Tùy vào tình hình kinh tế, thu chi thực tế thể lớn hoặc nhỏ hơn so với dự
kiến. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách, thì chính phủ phải đi vay công
chúng để trả cho những khoản nợ của mình. Chính phủ vay nợ thông qua phát hành
trái phiếu, đó là hình thức ghi nợ (IOU) cam kết trả lại tiền tại một thời điểm trong
tương lai.
4.2. Bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước
Một vấn đề nổi lên hiện nay trong điều hành kinh tế đang làm đau đầu các
quan quản lý, đó thâm hụt ngân sách. Dưới góc độ của CSTT, thì đây một
áp lực lớn đối với sự ổn định lâu dài của CSTT. Nếu một CSTK kém bền vững về
lâu dài sẽ tác động lên mục tiêu CSTT. Kỳ vọng thâm hụt ngân sách lớn liên
tục, cộng với nhu cầu nợ lớn của Chính phủ có thể giảm lòng tin vào nền kinh tế và
gây rủi ro đến sự ổn định của thị trường tài chính. Một khi thiếu niềm tin vào sự
bền vững tài chínhthể trở thành yếu tố tiềm ẩn gây ra bất ổn cho các thị trường
trái phiếu, ngoại hối và thậm chí làm sụp đổ cơ chế tiền tệ.
Để giải quyết vấn đề này cần sự phối hợp đồng bộ nhiều các biện pháp chính sách
để tăng thu, chống thất thu thuế, giảm chi, nhất là chi thường xuyên, nâng cao hiệu
quả các khoản chi cho xây dựng bản, giáo dục đào tạo, y tế… Trong đó, CSTT
vai trò rất quan trọng để hỗ trợ cho CSTK khắc phục những khó khăn trong
ngắn hạn. Bởi CSTT được xem công cụ tính lỏng - linh hoạt cao, còn CSTK
là công cụ cứng. Và CSTT luôn bổ trợ CSTK để cùng hướng tới mục tiêu chung là
ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Về nguyên lý, nguồn đắp cho thâm hụt ngân sách chỉ từ 3 nguồn: huy động
trong dân, vay nước ngoài từ khu vực NH. Trong đó, vay nước ngoài nguồn
luôn phải được Chính phủ cân nhắc kỹ lưỡng. Bài học đắt giá của việc dùng nguồn
phát hành để đắp cho thâm hụt ngân sách trong thập kỷ 90 gây ra lạm phát phi
vẫn còn đó. Chính vậy, Luật NHNN, Luật NSNN cũng không cho phép sử
dụng nguồn này để đắp thâm hụt ngân sách. NSNN chỉ được phép tạm ứng từ
NHNN trong năm ngân sách để bù đắp thiếu hụt tạm thời về nguồn thu NSNN. Để
hỗ trợ nguồnđắp cho thâm hụt ngân sách, cũng như tạo công cụ cho điều hành
CSTT, NHNN đã cùng phối hợp với Bộ Tài chính, phát triển thị trường tín phiếu
kho bạc, trái phiếu Chính phủ. Các ngân hàng thương mại (NHTM) sử dụng nguồn
tiền nhàn rỗi để mua tín phiếu kho bạc và sử dụng như một công cụ đảm bảo thanh
khoản cho mình. Trong điều kiện nới lỏng CSTT, NHNN cũng thể mua tín
phiếu để nắm giữ làm công cụ can thiệp thị trường khi cần thiết. Bên cạnh đó,
NHTM cũng mua trái phiếu Chính phủ để vừa đầu dài hạn, vừa sử dụng như
công cụ tham gia nghiệp vụ thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản.
5
Tuy nhiên, việc các NHTM đầu vào trái phiếu Chính phủ phải những giới
hạn nhất định để đảm bảo vừa kiểm soát được lạm phát, vừa đảm bảo việc mở rộng
đầu khu vực sản xuất phi Chính phủ. Chính vậy, trong quy định về tỷ lệ an
toàn với hoạt động các tổ chức tín dụng, NHNN luôn quy định một tỷ lệ đầu tư trái
phiếu Chính phủ cho các NHTM. Tại Thông tư 36, NHNN quy định các NHTM
Nhà nước, chi nhánh NH nước ngoài chỉ được phép đầutối đa 15%; NHTMCP,
NH liên doanh, NH 100% vốn nước ngoài là 35% so với nguồn vốn huy động ngắn
hạn. Nay NHNN đã nâng tỷ lệ này lên 25% đối với các NHTM Nhà nước 35%
đối với chi nhánh NH nước ngoài. Đây giải pháp rất ý nghĩa trong bối cảnh
NSNN đang khó khăn như hiện nay. Song NHNN cần thường xuyên theo dõi tác
động của chính sách này đối với hiệu quả của CSTT khi lạm phát có xu hướng gia
tăng để có những điều chỉnh kịp thời.
Từ những phân tích trên, ta thể thấy rằng trái phiếu cầu nối giữa CSTT
CSTK để điều tiết, khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước và ổn định nền kinh tế.
II. QUAN ĐIỂM VỀ VIỆC PHÁT HÀNH CÔNG TRÁI ĐẮP NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.Phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam
Dưới tác động của đại dịch COVID-19, hoạt động kinh tế bị trì trệ khiến thu ngân
sách nhà nước (NSNN) bị ảnh hưởng tiêu cực, trong khi đó nhu cầu chi tiêu cho
công tác phòng chống, khắc phục hậu quả của bệnh dịch lại tăng cao. Tuy nhiên,
thâm hụt ngân sách đã kéo dài trong nhiều năm, cùng với việc chính sách tiền tệ bị
ràng buộc với các mục tiêu về lạm phát tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi
các chính sách theo cách tương tự như các nước lớn trên thế giới. Nới lỏng
tiền tệ với quylớn có thể dẫn đến mất giá nội tệ, môi trường đầu tư trở nên rủi
ro hơn, làm trì hoãn các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Do đó, để thực
hiện các chính sách hỗ trợ bệnh dịch cũng như thiên tai, trong thời gian tới, chính
phủ nên thực hiện một số biện pháp huy động nguồn lực tài chính.
Ngoài việc cắt giảm chi thường xuyên tranh thủ các nguồn vốn vay ưu đãi
(không lãi suất hoặc lãi suất rất thấp) từ các tổ chức quốc tế, chính phủ thể thực
hiện phát hành trái phiếu. Cụ thể, chính phủ có thể phát hành trái phiếu với lãi suất
thấp (Hình 1) trong điều kiện hệ thống tài chính đang thừa thanh khoản.
Biện pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ nên được sử
dụng mức vừa phải để đảm bảo khu vực nhân thể tiếp cận vốn dễ
dàng(NEU-JICA, 2020). Đặc biệt khi mức độ tín nhiệm của Việt Nam đang
được duy trì tốt tạo hội tận dụng nguồn lực tài chính nhằm khôi phục kinh tế
hậu COVID-19.
Năm 2021, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam tiếp tục được duy trì ổn định so với
năm 2020 2019, đồng thời, ba tổ chức Standard & Poors, Fitch Ratings
Moody’s đều nâng triển vọng lên tích cực. Điều này phản ánh đánh giá tích cực
của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đối với các kết quả về giữ vững ổn
định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam trong bối
cảnh COVID-19. Nhu cầu vốn đầu cho phát triển kinh tế - hội giai đoạn tới
của Việt Nam sẽ rất lớn nhằm phục hồi những tổn thương do đại dịch gây ra. Nếu
chỉ phụ thuộc vào huy động từ thị trường vốn trong nước không đủ còn tạo
áp lực lớn lên thị trường tài chính trong nước vốn còn non yếu, còn tồn tại các hạn
chế cần được củng cố khắc phục. Do đó, song song với thị trường trong nước,
Việt Nam có thể phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường vốn quốc tế.
Thị trường trái phiếu Việt Nam được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu huy động
vốn của chính phủ, chính quyền địa phương, ngân hàng chính sách doanh
nghiệp. Căn cứ vào nhu cầu
trên, trái phiếu Việt Nam được
chia thành 04 loại gồm (1) trái
phiếu chính phủ, (2) trái phiếu
chính quyền địa phương, (3)
trái phiếu chính phủ bảo lãnh,
và (4) trái phiếu doanh nghiệp.
Trong đó, ba loại trái phiếu
chính phủ, chính quyền địa
phương chính phủ bảo lãnh
kênh huy động vốn cho
ngân sách nhà nước, chính
quyền địa phương các
chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước (ABO, 2020; Bộ Tài chính, 2021).
Đặc biệt, trái phiếu chính phủ đóng vai trò then chốt trên thị trường trái phiếu với
7
hai mục tiêu lớn kênh huy động vốn hiệu quả cho NSNNthị trường chuẩn
cho thị trường tài chính (Hình 2).
Sau 12 năm hoạt động phát triển, thị trường bản đã đáp ứng được các mục
tiêu của lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định 1191/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
đã đặt ra cho thị trường trái phiếu Việt Nam, đó phát triển thị trường trái phiếu
ổn định, mở rộng sở nhà đầu tư, tăng quychất lượng hoạt động, đa dạng
hóa các sản phẩm, đảm bảo thị trường hoạt động công khai, minh bạch và hiệu quả,
từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Thị trường TPCP đã trở thành kênh huy động vốn trungdài hạn quan trọng cho
NSNN, gắn công tác phát hành TPCP với tái cấu nợ Chính phủ thông qua việc
tập trung phát hành các kỳ hạn dài đa dạng hóa sở nhà đầu tư. Về phương
thức phát hành, Kho bạc Nhà nước (KBNN) tập trung phát hành theo phương thức
đấu thầu để tăng tính cạnh tranh công khai minh bạch trong tổ chức phát hành
trái phiếu và sắp tới đây, phương thức đấu thầu đa giá sẽ được triển khai chính thức
nhằm tạo thêm tính linh hoạt trong việc xác định kết quả đấu thầu.
Đặc biệt công tác phát hành TPCP đã khẳng định được vai trò là công cụ tái cơ cấu
nợ công, giúp nợ công giảm tỷ trọng vay nước ngoài từ 73,6% năm 2010 xuống
mức 63,4% năm 2015 34,8% năm 2021. Lãi suất bình quân huy động giảm từ
khoảng 10% năm 2009 xuống khoảng 2% năm 2021, kỳ hạn phát hành bình quân
kéo dài từ 2-3 năm năm 2009 lên 12,2 năm năm 2021, thông qua đó góp phần tái
cấu nợ công theo hướng an toàn, bền vững tái cấu giảm các đỉnh nợ rơi
vào một số năm trở nên đồng đều hơn.
Đáng chú ý, trên thị trường sơ cấp, trong vòng 12 năm, hơn 2,47 triệu tỷ đồng vốn
đã được huy động cho Ngân sách nhà nước để phục vụ cho nhu cầu đầu phát
triển kinh tế đất nước. Con số này tương ứng với mức huy động bình quân năm đạt
hơn 206 nghìn tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 10% tổng vốn đầu của toàn hội năm
2020, 28,3% tổng vốn đầu của khu vực Nhà nước năm 2020. Để huy động
được lượng vốn hơn 2,47 triệu tỷ đồng này, đã hơn 2.600 phiên đấu thầu được
tổ chức tại HNX với tỷ lệ huy động thành công bình quân đạt 60-70% trên tổng
khối lượng gọi thầu.
Qua 12 năm, lãi suất huy động vốn trên thị trường TPCP đã giảm đáng kể, giúp tiết
kiệm cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng tiền trả lãi hỗ trợ tích cực trong điều tiết
kinh tế mô. Lãi suất huy động vốn trung bình đã giảm từ 4 đến 6%/năm trên tất
cả c kỳ hạn. Trong đó, đặc biệt giảm mạnh tại kỳ hạn 5 năm (giảm từ
10,49%/năm trong 2009 xuống còn 1%/năm trong 2021; kỳ hạn 10 năm (giảm từ
mức 9,7%/năm trong 2009 xuống còn 2,06%/năm trong 2021).
8
Kỳ hạn phát hành của TPCP ngày càng tăng. Kỳ hạn phát hành bình quân đã tăng
từ 2-3 năm năm 2009 lên 13,8 năm trong năm 2020.
Trên thị trường thứ cấp, giao dịch TPCP không ngừng tăng về quy độ sâu,
tiệm cận với các nước có thị trường TPCP phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Tổng nợ thị trường TPCP tại HNX tính đến hết tháng 8/2021 đạt 1,4 triệu tỷ
đồng, gấp 8,7 lần quy năm 2009. Thanh khoản trái phiếu năm 2021 đạt mức
10,8 nghìn tỷ đồng/phiên, gấp 29,7 lần so với năm 2009. Giá trị giao dịch Repos
theo đó cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ quy khiêm tốn với tỷ trọng 6,5% trên
tổng giá trị giao dịch năm 2009 lên mức 33% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường
năm 2021.
2.Điểm tích cực và tiêu cực của việc phát hành trái phiếu
Phát hành trái phiếu chính phủ đem lại những tác động tích cực lẫn tiêu cực. Trong
đó, việc phát hành trái phiếu vẫn tồn tại những rủi ro cần phải xem xét. Đặc biệt là
khi chính phủ thực hiện phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD, Euro)
do không thể vay mượn nước ngoài bằng nội tệ, điều này sẽ làm mất giá đồng nội
tệ. Kết quả mức nợ công sẽ tăng cao do chi phí lãi vay tăng ảnh hưởng xấu
đến ngân sách nhà nước . vậy, bình ổn tiền tệ ưu tiên hàng đầu đối với ngân
hàng trung ương khi phát hành trái phiếu. Bên cạnh đó, phát hành trái phiếu chính
phủ làm giảm khả năng giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính (Brki´c, 2021).
Nguyên nhân là do việc phát hành trái phiếu chính phủ kéo theo lạm phát gia tăng,
khiến thu nhập cố định sụt giảm, rủi ro mà quốc gia gánh phải cũng sẽ tăng khi lãi
suất thị trường tăng, thậm chí khiến quốc gia đối diện với rủi ro vỡ nợ, nguy
đưa đất nước rơi vào khủng hoảng và bất ổn vĩ mô.
Tuy nhiên, phát hành trái phiếu chính phủ cũng góp phần giải quyết một số vấn đề
của quốc gia. Tại Việt Nam nói riêng thị trường quốc tế nói chung, phát hành
trái phiếu là cách để tạo ra một thị trường vay nợ uy tín nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
vay, từ đó, mở rộng nguồn cung vốn cho thị trường liên ngân hàng. Đồng thời, trái
phiếu giúp hỗ trợ hoạt động quản thanh khoản của ngân hàng trung ương. Đặc
biệt, đây được xem giải pháp đầu ít hoặc thậm chí không rủi ro cho nhà
đầu tư. Ngoài ra, trái phiếu chính phủ cũng góp phần duy trì phát triển thị
trường tài chính hiệu quả; cung cấp sở hạ tầng thị trường thông qua một hệ
thống thanh toán và một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh
3.Một số đề xuất, khuyến nghị khi phát hành trái phiếu giai đoạn 2021 - 2030
Để thực hiện việc phát hành trái phiếu thành công, đạt được tính hiệu quả trong sử
dụng vốn, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công an ninh tài chính quốc gia, cần
tập trung giải quyết các vấn đề sau:
9
Thứ nhất, trong giai đoạn trước mắt, cần căn cứ vào khung cân đối ngân sách nhà
nước giai đoạn 2021 - 2025, dựa vào các chỉ tiêu về tỷ lệ huy động các nguồn lực
vào ngân sách, tỷ lệ bội chi hằng năm, vay hỗ trphát triển chính thức vay ưu
đãi, khả năng phát hành trái phiếu chính phủ trong nước, huy động vốn từ các quỹ
tài chính nhà nước để xác định nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ trên thị
trường quốc tế. Việc xây dựng kế hoạch cần dựa trên kịch bản khả năng huy động
vốn ODA và vay ưu đãi sẽ tiếp tục xu hướng giảm. Cũng cần chú ý thời điểm phát
hành trái phiếu chính phủ trên thị trường vốn quốc tế đặt trong tổng thể phát hành
trái phiếu chính phủ khi nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân
sách nhà nước xu hướng tăng nhanh khả năng vượt ngưỡng 25% trong
một số năm trong giai đoạn tới do lịch trả nợ gốc không đồng đều, tập trung cao
vào một số năm.
Thứ hai, Chính phủ cần đưa ra dự báo các tác động kinh tế (đặc biệt tài khóa
tiền tệ) tiềm ẩn của từng đợt phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế. Các
vấn đề về phân tích tác động chính sách, như tác động đến nợ quốc gia, triển vọng
tăng trưởng bền vững, điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, dự trữ ngoại
hối thanh khoản của nền kinh tế đều cần được xem xét thận trọng. Đặc biệt,
Ngân hàng Nhà nước Bộ Tài chính cần phối hợp để tính toán, dự báo các tác
động của biến động tỷ giá tới chi phí lãi vay và khả năng trả nợ trong suốt thời hạn
của trái phiếu. Nhìn chung, mọi đợt phát hành sẽ thuận lợi nếu được hình thành
dựa trên một khuôn khổ tài khóa tiền tệ ổn định. Ngoài ra, Nhà nước cần tách
bạch quản lý nợ nước ngoài khu vực công và khu vực tư nhân. Theo đó, chỉ nên đề
ra mức trần nợ công nước ngoài trên tổng dư nợ công và thiết lập chỉ tiêu cảnh báo
(thay vì mức trần cứng) đối với chỉ tiêu trả nợ nước ngoài của khu vực công và của
khu vực tư nhân để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Thứ ba, Chính phủ nên cân nhắc lựa chọn phương án phát hành phù hợp trong số
các phương án phát hành trái phiếu quốc tế phổ biến hiện nay. Nhiều quốc gia
trong khu vực châu Á thường lựa chọn phương án phát hành theo các hình thức,
như trái phiếu toàn cầu được phát hành theo hình thức 144A/Quy chế S, trái phiếu
Eurobond, trái phiếu Samurai trái phiếu Sukuk. Trong thời gian đầu, Việt Nam
nên tiếp tục lựa chọn phương án phát hành bằng đồng USD theo hình thức
144A/Quy chế S bằng đồng USD thị trường vốn bằng đồng USD mức độ
phát triển sâutính thanh khoản cao, giúp huy động được khối lượng vốn lớn
kỳ hạn dài. Lãi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ hiện mức thấp do các chính sách nới
lỏng tiền tệ của Chính phủ Mỹ nên yếu tố cạnh tranh so với phương án phát
hành bằng đồng ngoại tệ khác. Ngoài ra, Việt Nam đã kinh nghiệm phát hành
trái phiếu quốc tế bằng đồng USD trước đó.
10
Thứ tư, Chính phủ nên xem xét đến phương án xây dựng chương trình phát hành
trái phiếu trung hạn toàn cầu. Đây khung hồ phát hành trái phiếu quốc tế
chuẩn được các nhà đầu chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu thường được áp
dụng bởi các nhà phát hành trái phiếu quốc tế thường xuyên. Chương trình phát
hành trái phiếu trung hạn cho phép Chính phủ linh hoạt phát hành trái phiếu quốc
tế đa dạng các loại tiền tệ với khối lượng khác nhau tại các thời điểm khác nhau
trong khi vẫn sử dụng cùng một bộ khung hồ pháp lý. Ưu điểm của chương
trình này nằm tính chủ động nắm bắt thời điểm thuận lợi để tiến hành giao dịch,
thông qua việc rút gọn thời gian chuẩn bị thủ tục, hồ pháp lý, chi phí cho mỗi
đợt phát hành.
Thứ năm, Chính phủ cần xây dựng cơ chế huy động, sử dụng và quản lý nguồn tiền
thu được sau phát hành bảo đảm tính hiệu quả. Nguồn tiền thu được từ các đợt phát
hành trái phiếu quốc tế cần gắn với các đợt giải ngân cho các dự án đầu nhằm
hạn chế tình trạng đọng vốn dẫn đến lãng phí nguồn lực, giảm thiểu rủi ro phát sinh
giữa khối lượng phát hành với nhu cầu vốn theo tiến độ thực hiện bảo đảm khả
năng tạo nguồn trả nợ khi đến hạn. Do vậy, căn cứ vào danh mục các dự án được
ưu tiên vay lại từ nguồn trái phiếu quốc tế được phê duyệt, các chủ đầu cần
kế hoạch giải ngân cụ thể để Chính phủ chủ động xây dựng thực hiện kế hoạch
phát hành tương ứng, đặt trong bối cảnh thị trường vốn quốc tế luôn sự biến
động. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp
để xác định nhu cầu vốn đầu tư, khả năng huy động vốn của nền kinh tế trong
nước, của Chính phủ (cơ cấu lại nợ, vốn bổ sung cho các dự án trọng điểm, khoản
vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh chuyển sang cho vay lại) để trình Chính
phủ phương án huy động trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế.
Thứ sáu, Chính phủthể xem xét chuyển đổi một số khoản vay nước ngoài được
Chính phủ bảo lãnh có chi phí cao sang áp dụng cơ chế vay lại từ nguồn phát hành
trái phiếu quốc tế có chi phí thấp hơn khi tính cả phí cam kết, phí bảo hiểm rủi ro.
Thứ bảy, phát hành lượng trái phiếu chính phủ quy lớn bao hàm những thách
thức không nhỏ trong tương lai đối với Chính phủ khi trái phiếu tới hạn thanh toán.
Ngoài việc thực hiện đảo nợ thông qua một đợt phát hành mới cách làm phổ
biến, Chính phủ thể cân nhắc tới phương án trả dần nợ gốc, lựa chọn mua lại
trước thời điểm đáo hạn, hoặc hình thành quỹ tích lũy tiền trả nợ với từng đợt phát
hành.
11
12

Preview text:

Đề: Hãy phân tích và chỉ ra công trái là cầu nối giữa CSTK và CSTT. Quan điểm
của em về việc phát hành công trái bù đắp thâm hụt ngân sách ở Việt Nam BÀI LÀM
I.CÔNG TRÁI – CẦU NỐI GIỮA CSTK VÀ CSTT 1. Công trái
1.1.Công trái, mục đích phát hành công trái
Công trái là một hình thức tín dụng nhà nước, khoản nợ công trái được ghi trên
giấy gọi là “phiếu”, việc vay của chính quyền nhà nước để bù đắp chỉ tiêu được áp
dụng phổ biến ở các nước.
Công trái thu bằng đồng Việt Nam, và thanh toán bằng đồng Việt Nam.Trường
hợp người mua công trái bằng vàng và ngoại tệ, sẽ được cơ quan phát hành chuyển
đổi thành đồng Việt Nam.
Công trái là khoản nợ vay của nhà nước hoặc chính quyền địa phương để chi tiêu
cho mục đích công là hình thức tín dụng nhà nước, công trái có thể được coi là
biện pháp để chính phủ huy động nguồn lực tài chính của các thành phần trong xã
hội để từ đó thực hiện những mục tiêu công của nhà nước đã đề ra.
Khi các thành phần trong xã hội cung cấp những khoản tài chính cho nhà nước lợi
ích nhận được sẽ là nguồn lợi nhuận từ khác khoản cho vay này. Nguồn lợi nhuận
hay còn gọi là lãi suất sẽ được quy định cụ thể khi thực hiện các hoạt động cho vay.
So với các loại hình cho vay khác thì công trái được coi là an toàn hơn và có tính
ổn định hơn. Nếu như các loại hình cho vay khác, chủ sở hữu tài sản phải tìm hiểu
người đi vay và chịu rủi ro khi đầu tư. Còn đối với hình thức này thì chủ thể được
đảm bảo bằng uy tín nhà nước và đặc biệt là ngân sách nhà nước.
Mục đích sử dụng công trái được quy định rõ ràng và cụ thể trong quy định của
pháp luật, theo đó công trái đươc sử dụng vào những mục đích công. Những hoạt
động mà các chủ thể khác không đủ khả năng tài chính để làm hoặc không muốn làm.
Các hoạt động sử dụng công trái như: Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc
nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà
nước. Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn
hạn. Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ. Cho doanh nghiệp, tổ chức tài 1
chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật. Các
mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
Những hoạt động thực hiện này thường mang giá trị lớn, để thực hiện được phải
theo kế hoạch của nhà nước và tình hình phát triển của đất nước. Khi thực hiện
những dự án công nói trên góp phần làm thúc đẩy phát triển đất nước tạo nguồn đầu tư lớn.
1.2.Đối tượng mua công trái
- Công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Người nước ngoài làm việc, cư trú ở Việt Nam.
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. - Doanh nghiệp Nhà nước.
- Doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. 1.3.Các loại công trái
Công trái được phân chia làm nhiều loại, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có công trái
trong nước và công trái ngoài nước; căn cứ vào thời hạn thanh toán nợ vay, có
công trái ngắn hạn (dưới 1năm), công trái trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm), công
trái dài hạn (từ 5 năm trở lên); căn cứ vào cấp chính quyền đứng ra tổ chức vay, có
công trái của chính quyền trung ương (công trái Chính phủ), công trái của chính quyền địa phương. 2. Chính sách tài khóa
2.1. Chính sách tài khóa là gì?
Chính sách tài khóa là chính sách mà chính phủ sử dụng hai công cụ thuế và chi
tiêu của chính phủ để điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Chính sách tài khóa thể hiện ở 3
nội dung: chính sách tài khóa với mục tiêu ổn định hóa nền kinh tế, vấn đề thâm
hụt NSNN và nợ quốc gia.
2.2. Vài trò của chính sách tài khóa
Trong kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo đó:
- Chính sách tài khóa là công cụ giúp Chính phủ điều tiết nền kinh tế thông
qua chính sách chi tiêu mua sắm và thuế. Ở trong điều kiện bình thường,
chính sách tài khóa được sử dụng để tác động vào tăng trường kinh tế. Còn 2
trong điều kiện nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái hay phát triển quá mức,
chính sách tài khóa lại trở thành công cụ được sử dụng để giúp đưa nền kinh
tế về trạng thái cân bằng.
- Về mặt lý thuyết, chính sách tài khóa là một công cụ nhằm khắc phục thất
bại của thị trường, phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế
thông qua thực thi chính sách chi tiêu của chính phủ và thu ngân sách (thuế).
- Chính sách tài khóa là một công cụ phân phối và tái phân phối tổng sản
phẩm quốc dân. Mục tiêu của chính sách là nhằm điều chỉnh phân phối thu
nhập, cơ hội, tài sản, hay các rủi ro có nguồn gốc từ thị trường. Tức là chính
sách tài khóa nhằm tạo lập một sự ổn định về mặt xã hội để tạo ra môi
trường ổn định cho đầu tư và tăng trưởng. -
Chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trưởng và định hướng phát
triển.Tăng trưởng (thu nhập), trực tiếp hay gián tiếp, đều là mục tiêu cuối
cùng của chính sách tài khóa. 3.Chính sách tiền tệ
3.1.Chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận nằm trong tổng thể hệ thống chính sách
kinh tế mà nhà nước đề ra nhằm thực hiện quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế để đạt
được những mục tiêu về kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường, trong đó:
Theo nghĩa rộng, chính sách tiền tệ là chính sách điều hành và kiểm soát toàn bộ
khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, có tác động đến 04 mục tiêu lớn của
kinh tế vĩ mô để từ đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức
mua của đồng tiền và ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa hẹp, chính sách tiền tệ là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung
ứng tăng thêm trong thời gian tới phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và
chỉ số lạm phát nếu có và cũng nhằm ổn định tiền tệ cũng như giá cả hàng hóa.
3.2.Vai trò của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng trong trong việc điều tiết lượng tiền lưu
thông trong toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia. Thông qua chính sách tiền tệ,
ngân hàng trung ương có thể kiểm soát hệ thống tiền tệ để thông qua đó có thể
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ đồng thời cũng là công cụ kiểm soát toàn 3
bộ hệ thống các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng. Vai trò của chính
sách tiền tệ đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia như sau:
-Việc mở rộng hay thu hẹp chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng trực tiếp đến
việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và
từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của một nền kinh tế. Một quốc gia
muốn giảm tỷ lệ thất nghiệp thì buộc phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
-Mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là tăng trưởng
kinh tế. Sự tăng trưởng này có thể đạt được thông qua 02 yếu tố chính đó là
lượng cầu tổng quát và lãi suất. Trong đó, lượng cầu tổng quát và lãi suất
đều chịu tác động bởi khối lượng tiền tệ trong thị trường dù cho khối lượng
tiền tệ tăng hay giảm. Việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ lại tác động đến
sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc
gia, hay nói cách khác là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Chính
vì vậy, chính sách tiền tệ cần phải thông qua việc tăng hay giảm khối lượng
tiền tệ thích hợp để đạt được mục đích tăng trưởng kinh tế.
-Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
của một quốc gia. Cùng với đó, việc ổn định lãi suất cũng không kém phần
quan trọng bởi những biến động của lãi suất làm cho nền kinh tế của một
quốc gia bấp bênh và khó lập kế hoạch định hướng cho tương lai.
4.Áp dụng công trái bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước
4.1.Thâm hụt ngân sách nhà nước
- Thâm hụt ngân sách nhà nước là khi chi tiêu vượt quá nguồn thu từ thuế.
Để hiểu sâu hơn về vấn đề thâm hụt, chúng ta cần phân biệt ba khái niệm sau:
Thâm hụt ngân sách thực tế: là thâm hụt khi số chi thực tế vượt qua số thu thực
tế trong một thời kỳ nhất định
Thâm hụt ngân sách cơ cấu: là thâm hụt tính toán trong trường hợp nếu nền kinh
tế đang hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng
Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng của chu
kỳ kinh doanh. Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số của thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu
Tuy nhiên, để đánh gia chính sách tài khóa, người ta sử dụng thâm hụt cơ cấu bởi
vì thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của chính sách tài khóa
như: định ra thuế suất, các chương trình thanh toán chuyển nhượng, 4
*Tùy vào tình hình kinh tế, thu và chi thực tế có thể lớn hoặc nhỏ hơn so với dự
kiến. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách, thì chính phủ phải đi vay công
chúng để trả cho những khoản nợ của mình. Chính phủ vay nợ thông qua phát hành
trái phiếu, đó là hình thức ghi nợ (IOU) cam kết trả lại tiền tại một thời điểm trong tương lai.
4.2. Bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước
Một vấn đề nổi lên hiện nay trong điều hành kinh tế vĩ mô đang làm đau đầu các
cơ quan quản lý, đó là thâm hụt ngân sách. Dưới góc độ của CSTT, thì đây là một
áp lực lớn đối với sự ổn định lâu dài của CSTT. Nếu một CSTK kém bền vững về
lâu dài sẽ tác động lên mục tiêu CSTT. Kỳ vọng thâm hụt ngân sách lớn và liên
tục, cộng với nhu cầu nợ lớn của Chính phủ có thể giảm lòng tin vào nền kinh tế và
gây rủi ro đến sự ổn định của thị trường tài chính. Một khi thiếu niềm tin vào sự
bền vững tài chính có thể trở thành yếu tố tiềm ẩn gây ra bất ổn cho các thị trường
trái phiếu, ngoại hối và thậm chí làm sụp đổ cơ chế tiền tệ.
Để giải quyết vấn đề này cần sự phối hợp đồng bộ nhiều các biện pháp chính sách
để tăng thu, chống thất thu thuế, giảm chi, nhất là chi thường xuyên, nâng cao hiệu
quả các khoản chi cho xây dựng cơ bản, giáo dục đào tạo, y tế… Trong đó, CSTT
có vai trò rất quan trọng để hỗ trợ cho CSTK khắc phục những khó khăn trong
ngắn hạn. Bởi CSTT được xem là công cụ có tính lỏng - linh hoạt cao, còn CSTK
là công cụ cứng. Và CSTT luôn bổ trợ CSTK để cùng hướng tới mục tiêu chung là
ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Về nguyên lý, nguồn bù đắp cho thâm hụt ngân sách chỉ có từ 3 nguồn: huy động
trong dân, vay nước ngoài và từ khu vực NH. Trong đó, vay nước ngoài là nguồn
luôn phải được Chính phủ cân nhắc kỹ lưỡng. Bài học đắt giá của việc dùng nguồn
phát hành để bù đắp cho thâm hụt ngân sách trong thập kỷ 90 gây ra lạm phát phi
mã vẫn còn đó. Chính vì vậy, Luật NHNN, Luật NSNN cũng không cho phép sử
dụng nguồn này để bù đắp thâm hụt ngân sách. NSNN chỉ được phép tạm ứng từ
NHNN trong năm ngân sách để bù đắp thiếu hụt tạm thời về nguồn thu NSNN. Để
hỗ trợ nguồn bù đắp cho thâm hụt ngân sách, cũng như tạo công cụ cho điều hành
CSTT, NHNN đã cùng phối hợp với Bộ Tài chính, phát triển thị trường tín phiếu
kho bạc, trái phiếu Chính phủ. Các ngân hàng thương mại (NHTM) sử dụng nguồn
tiền nhàn rỗi để mua tín phiếu kho bạc và sử dụng như một công cụ đảm bảo thanh
khoản cho mình. Trong điều kiện nới lỏng CSTT, NHNN cũng có thể mua tín
phiếu để nắm giữ làm công cụ can thiệp thị trường khi cần thiết. Bên cạnh đó,
NHTM cũng mua trái phiếu Chính phủ để vừa đầu tư dài hạn, vừa sử dụng như là
công cụ tham gia nghiệp vụ thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản. 5
Tuy nhiên, việc các NHTM đầu tư vào trái phiếu Chính phủ phải có những giới
hạn nhất định để đảm bảo vừa kiểm soát được lạm phát, vừa đảm bảo việc mở rộng
đầu tư khu vực sản xuất phi Chính phủ. Chính vì vậy, trong quy định về tỷ lệ an
toàn với hoạt động các tổ chức tín dụng, NHNN luôn quy định một tỷ lệ đầu tư trái
phiếu Chính phủ cho các NHTM. Tại Thông tư 36, NHNN quy định các NHTM
Nhà nước, chi nhánh NH nước ngoài chỉ được phép đầu tư tối đa 15%; NHTMCP,
NH liên doanh, NH 100% vốn nước ngoài là 35% so với nguồn vốn huy động ngắn
hạn. Nay NHNN đã nâng tỷ lệ này lên 25% đối với các NHTM Nhà nước và 35%
đối với chi nhánh NH nước ngoài. Đây là giải pháp rất có ý nghĩa trong bối cảnh
NSNN đang khó khăn như hiện nay. Song NHNN cần thường xuyên theo dõi tác
động của chính sách này đối với hiệu quả của CSTT khi lạm phát có xu hướng gia
tăng để có những điều chỉnh kịp thời.
Từ những phân tích trên, ta có thể thấy rằng trái phiếu là cầu nối giữa CSTT và
CSTK để điều tiết, khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước và ổn định nền kinh tế.
II. QUAN ĐIỂM VỀ VIỆC PHÁT HÀNH CÔNG TRÁI BÙ ĐẮP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.Phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam
Dưới tác động của đại dịch COVID-19, hoạt động kinh tế bị trì trệ khiến thu ngân
sách nhà nước (NSNN) bị ảnh hưởng tiêu cực, trong khi đó nhu cầu chi tiêu cho
công tác phòng chống, khắc phục hậu quả của bệnh dịch lại tăng cao. Tuy nhiên,
thâm hụt ngân sách đã kéo dài trong nhiều năm, cùng với việc chính sách tiền tệ bị
ràng buộc với các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi
các chính sách vĩ mô theo cách tương tự như các nước lớn trên thế giới. Nới lỏng
tiền tệ với quy mô lớn có thể dẫn đến mất giá nội tệ, môi trường đầu tư trở nên rủi
ro hơn, làm trì hoãn các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Do đó, để thực
hiện các chính sách hỗ trợ bệnh dịch cũng như thiên tai, trong thời gian tới, chính
phủ nên thực hiện một số biện pháp huy động nguồn lực tài chính.
Ngoài việc cắt giảm chi thường xuyên và tranh thủ các nguồn vốn vay ưu đãi
(không lãi suất hoặc lãi suất rất thấp) từ các tổ chức quốc tế, chính phủ có thể thực
hiện phát hành trái phiếu. Cụ thể, chính phủ có thể phát hành trái phiếu với lãi suất
thấp (Hình 1) trong điều kiện hệ thống tài chính đang dư thừa thanh khoản.
Biện pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ nên được sử
dụng ở mức vừa phải để đảm bảo khu vực tư nhân có thể tiếp cận vốn dễ
dàng(NEU-JICA, 2020). Đặc biệt là khi mức độ tín nhiệm của Việt Nam đang
được duy trì tốt tạo cơ hội tận dụng nguồn lực tài chính nhằm khôi phục kinh tế hậu COVID-19.
Năm 2021, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam tiếp tục được duy trì ổn định so với
năm 2020 và 2019, đồng thời, ba tổ chức Standard & Poor’s, Fitch Ratings và
Moody’s đều nâng triển vọng lên tích cực. Điều này phản ánh đánh giá tích cực
của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đối với các kết quả về giữ vững ổn
định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam trong bối
cảnh COVID-19. Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tới
của Việt Nam sẽ rất lớn nhằm phục hồi những tổn thương do đại dịch gây ra. Nếu
chỉ phụ thuộc vào huy động từ thị trường vốn trong nước là không đủ mà còn tạo
áp lực lớn lên thị trường tài chính trong nước vốn còn non yếu, còn tồn tại các hạn
chế cần được củng cố và khắc phục. Do đó, song song với thị trường trong nước,
Việt Nam có thể phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường vốn quốc tế.
Thị trường trái phiếu Việt Nam được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu huy động
vốn của chính phủ, chính quyền địa phương, ngân hàng chính sách và doanh
nghiệp. Căn cứ vào nhu cầu
trên, trái phiếu Việt Nam được
chia thành 04 loại gồm (1) trái
phiếu chính phủ, (2) trái phiếu
chính quyền địa phương, (3)
trái phiếu chính phủ bảo lãnh,
và (4) trái phiếu doanh nghiệp.
Trong đó, ba loại trái phiếu
chính phủ, chính quyền địa
phương và chính phủ bảo lãnh
là kênh huy động vốn cho
ngân sách nhà nước, chính
quyền địa phương và các
chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước (ABO, 2020; Bộ Tài chính, 2021).
Đặc biệt, trái phiếu chính phủ đóng vai trò then chốt trên thị trường trái phiếu với 7
hai mục tiêu lớn là kênh huy động vốn hiệu quả cho NSNN và là thị trường chuẩn
cho thị trường tài chính (Hình 2).
Sau 12 năm hoạt động và phát triển, thị trường cơ bản đã đáp ứng được các mục
tiêu của lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định 1191/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
đã đặt ra cho thị trường trái phiếu Việt Nam, đó là phát triển thị trường trái phiếu
ổn định, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng
hóa các sản phẩm, đảm bảo thị trường hoạt động công khai, minh bạch và hiệu quả,
từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Thị trường TPCP đã trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho
NSNN, gắn công tác phát hành TPCP với tái cơ cấu nợ Chính phủ thông qua việc
tập trung phát hành các kỳ hạn dài và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Về phương
thức phát hành, Kho bạc Nhà nước (KBNN) tập trung phát hành theo phương thức
đấu thầu để tăng tính cạnh tranh và công khai minh bạch trong tổ chức phát hành
trái phiếu và sắp tới đây, phương thức đấu thầu đa giá sẽ được triển khai chính thức
nhằm tạo thêm tính linh hoạt trong việc xác định kết quả đấu thầu.
Đặc biệt công tác phát hành TPCP đã khẳng định được vai trò là công cụ tái cơ cấu
nợ công, giúp nợ công giảm tỷ trọng vay nước ngoài từ 73,6% năm 2010 xuống
mức 63,4% năm 2015 và 34,8% năm 2021. Lãi suất bình quân huy động giảm từ
khoảng 10% năm 2009 xuống khoảng 2% năm 2021, kỳ hạn phát hành bình quân
kéo dài từ 2-3 năm năm 2009 lên 12,2 năm năm 2021, thông qua đó góp phần tái
cơ cấu nợ công theo hướng an toàn, bền vững và tái cơ cấu giảm các đỉnh nợ rơi
vào một số năm trở nên đồng đều hơn.
Đáng chú ý, trên thị trường sơ cấp, trong vòng 12 năm, hơn 2,47 triệu tỷ đồng vốn
đã được huy động cho Ngân sách nhà nước để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát
triển kinh tế đất nước. Con số này tương ứng với mức huy động bình quân năm đạt
hơn 206 nghìn tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 10% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội năm
2020, và 28,3% tổng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước năm 2020. Để huy động
được lượng vốn hơn 2,47 triệu tỷ đồng này, đã có hơn 2.600 phiên đấu thầu được
tổ chức tại HNX với tỷ lệ huy động thành công bình quân đạt 60-70% trên tổng khối lượng gọi thầu.
Qua 12 năm, lãi suất huy động vốn trên thị trường TPCP đã giảm đáng kể, giúp tiết
kiệm cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng tiền trả lãi và hỗ trợ tích cực trong điều tiết
kinh tế vĩ mô. Lãi suất huy động vốn trung bình đã giảm từ 4 đến 6%/năm trên tất
cả các kỳ hạn. Trong đó, đặc biệt giảm mạnh tại kỳ hạn 5 năm (giảm từ
10,49%/năm trong 2009 xuống còn 1%/năm trong 2021; kỳ hạn 10 năm (giảm từ
mức 9,7%/năm trong 2009 xuống còn 2,06%/năm trong 2021). 8
Kỳ hạn phát hành của TPCP ngày càng tăng. Kỳ hạn phát hành bình quân đã tăng
từ 2-3 năm năm 2009 lên 13,8 năm trong năm 2020.
Trên thị trường thứ cấp, giao dịch TPCP không ngừng tăng về quy mô và độ sâu,
tiệm cận với các nước có thị trường TPCP phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Tổng dư nợ thị trường TPCP tại HNX tính đến hết tháng 8/2021 đạt 1,4 triệu tỷ
đồng, gấp 8,7 lần quy mô năm 2009. Thanh khoản trái phiếu năm 2021 đạt mức
10,8 nghìn tỷ đồng/phiên, gấp 29,7 lần so với năm 2009. Giá trị giao dịch Repos
theo đó cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ quy mô khiêm tốn với tỷ trọng 6,5% trên
tổng giá trị giao dịch năm 2009 lên mức 33% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường năm 2021.
2.Điểm tích cực và tiêu cực của việc phát hành trái phiếu
Phát hành trái phiếu chính phủ đem lại những tác động tích cực lẫn tiêu cực. Trong
đó, việc phát hành trái phiếu vẫn tồn tại những rủi ro cần phải xem xét. Đặc biệt là
khi chính phủ thực hiện phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD, Euro)
do không thể vay mượn nước ngoài bằng nội tệ, điều này sẽ làm mất giá đồng nội
tệ. Kết quả là mức nợ công sẽ tăng cao do chi phí lãi vay tăng và ảnh hưởng xấu
đến ngân sách nhà nước . Vì vậy, bình ổn tiền tệ là ưu tiên hàng đầu đối với ngân
hàng trung ương khi phát hành trái phiếu. Bên cạnh đó, phát hành trái phiếu chính
phủ làm giảm khả năng giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính (Brki´c, 2021).
Nguyên nhân là do việc phát hành trái phiếu chính phủ kéo theo lạm phát gia tăng,
khiến thu nhập cố định sụt giảm, rủi ro mà quốc gia gánh phải cũng sẽ tăng khi lãi
suất thị trường tăng, thậm chí khiến quốc gia đối diện với rủi ro vỡ nợ, nguy cơ
đưa đất nước rơi vào khủng hoảng và bất ổn vĩ mô.
Tuy nhiên, phát hành trái phiếu chính phủ cũng góp phần giải quyết một số vấn đề
của quốc gia. Tại Việt Nam nói riêng và thị trường quốc tế nói chung, phát hành
trái phiếu là cách để tạo ra một thị trường vay nợ uy tín nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
vay, từ đó, mở rộng nguồn cung vốn cho thị trường liên ngân hàng. Đồng thời, trái
phiếu giúp hỗ trợ hoạt động quản lý thanh khoản của ngân hàng trung ương. Đặc
biệt, đây được xem là giải pháp đầu tư ít hoặc thậm chí không có rủi ro cho nhà
đầu tư. Ngoài ra, trái phiếu chính phủ cũng góp phần duy trì và phát triển thị
trường tài chính hiệu quả; cung cấp cơ sở hạ tầng thị trường thông qua một hệ
thống thanh toán và một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh
3.Một số đề xuất, khuyến nghị khi phát hành trái phiếu giai đoạn 2021 - 2030
Để thực hiện việc phát hành trái phiếu thành công, đạt được tính hiệu quả trong sử
dụng vốn, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia, cần
tập trung giải quyết các vấn đề sau: 9
Thứ nhất, trong giai đoạn trước mắt, cần căn cứ vào khung cân đối ngân sách nhà
nước giai đoạn 2021 - 2025, dựa vào các chỉ tiêu về tỷ lệ huy động các nguồn lực
vào ngân sách, tỷ lệ bội chi hằng năm, vay hỗ trợ phát triển chính thức và vay ưu
đãi, khả năng phát hành trái phiếu chính phủ trong nước, huy động vốn từ các quỹ
tài chính nhà nước để xác định nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ trên thị
trường quốc tế. Việc xây dựng kế hoạch cần dựa trên kịch bản khả năng huy động
vốn ODA và vay ưu đãi sẽ tiếp tục xu hướng giảm. Cũng cần chú ý thời điểm phát
hành trái phiếu chính phủ trên thị trường vốn quốc tế đặt trong tổng thể phát hành
trái phiếu chính phủ khi nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân
sách nhà nước có xu hướng tăng nhanh và có khả năng vượt ngưỡng 25% trong
một số năm trong giai đoạn tới do lịch trả nợ gốc không đồng đều, tập trung cao vào một số năm.
Thứ hai, Chính phủ cần đưa ra dự báo các tác động kinh tế (đặc biệt là tài khóa và
tiền tệ) tiềm ẩn của từng đợt phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế. Các
vấn đề về phân tích tác động chính sách, như tác động đến nợ quốc gia, triển vọng
tăng trưởng bền vững, điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, dự trữ ngoại
hối và thanh khoản của nền kinh tế đều cần được xem xét thận trọng. Đặc biệt,
Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phối hợp để tính toán, dự báo các tác
động của biến động tỷ giá tới chi phí lãi vay và khả năng trả nợ trong suốt thời hạn
của trái phiếu. Nhìn chung, mọi đợt phát hành sẽ thuận lợi nếu được hình thành
dựa trên một khuôn khổ tài khóa và tiền tệ ổn định. Ngoài ra, Nhà nước cần tách
bạch quản lý nợ nước ngoài khu vực công và khu vực tư nhân. Theo đó, chỉ nên đề
ra mức trần nợ công nước ngoài trên tổng dư nợ công và thiết lập chỉ tiêu cảnh báo
(thay vì mức trần cứng) đối với chỉ tiêu trả nợ nước ngoài của khu vực công và của
khu vực tư nhân để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Thứ ba, Chính phủ nên cân nhắc lựa chọn phương án phát hành phù hợp trong số
các phương án phát hành trái phiếu quốc tế phổ biến hiện nay. Nhiều quốc gia
trong khu vực châu Á thường lựa chọn phương án phát hành theo các hình thức,
như trái phiếu toàn cầu được phát hành theo hình thức 144A/Quy chế S, trái phiếu
Eurobond, trái phiếu Samurai và trái phiếu Sukuk. Trong thời gian đầu, Việt Nam
nên tiếp tục lựa chọn phương án phát hành bằng đồng USD theo hình thức
144A/Quy chế S bằng đồng USD vì thị trường vốn bằng đồng USD có mức độ
phát triển sâu và tính thanh khoản cao, giúp huy động được khối lượng vốn lớn và
kỳ hạn dài. Lãi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ hiện ở mức thấp do các chính sách nới
lỏng tiền tệ của Chính phủ Mỹ nên có yếu tố cạnh tranh so với phương án phát
hành bằng đồng ngoại tệ khác. Ngoài ra, Việt Nam đã có kinh nghiệm phát hành
trái phiếu quốc tế bằng đồng USD trước đó. 10
Thứ tư, Chính phủ nên xem xét đến phương án xây dựng chương trình phát hành
trái phiếu trung hạn toàn cầu. Đây là khung hồ sơ phát hành trái phiếu quốc tế
chuẩn được các nhà đầu tư chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu và thường được áp
dụng bởi các nhà phát hành trái phiếu quốc tế thường xuyên. Chương trình phát
hành trái phiếu trung hạn cho phép Chính phủ linh hoạt phát hành trái phiếu quốc
tế đa dạng các loại tiền tệ với khối lượng khác nhau tại các thời điểm khác nhau
trong khi vẫn sử dụng cùng một bộ khung hồ sơ pháp lý. Ưu điểm của chương
trình này nằm ở tính chủ động nắm bắt thời điểm thuận lợi để tiến hành giao dịch,
thông qua việc rút gọn thời gian chuẩn bị thủ tục, hồ sơ pháp lý, chi phí cho mỗi đợt phát hành.
Thứ năm, Chính phủ cần xây dựng cơ chế huy động, sử dụng và quản lý nguồn tiền
thu được sau phát hành bảo đảm tính hiệu quả. Nguồn tiền thu được từ các đợt phát
hành trái phiếu quốc tế cần gắn với các đợt giải ngân cho các dự án đầu tư nhằm
hạn chế tình trạng đọng vốn dẫn đến lãng phí nguồn lực, giảm thiểu rủi ro phát sinh
giữa khối lượng phát hành với nhu cầu vốn theo tiến độ thực hiện và bảo đảm khả
năng tạo nguồn trả nợ khi đến hạn. Do vậy, căn cứ vào danh mục các dự án được
ưu tiên vay lại từ nguồn trái phiếu quốc tế được phê duyệt, các chủ đầu tư cần có
kế hoạch giải ngân cụ thể để Chính phủ chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch
phát hành tương ứng, đặt trong bối cảnh thị trường vốn quốc tế luôn có sự biến
động. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp
để xác định nhu cầu vốn đầu tư, khả năng huy động vốn của nền kinh tế trong
nước, của Chính phủ (cơ cấu lại nợ, vốn bổ sung cho các dự án trọng điểm, khoản
vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh chuyển sang cho vay lại) để trình Chính
phủ phương án huy động trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế.
Thứ sáu, Chính phủ có thể xem xét chuyển đổi một số khoản vay nước ngoài được
Chính phủ bảo lãnh có chi phí cao sang áp dụng cơ chế vay lại từ nguồn phát hành
trái phiếu quốc tế có chi phí thấp hơn khi tính cả phí cam kết, phí bảo hiểm rủi ro.
Thứ bảy, phát hành lượng trái phiếu chính phủ quy mô lớn bao hàm những thách
thức không nhỏ trong tương lai đối với Chính phủ khi trái phiếu tới hạn thanh toán.
Ngoài việc thực hiện đảo nợ thông qua một đợt phát hành mới là cách làm phổ
biến, Chính phủ có thể cân nhắc tới phương án trả dần nợ gốc, lựa chọn mua lại
trước thời điểm đáo hạn, hoặc hình thành quỹ tích lũy tiền trả nợ với từng đợt phát hành. 11 12