lOMoARcPSD| 61531195
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
Với nội dung này sẽ có thể tách thành các nội dung:
*Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời CNXHKH
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh
mẽ tạo n nền đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp khí làm cho phương thức sản xuất
bản chủ nghĩa bước phát triển vượt bậc, dẫn tới bộc lộ mâu thuẫn trong lòng hội
tư bản :
- Về kinh tế: Mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất (mang tính chất xã hội hóa ngày
càng cao) với Quan hệ sản xuất TBCN (dựa trên chế độ sở hữu nhân về tư liệu
sản xuất) Biểu hiện ra bên ngoài bằng các cuộc khủng hoảng kinh tế theo chu k
(1825, 1836, 1846,1857) đây bằng chứng cho sự mâu thuẫn của phương thức
sản xuất TBCN đã trở nên gay gắt không thể tự điều tiết bằng các học thuyết kinh
tế đương thời.
- Về xã hội: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản đã trở nên gay
gắt, bộc lộ ra thành các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân o Cuộc đấu
tranh của công nhân dệt Lion ( Pháp) 1831 và 1834 o Cuộc đấu tranh của công
nhân dệt Xilêdi ( Đức) 1844 o Phong trào Hiến chương Anh kéo dài hơn 10 năm
từ 1836 - 1848
Các cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp sản diễn ra các nước bản
phát triển, chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp ( Anh, Pháp, Đức) Các phong
trào đấu tranh đã thể hiện giai cấp công nhân đã trường thành phát triển cả về số lượng và
chất lượng, họ trở thành một lực lượng chính trị hội độc lập, lần đầu tiên họ đứng lên
đấu tranh chống lại giai cấp tư sản với tư cách là một giai cấp để đòi hỏi những lợi ích về
kinh tế chính trị. Tuy nhiên những phong trào này chỉ dừng lại là những hình thức đấu
tranh tự phát và bị thất bại.
Cuộc đấu tranh giai cấp công nhân tất yếu sẽ dẫn đến một yêu cầu mới, yêu cầu phải
một luận khoa học dẫn đường, để đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới
đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình. Đây chính là yêu cầu khánh quan để các nhà
tư tưởng nghiên cứu tổng kết thực tiễn cho ra đời lý luận CNXHKH
Như vậy, sự ra đời của CNXHKH đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của phong trào
công nhân.
Điều kiện kinh tế- xã hội chính là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của CNXHKH
*Phân tích tiền đề khoa học tự nhiên tưởng luận cho sự ra đời CNXHKH -
Tiền đề khoa học tự nhiên:
1.Thuyết tế bào (1838-1839):
o Được phát minh bởi nhà thực vật học Đức M.J. Schleiden (1804-1881) và nhà
vật lý học Đức Th. Schwann (1810-1882).
o Ý nghĩa:
lOMoARcPSD| 61531195
Bác bỏ quan điểm siêu hình về sự biệt lập giữa thế giới động vật và thực
vật.
Chứng minh sự thống nhất trong đa dạng sinh giới, mọi sinh vật sống
(động vật và thực vật) đều bắt đầu từ một tế bào đầu tiên.
Hình thành phương pháp duy biện chứng trong nghiên cứu giới tự
nhiên, là tiền đề cho học thuyết tiến hóa của Darwin.
luận điểm quan trọng trong triết học duy vật biện chứng (DVBC),
chứng minh rằng sinh giới được hình thành từ ngẫu sinh hóa học tiến
hóa lâu dài, thay vì bởi lực lượng siêu nhiên.
2.Thuyết tiến hóa (1859):
o Do nhà khoa học Anh Charles Darwin (1809-1882) phát minh.
o Ý nghĩa:
Phát hiện vai trò của chọn lọc tự nhiên, bác bỏ quan điểm duy tâm thần
học về nguồn gốc loài người và thế giới vật chất.
Giúp các nhà triết học nghiên cứu sự phát triển của thế giới vật chất theo
quan điểm duy vật biện chứng, khẳng định sphát triển của loài người
tuân theo quy luật tự nhiên.
3.Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842-1845):
o Được phát minh bởi M.V. Lômônôxốp (Nga, 1711-1765) Mayer (Đức,
1814-1878).
o Ý nghĩa:
Khẳng định năng lượng không thể được tạo ra hay phá hủy, chỉ thể
chuyển hóa hoặc chuyển đổi giữa các dạng khác nhau.
Cho thấy thế giới vật chất cùng, tận, luôn chuyển hóa và tồn tại
dưới nhiều dạng.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, nhất là trên lĩnh vực vật lý học và sinh
học, đã làm thay đổi quan niệm siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên; đồng thời, khẳng
định phép biện chứng khách quan của mọi quá trình trong sự vận động và phát triển của thế
giới. Khoa học tnhiên mang tính chất luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời
của triết học Mác nói chung và CNXHKH nói riêng và sở về thế giới quan và phương
pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhận thức thế giới khách quan.
-Tiền đề tư tưởng - lý luận:
1.Triết học cổ điển Đức (Hegel, Feuerbach): Với những thành tựu của phép biện chứng
duy tâmchủ nghĩa duy vật siêu hình.
2.Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Adam Smith, David Ricardo): những thành tựu về
Bàn tay vô hình, Kinh tế hàng hóa, Lý luận về tiền tệ, Lý luận về giá trị lao động...
3.Chủ nghĩa hội không tưởng phê phán (Saint-Simon, Fourier, Owen): Với những
tư tưởng về: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, về nhà nước, Giải phóng phụ
nữ, Thực nghiệm xã hội. Đây chính là tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa
xã hội khoa học.
lOMoARcPSD| 61531195
-Giá trị tích cực của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán đầu thế kỷ 19
1. Đã thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế chế độ bản
chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng.
2. Đã đưa ra nhiều luận điểm giá trị về hội tương lai: về tổ chức sản xuất phân
phối sản phẩm hội; vai trò của ng nghiệp khoa học - kỹ thuật; về sự nghiệp
giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước
3. Đã thức tỉnh giai cấp công nhân người lao động trong cuộc đấu tranh chống chế
độquân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột.
-Hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán
1. Do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế vtầm nhìn và thế giới quan của những
nhà tư tưởng, không phát hiện ra được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài
người nói chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa bản nói riêng.
2. Không phát hiện ra lực lượng hội tiên phong thể thực hiện cuộc chuyển biến cách
mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản - giai cấp công nhân.
3. Không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.
Chính những hạn chế ấy, chủ nghĩa hội không tưởng phê phán chỉ dừng lại mức
độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán.
Đây chính những giá trkhoa học, cống hiến của các nhà tưởng, đã tạo ra tiền đề
tưởng - lý luận để C.Mác Ph.Ăngghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất
hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.
Câu 2: Vai trò của c và Angghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa
xã hội khoa học.
Có 3 nội dung:
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
- Khi bước vào hoạt động khoa học, C.Mác Ph.Ăngghen hai thành viên tích
cực của câu lạc bộ Hêghen trẻ chịu ảnh hưởng của quan điểm triết học của V.Ph.Hêghen
L.Phoiơbắc. Với nhãn quan khoa học uyên bác, các ông đã sớm nhận thấy những mặt
tích cực và hạn chế trong triết học của V.Ph.Hêghen và L. Phoiơbắc.
C.Mác Ph.Ăng ghen đã kế thừa “cái hạt nhân hợp lý”, cải tạo loại bỏ cải vỏ thần
duy tâm, siêu hinh để xây dựng nên lý thuyết mới chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Với C.Mác, từ cuối năm 1843 đến 4/1844, thông qua tác phẩm “Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu (1844)”, đã thể hiện rõ sự chuyển biến từ
thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng
sang lập trường cộng sản chủ nghĩa .
lOMoARcPSD| 61531195
Đối với Ph.Ăngghen, từ năm 1843 với tác phẩm “Tình cảnh nước Anh”; “Lược khảo
khoa kinh tế - chính trị” đã thể hiện sự chuyển biến từ thế giới quan duy tâm sang thế
giới quan duy vật từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa
.
Chỉ trong một thời gian ngắn (từ 1843 -1848) vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên
cứu khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thể hiện quá trình chuyển biến lập trường triết học
lập trường chính trị và từng bước cng cố, dứt khoát, kiên định, nhất quán vững chắc
lập trường đó, nếu không có sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ không có Chủ nghĩa
xã hội khoa học.
2. Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen Chủ
nghĩa duy vật lịch sử - Phát kiến thứ nhất
Đây phát kiến thnhất của C. Mác về triết học là người đầu tiên nghiên cứu sự
phát triển của loài người trên sở của CNDVBC. Chra sự phát triển của lịch sử loài
người là 1 quá trình lịch sử tự nhiên thông qua sự vận động của các hình thái kinh tế - xã
hội. Đồng thời, thông qua qui luật vận động của phương thức sản xuất TBCN, C.Mác đã
đi đến khẳng định về sự thay thế của hình thái kinh tế - hội TBCN và sự ra đời của hình
thái KT – XH CSCN là tất yếu khách quan.
Học thuyết về giá trị thặng dư – Phát kiến thứ 2
Từ việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đi sâu nghiên
cứu nền sản xuất công nghiệp nền kinh tế bản chủ nghĩa đã viết nên bộ “Tư bản”,
giá trị to lớn nhất của “Học thuyết về giá trị thặng - phát kiến đại thứ hai
của C.Mác Ph.Ăngghhen khẳng định về phương diện kinh tế sự thay thế của phương
thức sản xuất bản chủ nghĩa với đặc trưng QHSX dựa trên chế độ hữu về tư liệu
sản xuất và sự ra đời tất yếu của phương thức sản xuất CSCN với đặc trưng là QHSX da
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là tất yếu.
Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - Phát kiến
thứ 3
Trên cơ sở hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị
thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba, sứ mệnh lịch stoàn thế giới
của giai cấp công nhân, giai cấp có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa bản, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế tính lịch sử của chủ nghĩa hội không
tưởng- phê phán đã được khắc phục một cách triệt để; đồng thời đã luận chứng và khẳng
định về phương diện chính trị- xã hội sự thay thế của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu
của chủ nghĩa cộng sản (giai đoạn đầu là CNXH)
3. Tuyên ngôn của Đảng Cng Sản:
- Được sự uỷ nhiệm của những người cộng sản và công nhân quốc tế, tháng 2 năm
1848, tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C.Mác Ph.Ăngghen soạn thảo
được công bố trước toàn thế giới.
lOMoARcPSD| 61531195
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ
nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, Kinh tế chính trị học Chủ nghĩa
xã hội khoa học.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn cương lĩnh chính trị, kim chỉ nam hành động
của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân
lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng loài người
khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người sống trong hòa bình, tự do
hạnh phúc.
Chính Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu phân tích hệ thống, lịch sử
logic hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất, đầy đủ, xúc tích và chặt chẽ nhất, thâu tóm
toàn bộ luận điểm của chủ nghĩa hội khoa học, chỉ ra con đường biện pháp cách
mạng để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Đây là tác phẩm làm cho Chủ nghĩa Mác trở thành một học thuyết hoàn chỉnh không
chỉ nhận thức thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới.
Câu 3: Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử
cảu giai cấp công nhân:
1. Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân.
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao
gồm:
*Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định:
-Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của nền đại công nghiệp, mang tính xã hội
hóa cao, chủ thể trong việc sản xuất vật chất hội. Giai cấp công nhân đại diện cho
cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại.
-Trong xã hội nay, khi lao động trên phương pháp sản xuất công nghiệp hiện đại thì
giai cấp công nhân người sản xuất ra của cải vật chất cho hội, đảm bảo sự phát triển
của xã hội.
-Điều kiện khách quan nhân tố kinh tế quy định giai cấp công nhân lực lượng
phá vỡ mối quan hệ trong tư bản chủ nghĩa, giành lại chính quyền về tay mình, xóa bỏ sự
thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản
-Giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho sự phát triển tất yếu của lịch sử và là giai
cấp duy nhất có đủ điều kiện để xây dựng nền móng cho chủ nghĩa xã hội.
*Thứ hai, do chính trị-xã hội của giai cấp công nhân quy định:
lOMoARcPSD| 61531195
-Là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân được những
phẩm chất của một giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng, có tổ chức kỉ luật và đoàn kết
trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội.
-Những phẩm chất ấy của giai cấp công nhân được hình thành tchính những điều
kiện khách quan, được quy định tđịa vị kinh tế địa vị chính trị-xã hội của trong
nền sản xuất vật chất hiện đại.
-Giai cấp công nhân được trang bị luận tiên tiến chủ nghĩa Mác-Lenin, đội
tiền phong là Đảng cộng sản dẫn dắt.
-Giai cấp công nhân giai cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiền trình
phát triển lịch sử. Đây đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp
công nhân.
-Địa vị chính trị-xã hội của giai cấp công nhân đã tạo nên những phẩm chất chính trị
là giai cấp tiên tiến nhất, có ý thức kỉ luật cao nhất, có tinh thần cách mạng triệt để và có
bản chất quốc tế.
-Tóm lại địa vị kinh tế và địa chính trị-xã hội của giai cấp công nhân là yếu tố khách
quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
2 Phân tích điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
*Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng: -
Thông qua sự phát triển này thể thấy được sự lớn mạnh của giai cấp công nhân
cùng quy sản xuất vật chất hiện đại trên nền sản xuất công nghiệp, kỹ thuật
công nghệ.
-Sự phát triển về số lượng của giai câp công phải gắn liền với sphát triển về chất
lượng để đảm bảo giai công nhân thể thực hiện sứ mệnh của nh. Chất lượng của giai
cấp công nhân thể hiện qua trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của giai cấp ch
mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trách nhiệm của giai cấp mình đối với lịch
sử. Do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ luận khoa học cách mạng chủ nghĩa
Mác-Lenin.
-Là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai cấp công
nhân còn phải thể hiện năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, nhất là trong thời kì ngày nay.
*Đảng cộng sản nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực
hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình:
-Đảng cộng sản đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò
lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân: thể hiện sự phát triển vượt bậc
của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng
-Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản sự kết hợp của chủ
nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân.
lOMoARcPSD| 61531195
-Giai cấp công nhân là cơ sở của xã hội, là nguồn bổ sung nhân lực quan trọng nhất
của Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cộng Sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai
cấp công nhân, dân tộc và xã hội.
*Liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân các tầng
lớp lao động khác:
Ngoài hai điều kiện chquan đã được nêu trên, chủ nghĩa c-Lenin còn chỉ rõ: để cuộc
cách mạng thực hiện smệnh lịch sử của GCCN đi tới thắng lợi, phải có sự liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân
thông qua đội tiên phong của ĐCS lãnh đạo. Đây cũng 1 điều kiện chủ quan không
thể thiếu để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Vấn đề 4: Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Phân tích tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá đlên chủ nghĩa
xã hội.
Khái niệm:
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng một cách sâu sắc
triệt để toàn bộ các lĩnh vực của đời sống hội, bắt đầu tgiai cấp công nhân và nhân dân
lao động giành được chính quyền nhà nước cho tới khi chủ nghĩa hội tạo ra được những
cơ sở của chính mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội.
Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Theo qui luật của lịch sử chuyển từ hình thái kinh tế hội này sang một hình thái
kinh tế xã hội khác cao hơn luôn phải cần một thời kỳ để giai cấp thống trị tiến hành cải tạo
xã hội cũ xây dựng xã hội mới. Vì vậy, việc thay thế hình thái kinh tế TBCN bằngnh thái
kinh tế xã hội mới là CSCN ( giai đoạn đầu là CNXH) tất yếu phải trải qua TKQĐ.
So với các hình thái kinh tế hội đã xuất hiện trong lịch sử hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa sự khác biệt về chất, nếu như các hình thái kinh tế hội trước đó
cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa bản chất vẫn là đựa
trên QHSX hữu về liệu sản xuất còn chủ nghĩa cộng sản QHSX dựa trên hình thức
công hữu về tư liệu sản xuất.
Mặt khác, CNXH không thể tự hình thành và phát triển trong lòng CNTB mà cần
quá trình đấu tranh thông qua hoạt động tự giác của giai cấp công nhân trong cuộc cách
mạng XHCN. Vì vậy, sau cuộc cách mạng XHCN giai cấp công nhân sdụng chính quyền
để từng bước xóa bỏ quan hsản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới đựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị. Thích ứng với thời kỳ ấy một thời kỳ q
lOMoARcPSD| 61531195
độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính
cách mạng của giai cấp vô sản
Vì vậy, để phát triển lên CNXH dù là những nước chưa hay đã trải qua sự phát triển
TBCN đều cần phải trải qua thời kỳ quá độ lên CNXH ( theo 1 trong 2 hình thức là quá độ
là trực tiếp hay gián tiếp)
Có hai loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
1) Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội đối với những nước
đã trải qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2) Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa xã hội đối với những nước
chưa trải qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Xây dựng CNXH một quá trình chuyển đổi một cách sâu sắc, triệt để nên cần phải
trải qua 1 thời kỳ quá độ lâu dài, khó khăn và tất yếu trong lịch sử. Vì vậy, thời kỳ quá độ
lên CNXH là 1 tất yếu khách quan đối với các nước phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa.
Câu 5: Phân tích nội dung dân tộc và cương lĩnh dân tộc của Lenin?
-Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lenin: dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người, trải qua quá trình từ thấp đến cao: thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, dân tộc. Sự chuyển biến
phương thức sản xuất là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Căn cứ khách quan để Lênin xây dựng cương lĩnh dân tộc:
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc
- Dựa vào sự phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân
tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản.
- Sự tổng kết kinh nghiệm cuộc đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới
cách mạng Nga đầu thế kỷ 20 * Nội dung cương lĩnh dân tộc:
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng :
Đây quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ,
trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ quyền lợi ngang nhau trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về
kinh tế, chính trị, văn hóa.
Trong quan hệ hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào
quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia nhiều dân tộc, quyền bình
đẳng dân tộc phải được thể hiện trên sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn phải được
thực hiện trên thực tế.
Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức
giai cấp, trên sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
lOMoARcPSD| 61531195
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở đthực hiện quyền dân tộc tquyết xây
dựng mối quan hhữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc. - Các dân tộc được quyền tự quyết:
Đó quyền của các dân tộc tquyết định lấy vận mệnh của n tộc mình, quyền tự
lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng
thời quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên sở bình đẳng. Tuy nhiên, việc
thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thvà phải đứng vững trên
lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của
giai cấp công nhân. V.I.Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức,
các dân tộc phụ thuộc.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số trong
một quốc gia đa tộc người, nhất việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết đấu
tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chiêu
bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, hoặc kích động đòi
ly khai dân tộc.
- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: ( “ không được viết sai tên nội dung”)
+ Giai cấp công nhân thuộc các dân tộc khác nhau đều thống nhất, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ
lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng
dân tộc.
=>>Ý nghĩa: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội dung cơ bản nhất:
+ Phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân
+ Phán ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
+ Đảm bảo cho phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi
+ Là điều kiện thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN. Do đó là cơ sở để giải quyết đúng đắn
vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc bị áp bức.
+ Liên kết cả ba nội dung thành một chỉnh thể
=>> Trong các nội dung cương lĩnh dân tộc, nội dung liên hiệp công nhân tất cả các dân
tộc là quan trọng nhất
Câu 6: Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin về nguồn gốc, bản chất của tôn
giáo và nguyên tắc giải quyết các vấn đề về tôn giáo trong thời kì quá độ lên
CNXH
Bài Làm
Bản chất của tôn giáo
lOMoARcPSD| 61531195
-Tôn giáo 1 hình thái ý thức- xã hội phản ánh sự ảo của hiện thực khác quan. Từ sự
phản ánh đó những lực lượng tự nhiên xã hội trở thành thế lực siêu nhiên, thần bí.
-Để làm rõ vấn đề của tôn giao, Mác - Lenin đã chỉ rõ: tôn giáo là 1 hiện tượng văn hóagiáo
dục do con người sáng tạo ra. Con người tạo ra tôn giáo nhằm đáp ứng mục đích lợi ích
của họ. Tuy nhiên khi sáng tạo ra tôn giáo con lại phụ thuộc phục tùng vào tôn giáo 1 cách
vô điều kiện
-Về phương diện thế giới khách quan: Tôn giáo mang bản chất của thế giới quan duy tâm trái
ngược với thế giới quan duy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học.
+)Tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất nhưng lại có sự giao thoa nhất định.
+)Tín ngưỡng những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cách thể hiện niềm tin của con người vào
thế lực thần bí, siêu nhiên để mong cầu sự giúp đỡ và che chở.
+)Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông vào những thế lực siêu nhiên không dựa trên bất
cứ cơ sở khoa học nào.
+)Mê tín di đoạn là niềm tin của con người vào thế lực thần bí, siêu nhiêu 1 cách cuồng tín
những hành động cực đoan, sai lệch quá mức về chuẩn mực đạo đức con người, quy
định, pháp luật của nhà nước gây tổn hại đến bản thân, xã hội và cộng đồng
Nguồn gốc của tôn giáo:
-Nguồn gốc về kinh tế-xã hội:
+)Trong xã hội công nguyên thủy, khi mà lực lượng sản xuất chưa phát triển dưới
sự chi phối và tác động của thiên nhiên hùng vĩ thì con người cảm thấy yếu ớt và nhỏ
cùng. vậy con người đã gắn cho tự nhiên sức mạnh, quyền lực thần bí. +)Trong
hội tồn tại giai cấp đối kháng sự áp bức bóc lột, do chưa giải thích được
nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giai cấp và sự bóc lột, áp bức… cộng với việc lo sợ
sự thống trị của lực lượng hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của những
thế lực siêu nhiên, thần bí tồn tại ngoài trần thế.
-Nguồn gốc nhận thức:
+)Trong giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức về tự nhiên, hội cũng như chính
bản thân mình còn hạn chế. Khoảng cách giữa “biêt” và “không biết” vẫn còn tồn tại,
những hiện tượng mà khoa học chưa giải thích được thường được giải thích dưới lăng
kính của tôn giáo.
+)Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng do trình độ dân trí thấp
và snhận thức chưa đầy đủ cũng mảnh đât cho sự ra đời, tồn tại phát triển của
tôn giáo. Nguồn gốc của tôn giáo sự tuyệt đối hóa nhận thức của con người biến
những hiện thực khách quan thành siêu nhiên, thần bí.
-Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước tự nhiên, khi con người ốm đau bệnh tật, khi thử
may rủi hoặc tâm muốn được bình yên khi một việc lớn con người cũng dễ tìm
đến tôn giáo(như đám hỏi, ma chay, làm nhà…). Ngay cả những niềm tin tích cực
như tình yêu, sự biết ơn với các anh hùng công với đất ớc, con người vẫn dễ
tìm đến tôn giáo(Thờ các anh hùng liệt sĩ, thờ thành hoàng làng…)
lOMoARcPSD| 61531195
*Nguyên tắc giải quyết vấn đề của tôn giáo trong thời kì quá độ
-Tôn trọng đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tự do không tín ngưỡng của
nhân dân:
+)Tôn giáo và tín ngưỡng niềm tín của nhân dân vào những thế lực thần bí, siêu nhiên
họ tôn thờ, đây yếu tố ý thức tâm lý. vậy việc tự do tín ngưỡng hay tự do
không tín ngưỡng phục thuộc vào quyền tự do tư tưởng của nhân dân.
+)Những hành vi ngắn cấm, cấm đoán nhân dân bỏ đạo, theo đạo, chuyển đạo hay ép
buộc nhân dân theo đạo đều vi phạm quyền tự do tư tưởng của nhân dân.
+) Việc tôn trọng quyền tự do tưởng của nhân dân thế hiện sự tôn trọng với quyền
của con người đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của xã hội chủ nghĩa.
+)Nhà nước xã hội không can thiệp và cũng không cho phép ai can thiệp vào quyền tự
do tín ngưỡng của nhân dân.
-Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới:
+)Nguyên tắc này thể hiện việc chủ nghĩa Mác Lenin chỉ tập trung vào việc khắc phục
ảnh hưởng tiêu cực ca tôn giáo chứ không tham gia vào hoạt động nội của tôn giáo.
+)Chủ nghĩa Mác-Lenin khẳng định để thay đổi ý thức hội thì phải thay đổi bản thân
tồn tại trong hội. Để xóa bỏ những ảo tưởng trong tưởng của nhân dân thì phải
xóa bỏ đi nguyên nhân dẫn đến sự ảo tưởng đó. Để thực hiện điều này, đầu tiên cần
xóa bỏ sự áp bức, bất công, nghèo đói… Đây 1 quá trình dài đòi hỏi sự thống nhất
giữa việc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
-Phân biệt 2 mặt chính trị tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo lợi dụng tín ngưỡng
tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề:
+)Trong xã hội công xã nguyên thủy, tôn giáo và tín ngưỡng được biểu hiện thuần túy
về tưởng. Những trong hội giai cấp thì dấu ấn giai cấp ít nhiều cũng ảnh hưởng
đến tôn giáo.
+)Mặt chính trị phản ảnh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai
cấp. Còn mặt tưởng thể hiện sự khác biệt niềm tin mức độ giữa các tôn giáo. Mẫu
thuẫn tưởng không đối kháng nhưng thường đan xen mẫu thuẫn chính trị +)Phân
biệt mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo là cần thiết để hiểu
rõ bản chất mâu thuẫn và hướng xử lý phù hợp, tránh nhầm lẫn dẫn đến lệch lạc trong
việc quản lý và giải quyết vấn đề về tôn giáo.
-Quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết các vấn đề về tôn giáo:
Tôn giáo không phải là 1 hiện tượng bất biến mà nó luôn vận động và biến đổi không
ngừng tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sự. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành,
lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau. Ở mỗi điều kiện lịch sử khác nhau thì tác động
vai trò của mỗi tôn giáo khác nhau. vậy cần quan điểm lịch sử cụ thể để
giải quyết các vấn đề của tôn giáo.
lOMoARcPSD| 61531195
Câu 7: Phân tích các chức năng cơ bản của con người:
*Chức năng tái sản xuất ra con người:
-Đây là chức năng cơ bản nhất cũng là chức năng đặc thù nhất của gia đình mà không
một tổ chức cộng động nào được. Chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu thỏa
mãn tâm sinh lý, đáp ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ mà còn đáp
ứng như cầu về nguồn lao động và duy trì sự trường tồn của xã hội.
-Chức năng này được thực hiện ở mỗi gia đình nhưng đây không phải là vấn đề riêng
của gia đình mà còn là vấn đề của xã hội. Bởi lviệc tái sản xuất con người ảnh hưởng
đến mật đdân số và nguồn lao động của quốc gia quốc tế - yếu tố cấu thành hội.
-Tùy vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia, những quốc gia sẽ khuyến
khích, có những quốc gia sẽ hạn chế chức năng này
*Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:
-Đây chức năng bản của gia đình. Chức năng này thể hiện tình yêu thiêng liêng
của cha mẹ đối với con cái, đồng thời thể hiện trách nhiệm của gia đình với hội. -
Việc giáo dục của gia đình đối với con cái sẽ ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức, lối
sống của con sau này.
-Khi thực hiện chức năng nuôi dưỡng và giáo dục, mỗi gia đình như 1 môi trường văn
hóa, là những người được hưởng thụ những giá trvề văn hóa chủ thể khách quan
chịu sự giáo dục của các thành viên khác trong gia đình
-Việc giáo dục gia đình ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống mỗi con người. Mặc dù trong
hội nhiều cộng đồng thực hiện chức năng giáo dục như: trường học… nhưng
không thể thay thế cho giáo dục gia đình.
-Thực hiện chức năng này gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo
thế hệ trẻ-thế hệ tương lai cho hội, nâng cao chất lượng nguồn lao động cho sự
trường tồn của hội, mỗi con người đều được hội hóa. thế giáo dục gia đình
phải gắn liền với giáo dục xã hội. Nếu tách rời giáo dục gia đình và giáo dục xã hội thì
con người sẽ không bắt kịp được xã hội và ngược lại.
*Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
-Cũng giống như các đơn vị khác, gia đình là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
-Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà không cộng đồng nào được gia đình đơn
vị duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội.
-Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào sản xuất tái sản xuất vật chất , sức lao
động mà còn thực hiện chức năng tiêu dùng cho xã hội. Gia đình thực hiện chức năng
tiêu dùng vào việc duy trì đời sống gia đình về lao động lẫn sinh hoạt. Đó là việc sử
dụng c nguồn thu hợp vào việc đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất tinh thần cho
sự phát triển của các thành viên trong gia đình.
-Không chỉ vậy gia đình còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải vật chất
cho hội. Nếu tận dụng được nguồn vốn, nguồn đầu tư, tận dụng thực hiện triệt để
chức năng này thì gia đình không những tạo được cơ sở tốt đphát triển gia đình, nuôi
dạy con cái mà còn làm phát triển cho xã hội.
*Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì hạnh phúc gia đình: -Đây là
chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, văn hóa,
tinh thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. -Việc
lOMoARcPSD| 61531195
quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình
cảm, vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người. Vì thế gia đình không chỉ
chỗ dựa vững chắc về mặt vật chất còn là chỗ dựa về mặt tinh thần. -Việc duy
trì tình cảm gia đình cũng giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển cho xã hội. Khi mối
quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan
vỡ.
-Về văn hóa, gia đình đóng vai trò nơi lưu giữ truyền bá văn hóa của mỗi tộc
người. Gia đình không chỉ là nơi lưu giữ mà còn nơi sáng tạo ra văn hóa. Về chính
trị, mỗi gia đình là 1 tổ chức chính trị xã hội thực hiện các quy định, pháp luật của nhà
nước, quy định của làng thôn cũng chủ thể được thụ hưởng trực tiếp từ những
quy định này.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61531195
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
Với nội dung này sẽ có thể tách thành các nội dung:
*Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời CNXHKH
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh
mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc, dẫn tới bộc lộ mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản :
- Về kinh tế: Mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất (mang tính chất xã hội hóa ngày
càng cao) với Quan hệ sản xuất TBCN (dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất) Biểu hiện ra bên ngoài bằng các cuộc khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ
(1825, 1836, 1846,1857) đây là bằng chứng cho sự mâu thuẫn của phương thức
sản xuất TBCN đã trở nên gay gắt không thể tự điều tiết bằng các học thuyết kinh tế đương thời.
- Về xã hội: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản đã trở nên gay
gắt, bộc lộ ra thành các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân o Cuộc đấu
tranh của công nhân dệt Lion ( Pháp) 1831 và 1834 o Cuộc đấu tranh của công
nhân dệt Xilêdi ( Đức) 1844 o Phong trào Hiến chương Anh kéo dài hơn 10 năm từ 1836 - 1848
Các cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản diễn ra ở các nước tư bản
phát triển, chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp ( Anh, Pháp, Đức) Các phong
trào đấu tranh đã thể hiện giai cấp công nhân đã trường thành phát triển cả về số lượng và
chất lượng, họ trở thành một lực lượng chính trị xã hội độc lập, lần đầu tiên họ đứng lên
đấu tranh chống lại giai cấp tư sản với tư cách là một giai cấp để đòi hỏi những lợi ích về
kinh tế và chính trị. Tuy nhiên những phong trào này chỉ dừng lại là những hình thức đấu
tranh tự phát và bị thất bại.
Cuộc đấu tranh giai cấp công nhân tất yếu sẽ dẫn đến một yêu cầu mới, yêu cầu phải
có một lý luận khoa học dẫn đường, để đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới
đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình. Đây chính là yêu cầu khánh quan để các nhà
tư tưởng nghiên cứu tổng kết thực tiễn cho ra đời lý luận CNXHKH
Như vậy, sự ra đời của CNXHKH đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của phong trào công nhân.
Điều kiện kinh tế- xã hội chính là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của CNXHKH
*Phân tích tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng – lý luận cho sự ra đời CNXHKH -
Tiền đề khoa học tự nhiên:
1.Thuyết tế bào (1838-1839):
o Được phát minh bởi nhà thực vật học Đức M.J. Schleiden (1804-1881) và nhà
vật lý học Đức Th. Schwann (1810-1882). o Ý nghĩa: lOMoAR cPSD| 61531195 
Bác bỏ quan điểm siêu hình về sự biệt lập giữa thế giới động vật và thực vật. 
Chứng minh sự thống nhất trong đa dạng sinh giới, mọi sinh vật sống
(động vật và thực vật) đều bắt đầu từ một tế bào đầu tiên. 
Hình thành phương pháp tư duy biện chứng trong nghiên cứu giới tự
nhiên, là tiền đề cho học thuyết tiến hóa của Darwin. 
Là luận điểm quan trọng trong triết học duy vật biện chứng (DVBC),
chứng minh rằng sinh giới được hình thành từ ngẫu sinh hóa họctiến
hóa lâu dài
, thay vì bởi lực lượng siêu nhiên.
2.Thuyết tiến hóa (1859):
o Do nhà khoa học Anh Charles Darwin (1809-1882) phát minh. o Ý nghĩa: 
Phát hiện vai trò của chọn lọc tự nhiên, bác bỏ quan điểm duy tâm thần
học về nguồn gốc loài người và thế giới vật chất. 
Giúp các nhà triết học nghiên cứu sự phát triển của thế giới vật chất theo
quan điểm duy vật biện chứng, khẳng định sự phát triển của loài người
tuân theo quy luật tự nhiên.
3.Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842-1845):
o Được phát minh bởi M.V. Lômônôxốp (Nga, 1711-1765) và Mayer (Đức, 1814-1878). o Ý nghĩa: 
Khẳng định năng lượng không thể được tạo ra hay phá hủy, chỉ có thể
chuyển hóa hoặc chuyển đổi giữa các dạng khác nhau. 
Cho thấy thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, luôn chuyển hóa và tồn tại dưới nhiều dạng.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, nhất là trên lĩnh vực vật lý học và sinh
học, đã làm thay đổi quan niệm siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên; đồng thời, khẳng
định phép biện chứng khách quan của mọi quá trình trong sự vận động và phát triển của thế
giới. Khoa học tự nhiên mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời
của triết học Mác nói chung và CNXHKH nói riêng và là cơ sở về thế giới quan và phương
pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhận thức thế giới khách quan.
-Tiền đề tư tưởng - lý luận:
1.Triết học cổ điển Đức (Hegel, Feuerbach): Với những thành tựu của phép biện chứng
duy tâmchủ nghĩa duy vật siêu hình.
2.Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Adam Smith, David Ricardo): những thành tựu về
Bàn tay vô hình, Kinh tế hàng hóa, Lý luận về tiền tệ, Lý luận về giá trị lao động...
3.Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán (Saint-Simon, Fourier, Owen): Với những
tư tưởng về: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, về nhà nước, Giải phóng phụ
nữ
, Thực nghiệm xã hội. Đây chính là tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học. lOMoAR cPSD| 61531195
-Giá trị tích cực của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán đầu thế kỷ 19
1. Đã thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản
chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng.
2. Đã đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân
phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; về sự nghiệp
giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước
3. Đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao động trong cuộc đấu tranh chống chế
độquân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột.
-Hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán
1. Do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những
nhà tư tưởng, không phát hiện ra được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài
người nói chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng.
2. Không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách
mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản - giai cấp công nhân.
3. Không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.
Chính vì những hạn chế ấy, mà chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán chỉ dừng lại ở mức
độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán.
Đây chính là những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng, đã tạo ra tiền đề tư
tưởng - lý luận để C.MácPh.Ăngghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất
hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.
Câu 2: Vai trò của Mác và Angghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học. Có 3 nội dung:
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
- Khi bước vào hoạt động khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen là hai thành viên tích
cực của câu lạc bộ Hêghen trẻ và chịu ảnh hưởng của quan điểm triết học của V.Ph.Hêghen
và L.Phoiơbắc. Với nhãn quan khoa học uyên bác, các ông đã sớm nhận thấy những mặt
tích cực và hạn chế trong triết học của V.Ph.Hêghen và L. Phoiơbắc.
C.Mác và Ph.Ăng ghen đã kế thừa “cái hạt nhân hợp lý”, cải tạo và loại bỏ cải vỏ thần bí
duy tâm, siêu hinh để xây dựng nên lý thuyết mới chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Với C.Mác, từ cuối năm 1843 đến 4/1844, thông qua tác phẩm “Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu (1844)”, đã thể hiện rõ sự chuyển biến từ
thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật
, từ lập trường dân chủ cách mạng
sang lập trường cộng sản chủ nghĩa .
lOMoAR cPSD| 61531195
Đối với Ph.Ăngghen, từ năm 1843 với tác phẩm “Tình cảnh nước Anh”; “Lược khảo
khoa kinh tế - chính trị” đã thể hiện rõ sự chuyển biến từ thế giới quan duy tâm sang thế
giới quan duy vật
từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa .
Chỉ trong một thời gian ngắn (từ 1843 -1848) vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên
cứu khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thể hiện quá trình chuyển biến lập trường triết học
và lập trường chính trị và từng bước củng cố, dứt khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc
lập trường đó, mà nếu không có sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ không có Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen Chủ
nghĩa duy vật lịch sử - Phát kiến thứ nhất
Đây là phát kiến thứ nhất của C. Mác về triết học là người đầu tiên nghiên cứu sự
phát triển của loài người trên cơ sở của CNDVBC. Chỉ ra sự phát triển của lịch sử loài
người là 1 quá trình lịch sử tự nhiên thông qua sự vận động của các hình thái kinh tế - xã
hội. Đồng thời, thông qua qui luật vận động của phương thức sản xuất TBCN, C.Mác đã
đi đến khẳng định về sự thay thế của hình thái kinh tế - xã hội TBCN và sự ra đời của hình
thái KT – XH CSCN là tất yếu khách quan.
Học thuyết về giá trị thặng dư – Phát kiến thứ 2
Từ việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đi sâu nghiên
cứu nền sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã viết nên bộ “Tư bản”,
mà giá trị to lớn nhất của nó là “Học thuyết về giá trị thặng dư - phát kiến vĩ đại thứ hai
của C.Mác và Ph.Ăngghhen khẳng định về phương diện kinh tế sự thay thế của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với đặc trưng là QHSX dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất và sự ra đời tất yếu của phương thức sản xuất CSCN với đặc trưng là QHSX dựa
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là tất yếu.
Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - Phát kiến thứ 3
Trên cơ sở hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị
thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
của giai cấp công nhân, giai cấp có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hội không
tưởng- phê phán đã được khắc phục một cách triệt để; đồng thời đã luận chứng và khẳng
định về phương diện chính trị- xã hội sự thay thế của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu
của chủ nghĩa cộng sản (giai đoạn đầu là CNXH)
3. Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản:
- Được sự uỷ nhiệm của những người cộng sản và công nhân quốc tế, tháng 2 năm
1848, tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo
được công bố trước toàn thế giới. lOMoAR cPSD| 61531195
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ
nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn là cương lĩnh chính trị, là kim chỉ nam hành động
của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân
lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng loài người
khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc.
Chính Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu và phân tích có hệ thống, lịch sử và
logic hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất, đầy đủ, xúc tích và chặt chẽ nhất, thâu tóm
toàn bộ luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, chỉ ra con đường và biện pháp cách
mạng để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Đây là tác phẩm làm cho Chủ nghĩa Mác trở thành một học thuyết hoàn chỉnh không
chỉ nhận thức thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới.
Câu 3: Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử
cảu giai cấp công nhân:
1. Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm:
*Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định:
-Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của nền đại công nghiệp, mang tính xã hội
hóa cao, là chủ thể trong việc sản xuất vật chất xã hội. Giai cấp công nhân đại diện cho
cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại.
-Trong xã hội nay, khi lao động trên phương pháp sản xuất công nghiệp hiện đại thì
giai cấp công nhân là người sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội.
-Điều kiện khách quan là nhân tố kinh tế quy định giai cấp công nhân là lực lượng
phá vỡ mối quan hệ trong tư bản chủ nghĩa, giành lại chính quyền về tay mình, xóa bỏ sự
thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản
-Giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho sự phát triển tất yếu của lịch sử và là giai
cấp duy nhất có đủ điều kiện để xây dựng nền móng cho chủ nghĩa xã hội.
*Thứ hai, do chính trị-xã hội của giai cấp công nhân quy định: lOMoAR cPSD| 61531195
-Là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân có được những
phẩm chất của một giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng, có tổ chức và kỉ luật và đoàn kết
trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội.
-Những phẩm chất ấy của giai cấp công nhân được hình thành từ chính những điều
kiện khách quan, được quy định từ địa vị kinh tế và địa vị chính trị-xã hội của nó trong
nền sản xuất vật chất hiện đại.
-Giai cấp công nhân được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa Mác-Lenin, có đội
tiền phong là Đảng cộng sản dẫn dắt.
-Giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiền trình
phát triển lịch sử. Đây là đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công nhân.
-Địa vị chính trị-xã hội của giai cấp công nhân đã tạo nên những phẩm chất chính trị
là giai cấp tiên tiến nhất, có ý thức kỉ luật cao nhất, có tinh thần cách mạng triệt để và có bản chất quốc tế.
-Tóm lại địa vị kinh tế và địa chính trị-xã hội của giai cấp công nhân là yếu tố khách
quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
2 Phân tích điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
*Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng: -
Thông qua sự phát triển này có thể thấy được sự lớn mạnh của giai cấp công nhân
cùng quy mô sản xuất vật chất hiện đại trên nền sản xuất công nghiệp, kỹ thuật và công nghệ.
-Sự phát triển về số lượng của giai câp công phải gắn liền với sự phát triển về chất
lượng để đảm bảo giai công nhân có thể thực hiện sứ mệnh của mình. Chất lượng của giai
cấp công nhân thể hiện qua trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của giai cấp cách
mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trách nhiệm của giai cấp mình đối với lịch
sử. Do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ lý luận khoa học và cách mạng chủ nghĩa Mác-Lenin.
-Là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai cấp công
nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, nhất là trong thời kì ngày nay.
*Đảng cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực
hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình:
-Đảng cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò
lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân: thể hiện sự phát triển vượt bậc
của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng
-Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản là sự kết hợp của chủ
nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân. lOMoAR cPSD| 61531195
-Giai cấp công nhân là cơ sở của xã hội, là nguồn bổ sung nhân lực quan trọng nhất
của Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cộng Sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai
cấp công nhân, dân tộc và xã hội.
*Liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng
lớp lao động khác:
Ngoài hai điều kiện chủ quan đã được nêu trên, chủ nghĩa Mác-Lenin còn chỉ rõ: để cuộc
cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN đi tới thắng lợi, phải có sự liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân
thông qua đội tiên phong của nó là ĐCS lãnh đạo. Đây cũng là 1 điều kiện chủ quan không
thể thiếu để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Vấn đề 4: Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Phân tích tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Khái niệm:
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng một cách sâu sắc
triệt để toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt đầu từ giai cấp công nhân và nhân dân
lao động giành được chính quyền nhà nước cho tới khi chủ nghĩa xã hội tạo ra được những
cơ sở của chính mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội.
Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Theo qui luật của lịch sử chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang một hình thái
kinh tế xã hội khác cao hơn luôn phải cần một thời kỳ để giai cấp thống trị tiến hành cải tạo
xã hội cũ xây dựng xã hội mới. Vì vậy, việc thay thế hình thái kinh tế TBCN bằng hình thái
kinh tế xã hội mới là CSCN ( giai đoạn đầu là CNXH) tất yếu phải trải qua TKQĐ.
So với các hình thái kinh tế xã hội đã xuất hiện trong lịch sử hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa có sự khác biệt về chất, nếu như các hình thái kinh tế xã hội trước đó
cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa bản chất vẫn là đựa
trên QHSX tư hữu về tư liệu sản xuất còn chủ nghĩa cộng sản QHSX dựa trên hình thức
công hữu về tư liệu sản xuất.
Mặt khác, CNXH không thể tự hình thành và phát triển trong lòng CNTB mà cần có
quá trình đấu tranh thông qua hoạt động tự giác của giai cấp công nhân trong cuộc cách
mạng XHCN. Vì vậy, sau cuộc cách mạng XHCN giai cấp công nhân sử dụng chính quyền
để từng bước xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới đựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ chính trị. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá lOMoAR cPSD| 61531195
độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính
cách mạng của giai cấp vô sản
Vì vậy, để phát triển lên CNXH dù là những nước chưa hay đã trải qua sự phát triển
TBCN đều cần phải trải qua thời kỳ quá độ lên CNXH ( theo 1 trong 2 hình thức là quá độ
là trực tiếp hay gián tiếp)
Có hai loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
1) Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đối với những nước
đã trải qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2) Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đối với những nước
chưa trải qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Xây dựng CNXH là một quá trình chuyển đổi một cách sâu sắc, triệt để nên cần phải
trải qua 1 thời kỳ quá độ lâu dài, khó khăn và tất yếu trong lịch sử. Vì vậy, thời kỳ quá độ
lên CNXH là 1 tất yếu khách quan đối với các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Câu 5: Phân tích nội dung dân tộc và cương lĩnh dân tộc của Lenin?
-Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lenin: dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người, trải qua quá trình từ thấp đến cao: thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, dân tộc. Sự chuyển biến
phương thức sản xuất là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Căn cứ khách quan để Lênin xây dựng cương lĩnh dân tộc: -
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc -
Dựa vào sự phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân
tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. -
Sự tổng kết kinh nghiệm cuộc đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và
cách mạng Nga đầu thế kỷ 20 * Nội dung cương lĩnh dân tộc: -
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng :
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở
trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về
kinh tế, chính trị, văn hóa.
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có
quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình
đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn nó phải được
thực hiện trên thực tế.
Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức
giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan. lOMoAR cPSD| 61531195
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây
dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc. - Các dân tộc được quyền tự quyết:
Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự
lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng
thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng. Tuy nhiên, việc
thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên
lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của
giai cấp công nhân. V.I.Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức,
các dân tộc phụ thuộc.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người thiểu số trong
một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết đấu
tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chiêu
bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, hoặc kích động đòi ly khai dân tộc.
- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: ( “ không được viết sai tên nội dung”)
+ Giai cấp công nhân thuộc các dân tộc khác nhau đều thống nhất, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ
lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
=>>Ý nghĩa: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội dung cơ bản nhất:
+ Phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân
+ Phán ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
+ Đảm bảo cho phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi
+ Là điều kiện thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN. Do đó là cơ sở để giải quyết đúng đắn
vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc bị áp bức.
+ Liên kết cả ba nội dung thành một chỉnh thể
=>> Trong các nội dung cương lĩnh dân tộc, nội dung liên hiệp công nhân tất cả các dân
tộc là quan trọng nhất

Câu 6: Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin về nguồn gốc, bản chất của tôn
giáo và nguyên tắc giải quyết các vấn đề về tôn giáo trong thời kì quá độ lên CNXH Bài Làm
Bản chất của tôn giáo lOMoAR cPSD| 61531195
-Tôn giáo là 1 hình thái ý thức- xã hội phản ánh sự hư ảo của hiện thực khác quan. Từ sự
phản ánh đó những lực lượng tự nhiên xã hội trở thành thế lực siêu nhiên, thần bí.
-Để làm rõ vấn đề của tôn giao, Mác - Lenin đã chỉ rõ: tôn giáo là 1 hiện tượng văn hóagiáo
dục do con người sáng tạo ra. Con người tạo ra tôn giáo nhằm đáp ứng mục đích và lợi ích
của họ. Tuy nhiên khi sáng tạo ra tôn giáo con lại phụ thuộc và phục tùng vào tôn giáo 1 cách vô điều kiện
-Về phương diện thế giới khách quan: Tôn giáo mang bản chất của thế giới quan duy tâm trái
ngược với thế giới quan duy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học.
+)Tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất nhưng lại có sự giao thoa nhất định.
+)Tín ngưỡng là những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cách thể hiện niềm tin của con người vào
thế lực thần bí, siêu nhiên để mong cầu sự giúp đỡ và che chở.
+)Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông vào những thế lực siêu nhiên mà không dựa trên bất
cứ cơ sở khoa học nào.
+)Mê tín di đoạn là niềm tin của con người vào thế lực thần bí, siêu nhiêu 1 cách cuồng tín
và có những hành động cực đoan, sai lệch quá mức về chuẩn mực đạo đức con người, quy
định, pháp luật của nhà nước gây tổn hại đến bản thân, xã hội và cộng đồng
Nguồn gốc của tôn giáo:
-Nguồn gốc về kinh tế-xã hội:
+)Trong xã hội công xã nguyên thủy, khi mà lực lượng sản xuất chưa phát triển dưới
sự chi phối và tác động của thiên nhiên hùng vĩ thì con người cảm thấy yếu ớt và nhỏ
bé vô cùng. Vì vậy con người đã gắn cho tự nhiên sức mạnh, quyền lực thần bí. +)Trong
xã hội tồn tại giai cấp đối kháng và có sự áp bức bóc lột, do chưa giải thích được
nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giai cấp và sự bóc lột, áp bức… cộng với việc lo sợ
sự thống trị của lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của những
thế lực siêu nhiên, thần bí tồn tại ngoài trần thế.
-Nguồn gốc nhận thức:
+)Trong giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức về tự nhiên, xã hội cũng như chính
bản thân mình còn hạn chế. Khoảng cách giữa “biêt” và “không biết” vẫn còn tồn tại,
những hiện tượng mà khoa học chưa giải thích được thường được giải thích dưới lăng kính của tôn giáo.
+)Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng do trình độ dân trí thấp
và sự nhận thức chưa đầy đủ cũng là mảnh đât cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của
tôn giáo. Nguồn gốc của tôn giáo là sự tuyệt đối hóa nhận thức của con người biến
những hiện thực khách quan thành siêu nhiên, thần bí.
-Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước tự nhiên, khi con người ốm đau bệnh tật, khi thử
may rủi hoặc tâm lý muốn được bình yên khi là một việc lớn con người cũng dễ tìm
đến tôn giáo(như là đám hỏi, ma chay, làm nhà…). Ngay cả những niềm tin tích cực
như là tình yêu, sự biết ơn với các anh hùng có công với đất nước, con người vẫn dễ
tìm đến tôn giáo(Thờ các anh hùng liệt sĩ, thờ thành hoàng làng…) lOMoAR cPSD| 61531195
*Nguyên tắc giải quyết vấn đề của tôn giáo trong thời kì quá độ
-Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân:
+)Tôn giáo và tín ngưỡng niềm tín của nhân dân vào những thế lực thần bí, siêu nhiên
mà họ tôn thờ, đây là yếu tố ý thức tâm lý. Vì vậy việc tự do tín ngưỡng hay tự do
không tín ngưỡng phục thuộc vào quyền tự do tư tưởng của nhân dân.
+)Những hành vi ngắn cấm, cấm đoán nhân dân bỏ đạo, theo đạo, chuyển đạo hay ép
buộc nhân dân theo đạo đều vi phạm quyền tự do tư tưởng của nhân dân.
+) Việc tôn trọng quyền tự do tư tưởng của nhân dân thế hiện sự tôn trọng với quyền
của con người đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của xã hội chủ nghĩa.
+)Nhà nước xã hội không can thiệp và cũng không cho phép ai can thiệp vào quyền tự
do tín ngưỡng của nhân dân.
-Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới:
+)Nguyên tắc này thể hiện việc chủ nghĩa Mác Lenin chỉ tập trung vào việc khắc phục
ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo chứ không tham gia vào hoạt động nội của tôn giáo.
+)Chủ nghĩa Mác-Lenin khẳng định để thay đổi ý thức xã hội thì phải thay đổi bản thân
tồn tại trong xã hội. Để xóa bỏ những ảo tưởng trong tư tưởng của nhân dân thì phải
xóa bỏ đi nguyên nhân dẫn đến sự ảo tưởng đó. Để thực hiện điều này, đầu tiên cần
xóa bỏ sự áp bức, bất công, nghèo đói… Đây là 1 quá trình dài đòi hỏi sự thống nhất
giữa việc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
-Phân biệt 2 mặt chính trị và tư tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng
tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề:
+)Trong xã hội công xã nguyên thủy, tôn giáo và tín ngưỡng được biểu hiện thuần túy
về tư tưởng. Những trong xã hội có giai cấp thì dấu ấn giai cấp ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tôn giáo.
+)Mặt chính trị phản ảnh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai
cấp. Còn mặt tư tưởng thể hiện sự khác biệt niềm tin mức độ giữa các tôn giáo. Mẫu
thuẫn tư tưởng không đối kháng nhưng thường đan xen mẫu thuẫn chính trị +)Phân
biệt mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo là cần thiết để hiểu
rõ bản chất mâu thuẫn và hướng xử lý phù hợp, tránh nhầm lẫn dẫn đến lệch lạc trong
việc quản lý và giải quyết vấn đề về tôn giáo.
-Quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết các vấn đề về tôn giáo:
Tôn giáo không phải là 1 hiện tượng bất biến mà nó luôn vận động và biến đổi không
ngừng tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sự. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành,
lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau. Ở mỗi điều kiện lịch sử khác nhau thì tác động
và vai trò của mỗi tôn giáo là khác nhau. Vì vậy cần có quan điểm lịch sử cụ thể để
giải quyết các vấn đề của tôn giáo. lOMoAR cPSD| 61531195
Câu 7: Phân tích các chức năng cơ bản của con người:
*Chức năng tái sản xuất ra con người:
-Đây là chức năng cơ bản nhất cũng là chức năng đặc thù nhất của gia đình mà không
một tổ chức cộng động nào có được. Chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu thỏa
mãn tâm sinh lý, đáp ứng nhu cầu duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ mà còn đáp
ứng như cầu về nguồn lao động và duy trì sự trường tồn của xã hội.
-Chức năng này được thực hiện ở mỗi gia đình nhưng đây không phải là vấn đề riêng
của gia đình mà còn là vấn đề của xã hội. Bởi lẽ việc tái sản xuất con người ảnh hưởng
đến mật độ dân số và nguồn lao động của quốc gia và quốc tế - yếu tố cấu thành xã hội.
-Tùy vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia, có những quốc gia sẽ khuyến
khích, có những quốc gia sẽ hạn chế chức năng này
*Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:
-Đây là chức năng cơ bản của gia đình. Chức năng này thể hiện tình yêu thiêng liêng
của cha mẹ đối với con cái, đồng thời thể hiện trách nhiệm của gia đình với xã hội. -
Việc giáo dục của gia đình đối với con cái sẽ ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức, lối sống của con sau này.
-Khi thực hiện chức năng nuôi dưỡng và giáo dục, mỗi gia đình như 1 môi trường văn
hóa, là những người được hưởng thụ những giá trị về văn hóa và là chủ thể khách quan
chịu sự giáo dục của các thành viên khác trong gia đình
-Việc giáo dục gia đình ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống mỗi con người. Mặc dù trong
xã hội có nhiều cộng đồng thực hiện chức năng giáo dục như: trường học… nhưng
không thể thay thế cho giáo dục gia đình.
-Thực hiện chức năng này gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo
thế hệ trẻ-thế hệ tương lai cho xã hội, nâng cao chất lượng nguồn lao động cho sự
trường tồn của xã hội, mỗi con người đều được xã hội hóa. Vì thế giáo dục gia đình
phải gắn liền với giáo dục xã hội. Nếu tách rời giáo dục gia đình và giáo dục xã hội thì
con người sẽ không bắt kịp được xã hội và ngược lại.
*Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
-Cũng giống như các đơn vị khác, gia đình là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
-Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà không cộng đồng nào có được là gia đình là đơn
vị duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội.
-Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản xuất vật chất , sức lao
động mà còn thực hiện chức năng tiêu dùng cho xã hội. Gia đình thực hiện chức năng
tiêu dùng vào việc duy trì đời sống gia đình về lao động lẫn sinh hoạt. Đó là việc sử
dụng các nguồn thu hợp lý vào việc đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và tinh thần cho
sự phát triển của các thành viên trong gia đình.
-Không chỉ vậy gia đình còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải vật chất
cho xã hội. Nếu tận dụng được nguồn vốn, nguồn đầu tư, tận dụng thực hiện triệt để
chức năng này thì gia đình không những tạo được cơ sở tốt để phát triển gia đình, nuôi
dạy con cái mà còn làm phát triển cho xã hội.
*Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì hạnh phúc gia đình: -Đây là
chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, văn hóa,
tinh thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. -Việc lOMoAR cPSD| 61531195
quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình
cảm, vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người. Vì thế gia đình không chỉ
là chỗ dựa vững chắc về mặt vật chất mà còn là chỗ dựa về mặt tinh thần. -Việc duy
trì tình cảm gia đình cũng giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển cho xã hội. Khi mối
quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan vỡ.
-Về văn hóa, gia đình đóng vai trò là nơi lưu giữ và truyền bá văn hóa của mỗi tộc
người. Gia đình không chỉ là nơi lưu giữ mà còn là nơi sáng tạo ra văn hóa. Về chính
trị, mỗi gia đình là 1 tổ chức chính trị xã hội thực hiện các quy định, pháp luật của nhà
nước, quy định của làng thôn và cũng là chủ thể được thụ hưởng trực tiếp từ những quy định này.