



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58605085
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI
CHỦ ĐỀ 2: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦAC.MÁC VÀ LIÊN
HỆ ĐẾN VẤN ĐỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LỚP: L09 - NHÓM: 12 HK231
GVHD: THS. NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN ST ĐIỂM GHI T MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM BTL BTL CHÚ 1 2112873 Nguyễn Quốc Bảo 2 2113101 Phan Hồng Dương 3 2212479 Trần Mỹ Như 4 2113338 Đoàn Ngọc Minh Hiếu 5
2214070 Vương Nguyễn Trường Xuân
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM HỌC 2023 -2024 lOMoAR cPSD| 58605085
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM % STT Mã số SV Họ và tên
Nhiệm vụ được Điểm Điểm Ký tên phân công BTL BTL Chương 1, tổng hợp bài làm, tài 1 2112873 Nguyễn Quốc Bảo liệu tham khảo, 100% 2.2 2 2113101 Phan Hồng Dương 2.1, 2.2, 3.2.2 100% 3
2113338 Đoàn Ngọc Minh Hiếu 2.3 và phần kết luận 100% 4 2212479 Trần Mỹ Như 3.1, 3.2.1, 3.2.3 100% 5
2214070 Vương Nguyễn Trường Xuân 3.3 và 3.4, 3.2.3 100%
Họ và tên nhóm trưởng: NGUYỄN QUỐC BẢO
Số ĐT: ......0944288313..........Email:
..bao.nguyen131203@hcmut.edu.vn................................... Nhận xét của GV:
....................................................................................................................................................... .....
....................................................................................................................................................... .....
....................................................................................................................................................... .....
....................................................................................................................................................... ..... GIẢNG NHÓM VIÊN TRƯỞN (Ký và ghi G rõ họ, tên)
(Ký và ghi rõ họ, tên) Nguyễn Nguyễn Quốc Bảo Trung Hiếu MỤC LỤC lOMoAR cPSD| 58605085
CHƯƠNG.1. MỞ ĐẦU................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
1.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu............................................2
1.3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................2
1.4. Mục tiêu của đề tài........................................................................................2
1.5. Kết cấu của đề tài..........................................................................................3
CHƯƠNG.2. LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
.......................................................................................................................................4
2.1. Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư................................................4
2.1.1. Nguồn gốc scủa giá trị thặng dư..............................................................4
2.1.2. Bản chất của giá trị thặng dư..................................................................6
2.2. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư...............................................9
2.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.....................................9
2.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.................................10
2.2.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch................................11
2.3. Lợi nhuận và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.....................12
2.3.1. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.........................................................12
2.3.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận..............................................................12
2.3.3. Sự hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất..........................14
2.3.4. Các hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư.........................................16
CHƯƠNG.3. LIÊN HỆ ĐẾN VẤN ĐỀ LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..................................................20
3.1. Khái quát về DNNN ở Việt Nam................................................................20
3.1.1. Khái niệm...............................................................................................20
3.1.2. Đặc điểm của DNNN.............................................................................20 lOMoAR cPSD| 58605085
3.1.3. Vai trò của DNNN..................................................................................21
3.1.4. Phân loại các DNNN.............................................................................21
3.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của các DNNN của Việt Nam..............23
3.2.1. Những thành tựu nổi bật........................................................................23
3.2.2. Những hạn chế, tồn tại...........................................................................29
3.2.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế..........................................37
3.3. Những thuận lời và khó khăn đối với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các DNNN ở Việt Nam hiện nay......................................................40
3.3.1. Những thuận lợi.....................................................................................40
3.3.2. Những khó khăn.....................................................................................41
3.4. Những giải pháp chủ yếu nhằm hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận của
các DNNN ở Việt Nam trong thời gian tới.................................................43
3.4.1. Giải pháp vĩ mô từ nhà nước.................................................................43
3.4.2. Giải pháp từ phía DNNN.......................................................................44
KẾT LUẬN................................................................................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................48
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ cấu của ba ngành sản xuất cho sự hành thành lợi nhuận bình quân.15
Bảng 2: Số DNNN đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh thời điểm
31/12............................................................................................................................23
Bảng 3: Doanh thu thuần trước thuế của DNNN (tỷ đồng)....................................25
Bảng 4: Lợi nhuận trước thuế của DNNN (tỷ đồng)...............................................25
Bảng 5: Lao động của DNNN đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh thời
điểm 31/12...........................................................................................................28
Bảng 6: Tỷ trọng doanh thu thuần và lợi nhuận của DNNN..................................30
Bảng 7: Bảng thống kê DNNN năm 2021 so với năm 2020.....................................31 lOMoAR cPSD| 58605085
Bảng 8: Số lao động của doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh
doanh ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo trình độ
công nghệ (người)......................................................................................................33 DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN từ 2016-2019...........31
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT DNNN Doanh nghiệp nhà nước ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long lOMoAR cPSD| 58605085 1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Một là, Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác là một phần quan trọng của triết học
và được ví như một hòn đá tảng trong lý luận kinh tế chính trị của C.Mác – Lênin.
Nghiên cứu về học thuyết này để thấy được các quan hệ lợi ích cơ bản nhất thông qua
phân phối giá trị mới do lao động tạo ra giữa các chủ thể cơ bản trong nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa. Mặc dù học thuyết này đã được phát triển vào thế kỷ 19, nhưng
nó vẫn có ảnh hưởng sâu rộng đến thế giới ngày nay. Nó thể giúp hiểu sâu hơn về các
vấn đề kinh tế và xã hội hiện đại như bất bình đẳng thu nhập, tầng lớp xã hội, và vai trò
của nhà nước trong kinh tế. Giúp hiểu được cách mà những nhà tư sản bọc lột sức lao
động của người lao động nhưng vẫn tuân theo quy luật kinh tế về trao đổi ngang giá.
Hai là, Vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội. Việt Nam đang trải qua
một giai đoạn chuyển đổi số mạnh mẽ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh
vực sản xuất và kinh doanh. Việt Nam đã tham gia vào nhiều hiệp định thương mại quốc
tế và có cơ hội tiếp cận các thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra áp lực
cạnh tranh cao đối với các doanh nghiệp, đòi hỏi họ phải nâng cao hiệu quả sản xuất và
tối ưu hóa quản lý để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, với tình hình biến đổi
khí hậu hiện nay cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh. Đối
mặt với nguồn tài nguyên khoáng sản đang dần cạn kiệt đòi hỏi Việt Nam phải có những
chính sách kinh doanh đối với các doanh nghiệp ở nước ta chặt chẽ hơn.
Ba là, Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn
trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận đối với các doanh nghiệp
nhà nước của Việt Nam bằng cách giải thích sâu hơn về cơ cấu sản xuất, phân tích tầng
lớp xã hội, xem xét vai trò của tầng lớp lao động, giúp đề ra chiến lược kinh doanh hợp
lí. Làm thế nào để vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vào giải quyết vấn
đề trên là một chủ đề cần được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện. lOMoAR cPSD| 58605085
1.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác và các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng sản xuất kinh doanh của các DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2012 đến năm 2022.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, kết hợp các phương
pháp biện chứng duy vật, lịch sử - logic, so sánh, phân tích – tổng hợp, số liệu – thống kê.
Đề tài dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo chính thức và uy tín, bao gồm các văn
bản của Đảng và Nhà nước, các báo cáo, số liệu thống kê, nghiên cứu khoa học, bài báo,
sách giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin không chuyên,…
Phương pháp cơ bản được nhóm sử dụng là: dựa trên các kiến thức đã được học về
giá trị thặng dư, các số liệu thống kê từ các nguồn tài tham khảo chính thức và uy tín từ
đó lập bảng biểu, biểu đồ và dựa trên đó để phân tích, đánh giá, từ những đánh giá và
phân tích ở trên đưa ra các giải pháp về tình hình sản xuất của các DNNN ở Việt Nam
giai đoạn từ 2012 đến năm 2022.
1.4. Mục tiêu của đề tài * Mục tiêu chung
Khẳng định ý nghĩa và giá trị của học thuyết giá trị của C.Mác trong phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đối với vấn đề nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNNN ở Việt Nam. * Mục tiêu cụ thể
Làm rõ các khái niệm và nội dung của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của các DNNN ở Việt Nam hiện nay:
những thành tựu và những hạn chế, tồn tại, những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các DNNN của Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58605085
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận của
các DNNN của Việt Nam trong thời gian tới.
1.5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Mở đầu.
Chương 2: Lý luận về học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Chương 3: Liên hệ đến vấn đề lợi nhuận trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay. lOMoAR cPSD| 58605085
2. LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
2.1. Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư
2.1.1. Nguồn gốc của giá trị thặng dư
“Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản”1
Có thể hiểu đơn giản: Giá trị thặng dư chính là giá trị do công nhân làm thuê lao
động sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt
hết. Đối với hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào tư liệu sản xuất và mua sức lao
động. Mục đích khi chi tiền là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà họ đã
chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra chính là giá trị thặng dư.
Mác đã nghiên cứu giá trị thặng dư dưới giác độ hao phí lao động, trong đó công
nhân sản xuất ra nhiều giá trị hơn chi phí trả cho họ – yếu tố bị quy định bơi mức tiền
lương tối thiểu chỉ đủ để đảm bảo cho họ tồn tại với tư các người lao động. Theo Mác,
sự bóc lột công nhân chỉ có thể được loại trừ nếu nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị
mới được tạo ra. A.Marshall cho rằng xét về bản chất, thì tất cả các khoản thu nhập nhân
tố cao hơn chi phí nhân tố đều là bán tô trong ngắn hạn. Cho nên theo ông, khi không
có các cơ hội khác để một nhân tố sản xuất lựa chọn, thì toàn bộ phần thường dành cho
nó đều là giá trị thặng dư. Xét một ví dụ đơn giản về giá trị thặng dư: Một nhân công
của nhà máy may sản xuất áo sơ mi, mỗi ngày được quy định làm việc trong 8 tiếng, với
sản lượng yêu cầu làm ra 5 chiếc áo mỗi ngày. Qua thời gian, tay nghề nhân công ngày
càng điêu luyện, trong 8 tiếng đó cô ấy có thể hoàn thành được 8 chiếc áo sơ mi. Như
vậy, sản lượng sản xuất dôi ra so với định mức là 3 chiếc áo sơ mi. Ba chiếc áo này chính là giá trị thặng dư.
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì tư
liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người
công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu
của nhà tư bản. Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà
tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao
1 PSG.TS. Ngô Tuấn Nghĩa. (2019). Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (không chuyên). Hà Nội, tr.57 lOMoAR cPSD| 58605085
động người công nhân làm thuê đã tạo tra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính
mình. Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển
giá trị của chúng vào sản phẩm, và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị
mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư. Để khẳng
định rõ hơn về nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động tạo ra, cần phân
tích vai trò của tư liệu sản xuất trong mối quan hệ với người lao động trong quá trình
làm tăng giá trị. Việc phân tích này được C.Mác nghiên cứu dưới nội hàm của hai thuật
ngữ. Tư bản bất biến và tư bản khả biến:
Tư bản bất biến “là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá
trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá
trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất được. C.Mác gọi là
tư bản bất biến (c)”2. Tư bản bất biến sẽ không tao ra bất cứ giá trị thặng dư nhưng chính
là điều kiện cần thiết để cho quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra.
Tư bản khả biến “là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái
hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức là biến đổi
về số lượng trong quá trình sản xuất. C.Mác gọi là tư bản khả biến (v)”3.
Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất
đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c)
và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng
hóa sức lao động). Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa
sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá
trị thặng dư (m). C.Mác còn nhấn mạnh, để có giá trị thặng dư, nhà tư bản không những
cần phải thực hiện quá trình sản xuất giá trị thặng dư, mà còn cần phải chuẩn bị các điều
kiện cần thiết cho quá trình đó và thực hiện giá trị, giá trị thặng dư chứa đựng trong
những hàng hóa đã được sản xuất ra. Tổng thể những hoạt động đó biểu hiện sự vận
động tuần hoàn, chu chuyển của tư bản.
Như vậy, lao động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Hay nói cách khác
nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí lao động tạo ra.
2 PSG.TS. Ngô Tuấn Nghĩa. (2019). Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (không chuyên). Hà Nội, tr.58
3 PSG.TS. Ngô Tuấn Nghĩa. (2019). Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (không chuyên). Hà Nội, tr.59 lOMoAR cPSD| 58605085
2.1.2. Bản chất của giá trị thặng dư
Thông qua khái niệm và nguồn gốc của giá trị thặng dư, có thể thấy bản chất của
giá trị thặng dư như sau:
Một là, Giá trị thặng dư là kết quả của sức lao động miệt mài.
Các nhà tư bản làm giàu, thu lợi nhuận dựa trên cơ sở thuê mướn người lao động.
Lúc này, người lao động làm thuê để bán sức lao động của mình đổi lấy tiền công.Dưới
sự kiểm soát chặt chẽ của các nhà tư bản, các ông chủ, người lao động cũng được xem
như những yếu tố sản xuất khác. Và nhà sử dụng lao động luôn tìm cách sử dụng sao
cho tạo ra nhiều sản phẩm nhất có thể. Người lao động có thể phải làm thêm giờ, họ có
thể phải làm tăng lên về sản lượng hơn so với mức quy định,…
Hai là, Toàn bọ các sản phẩm tạo ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Các hàng hóa, sản phẩm được tạo ra trong quá trình người lao động sản xuất, thuộc
toàn quyền sở hữu của nhà tư bản, của các ông chủ; chứ không phải của người công
nhân. Người công nhân trước khi tham gia vào quá trình sản xuất, họ được nhà tư bản
giao ước, và trả công đúng bằng giá trị hàng hóa sức lao động. Vì vậy tất cả hàng hóa
mà người lao động tạo đều là của nhà tư bản, và phần giá trị thặng dư sẽ bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Ba là, Trong điều kiện ngày nay, quan hệ người làm thuê và nhà tư bản vẫn diễn ra
nhưng với trình độ và mức độ rất khác.
Trong xã hội tư bản trước đây, người lao động bị áp bức, và được trả tiền công rất
rẻ mạt; trong khi đó nhà tư bản thì không ngừng giàu có do giá trị thặng dư. Điều này
hình thành nên quan hệ bóc lột, và sự bất công sâu sắc trong xã hội. Nhà tư bản bóc lột
sức lao động của người lao động cho bản thân họ. Sự bóc lột càng diễn ra nhiều, thì giá
trị thặng dư được tạo ra càng tăng cao. Tạo nên sự phân hóa giữa giàu và nghèo vô cùng
sâu sắc trong xã hội. Người giàu ngày càng giàu lên vì họ chiếm đoạt được nhiều giá trị
thặng dư , còn người nghèo vẫn hoàn nghèo vì công sức lao động của họ quá đỗi rẻ mạt.
Bên cạnh việc nắm rõ về giá trị thặng dư là gì, để hiểu rõ thêm được bản chất của
giá trị thặng dư, C.Mác đã đưa ra hai phạm trù là tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư lOMoAR cPSD| 58605085
Tỷ suất giá trị thặng dư thể hiện mối quan hệ giữa giá trị thặng dư và chi phí ban
đầu mua sức lao động cần thiết để tạo ra giá trị thặng dư.Tỷ suất này thể hiện rõ trong
một khoảng thời gian lao động nhất định, có thể là trong một ngày lao động, phần thời
gian lao động thặng dư của người lao động. Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư được
tính theo tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất yếu như sau: '
m'=t ×100%= m ×100% t v
Trong đó, m’ là tỷ suất giá trị thặng dư, m là giá trị thặng dư, v là tư bản khả biến, t’ là
thời gian lao động thặng dư, t là thời gian lao động tất yếu.
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh sự khai thác sử dụng nhân công, và phản ánh quy
mô giá trị thặng dư mà chủ sở hữu tư liệu có thể thu được.
Khối lượng giá trị thặng dư “là giá trị thặng dư bằng tiền mà như tư bản thu được”4.
Nó phản ánh quy mô của giá trị thặng dư mà chủ sở hữu tư liệu sản xuất chính là nhà tư
bản thu được thông qua quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Công thức tính được biểu diễn như sau: M=m ' ×V
Trong đó, M là khối lượng giá trị thặng dư, V là tổng tư bản khả biến, m' là tỷ suất giá trị thặng dư
Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất
ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.
Một là, Trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó,
quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ
cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào
quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
4 PSG.TS. Ngô Tuấn Nghĩa. (2019). Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (không chuyên). Hà Nội, tr.64 lOMoAR cPSD| 58605085
Hai là, Trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức
độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân
biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được.
Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa
bằng luật. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể
chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội
nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã
hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ
bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải
kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu
thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các
“kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận
vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về
quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc
giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công
với nền kinh tế quốc tế.
Ba là, Mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động
lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm
công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng
lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung
đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất
của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật
pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận
dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những
đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58605085
2.2. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
2.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động,
giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi.
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được từ việc kéo dài ngày lao động
vượt giới hạn thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài còn thời gian lao động
cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động thặng dư tăng lên. Phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng
suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ
nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai
đoạn đầu chủ nghĩa tư bản. Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, năng suất
lao động còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà tư bản giở mọi thủ đoạn kéo
dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động công nhân làm thuê.
Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết liệt đòi
rút ngắn ngày lao động nên các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động vô thời hạn.
Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn đến mức bằng thời gian lao động tất
yếu. Một hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là
tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời
gian lao động trong ngày nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.
Ưu điểm của phương pháp này chính là phân biệt giữa công lao động và giá trị lao
động, giúp phân biệt rõ ràng giữa công lao động (lao động cụ thể mà công nhân thực
hiện để sản xuất hàng hóa) và giá trị lao động (là giá trị mà công nhân tạo ra thông qua
công lao động của họ). Điều này giúp hiểu rõ hơn về cách giá trị được tạo ra trong quá
trình sản xuất. Phương pháp này giúp phân tích sự bất bình đẳng xã hội trong việc phân
phối giá trị, C.Mác lập luận rằng giá trị thặng dư tuyệt đối là nguồn tài sản của tầng lớp
tư sản, trong khi công nhân nhận một phần ít ỏi của giá trị họ tạo ra. Đồng thời, phương
pháp này cũng cung cấp một cách tiếp cận dễ dàng để phân tích cơ cấu tư sản và quan
hệ công nhân/tư sản trong hệ thống sản xuất tư bản. Bên cạnh những ưu điểm của nó, lOMoAR cPSD| 58605085
song do tính chất của phương pháp này là kéo dài thời gian lao động vượt quá lời gian
lao động tất yếu dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong xã hội, làm diễn ra nhiều các cuộc biểu
tình của giai cấp công nhân. Ngoài ra, phương pháp này tập trung quá nhiều vào quá
trình sản xuất và có thể bỏ qua nhiều khía cạnh khác của kinh tế và xã hội, chẳng hạn
như thị trường và vai trò của nhà nước. Không giải thích hết sự phát triển kinh tế: Phương
pháp này tập trung vào mô hình sản xuất của thế kỷ 19 và không giải thích hết sự phát
triển kinh tế hiện đại, chẳng hạn như sự phát triển của dịch vụ, công nghệ thông tin, và
công nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, phương pháp có xu hướng phân nhóm xã hội
thành hai tầng lớp duy nhất - công nhân và tư sản, trong khi xã hội thực tế thường phức
tạp hơn với nhiều tầng lớp và tầng lớp trung gian.
2.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động
nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời gian
lao động tất yếu dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động xã hội
mà đầu tiên là ở ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng làm cho giá trị sức lao động giảm
xuống. Từ đó thời gian lao động cần thiết cũng giảm. Khi độ dài ngày lao động không
đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản
xuất giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất
yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên
trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi. Để hạ thấp giá trị sức
lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất
sức lao động, do đó phải tăng năng suất lao động trong cách ngành sản xuất ra tư liệu
sinh hoạt và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sinh hoạt khác,
hay nói cách khác thì phương pháp này đem lại ưu điểm trong việc tăng nâng suất lao
động. Song do bản chất của phương pháp này cũng là rút ngắn thời gian lao động tất
yếu nhưng cải tiến hơn phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối ở chỗ là kéo lOMoAR cPSD| 58605085
dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc
thậm chí rút ngắn, và cũng mang tính chất bốc lột sức lao động của công nhân.
2.2.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch
Trong thực tiễn, việc cải tiến kỹ thuật, tăng nâng suất lao động diễn ra trước hết ở
một hoặc vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hóa do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có
giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, và do đó, sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội
hơn so với các xí nghiệp khác. Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch.
Giá trị thăng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do các xí nghiệp sản xuất
có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, khi bán hàng hoá theo giá trị xã hội, sẽ thu được
một số giá trị thặng dư vượt trội so với các xí nghiệp khác. Giá trị thặng dư siêu ngạch
bằng giá trị xã hội của hàng hóa – Giá trị cá biệt của hàng hóa. Giá trị thặng dư siêu
ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, là động lực trực tiếp thúc
đẩy tăng năng suất lao động.
Vì muốn thu được nhiều giá trị thặng dư và chiếm ưu thế cạnh tranh, các nhà tư
bản áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Mục đích là cải tiến, hoàn thiện phương
pháp quản lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả giá trị cá biệt của hàng hóa
thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào áp dụng cách này thì hàng hóa khi bán sẽ thu
được một số giá trị thặng dư nhiều hơn nhà tư bản khác.
Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị
thặng dư bình thường của xã hội. Nếu xét từng nhà tư bản xuất thì giá trị thặng dư siêu
ngạch là hiện tượng tạm thời. Tuy nhiên xét về toàn xã hội tư bản thì giá trị thặng dư
siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là động
lực thúc đẩy mạnh nhất cho các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.
Cả giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều dựa vào cơ sở tăng
năng suất lao động. Tuy nhiên cả 2 khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương đối dựa trên
cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Trong khi giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên việc
tăng năng suất lao động cá biệt.
Sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp thông qua cách mạng công
nghiệp đã mở ra những điều kiện mới cho phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy lOMoAR cPSD| 58605085
sản xuất nói chung và sản xuất giá trị thặng dư phát triển nhanh. Cùng với toàn cầu hóa
kinh tế, khoa học và công nghệ ngày càng trở thành nhân tố quan trọng của sản xuất giá
trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường trên thế giới hiện nay.
2.3. Lợi nhuận và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Nghiên cứu về hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư thực chất là phân tích về
các quan hệ lợi ích giữa những nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong
việc phân chia giá trị thặng dư thu được trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động thuê.
2.3.1. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
Mục đích của nhà tư bản là thu hồi được giá trị tư bản đã ứng ra từ giá trị hàng hóa
đã bán được. Khái niệm chi phi sản xuất xuất hiện trong mối quan hệ đó.
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa “là phần giá trị của hàng hóa, bù lại giá cả của
những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng để sản
xuất ra hàng hóa ấy. Đó là chi phí mà nhà tư bản đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa”5
Chi phí sản xuất được ký hiệu là k. Về mặt lượng, k = c + v. Khi xuất hiện phạm
trù chi phí sản xuất thì giá trị hàng hóa G = c + (v+m) sẽ biểu hiện thành: G = k + m.
Chi phí sản xuất có vai trò quan trọng: bù đắp tư bản về giá trị và hiện vật, đảm bảo điều
kiện cho tái sản xuất trong kinh tế thị trường; tạo cơ sở cho cạnh tranh, là canh tứ quan
trọng cho cạnh tranh về giá cả bán hàng giữa các nhà tư bản.
2.3.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận và bản chất của lợi nhuận:
Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất có một
khoảng chênh lệch. Cho nên sau khi bán hàng (bán ngang giá), nhà tư bản không những
bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư. Số
chênh lệch này C.Mác gọi là lợi nhuận. Ký hiệu lợi nhuận là p, khi đó giá trị hàng hóa
được viết là G = k + p. Từ đó p = G – k. 5 SGT lOMoAR cPSD| 58605085
Từ cách tính toán trên thực tế như vậy, người ta chỉ quan tâm tới khoản chênh lệch
giữa giá trị hàng hóa bán được chi phí phải bỏ ra mà không quan tâm đến nguồn gốc sâu
xa của khoản chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư chuyển hóa thành. Thậm chí, với
nhà tư bản, lợi nhuận còn được quan niệm là do tư bản ứng trước sinh ra.
C.Mác khái quát: giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản
ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận. Điều đó có nghĩa, lợi nhuận chẳng
qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Nhà
tư bản cá biệt chỉ cần bán hàng hóa với giá cao hơn chi phí sản xuất là đã có lợi nhuận.
Trong trường hợp bán đúng bằng chi phí sản xuất là không có lợi nhuận. Bán hàng hóa
thấp hơn giá trị và cao hơn chi phí sản xuất cũng có thể đã có lợi nhuận. Trong trường
hợp này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trị thặng dư. Lợi nhuận chính là mục tiêu động cơ, động
lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Theo quan niệm của P.Samnuelson về lợi nhuận: “ Lợi nhuận là phần thu thập
thặng dư tính bằng hiệu quả giữa giá trị tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí. Lợi nhuận là
phần thưởng cho việc gánh chịu rủi ro và cho sư đổi mới.”
Tuy nhiên lợi nhuận đôi khi được do bằng số tuyệt đối chỉ phản ánh quy mô của hiệu
quả kinh doanh mà chưa phản ánh rõ mức độ hiệu quả của kinh doanh, do đó cần được
bổ sung bằng số đo tương đối là tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận “là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản
ứng trước (ký hiệu là p’).”6 Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức: p
p'= x100% c+v
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức doanh lợi đầu tư tư bản. Thường được tính hàng
năm, từ đây là hình thành khái niệm tỷ suất lợi nhuận hàng năm. Mặc dù lợi nhuận có
vai trò quan trọng đối với kinh doanh tư bản chủ nghĩa, vì sự hiện diện của nó thể hiện
hiệu quả kinh tế, tuy nhiên so với lợi nhuận phản ánh đầy đủ hơn mức độ hiệu quả kinh
doanh. Chính vì vậy, tỷ suất lợi nhuận với cách là số đo tương đối của lợi nhuận, đã trở 6 Sgt lOMoAR cPSD| 58605085
thành động cơ quan trọng nhất của hoạt động cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Như vậy, lợi
nhuận, tỷ suất lợi nhuận là những phạm trù thể hiện lợi ích kinh tế của nhà tư bản trong
nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, từ đó các nhà tư bản muốn làm giàu và làm
giàu nhanh cần phải tìm ra các thức để có được tỷ suất lợi nhuận cao nhất.
Quan sát từ công thức tính tỷ suất lợi nhuận có thể thấy, những nhân tố nào ảnh
hưởng tới giá trị của tử số hoặc mẫu số, hoặc cả tử số cả mẫu số của phân thức cững sẽ
ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận. C.Mác nêu ra các nhân tố sau:
Thứ nhất, Tỷ suất giá trị thặng dư. Sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng dư sẽ có tác
động trực tiếp làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
Thứ hai, Cấu tạo hữu cơ tư bản. Cấu tạo hữu cơ c/v tác động tới chi phí sản xuất,
do đó tác động tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Thứ ba, Tốc độ chu chuyển của tư bản. Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lớn
thì tỷ lệ giá trị thặng dự hàng năm tăng lên, do đó, tỷ suất lợi nhuận tăng.
Thứ tư, Tiết kiệm tư bản bất biến. Trong điều kiện tư bản khả biến không đổi, nếu
giá trị thặng dư giữ nguyên, tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
2.3.3. Sự hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
Cơ chế để hình thành nên lợi nhuận bình quân chính là sự cạnh tranh giữa các
ngành với nhau. Ở các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, do có những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, kỹ thuận và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành cũng khác nhau.
Giả sử có ba ngành sản xuất (hóa chất, lương thực và luyện kim), vốn của các
ngành đều bằng nhau (bằng 100 đơn vị tiền tệ), tỷ suất giá trị thặng dư đều bằng nhau
(bằng 100%), tốc độ chu chuyển của vốn ở các ngành đều bằng nhau. Do đặc điểm của
mỗi ngành sản xuất khác nhau, nên cấu tạo hữu cơ của vốn (tư bản) ở từng ngành khác
nhau, tỷ suất lợi nhuận ở các ngành khác nhau.