









Preview text:
Môn: Pháp luật đại cương Nhóm 6
Đề bài: Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước 1.Giới thiệu chung
-Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan mới trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam so với các Hiến pháp trước đây. Hội đồng bầu cử quốc
gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc
hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
(Điều 117 Hiến pháp 2023)
-Kiểm toán nhà nước là cơ quan nhà nước trực thuộc Chính phủ, đã được thành
lập từ năm 1994, tiếp đó đến năm 2006 cơ quan này chuyển sang trực thuộc
Quốc hội (theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước 2005). Việc quy định về
kiểm toán nhà nước trong Hiến pháp 2013 chứng tỏ sự tăng cường hoạt động
kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và việc kiểm soát ngân
sách nhà nước nói riêng của Nhà nước ta trong giai đoạn tiếp theo. Theo quy
định tại Điều 118 Hiến pháp 2013, Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội
thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ,thực hiện kiểm toán việc
quản lý, sử dụng tài chính,tài sản công. 2.Vị trí pháp lý
2.1.Vị trí pháp lí:
trạng thái hoặc vị trí đề cập đến
của một cá nhân, tổ chức,
hoặc tài sản trong hệ thống pháp luật. Điều này có thể bao gồm các quyền,
nghĩa vụ, và trách nhiệm mà họ có theo quy định của pháp luật.
2.2.Hội đồng bầu cử quốc gia: Là cơ quan đầu tiên được quy định trong Hiến
pháp, do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ
đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Vị trí pháp lý của Hội đồng Bầu cử Quốc gia là sự xác định rõ ràng về vai trò,
quyền hạn, và trách nhiệm của cơ quan này trong hệ thống pháp luật và chính
trị của một quốc gia. Dưới đây là các yếu tố chính cấu thành vị trí pháp lý của hội đồng:
Cơ Quan Độc Lập: Hội đồng Bầu cử Quốc gia thường được thành lập như
một cơ quan độc lập hoặc bán độc lập, nhằm đảm bảo tính trung lập và
khách quan trong việc tổ chức và giám sát các cuộc bầu cử. Độc lập của hội
đồng giúp ngăn chặn sự can thiệp từ các cơ quan chính trị hoặc chính phủ.
Quyền Hạn và Trách Nhiệm: Vị trí pháp lý của hội đồng được xác định trong
hiến pháp, luật bầu cử, hoặc các văn bản pháp lý tương tự. Hội đồng có
quyền thiết lập các quy định và quy trình liên quan đến bầu cử, giám sát việc
thực hiện quy trình bầu cử, xử lý khiếu nại và tranh chấp, và kết công nhận quả bầu cử.
Cơ Cấu Tổ Chức: Vị trí pháp lý của hội đồng cũng bao gồm cấu trúc tổ chức
và cách thức hoạt động của nó. Thông thường, hội đồng bao gồm các thành
viên được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, với nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể.
Đảm Bảo Quyền Bầu Cử: Hội đồng có trách nhiệm bảo đảm rằng quyền bầu
cử của công dân được thực hiện đầy đủ và công bằng. Điều này bao gồm việc
bảo đảm rằng tất cả công dân đủ điều kiện có cơ hội tham gia vào các cuộc bầu
cử mà không gặp phải sự phân biệt hay cản trở không chính đáng.
Giám Sát và Báo Cáo giám sát
: Hội đồng Bầu cử Quốc gia có trách nhiệm
toàn bộ quá trình bầu cử, từ việc lập danh sách cử tri, tổ chức bỏ phiếu, đến
việc kiểm phiếu và công bố kết quả. Hội đồng cũng thường có trách nhiệm báo cáo giải
về công tác tổ chức bầu cử và
trình trước các cơ quan liên quan hoặc công chúng.
Tính Chính Danh và Hợp Pháp: Vị trí pháp lý của hội đồng cũng bao gồm
việc nó phải hoạt động theo các nguyên tắc pháp lý được quy định, và các
quyết định của hội đồng phải tuân thủ pháp luật và được chấp nhận rộng rãi trong xã hội.
2.3 Kiểm toán nhà nước: được hiến định trong Hiến pháp năm 2013, là cơ quan
do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện
kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.Vị trí pháp lý của Kiểm
toán Nhà nước liên quan đến vai trò, quyền hạn, và trách nhiệm của cơ quan
này trong hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước của một quốc gia. Sau đây là
các khía cạnh chính để hiểu rõ về vị trí pháp lý của Kiểm toán Nhà nước:
Cơ Quan Độc Lập: Kiểm toán Nhà nước thường là một cơ quan độc
lập trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước. Tính độc lập này
giúp đảm bảo rằng các hoạt động kiểm toán được thực hiện một cách
khách quan và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, đặc biệt
là từ các cơ quan hành chính hoặc chính trị.
Quyền Hạn và Trách Nhiệm: Kiểm toán Nhà nước có quyền thực
hiện kiểm toán các hoạt động tài chính, ngân sách và các hoạt động
khác của các cơ quan nhà nước, tổ chức công và các tổ chức liên quan
theo quy định của pháp luật. Cơ quan này có trách nhiệm thực hiện
các cuộc kiểm toán, đánh giá tính hợp pháp, hiệu quả và hiệu suất
của việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn lực công. Đồng
thời, Kiểm toán Nhà nước phải báo cáo kết quả kiểm toán và kiến
nghị các biện pháp cải thiện.
Cơ Sở Pháp Lý: Vị trí pháp lý của Kiểm toán Nhà nước thường được
quy định rõ ràng trong hiến pháp, luật về kiểm toán nhà nước, hoặc
các văn bản pháp lý liên quan khác. Các quy định này xác định rõ
nhiệm vụ, quyền hạn, và cách thức hoạt động của cơ quan kiểm toán.
Tính công khai, minh bạch: công bố rộng
Kết quả kiểm toán được
rãi, tạo điều kiện cho xã hội tham gia giám sát.
2.4.Ý nghĩa vị trí pháp lý của Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà
nước: là hai công cụ quan trọng góp phần phát huy dân chủ, thực hiện nguyên
tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
3.Chức năng và nhiệm vụ
Hội đồng bầu cử quốc gia
3.1. Nhiệm vụ: Hội đồng bầu cử quốc gia được thành lập nhằm tổ chức và chỉ
đạo việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Các
nhiệm vụ chính của Hội đồng bầu cử quốc gia bao gồm:
Chuẩn bị và tổ chức bầu cử: Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn và chỉ đạo
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện công tác bầu cử.
Giám sát và kiểm tra: Giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về
bầu cử, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử.
Công bố kết quả bầu cử: Tổng hợp kết quả bầu cử từ các địa phương, xác
định và công bố danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội và đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp. 3.2. Chức năng:
Tổ chức và điều hành công tác bầu cử: Hội đồng bầu cử quốc gia chịu
trách nhiệm điều phối và điều hành mọi hoạt động liên quan đến bầu cử.
Đảm bảo tính minh bạch và công bằng: Đảm bảo quá trình bầu cử diễn ra
đúng quy định pháp luật, minh bạch và công bằng.
Phát huy quyền dân chủ của nhân dân: Bảo đảm quyền bầu cử và ứng cử
của công dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn
đại biểu đại diện cho mình.
Kiểm toán nhà nước
3.1.1 Nhiệm vụ: Kiểm toán Nhà nước là cơ quan độc lập, có nhiệm vụ kiểm toán
việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công nhằm đảm bảo tính minh bạch
và hiệu quả. Các nhiệm vụ chính bao gồm:
Kiểm tra và đánh giá: Kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, hợp lý và hiệu
quả của việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Phát hiện và ngăn chặn sai phạm: Phát hiện, ngăn chặn và kiến nghị xử
lý các sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Cung cấp thông tin: Cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết cho Quốc hội,
Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền về tình hình tài chính, tài sản công. 3.2.2 Chức năng:
Kiểm toán báo cáo tài chính: Kiểm toán và xác nhận tính chính xác, trung
thực của các báo cáo tài chính của các đơn vị, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước.
Kiểm toán hoạt động: Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các
hoạt động quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công.
Kiểm toán tuân thủ: Kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các quy định pháp
luật, chính sách và chế độ tài chính, kế toán của các đơn vị, tổ chức.
4.Cơ cấu tổ chức của Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước
4.1 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng bầu cử quốc gia:
Điều 117 khoản 2 Hiến pháp quy định:
"Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên".
Theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân năm 2015 thì:
1. Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm đến hai mươi
mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy
ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
2. Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm theo đề nghị
của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng bầu
cử quốc gia do Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.
3. Hội đồng bầu cử quốc gia thành lập các tiểu ban để giúp Hội đồng bầu cử quốc
gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực.
Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của
Hội đồng bầu cử quốc gia tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá
nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về hoạt
động của mình trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Hội đồng bầu cử
quốc gia đã thành lập 04 Tiểu ban để tham mưu và giúp Hội đồng trực tiếp chỉ
đạo, điều hành, hướng dẫn, xử lý một công số
việc trong từng mảng lĩnh vực cụ thể, gồm có: - Tiểu ban Nhân sự.
- Tiểu ban Giải quyết khiếu nại, cáo. tố
- Tiểu ban Văn bản pháp luật và Thông tin, tuyên truyền.
- Tiểu ban An ninh, Trật tự và Y tế.
Mỗi Tiểu ban có từ 9-21 thành viên vừa có đại diện thành viên của Hội đồng bầu
cử quốc gia tham gia làm Trưởng, Phó Trưởng Tiểu ban, vừa có đại diện lãnh
đạo các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
theo dõi, phụ trách các lĩnh vực, mảng công việc tương ứng.
Đồng thời, trên cơ sở Nghị quyết 1000/2020/UBTVQH14 ngày số 16 tháng 9
năm 2020 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về bộ máy giúp việc của Hội
đồng bầu cử quốc gia, Hội đồng bầu cử quốc gia đã thành lập Văn phòng Hội
đồng bầu cử quốc gia với tư cách là bộ máy tham mưu, giúp việc, trực tiếp phục
vụ việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng, các Tiểu ban
của Hội đồng; đồng thời đã bổ nhiệm Chánh Văn phòng, các Phó Chánh Văn
phòng Hội đồng bầu cử quốc gia. Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia cũng tổ
chức bộ phận thường trực và 05 Tổ giúp việc để tổ chức triển khai thực hiện
nhiệm vụ của Văn phòng. Công chức làm việc tại Văn phòng Hội đồng bầu cử
quốc gia chủ yếu gồm công chức của Văn phòng Quốc hội, cán bộ, công chức
trưng tập hoặc kiêm nhiệm của một cơ số
quan nhà nước khác, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội có liên quan.
4.2 Cơ cấu tổ chức của kiểm toán nhà nước -
Kiểm toán nhà nước được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất, gồm: Bộ máy
điều hành, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán nhà nước khu vực và các đơn vị sự nghiệp.
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm toán nhà nước do Luật Kiểm toán
nhà nước năm 2015 quy định.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Kiểm toán nhà nước bao gồm 32 Vụ và đơn vị
tương đương cấp Vụ, gồm:
Các đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành
1. Văn phòng Kiểm toán nhà nước; 2. Vụ Tổ chức cán bộ; 3. Vụ Tổng hợp;
4. Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán; 5. Vụ Pháp chế;
6. Vụ Hợp tác quốc tế;
7. Thanh tra Kiểm toán nhà nước;
8. Văn phòng Ban cán sự đảng, Đảng uỷ, Đoàn thể;
9. Cục Công nghệ thông tin;
Các đơn vị Kiểm toán nhà nước chuyên ngành
1. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ia kiểm toán lĩnh vực quốc phòng;
2. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib kiểm toán lĩnh vực an ninh, tài chính và
ngân sách Đảng, hoạt động cơ yếu, dự trữ Nhà nước;
3. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành II kiểm toán lĩnh vực ngân sách Trung ương
của Bộ, ngành kinh tế tổng hợp;
4. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III kiểm toán lĩnh vực ngân sách Trung
ương của Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ;
5. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV kiểm toán lĩnh vực đầu tư, dự án hạ tầng cơ sở;
6. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V kiểm toán lĩnh vực đầu tư, dự án công nghiệp, dân dụng;
7. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành VI kiểm toán các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước;
8. Kiểm toán nhà nước chuyên ngành VII kiểm toán ngân hàng, các tổ chức tài chính.
Các đơn vị Kiểm toán nhà nước khu vực
1. Kiểm toán nhà nước khu vực I, trụ sở đặt tại Thành phố Hà Nội;
2. Kiểm toán nhà nước khu vực II, trụ sở đặt tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An;
3. Kiểm toán nhà nước khu vực III, trụ sở đặt tại Thành phố Đà Nẵng;
4. Kiểm toán nhà nước khu vực IV, trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh;
5. Kiểm toán nhà nước khu vực V, trụ sở đặt tại Thành phố Cần Thơ;
6. Kiểm toán nhà nước khu vực VI, trụ sở đặt tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
7. Kiểm toán nhà nước khu vực VII, trụ sở đặt tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái;
8. Kiểm toán nhà nước khu vực VIII, trụ sở đặt tại Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa;
9. Kiểm toán nhà nước khu vực IX, trụ sở đặt tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;
10. Kiểm toán nhà nước khu vực X, trụ sở đặt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;
11. Kiểm toán nhà nước khu vực XI, trụ sở đặt tại thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá;
12. Kiểm toán nhà nước khu vực XII, trụ sở đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
13. Kiểm toán nhà nước khu vực XIII, trụ sở đặt tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
Các đơn vị sự nghiệp
1. Trường Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán; 2. Báo Kiểm toán.
Văn phòng Kiểm toán nhà nước có con dấu riêng. Kiểm toán nhà nước khu vực và
các đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.
Kiểm toán nhà nước chuyên ngành thực hiện kiểm toán theo chuyên ngành đối với
cơ quan, tổ chức ở Trung ương.
Kiểm toán nhà nước khu vực thực hiện kiểm toán đối với cơ quan, tổ chức ở địa
phương trên địa bàn khu vực và các nhiệm vụ kiểm toán khác theo sự phân công
của Tổng Kiểm toán nhà nước. 5.Cách thức thành lập 5.1
Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia:
Hội đồng bầu cử quốc gia của Việt Nam được thành lập để tổ chức và giám
sát quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Việc thành
lập HĐBCQG tuân theo quy định của Hiến pháp và Luật bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Hội đồng bầu cử Quốc gia Việt Nam được thành lập lần đầu tiên tháng
11/2015, là cơ quan có vị trí, vai trò quan trọng trong các cuộc bầu cử Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quá trình thành lập Hội đồng bầu cử
quốc gia diễn ra 5 năm 1 lần.
Khoản 1 Điều 117 Hiến pháp sửa đổi 2013 quy định: “Hội đồng bầu cử
quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử
đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp”. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội
đương nhiệm thành lập thông qua Nghị quyết để tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa mới:
Đứng đầu Hội đồng là Chủ tịch do Quốc hội bầu theo sự đề nghị của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia sẽ
do Chủ tịch Quốc hội Việt Nam kiêm nhiệm.
Các thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia đề nghị
Quốc hội phê chuẩn. Số lượng thành viên cụ thể và cơ cấu tổ chức của
HĐBCQG sẽ được quy định chi tiết trong Nghị quyết của Quốc hội.
Hội đồng bầu cử quốc gia theo Hiến pháp sửa đổi 2013 được xây dựng theo
mô hình độc lập. Mô hình này đảm bảo tính chính xác, vô tư, khách quan,
công bằng, hợp pháp không gian lận trong công tác bầu cử.
Các nguyên tắc nền tảng chi phối tổ chức và hoạt động của cơ quan bầu cử quốc gia: 1. Tôn trọng pháp luật
2. Không thiên vị và trung lập 3. Phải minh bạch 4. Phải chính xác
5. Cần được thiết kế theo hướng phục vụ cử tri
Hội đồng bầu cử gồm các thành viên đại diện UBTVQH, Chính phủ, Ủy
ban Trung ương MTTQ Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Sự
đại diện đa dạng các thành viên trong Hội đồng bầu cử từ các cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội giúp tăng cường tính độc lập so với cơ quan Nhà nước
Nhiệm kỳ hoạt động: Từ khi thành lập -> kết thúc (khi đã trình báo Quốc
hội khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử và kết quả xác nhận tư cách đại
biểu Quốc hội được bầu, bàn giao biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Uỷ ban mới). 5.2
Kiểm Toán Nhà Nước:
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là cơ quan do Quốc hội thành lập, theo lí thuyết
hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý,
sử dụng tài chính, tài sản công, giúp tài chính Nhà nước minh bạch, hạn chế tham nhũng.
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được chính thức thành lập 11/07/1994 theo
Nghị định 70/CP của Chính phủ Việt Nam.
Kiểm toán Nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên Hiến pháp
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, L ,
uật Kiểm toán Nhà nước
và các văn bản pháp lý liên quan khác.
Điều 118 Hiến pháp 2013 (sửa đổi) quy định rằng:
1. KTNN là một cơ quan do Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm
trước Quốc hội, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực
hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
2. Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước,
do Quốc hội bầu, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề cử. Nhiệm kỳ của
Tổng Kiểm toán nhà nước do luật định, theo quy định là 5 năm
3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của KTNN do luật định.
Kiểm toán Nhà nước độc lập với bộ máy Nhà nước, thuộc Chính Phủ và trực thuộc Quốc hội 6.Chế độ hoạt động
6.1 Hội đồng bầu cử Quốc gia:
Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia được quy định tại
Điều 13 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015:
Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên
của Hội đồng bầu cử quốc gia tham dự; các quyết định được thông qua khi
có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về
hoạt động của mình trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Lưu ý: Các cuộc họp của Hội đồng bầu cử quốc gia chỉ được tiến hành khi
có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng tham dự; các quyết
định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành
=> Vậy nên, theo quy định, Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo chế
độ tập thể, quyết định theo đa số. 6.2 Kiểm toán nhà nước:
Nguyên tắc làm việc của Hội đồng Kiểm toán nhà nước được quy định theo
Điều 2 Quy chế làm việc của Kiểm toán nhà nước ban hành kèm theo
Quyết định số 1278/QĐ - KTNN năm 2016 của Tổng KTNN:
KTNN làm việc theo chế độ Thủ trưởng, thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành thống nhất, thông suốt của Tổng
KTNN đối với các lĩnh vực công tác của KTNN; mọi hoạt động của KTNN
đều phải tuân theo quy định của pháp luật và của KTNN.
Phân công, phân cấp rõ ràng, đề cao trách nhiệm và phát huy tính chủ động,
sáng tạo của các đơn vị, cá nhân. Trong phân công công việc, mỗi việc chỉ
giao một đơn vị thực hiện, trường hợp công việc liên quan đến nhiều đơn vị
thì giao một đơn vị chủ trì và chịu trách nhiệm. Công việc được giao cho
đơn vị nào thì Thủ trưởng đơn vị đó phải chịu trách nhiệm chính về công việc được giao.
Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động giải quyết công việc đúng
phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm được phân công; tuân thủ trình tự, thủ
tục và thời hạn giải quyết công việc theo quy định của pháp luật, chương
trình, kế hoạch công tác, Quy chế làm việc của KTNN, của đơn vị, trừ
trường hợp đột xuất hoặc có yêu cầu của cơ quan cấp trên.
Bảo đảm phát huy năng lực của cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động, đề cao sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin trong giải quyết công
việc và trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định.
Bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và hiệu quả trong mọi hoạt động của KTNN.
=> Như vậy, theo quy định, Kiểm toán nhà nước hoạt động theo chế độ Thủ
trưởng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành
thống nhất, thông suốt của Tổng KTNN đối với các lĩnh vực công tác của KTNN.