TRƯỜNG ĐẠ ỌC THƯƠNG MẠI H I
KHOA MARKETING
----------------
ĐỀ TÀI THO LUN
HC PH N L CH S ĐẢNG C NG S N VI T NAM
Đề tài:
TÌM HI U V H I NGH VÀ HI ỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954
Nhóm: 6
L p h c ph n: 242_HCMI0131_05
ng d n: TS. Nguy n ThNgười hướ Lan Phương
Hà N i, 2025
3
MC L C
MC L C
PHN M ĐẦU ..................................................................................................................... 4
CHƯƠNG I. HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ ................................................................................... 5
1.1 Hoàn cảnh lịch sử ......................................................................................................... 5
1.1.1 Tình hình th gi i .................................................................................................... 5ế
1.1.2 Tình hình trong nước ............................................................................................... 5
1.2 Thành phần và mục đích các bên tham gia ............................................................... 6
1.3 Diễn biến hội nghị Giơnevơ ......................................................................................... 6
1.3.1 Giai đoạn 1 (8/5/1954 - 19/6/1954) ......................................................................... 6
1.3.2 Giai đoạn 2 (20/6/1954 - 10/7/1954) ....................................................................... 8
1.3.3 Giai đoạn 3 (11/7/1954 - 21/7/1954) ....................................................................... 8
1.4 Kết quả của hội nghị Giơnevơ ..................................................................................... 9
CHƯƠNG 2. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954 ........................................................... 11
2.1 Nội dung hiệp định Giơnevơ ..................................................................................... 11
2.1.1 N n c ....................................................... 11ội dung cơ bả a c a Hi ệp định Giơnevơ
2.1.2 Tuyên b cu .................................................... 12 ối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954
2.1.3 Thái độ ệp đị ca các bên sau khi ký hi nh .............................................................. 14
2.2 Ý nghĩa của hiệp định ................................................................................................ 16
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT .................................................................................. 18
3.1 Những thành công hội nghị Giơnevơ ....................................................................... 18
3.2 Những hạn chế của hiệp định .................................................................................... 19
3.3 Bài học kinh nghiệm ................................................................................................... 21
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 24
TÀI LI U THAM KH O ................................................................................................... 25
4
PHN M ĐẦU
Dân tộc Việt Nam luôn mang trong mình một lòng yêu nước nồng nàn, họ đã sẵn sàng
chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: tộc. N
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng
cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nhấn chìm tất cả bán
nước cướp nước…”. Tinh thần đó đã được khẳng định qua bao trang sử hào hùng của
dân tộc, trong dòng chảy lịch sử đầy tự hào đó, ta không thể không nhắc đến Hiệp định
Giơnevơ năm 1954 một mốc son chói của Cách mạng Việt Nam, ghi dấu sự kết thúc - lọi
cuộc kháng chiến chống Pháp và mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình giành toàn vẹn độc
lập cho dân tộc.
Việc nghiên cứu về Hiệp định Giơnevơ không chỉ giúp ta hiểu hơn về nội dung, ý
nghĩa những tác động của Hiệp định đối với Việt Nam thế giới, còn giúp ta nhìn
nhận toàn diện về đường lối đấu tranh của đảng và nhân dân ta, rút ra những bài học quan
trọng về ngoại giao, đấu tranh chính trị và bảo vệ chủ quyền. Những bài học ấy vẫn có giá trị
thực tiễn trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục tham gia sâu rộng vào bối cảnh quốc
tế phức tạp. Trong bài thảo luận này, nhóm chúng em sẽ nghiên cứu về bối cảnh lịch sử dẫn
đến Hiệp định Giơnevơ, những diễn biến và nội dung cốt lõi của hiệp định cùng những thành
công và hạn chế của nó. Qua đó, nhóm muốn làm rõ vai trò, ý nghĩa của hiệp định trong tiến
trình đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước, cùng rút ra những bài học quý giá cho
công tác ngoại giao và đấu tranh cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn giáo và các bạn đã cùng đọc bài nghiên cứu
về Hiệp định Giơnevơ!
5
CHƯƠNG I. HỘI NGH GIƠNEVƠ
1.1 Hoàn c nh l ch s
1.1.1 Tình hình th gi i ế
Vào cuối năm 1953 và đầu 1954 khi chiến tranh lạnh đã đi đến đỉnh cao thì thế giới đã
xuất hiện xu thế các nước lớn bắt đầu đi vào hòa hoãn, chủ trương giải quyết hòa bình các
cuộc chiến tranh khu vực. Biểu hiện nhất của xu thế hòa hoãn này các nước lớn Mỹ,
Anh, Pháp và Liên Xô đi đến triệu tập Hội nghị ngoại trưởng bốn nước tại Berlin tháng 2 năm
1954 bàn về vấn đề Đức Áo. Do bất đồng quá lớn trong việc giải quyết các vấn đề chính trị -
tồn tại sau chiến tranh lạnh, Hội nghị thất bại nên chuyển sang bàn vấn đề Biển Đông. Ngày
18/2/1954, Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước ra tuyên bố cuối cùng, trong đó Hội nghị sẽ xem
xét vấn đề Đông Dương. Điều này đã mở ra một con đường mới cho khả năng kết thúc chiến
tranh ở Việt Nam, Đông Dương thông qua biện pháp thương lượng hòa bình.
Việc Hiệp định đình chiến ở Triều tiên ngày 27/3/1953 được ký kết, Chiến thắng Điện
Biên Phủ ngày 7/5/1954 sự chuyển hóa trong Chính phủ và Quốc hội Pháp đã thúc đẩy
việc khởi động quá trình các nước lớn tìm cách giải quyết vấn đề Đông Dương bằng thương
lượng.
Trước tình hình thế giới đã xuất hiện xu thế c nước lớn bắt đầu đi vào hòa hoãn, chủ
trương giải quyết hòa bình các cuộc chiến tranh khu vực, Đảng Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã nêu rõ lập trường, sẵn sàng thương lượng để giải quyết hòa bình về vấn đề
Việt Nam. Thiện chí hòa bình của Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã mở ra một cơ hội đi đến chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
1.1.2 Tình hình trong nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam đã bước vào giai đoạn quyết định. Từ năm 1952,
quân và dân ta càng chiến đấu càng trưởng thành và lớn mạnh. Nhờ có đường lối chiến tranh
nhân dân, quân và dân ta từ thế bị động chuyển sang thế chủ động tiến công và liên tiếp giành
thắng lợi. Đầu tháng 12 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch đánh -
bại địch ở Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này một chiến dịch
rất quan trọng không những về quân sự cả về chính trị, không những đối với trong nước
mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kì
được".
Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Trải qua ba đợt chiến đấu gay go
gian khổ, liên tục trong 56 ngày đêm, ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng,
6
kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1954 của quân dân Việt1953 -
Nam; làm phá sản kế hoạch Navarre của địch; làm thất bại mưu đồ giành thế mạnh về quân
sự hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh trên chiến trường Đông Dương của thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm rung chuyển nội bộ hội và dân tình
nước Pháp, thúc đẩy phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp lên cao trào, tạo phân
hóa trong chính giới Pháp, thúc đẩy mạnh mẽ lực ợng chủ hòa trong chính giới Pháp, đặc
biệt trong Quốc hội Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ ng thêm sự đồng tình, ủng hộ của
nhân dân Pháp nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đối với snghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến Hội nghị Giơnevơ, tạo thế vững vàng cho đoàn
Việt Nam bước vào Hội nghị Giơnevơ với thế thắng, thế mạnh nhờ thắng lợi quân sự khắp
chiến trường Việt Nam.
1.2 Thành ph n và m ục đích các bên tham gia
Thành phần tham dự Hội nghị gồm có 9 nước: Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh,
Campuchia, Lào, đại diện chính quyền Bảo Đại và đoàn đại biểu của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.
Các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của
nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, đồng thời không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước này. Các bên tham
chiến đồng ý ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương, thực hiện cuộc tập kết,
chuyển quân và chuyển giao khu vực. Hiệp định cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ
khí nước ngoài vào ba nước Đông Dương, đồng thời quy định các nước này không được tham
gia khối liên minh quân sự hoặc để nh thổ của mình bị lợi dụng o mục đích chiến tranh.
Việt Nam dự kiến tiến tới thống nhất bằng tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956, ới sự giám
sát của Ủy ban quốc tế gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, do Ấn Độ làm Chủ tịch.
1.3 Di n bi n h i ngh ế Giơnevơ
Khai mạc ngày 8/5/1954, kết thúc vào ngày 21/7/1954, Hội nghị Giơnevơ được chia
làm 3 giai đoạn đàm phán với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp cấp
Trưởng đoàn.
1.3.1 Giai đoạn 1 (8/5/1954 - 19/6/1954)
Vào ngày 26/4/1954, hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức được khai mạc. Từ
ngày 8/5 đến ngày , các bên trình bày lập trường của mình về cách giải quyết vấn đề Việt 23/6
Nam Đông Dương. Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, các Đoàn trình bày lập trường
7
của mình về giải pháp cho vấn đề về Việt Nam Đông Dương. Đoàn Việt Nam Dân ch
Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu cầu phải đại diện kháng chiến
Lào và Campuchia tham dự.
Ngày 10/5/1954, ông Phạm Văn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết
đồng thời cả ba vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia. Lập trường bản của Việt Nam hòa
bình, độc lập, thống nhất, dân chủ toàn vẹn lãnh thổ Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh,
Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào. Quân
đội nước ngoài phải t khỏi ba nước Đông Dương sở quan trọng nhất cho chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình Đông Dương. Trung Quốc, Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt
Nam.
Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, ông Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắc cho
vấn đề đình chiến:
1. Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương
2. Điều chỉnh vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đất đổi đất để mỗi
bên có những vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản lý hành chính
hoạt động kinh tế. Đại diện các bộ tư lệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện
pháp ngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua.
Do lập trường giữa các đoàn có một khoảng cách khá lớn nên các cuộc đàm phán tiến
triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, sự nhân nhượng lẫn nhau chỉ xuất hiện trong các cuộc thảo
luận riêng. Cuối ng, Trung Quốc đã thỏa thuận một giải pháp chung cho vấn đề Pháp
Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời giải pháp chính trị tại ba ớc Đông
Dương.
Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm
sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ lệnh gặp nhau Giơnevơ để nghiên cứu
việc chia ranh giới những khu vực tập trung quân Đông Dương. Cùng ngày, Đoàn Trung
Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn cùng một lúc ở ba nước
Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các nước trung lập nhưng chưa đề cập
tới mặt chính trị của giải pháp.
Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghị
Giơnevơ ra quyết định:
1. Ngừng bắn toàn diện và đồng thời
8
2. Đại diện 2 Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Giơnevơ để bàn về bố trí lực lượng theo thỏa thuận
đình chiến bắt đầu bằng phân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam
1.3.2 Giai đoạn 2 (20/6/1954 - 10/7/1954)
Từ ngày 24/6 ngày 20/7đến , phái đoàn Pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm
phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề cụ thể, xoay quanh các vấn đề: quyền tham gia hội
nghị của các đại biểu chính phủ kháng chiến Làochính phủ kháng chiến Campuchia; chọn
vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do
để thống nhất Việt Nam. Trong giai đoạn này, các bên liên quan tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ,
tiếp xúc riêng, thảo luận nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó, Trung Quốc Pháp tập trung
thảo luận về vấn đề vạch vĩ tuyến nào để chia cắt Việt Nam. Sau cuộc gặp giữa Trưởng đoàn
Trung Quốc Chu Ân Lai Thủ tướng Pháp Mendes France ngày 23/6/1954, Pháp chuyển
trọng tâm đàm phán sang vấn đề chia cắt Việt Nam và nêu vấn đề chia cắt vĩ tuyến 19 với
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Từ ngày 3 - 5/7/1954, tại Liễu Châu (Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Trưởng
đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai để bàn vcác vấn đề phân vùng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn
đề Lào và Campuchia, song hai bên còn những khác biệt. Theo đó, Ta muốn vĩ tuyến 16, phía
Trung Quốc đề nghị vĩ tuyến 17; về thời hạn tổng tuyển cử, Ta nêu 6 tháng, phía Trung Quốc
đề nghị hai năm. Ngày 6/7, Chtịch Hồ CMinh tuyên bố: "Với những vấn đề được thảo
luận, Hội nghị đã mở đường cho việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối
phương cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta (Việt Nam) mà cũng cố gắng để lập lại
hòa bình ở Đông Dương, thì hoà bình Đông Dương thể thực hiện. Theo đúng lập trường
của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho
hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc..."
Đến ngày 9/7/1954, tại cuộc họp tiểu ban quân sự, ta và Pháp tiếp tục không đạt được
sự đồng thuận vvấn đề chia cắt tuyến. Đến ngày 10/7/1954, Trưởng đoàn Trung Quốc
Chu Ân Lai điện khuyên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên nhượng bộ về vấn đề vĩ tuyến, v
Lào, về Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế để sớm đạt được Hiệp định. Như vậy các cuộc
họp hẹp ở Geneve trong giai đoạn này không có bước đột phá đáng kể.
1.3.3 Giai đoạn 3 (11/7/1954 - 21/7/1954)
Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Giơnevơ đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay
đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn. Các phiên họp chyếu thông qua các n
kiện, kể các điều khoản thi hành Hiệp định.
9
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia
vĩ tuyến Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 về Savanakhet đi Quảng Trị là
con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu vĩ tuyến 18; về thời hạn tổ chức tổng
tuyển cử các điều khác của Hiệp định, đặc biệt Hiệp định về Campuchia phải vào
sáng 21/7/1954.
Tại cuộc họp toàn thể thứ 8 tiến hành từ 17 gi15 phút tới đêm 20/7/1954, 5 trưởng
đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc Việt Nam vào phút chót mới thỏa thuận lấy tuyến
17 làm giới tuyến phân vùng, và thời hạn tổng tuyển cử ấn định là hai năm
Tới 24h ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự Việt Nam được kết.
Sau đó, Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào, Campuchia cũng được ký. Ngày 21/7/1954, Hội
nghị Giơnevơ về hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia kết thúc. Theo đó, Hội nghị Geneve
chính thức kết thúc, ra tuyên bố gồm 13 điểm, trong đó quan trọng hơn cả điều khoản các
nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam
1.4 K t qu c a h i ngh ế Giơnevơ
Hội nghị Giơnevơ năm 1954 một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự kết thúc
của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất sự can thiệp của thực dân Pháp tại Việt
Nam, Lào, Campuchia. Hội nghị này đã diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 21 tháng 7
năm 1954 tại thành phố Giơnevơ, Thụy Sĩ, với sự tham gia của nhiều phái đoàn từ các nước
lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, và đặc biệt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hội nghị Giơnevơ diễn ra trong bối cảnh căng thẳng và phức tạp, trải qua 75 ngày đàm phán
với 8 phiên họp toàn thể 23 phiên họp cấp trưởng đoàn. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu đã tham gia Hội nghị với tư thế của
một dân tộc chiến thắng sau chiến dịch Điện Biên Phủ.
Các văn bản được ký kết tại Hội nghị, gồm:
Ba Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia;
Một bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị;
Hai bản tuyên bố riêng của Đoàn Mỹ và Đoàn Pháp ngày 21/7/1954;
Các công hàm trao đổi giữa Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng Thủ tướng
Pháp Mendès France
Kết quả cuối cùng của Hội nghị việc kết các văn kiện quan trọng, bao gồm ba
hiệp định đình chỉ chiến sự riêng cho Việt Nam, Lào và Campuchia, cùng với Tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Giơnevơ. Các văn kiện này quy định ngừng bắn trên toàn bộ chiến trường
10
Đông Dương, tạo cơ sở cho việc chấm dứt chiến tranh. Vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến
quân sự tạm thời, chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự, với quân đội Nhân dân Việt
Nam tập kết phía Bắc quân đội Pháp cùng Quốc gia Việt Nam (chính quyền Bảo Đại)
tập kết ở phía Nam. Quân đội Pháp có 300 ngày để hoàn tất việc rút khỏi Đông Dương. Hội
nghị cũng quy định tổ chức tổng tuyển cử tự do trên cả nước vào tháng 7 năm 1956 để thống
nhất Việt Nam, đồng thời đảm bảo quyền tự do lựa chọn nơi sinh sống cho người dân cả
hai miền. Hiệp định ng khẳng định các nước ngoài không được can thiệp vào công việc nội
bộ của Lào và Campuchia. Để giám sát việc thực thi các điều khoản, y ban Giám sát quốc
tế (ICC) được thành lập với sự tham gia của Ấn Độ (chủ tịch), Canada và Ba Lan. Các điều
khoản về đình chỉ chiến sự, phân vùng tập kết quân đội thời gian chuyển quân được thiết
lập nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các thỏa thuận chính trị đảm bảo một qtrình
chuyển giao quyền lực hòa bình.
Tuy nhiên, sau Hội nghị, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã không tuân thủ các
điều khoản của Hiệp định, đặc biệt việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Điều
này đã dẫn đến sự tiếp tục của xung đột tại Việt Nam trong những thập kỷ sau đó. vậy,
Hội nghị Giơnevơ vẫn một mốc son quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của
Việt Nam, đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân Pháp và mở ra một giai đoạn mới cho ba
nước Đông Dương.
11
CHƯƠNG 2. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954
2.1 N i dung hi ệp định Giơnevơ
2.1.1 N n c a c a Hi ội dung cơ bả ệp định Giơnevơ
Trải qua 75 ngày đêm đàm phán với 31 phiên họp, trong đó có các phiên họp toàn thể,
phiên họp cấp trưởng đoàn cùng nhiều cuộc tiếp xúc song phương đa phương, Hiệp định
Giơnevơ đã được ký kết. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Hiệp định Giơnevơnội
dung cơ bản như sau:
Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương.
Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả
binh.
Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian
quân đội hai bên đang tập kết.
Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước
ngoài không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương.
Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương gồm Ấn Độ, Ba Lan và
Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch.
Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam
làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Quân đội Nhân dân Việt Nam tập trung về phía
Bắc; Quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả Quân đội Quốc gia Việt Nam) tập trung về
phía Nam, tập kết chính trị tại chỗ, tập kết dân sự theo nguyên tắc tự nguyện. Khoản
a, điều 14 ghi rõ: "Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân
đội của mình tập hợp vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ
trách quản hành chính vùng ấy." Hiệp định thừa nhận chủ quyền của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tại cả hai miền Bắc Nam vỹ tuyến 17. Điều 6 Bản Tuyên bố
chung ghi rõ: "Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ
cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ."
Hiệp định Giơnevơkhông điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như
cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên
bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng
7/1956.
12
2.1.2 Tuyên b cu ối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954
Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954 có nội dung như sau:
1. Hội nghị chứng nhận những bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt
Nam, và tổ chức sự kiểm soát quốc tế sự giám sát việc thi hành những điều khoản
của các Hiệp định đó.
2. Hội nghị hài lòng về việc chấm dứt chiến sự Cao Miên, Lào và Việt Nam. Hội nghị
tỏ lòng tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản ghi trong bản tuyên by
trong những Hiệp định đình chỉ chiến sự sẽ làm cho ba ớc Cao Miên, Lào Việt
Nam từ nay thể đảm nhận với độc lập chủ quyền hoàn toàn vai trò của mình
trong tập thể hoà bình của các nước.
3. Hội nghị chứng nhận những lời tuyên bố của hai Chính phủ Cao Miên và Lào về việc
hai Chính phủ đó nguyện thi hành những biện pháp để cho tất cả mọi người công dân
đều được địa vị của mình trong tập thể n tộc, nhất bằng cách tham gia cuộc
tổng tuyển cử sắp tới. Cuộc tổng tuyển cử này sẽ tiến hành trong năm 1955 căn cứ vào
hiến pháp của mỗi nước, theo phương pháp bỏ phiếu kín trong sự tôn trọng những
quyền tự do căn bản.
4. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự Việt Nam
về việc cấm đem vào Việt Nam quân đội nhân viên quân sự ngoại quốc, cũng như
tất cả các thứ vũ khí, đạn dược. Hội nghị cũng chứng nhận những lời tuyên bố của hai
Chính phủ Cao Miên và Lào tỏ lòng kiên quyết sẽ chỉ yêu cầu viện trợ của nước ngoài
về trang bị quân sự, nhân viên hoặc huấn luyện viên trong phạm vi cần thiết để bảo vệ
lãnh thổ một cách hiệu quả, đối với ớc Lào, thì chỉ đến mức độ đã quy định
trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào.
5. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự Việt Nam
định rằng không được thành lập một căn cứ quân sự nào của một nước ngoài trong
những vùng tập hợp của đôi bên. Đôi bên có nhiệm vụ không để những vùng được trao
cho mình tham gia bất cứ một khối liên minh quân sự nào dùng vào việc y lại
chiến sự hoặc phục vụ cho một chính sách m ợc. Hội nghị cũng chứng nhận những
lời tuyên bố của hai chính phủ Cao Miên Lào nói rằng hai Chính phủ đó sẽ không
ký kết bất cứ một Hiệp định nào với nước khác nếu Hiệp định đó buộc họ phải tham
gia vào một khối liên minh quân sự không phù hợp với những nguyên tắc của Hiến
chương Liên hợp quốc, hoặc, riêng đối với ớc Lào, không phù hợp với những nguyên
tắc của Hiệp định đình chỉ chiến sự Lào, hoặc nếu Hiệp định đó buộc họ phải lập
13
những căn cứ cho những lực lượng quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Cao Miên
hoặc Lào, khi mà an ninh của hai nước không bị đe doạ.
6. Hội nghị chứng nhận rằng mục đích căn bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết
các vấn đề quân sự để đình chỉ chiến sự, giới tuyến quân sự chỉ tính chất tạm
thời, hoàn toàn không thể coi một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ. Hội nghị
tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản định trong bản tuyên bố này trong
những Hiệp định đình chỉ chiến sự tạo ra cơ sở cần thiết để giải quyết vấn đề chính trị
ở Việt Nam trong một thời gian ngắn.
7. Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực
hiện lên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập thống nhấttoàn vẹn lãnh thổ, phải làm
cho nhân dân Việt Nam được hưởng những tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức
dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình
tiến triển đến mức cần thiết, và để thực hiện tất cả những điều kiện cần thiết cho nhân
dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý muốn, cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-
1956, dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong
Ban Giám sát kiểm soát quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ
ngày 20 tháng 7 năm 1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có
những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.
8. Phải triệt để thi hành những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự nhằm mục
đích bảo vệ tính mạng và tài sản của mọi người và nhất là phải để cho tất cả mọi người
ở Việt Nam tự do lựa chọn vùng mình muốn sinh sống.
9. Những nhà đương cục có thẩm quyền ở vùng Bắc và vùng Nam Việt Nam, cũng như
ở Lào và Cao Miên không được dung thứ những hành động báo thù nhân hoặc tập
thể đối với những người đã hợp tác, bất cứ dưới hình thức nào, với một trong hai bên
trong thời gian chiến tranh, hoặc đối với gia đình những người đó.
10. Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng Chính phủ Pháp sẵn
sàng rút quân đội Pháp khỏi lãnh thổ Cao Miên, Lào và Việt Nam theo lời yêu cầu của
những chính phủ có liên quan và trong một thời hạn do các bên thỏa thuận, trừ trường
hợp mà do sự thỏa thuận giữa hai bên, một số quân đội Pháp thlại những điểm
nhất định, trong một thời gian nhất định.
11. Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng Chính phủ Pháp, trong
sự giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến việc lập lại và củng cố hòa bình
14
Cao Miên, Lào Việt Nam, sẽ n cứ trên sự tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam.
12. Trong quan hệ với Cao Miên, Lào và Việt Nam, mỗi nước tham gia Hội nghị Giơnevơ
cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước
trên và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó.
13. Các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ thỏa thuận sẽ hỏi ý kiến nhau về mọi vấn đề do
Ban Giám sát kiểm soát quốc tế chuyển tới, nhằm nghiên cứu những biện pháp tỏ
ra cần thiết để đảm bảo sự tôn trọng những Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cao Miên,
Lào và Việt Nam.
Bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hòa bình Đông Dương không chữ ký của
bất cứ phái đoàn nào tham dự hội nghị và các bên tham gia cũng không đưa ra tuyên bố phản
đối đối với bản tuyên bố cuối cùng. Tuy nhiên, giáo trình Đại cương Lịch sử Việt Nam cho
rằng văn bản này đã được các nước dự hội nghị chấp thuận là cam kết chính thức g
trị ràng buộc các bên liên quan. Đại diện Mỹ ra tuyên bố riêng trong đó thừa nhận tôn trọng
Hiệp định Giơnevơ và ủng hộ thống nhất Việt Nam thông qua các giải pháp chính trị.
Theo Thtướng Pháp, Mendes-France, phía Pháp biết là Mỹ skhông chấp nhận
vào bất kỳ văn bản nào có sự tham gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vì khi đó Mỹ công
nhận Đài Loan chứ không công nhận Trung Quốc. Điều này buộc Pháp và các bên khác phải
tạo ra một văn kiện đủ sức ràng buộc Mo Hiệp định Giơ vơ. Theo đó, các bên tham -ne-
gia sẽ có những tuyên bố về đánh giá của mình đối với văn kiện chung chung nhưng bao hàm
những vấn đề còn nhiều khác biệt giữa các bên cũng như các bên sẽ có cam kết không lật lại
kết quả cuối cùng của cuộc đàm phán. Và cuối cùng, phía Mỹ đã cam kết sẽ không sử dụng
lực để lật lại những đã được Hội nghị Giơnevơ quyết định coi bất cứ nước nào sử
dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực để phá vỡ Hiệp định là kẻ xâm lược. Theo Mendes-
France, mặc dù Mỹ đã không ký Hiệp định nhưng với những tuyên bố của mình, Mỹ đã thừa
nhận và bị ràng buộc bởi Hiệp định.
2.1.3 Thái độ ệp đị ca các bên sau khi ký hi nh
Một ngày sau khi Hiệp định được ký kết, tức ngày , Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra 22/7
lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm chống đối sự chia
đôi đất nước. Ngoại trưởng của chính phủ Bảo Đại, Trần Văn Đỗ rơi nước mắt, nhưng trưởng
đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: “Những ai yêu nước Việt Nam, những
ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những
đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình
15
giàu mạnh. Những Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính
mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều
hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây”
Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trả lời Thông tấn Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: “Theo
đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục c
gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta
phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi
đến hiệp định đình chiến mưu lập khối liên minh quân sự tính chất xâm lược, chia
châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông
Nam Á.”
Ngày 22-7- 1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Đấu tranh
để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu
tranh lâu dài gian khổ"., khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều bờ cõi của nước ta,
nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng".
Trong bài chính luận Sách Trắng của Mỹ” đăng trên báo Nhân n (số 3992) nhằm
phản đối việc Mđổ quân vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại: “Hiệp định Giơnevơ
1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định ràng: Cấm không được đưa
vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên
lãnh thViệt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa
binh lính, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17
tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất
bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956.”
Trước những thỏa hiệp giữa Pháp với Trung Quốc về một giải pháp khung cho Đông
Dương, Hoa Kỳ tuy chấp nhận Hiệp định theo hướng không tham gia vào bản Tuyên bố cuối
cùng của hội nghị.
Ngày 14/5/1956, Chính phủ Pháp thông báo sẽ rút hết quân viễn chinh miền Nam
Việt Nam về ớc, trút bỏ trách nhiệm thi hành nhiều điều khoản còn lại của Hiệp định, trong
đó việc tổ chức Tổng tuyển cử cả hai miền Nam Bắc cho chính quyền Quốc gia Việt
Nam.
Ngày 13/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khi trả lời hãng thông tấn AP (Mỹ):
“Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ đấu tranh mạnh hơn để cho tổng tuyển cử tdo trong
khắp cả nước. Đó nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Giơnevơ
16
1954 thừa nhậnĐất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam một khối, cần được thống nhất.
Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ
thành hai nước riêng biệt…”
2.2 Ý nghĩa củ ệp địa hi nh
Hiệp định Giơnevơ đánh dấu thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong
đó quan trọng nhất nền độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
được các nước, kể cả Pháp phải cam kết tôn trọng. Có thể khẳng định, Hiệp định Giơnevơ
ý nghĩa to lớn đối với cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói
riêng và ý nghĩa của nó được thể hiện dưới nhiều góc độ.
Một là, nếu trong Hiệp định bộ ngày 6 1946, Pháp chỉ công nhận Việt Nam -3-
quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp và luôn khẳng định quyền lợi của Pháp
Nam Bộ thì đến Hiệp định Giơnevơ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam đã được Pháp và các quốc gia khác thừa nhận. Pháp phải rút quân
để lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Hai là, theo Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng, trở
thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương lớn của cách mạng miền Nam. Đồng thời,
Hiệp định đặt cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước sau này.
Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ còn có ý nghĩa quốc tế to lớn
mang tính thời đại sâu sắc; mở đầu cho quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên
toàn thế giới, m thay đổi cục diện thế giới và khu vực, thúc đẩy phong trào đấu tranh chống
chủ nghĩa thực dân, đòi độc lập dân tộc, giải phóng miền Bắc ớc ta, tạo điều kiện xây dựng
miền Bắc trở thành hậu phương lớn, vững mạnh cho ng cuộc đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Nhấn mạnh về ý nghĩa quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định, Hội nghị Giơnevơ “ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng
thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Hội
nghị là cơ sở chính trị pháp lý quố- c tế quan trọng để nhân dân Việt Nam đấu tranh trên mặt
trận chính trị, ngoại giao, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập dân chủ trong
toàn quốc.
Hiệp định Giơnevơ đánh dấu sự kết thúc một chặng đường trong quá trình đấu tranh
lâu dài và gian khổ để đi tới độc lập tự do của dân tộc. Việc kết dựa trên căn cứ và phần
nào phản ánh đúng tương quan lực lượng giữa ta địch trên chiến trường, song “ký Hiệp
17
định Giơnevơ đúng lúc, kết thúc kháng chiến chống Pháp phù hợp, phản ánh đúng so
nh lực lượng trên chiến trường và hoàn cảnh quốc tế lúc bấy giờ”.
Hiệp định Giơnevơ là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng. Lần đầu tiên các quyền dân
tộc cơ bản của Việt Nam được các nước lớn công nhận tại một hội nghị đa phương. Pháp và
các nước tham gia hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt Nam, Lào và Campuchia.
Pháp buộc phải đình chỉ chiến sự rút hoàn toàn quân đội khỏi lãnh thổ 3 nước Đông ơng.
Gần 20 năm sau, Hiệp định Paris năm 1973 đã khẳng định lại những cơ sở pháp lý quan trọng
này: “Hoa Kcác nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”.
Hiệp định Giơnevơ đã thể hiện bản lĩnh của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam. Lần
đầu tiên tham gia vào một hội nghị đa phương trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức
tạp, các nước lớn tham gia hội nghị đều mục tiêu lợi ích riêng nhưng đoàn đàm phán
của ta đã phát huy chiến thắng trên chiến trường, phát huy sức mạnh chính nghĩa của dân tộc,
kiên định về nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược để giành được những kết quả quan
trọng trên bàn Hội nghị.
18
CHƯƠNG 3. MỘT S NHN XÉT
3.1 Nh ng thành công h i ngh Giơnevơ
Hội nghị đã ký kết ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia
thông qua Tuyên bố chung bao gồm 13 điểm, với sự nhất trí của bảy đoàn đại biểu, trừ Mỹ
và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Pháp dựng lên.
Trong “Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơnethành công” ngày 22 1954, Chủ tịch -7-
Hồ Chí Minh đã viết: “Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to”. Lần đầu
tiên trong lịch sử dân tộc, các nước lớn đã phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt
Nam gồm độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Hội nghị Giơnevơ diễn ra hết sức phức tạp với sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự dàn xếp của các nước lớn, nhất xung
quanh vấn đề phân vùng đóng quân, vấn đề tổng tuyển cử và thống nhất nước Việt Nam, vấn
đề các lực lượng kháng chiến ở Lào và Cam-pu-chia... Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó,
theo xu thế chung giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng, đoàn đại biểu
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận Hiệp định Giơnevơ. Ngày 21/7/1954,
các nước tham dự Hội nghị đã ra một bản Tuyên bố cuối cùng ký các văn bản Hiệp định
đình chỉ chiến sự Việt Nam, Lào Cam chia, tạo nên khung pháp của Hiệp định -pu-
Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương.
Tại phiên họp cuối cùng của Hội nghị, trong một tuyên bố riêng, Trưởng đoàn đại biểu
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi đồng bào: “Nhân dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam!
Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập thống nhất Tổ quốc chúng ta trong tay chúng
ta. Những người yêu chuộng hòa bình ng trên toàn thế giới đều đồng tình với chúng
ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cuộc đấu tranh phải gian khổ, nhưng
cuối cùng chúng ta nhất định thắng”.
Việc kết Hiệp định Hội nghị Giơnevơ một thắng lợi to lớn, ý nghĩa cùng
quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, Chính phủ Pháp và "mỗi nước tham
gia Hội nghị Giơnevơ cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ...",
"tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị" của Việt Nam; quân đội Pháp phải rút về
nước, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, bước vào công cuộc y dựng chủ
nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn vững chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Thắng lợi tại Hội nghGiơnevơ thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc
lập, khát vọng tự do và yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng
19
nghìn năm lịch sử. Đây cũng thắng lợi của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến,
đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thắng lợi của chín m
kháng chiến trường kỳ gian khổ với những hy sinh to lớn của nhân dân ta.
Hội nghị Giơnevơ 1954 cũng là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt
Nam khi lần đầu tiên bước lên đài đàm phán đa phương với sự tham gia của các cường
quốc, để bàn về các vấn đề liên quan đến quyền bản của chính dân tộc mình. Trong bối
cảnh tình hình thế giới và quan hệ quốc tế có nhiều diễn biến rất phức tạp, các nước lớn tham
gia hội nghị đều theo đuổi những mục tiêu lợi ích khác nhau, Việt Nam đã giành được
thắng lợi, mang lại những quyền lợi to lớn và chính đáng cho dân tộc.
Hiệp định Giơnevơ còn có ý nghĩa quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc. Trong
bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ, việc một quốc gia nhỏ
tự giải phóng mình khỏi chế độ thực dân, đấu tranh giành được các quyền dân tộc cơ bản trên
bàn hội nghị quốc tế với các ờng quốc, đã trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với
các dân tộc thuộc địa, bị áp bức khác trên toàn thế giới
3.2 Nh ng h n ch c a hi nh ế ệp đị
Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương là một hội nghị quốc tế, với sự tham gia của
9 bên. Các nước lớn đến Hội nghị để giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương với
những động cơ không giống nhau, bao gồm những mục đích riêng và cả những toan tính cho
một ván cờ mới. Hội nghị đã diễn ra rất phức tạp trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sự dàn xếp của các nước lớn. Ngày 21 -7-
1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kết. Hiệp định này cùng với chiến thắng
Điện Biên Phủ đã kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, đáp ứng nguyện vọng
hoà bìn h của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một hội nghị quốc tế với sự tham dự của nhiều cường
quốc đã công nhận các quyền dân tộc bản của Việt Nam, Lào Campuchia độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nhìn chung, các nước châu Á, kể cả Trung Quốc,
khi tới hội nghị y không được coi vai trò bình đẳng với các nước phương y. Họ
tham dự Hội nghị không mang ý nghĩa là được sự thừa nhận của các nước khác. Nhưng cuối
cùng những nguyên tắc về chủ quyền quốc gia dân tộc đã được thừa nhận. Cùng với những
giá trị được khẳng định, Hội nghị Giơnevơ cũng còn một số điểm hạn chế:
Lẽ ra việc đàm phán để kết thúc chiến tranh phải công việc chủ yếu giữa các lực
lượng kháng chiến ở Đông Dương với Pháp. Nhưng trật tự thế giới hai cực và cục diện
20
chiến tranh lạnh đã chi phối kết quả việc giải quyết cuộc chiến tranh bằng một hội nghị
quốc tế, với sự tham gia của nhiều cường quốc với những lợi ích khác nhau.
Hội nghị đã quyết định những vấn đề liên quan đến các lực lượng kháng chiến
Lào và Campuchia không có sự tham gia của các chính phủ kháng chiến ở hai ớc
này.
Việc xác định ranh giới quân sự tạm thời và phân chia khu vực tập kết chuyển quân
Việt Nam không phải vĩ tuyến 13 hay 16 theo phương án đấu tranh của Việt Nam, mà
là vĩ tuyến 17. Việt Nam phải bỏ lại toàn bộ vùng giải phóng khu V nhiều vùng tự
do phía Nam vĩ tuyến 17 làm vùng tập kết, chuyển quân cho Pháp. Lào, lực lượng
kháng chiến chỉ được một vùng tập kết gồm hai tỉnh Sầm Nưa Phôngxalỳ. Lực
lượng kháng chiến Campuchia phải phục viên tại chỗ.
Thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam không phải 6 tháng như
phương án của Việt Nam, mà là 2 năm.
Về việc thi hành, trên thực tế Hiệp định Giơnevơ chỉ được thực hiện một phần: chấm
dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương; tập kết, chuyển quân theo khu vực và
thời gian quy định. Việc tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam đã không thể thực
hiện do chính sách can thiệp xâm lược của Mỹ, do vậy, một cuộc chiến tranh
mới cũng bắt đầu.
Rõ ràng là Hiệp định Giơnevơ chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi của nhân dân Việt Nam
nói riêng, nhân dân ba nước Đông Dương nói chung trên chiến trường xu thế của cuộc
chiến tranh. Cả Việt Nam, Lào và Campuchia đều có phần thiệt thòi do sự chi phối của xu thế
hoà hoãn và sự thoả hiệp của các nước lớn.
Tại Hội thảo quốc tế Chiến thắng Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại (4- -2004), nữ luật
gia người Pháp (Laury Anne Bellessa) nhận xét: "Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết các cuộc
thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của Hiệp định chỉ để nhằm m thoả
mãn các cường quốc… muốn bảo vệ quyền lợi của mình khu vực Đông Nam Á mà các
cường quốc đã tự quy định phần lớn các điều khoản trong hiệp định, không cần tính đến phản
ứng của các nước Đông Dương. Không còn slựa chọn nào khác, các nước Đông Dương
phải nhượng bộ trước các áp lực rất lớn này… Thắng lợi trên thực địa nhưng tại bàn Hội nghị,
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không thể khai thác được thế mạnh quân sự của mình".
Còn Hugues Tertrais, giáo Đại học Pentéon Sorbone Paris 1, khẳng định: "Năm 1954,
chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phần nào bị ngăn trdo sức nặng của thời
kỳ "hoà hoãn đôi bên". Theo ông, "tuy có chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã tham gia
21
vào nhó - m các đất nước bị chia cắt Triều Tiên và Đức là những nước bị chia cắt trầm trọng.
Quả thực Việt Nam trở lại với hiện trạng xưa (statu quo ante), hiện trạng của năm 1945: Việt
Nam và cả Đông Dương đã từng bị chia cắt ở vĩ tuyến 16; năm 1954, sau một cuộc đàm phán
ngắn ngủi, Việt Nam lại bị phân chia mà giới tuyến là vĩ tuyến 17".
Những hạn chế của Hội nghị Giơnevơ do hoàn cảnh khách quan mang lại. Nhưng về
mặt chủ quan, ng cần thấy rõ rằng, Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong việc nhận định
tình hình và chính sách của các nước lớn. Từ rừng núi đi thẳng đến bàn đàm phán, Việt Nam
chưa có đủ thông tin để đánh giá hết khó khăn của Pháp về các mặt chính trị và quân sự, đặc
biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó Việt Nam lại đánh giá quá cao cả về ý đồ
và khả năng Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, không thấy được khả năng răn đe của
Liên Xô, Trung Quốc và dư luận quốc tế, không thấy hết động cơ của mỗi bên tham gia đàm
phán. Các lực lượng kháng chiến ở Việt Nam, Lào và Campuchia đã không thể phối hợp với
nhau trong cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán. Việt Nam không đủ sức kiên trì đấu tranh cho
lợi ích của mình và của bạn, mà phải thuận theo tầm thế của các quan hệ quốc tế lúc đó. Trên
thế giới, mỗi quốc gia đều lợi ích dân tộc của chính mình. Các cường quốc thường có chiến
lược toàn cầu và giữ vai trò chi phối các quan hệ quốc tế. Dường như không một vấn đề nào
mang tầm cỡ quốc tế được giải quyết không sự can dự của các cường quốc. Trong
nhiều trường hợp, sự thoả hiệp của các nước lớn đã chi phối việc giải quyết các vấn đkhu
vực và thế giới mà không tính đến lợi ích của các quốc gia khác.
Đối với n tộc Việt Nam, Hiệp định Giơnevơ mới chỉ một mốc đánh dấu sự kết
thúc một chặng đường trong quá trình đấu tranh lâu dài gian khổ để đi tới độc lập tự do.
Trong phiên họp cuối cùng tại Hội nghị, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
đã hướng về đồng bào của mình i những lời đầy tâm huyết mang tính dự báo: "Nhân
dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam! Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập và thống nhất T
quốc chúng ta là ở trong tay chúng ta. Những người yêu chuộng hoà bình và công trên toàn
thế giới đều đồng tình với chúng ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Hồ Chủ tịch: "Cuộc đấu tranh
phải gian khổ, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng”.Thực tiễn lịch sử đó để lại nhiều
bài học để giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa Việt Nam và thế giới, giữa đất nước
thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập ngày nay.
3.3 Bài h c kinh nghi m
Tính đến nay, Hiệp định Giơnevơ đã đi vào lịch sử 60 năm. Việc nhìn nhận lại những
thành công, hạn chế, cho phép ta rút ra những bài học, kinh nghiệm quý báu m hành trang
cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
----------------
ĐỀ TÀI THO LUN
HC PHN LCH S ĐẢNG CNG SN VIT NAM Đề tài:
TÌM HIU V HI NGH VÀ HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954 Nhóm: 6
L
p hc phn: 242_HCMI0131_05
Người hướng dn: TS. Nguyn Th Lan Phương Hà Ni, 2025
MC LC MC LC
PH
N M ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG I. HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1 Hoàn cảnh lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1 Tình hình thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2 Tình hình trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2 Thành phần và mục đích các bên tham gia . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3 Diễn biến hội nghị Giơnevơ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3.1 Giai đoạn 1 (8/5/1954 - 19/6/1954) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.3.2 Giai đoạn 2 (20/6/1954 - 10/7/1954) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.3.3 Giai đoạn 3 (11/7/1954 - 21/7/1954) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.4 Kết quả của hội nghị Giơnevơ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
CHƯƠNG 2. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.1 Nội dung hiệp định Giơnevơ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.1.1 Nội dung cơ bản của của Hiệp định Giơnevơ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.1.2 Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1.3 Thái độ của các bên sau khi ký hiệp định . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2 Ý nghĩa của hiệp định . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
3.1 Những thành công hội nghị Giơnevơ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
3.2 Những hạn chế của hiệp định . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
3.3 Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
TÀI LIU THAM KHO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25 3
PHN M ĐẦU
Dân tộc Việt Nam luôn mang trong mình một lòng yêu nước nồng nàn, họ đã sẵn sàng
chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước…”. Tinh thần đó đã được khẳng định qua bao trang sử hào hùng của
dân tộc, mà trong dòng chảy lịch sử đầy tự hào đó, ta không thể không nhắc đến Hiệp định
Giơnevơ năm 1954 - một mốc son chói lọi của Cách mạng Việt Nam, ghi dấu sự kết thúc
cuộc kháng chiến chống Pháp và mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình giành toàn vẹn độc lập cho dân tộc.
Việc nghiên cứu về Hiệp định Giơnevơ không chỉ giúp ta hiểu hơn về nội dung, ý
nghĩa và những tác động của Hiệp định đối với Việt Nam và thế giới, mà còn giúp ta nhìn
nhận toàn diện về đường lối đấu tranh của đảng và nhân dân ta, rút ra những bài học quan
trọng về ngoại giao, đấu tranh chính trị và bảo vệ chủ quyền. Những bài học ấy vẫn có giá trị
thực tiễn trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục tham gia sâu rộng vào bối cảnh quốc
tế phức tạp. Trong bài thảo luận này, nhóm chúng em sẽ nghiên cứu về bối cảnh lịch sử dẫn
đến Hiệp định Giơnevơ, những diễn biến và nội dung cốt lõi của hiệp định cùng những thành
công và hạn chế của nó. Qua đó, nhóm muốn làm rõ vai trò, ý nghĩa của hiệp định trong tiến
trình đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, cùng rút ra những bài học quý giá cho
công tác ngoại giao và đấu tranh cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo và các bạn đã cùng đọc bài nghiên cứu
về Hiệp định Giơnevơ! 4
CHƯƠNG I. HỘI NGH GIƠNEVƠ
1.1 Hoàn cnh lch s
1.1.1 Tình hình th
ế gii
Vào cuối năm 1953 và đầu 1954 khi chiến tranh lạnh đã đi đến đỉnh cao thì thế giới đã
xuất hiện xu thế các nước lớn bắt đầu đi vào hòa hoãn, chủ trương giải quyết hòa bình các
cuộc chiến tranh khu vực. Biểu hiện rõ nhất của xu thế hòa hoãn này là các nước lớn Mỹ,
Anh, Pháp và Liên Xô đi đến triệu tập Hội nghị ngoại trưởng bốn nước tại Berlin tháng 2 năm
1954 bàn về vấn đề Đức - Áo. Do bất đồng quá lớn trong việc giải quyết các vấn đề chính trị
tồn tại sau chiến tranh lạnh, Hội nghị thất bại nên chuyển sang bàn vấn đề Biển Đông. Ngày
18/2/1954, Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước ra tuyên bố cuối cùng, trong đó Hội nghị sẽ xem
xét vấn đề Đông Dương. Điều này đã mở ra một con đường mới cho khả năng kết thúc chiến
tranh ở Việt Nam, Đông Dương thông qua biện pháp thương lượng hòa bình.
Việc Hiệp định đình chiến ở Triều tiên ngày 27/3/1953 được ký kết, Chiến thắng Điện
Biên Phủ ngày 7/5/1954 và sự chuyển hóa trong Chính phủ và Quốc hội Pháp đã thúc đẩy
việc khởi động quá trình các nước lớn tìm cách giải quyết vấn đề Đông Dương bằng thương lượng.
Trước tình hình thế giới đã xuất hiện xu thế các nước lớn bắt đầu đi vào hòa hoãn, chủ
trương giải quyết hòa bình các cuộc chiến tranh khu vực, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã nêu rõ lập trường, sẵn sàng thương lượng để giải quyết hòa bình về vấn đề
Việt Nam. Thiện chí hòa bình của Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã mở ra một cơ hội đi đến chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
1.1.2 Tình hình trong nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam đã bước vào giai đoạn quyết định. Từ năm 1952,
quân và dân ta càng chiến đấu càng trưởng thành và lớn mạnh. Nhờ có đường lối chiến tranh
nhân dân, quân và dân ta từ thế bị động chuyển sang thế chủ động tiến công và liên tiếp giành
thắng lợi. Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch đánh
bại địch ở Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch
rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước
mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kì được".
Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Trải qua ba đợt chiến đấu gay go
và gian khổ, liên tục trong 56 ngày đêm, ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, 5
kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân Việt
Nam; làm phá sản kế hoạch Navarre của địch; làm thất bại mưu đồ giành thế mạnh về quân
sự hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh trên chiến trường Đông Dương của thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm rung chuyển nội bộ xã hội và dân tình
nước Pháp, thúc đẩy phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp lên cao trào, tạo phân
hóa trong chính giới Pháp, thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng chủ hòa trong chính giới Pháp, đặc
biệt trong Quốc hội Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ tăng thêm sự đồng tình, ủng hộ của
nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến Hội nghị Giơnevơ, tạo thế vững vàng cho đoàn
Việt Nam bước vào Hội nghị Giơnevơ với thế thắng, thế mạnh nhờ có thắng lợi quân sự khắp chiến trường Việt Nam.
1.2 Thành phn và mục đích các bên tham gia
Thành phần tham dự Hội nghị gồm có 9 nước: Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh,
Campuchia, Lào, đại diện chính quyền Bảo Đại và đoàn đại biểu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của
nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, đồng thời không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước này. Các bên tham
chiến đồng ý ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương, thực hiện cuộc tập kết,
chuyển quân và chuyển giao khu vực. Hiệp định cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ
khí nước ngoài vào ba nước Đông Dương, đồng thời quy định các nước này không được tham
gia khối liên minh quân sự hoặc để lãnh thổ của mình bị lợi dụng vào mục đích chiến tranh.
Việt Nam dự kiến tiến tới thống nhất bằng tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956, dưới sự giám
sát của Ủy ban quốc tế gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, do Ấn Độ làm Chủ tịch.
1.3 Din biến hi ngh Giơnevơ
Khai mạc ngày 8/5/1954, kết thúc vào ngày 21/7/1954, Hội nghị Giơnevơ được chia
làm 3 giai đoạn đàm phán với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp cấp Trưởng đoàn.
1.3.1 Giai đoạn 1 (8/5/1954 - 19/6/1954)
Vào ngày 26/4/1954, hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức được khai mạc. Từ
ngày 8/5 đến ngày 23/6, các bên trình bày lập trường của mình về cách giải quyết vấn đề Việt
Nam và Đông Dương. Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, các Đoàn trình bày lập trường 6
của mình về giải pháp cho vấn đề về Việt Nam và Đông Dương. Đoàn Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu cầu phải có đại diện kháng chiến Lào và Campuchia tham dự.
Ngày 10/5/1954, ông Phạm Văn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết
đồng thời cả ba vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia. Lập trường cơ bản của Việt Nam là hòa
bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh,
Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào. Quân
đội nước ngoài phải rút khỏi ba nước Đông Dương là cơ sở quan trọng nhất cho chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trung Quốc, Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt Nam.
Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, ông Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắc cho vấn đề đình chiến:
1. Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương
2. Điều chỉnh vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đất đổi đất để mỗi
bên có những vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản lý hành chính và
hoạt động kinh tế. Đại diện các bộ tư lệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện
pháp ngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua.
Do lập trường giữa các đoàn có một khoảng cách khá lớn nên các cuộc đàm phán tiến
triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, sự nhân nhượng lẫn nhau chỉ xuất hiện trong các cuộc thảo
luận riêng. Cuối cùng, Pháp và Trung Quốc đã thỏa thuận một giải pháp chung cho vấn đề
Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời giải pháp chính trị tại ba nước Đông Dương.
Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm
cơ sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Giơnevơ để nghiên cứu
việc chia ranh giới những khu vực tập trung quân ở Đông Dương. Cùng ngày, Đoàn Trung
Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn và cùng một lúc ở ba nước
Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các nước trung lập nhưng chưa đề cập
tới mặt chính trị của giải pháp.
Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghị Giơnevơ ra quyết định:
1. Ngừng bắn toàn diện và đồng thời 7
2. Đại diện 2 Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Giơnevơ để bàn về bố trí lực lượng theo thỏa thuận
đình chiến bắt đầu bằng phân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam
1.3.2 Giai đoạn 2 (20/6/1954 - 10/7/1954)
Từ ngày 24/6 đến ngày 20/7, phái đoàn Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm
phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề cụ thể, xoay quanh các vấn đề: quyền tham gia hội
nghị của các đại biểu chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến Campuchia; chọn
vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời và thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do
để thống nhất Việt Nam. Trong giai đoạn này, các bên liên quan tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ,
tiếp xúc riêng, thảo luận nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó, Trung Quốc và Pháp tập trung
thảo luận về vấn đề vạch vĩ tuyến nào để chia cắt Việt Nam. Sau cuộc gặp giữa Trưởng đoàn
Trung Quốc Chu Ân Lai và Thủ tướng Pháp Mendes France ngày 23/6/1954, Pháp chuyển
trọng tâm đàm phán sang vấn đề chia cắt Việt Nam và nêu vấn đề chia cắt ở vĩ tuyến 19 với
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Từ ngày 3 - 5/7/1954, tại Liễu Châu (Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Trưởng
đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai để bàn về các vấn đề phân vùng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn
đề Lào và Campuchia, song hai bên còn những khác biệt. Theo đó, Ta muốn vĩ tuyến 16, phía
Trung Quốc đề nghị vĩ tuyến 17; về thời hạn tổng tuyển cử, Ta nêu 6 tháng, phía Trung Quốc
đề nghị hai năm. Ngày 6/7, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Với những vấn đề được thảo
luận, Hội nghị đã mở đường cho việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối
phương cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta (Việt Nam) mà cũng cố gắng để lập lại
hòa bình ở Đông Dương, thì hoà bình Đông Dương có thể thực hiện. Theo đúng lập trường
của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho
hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc..."
Đến ngày 9/7/1954, tại cuộc họp tiểu ban quân sự, ta và Pháp tiếp tục không đạt được
sự đồng thuận về vấn đề chia cắt vĩ tuyến. Đến ngày 10/7/1954, Trưởng đoàn Trung Quốc
Chu Ân Lai điện khuyên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên nhượng bộ về vấn đề vĩ tuyến, về
Lào, về Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế để sớm đạt được Hiệp định. Như vậy các cuộc
họp hẹp ở Geneve trong giai đoạn này không có bước đột phá đáng kể.
1.3.3 Giai đoạn 3 (11/7/1954 - 21/7/1954)
Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Giơnevơ đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay
đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn. Các phiên họp chủ yếu thông qua các văn
kiện, kể các điều khoản thi hành Hiệp định. 8
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia
vĩ tuyến Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 về Savanakhet đi Quảng Trị là
con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu vĩ tuyến 18; về thời hạn tổ chức tổng
tuyển cử và các điều khác của Hiệp định, đặc biệt là Hiệp định về Campuchia phải ký vào sáng 21/7/1954.
Tại cuộc họp toàn thể thứ 8 tiến hành từ 17 giờ 15 phút tới đêm 20/7/1954, 5 trưởng
đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam vào phút chót mới thỏa thuận lấy vĩ tuyến
17 làm giới tuyến phân vùng, và thời hạn tổng tuyển cử ấn định là hai năm
Tới 24h ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết.
Sau đó, Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào, Campuchia cũng được ký. Ngày 21/7/1954, Hội
nghị Giơnevơ về hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia kết thúc. Theo đó, Hội nghị Geneve
chính thức kết thúc, ra tuyên bố gồm 13 điểm, trong đó quan trọng hơn cả là điều khoản các
nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
1.4 Kết qu ca hi ngh Giơnevơ
Hội nghị Giơnevơ năm 1954 là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự kết thúc
của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và sự can thiệp của thực dân Pháp tại Việt
Nam, Lào, và Campuchia. Hội nghị này đã diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 21 tháng 7
năm 1954 tại thành phố Giơnevơ, Thụy Sĩ, với sự tham gia của nhiều phái đoàn từ các nước
lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, và đặc biệt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hội nghị Giơnevơ diễn ra trong bối cảnh căng thẳng và phức tạp, trải qua 75 ngày đàm phán
với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp cấp trưởng đoàn. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu đã tham gia Hội nghị với tư thế của
một dân tộc chiến thắng sau chiến dịch Điện Biên Phủ.
Các văn bản được ký kết tại Hội nghị, gồm:
 Ba Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia;
 Một bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị;
 Hai bản tuyên bố riêng của Đoàn Mỹ và Đoàn Pháp ngày 21/7/1954;
 Các công hàm trao đổi giữa Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Mendès France
Kết quả cuối cùng của Hội nghị là việc ký kết các văn kiện quan trọng, bao gồm ba
hiệp định đình chỉ chiến sự riêng cho Việt Nam, Lào và Campuchia, cùng với Tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Giơnevơ. Các văn kiện này quy định ngừng bắn trên toàn bộ chiến trường 9
Đông Dương, tạo cơ sở cho việc chấm dứt chiến tranh. Vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến
quân sự tạm thời, chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự, với quân đội Nhân dân Việt
Nam tập kết ở phía Bắc và quân đội Pháp cùng Quốc gia Việt Nam (chính quyền Bảo Đại)
tập kết ở phía Nam. Quân đội Pháp có 300 ngày để hoàn tất việc rút khỏi Đông Dương. Hội
nghị cũng quy định tổ chức tổng tuyển cử tự do trên cả nước vào tháng 7 năm 1956 để thống
nhất Việt Nam, đồng thời đảm bảo quyền tự do lựa chọn nơi sinh sống cho người dân ở cả
hai miền. Hiệp định cũng khẳng định các nước ngoài không được can thiệp vào công việc nội
bộ của Lào và Campuchia. Để giám sát việc thực thi các điều khoản, Ủy ban Giám sát quốc
tế (ICC) được thành lập với sự tham gia của Ấn Độ (chủ tịch), Canada và Ba Lan. Các điều
khoản về đình chỉ chiến sự, phân vùng tập kết quân đội và thời gian chuyển quân được thiết
lập nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các thỏa thuận chính trị và đảm bảo một quá trình
chuyển giao quyền lực hòa bình.
Tuy nhiên, sau Hội nghị, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã không tuân thủ các
điều khoản của Hiệp định, đặc biệt là việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Điều
này đã dẫn đến sự tiếp tục của xung đột tại Việt Nam trong những thập kỷ sau đó. Dù vậy,
Hội nghị Giơnevơ vẫn là một mốc son quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của
Việt Nam, đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân Pháp và mở ra một giai đoạn mới cho ba nước Đông Dương. 10
CHƯƠNG 2. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NĂM 1954
2.1 Ni dung hiệp định Giơnevơ
2.1.1 N
ội dung cơ bản ca ca Hiệp định Giơnevơ
Trải qua 75 ngày đêm đàm phán với 31 phiên họp, trong đó có các phiên họp toàn thể,
phiên họp cấp trưởng đoàn cùng nhiều cuộc tiếp xúc song phương và đa phương, Hiệp định
Giơnevơ đã được ký kết. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Hiệp định Giơnevơcó nội dung cơ bản như sau:
 Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
 Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương.
 Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả tù binh.
 Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian
quân đội hai bên đang tập kết.
 Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước
ngoài không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương.
 Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương gồm Ấn Độ, Ba Lan và
Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch.
 Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam
làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Quân đội Nhân dân Việt Nam tập trung về phía
Bắc; Quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả Quân đội Quốc gia Việt Nam) tập trung về
phía Nam, tập kết chính trị tại chỗ, tập kết dân sự theo nguyên tắc tự nguyện. Khoản
a, điều 14 ghi rõ: "Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân
đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ
trách quản lý hành chính ở vùng ấy." Hiệp định thừa nhận chủ quyền của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tại cả hai miền Bắc và Nam vỹ tuyến 17. Điều 6 Bản Tuyên bố
chung ghi rõ: "Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ
cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ."
Hiệp định Giơnevơkhông có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như
cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên
bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. 11
2.1.2 Tuyên b cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954
Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954 có nội dung như sau:
1. Hội nghị chứng nhận những bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt
Nam, và tổ chức sự kiểm soát quốc tế và sự giám sát việc thi hành những điều khoản
của các Hiệp định đó.
2. Hội nghị hài lòng về việc chấm dứt chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt Nam. Hội nghị
tỏ lòng tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản ghi trong bản tuyên bố này và
trong những Hiệp định đình chỉ chiến sự sẽ làm cho ba nước Cao Miên, Lào và Việt
Nam từ nay có thể đảm nhận với độc lập và chủ quyền hoàn toàn vai trò của mình
trong tập thể hoà bình của các nước.
3. Hội nghị chứng nhận những lời tuyên bố của hai Chính phủ Cao Miên và Lào về việc
hai Chính phủ đó nguyện thi hành những biện pháp để cho tất cả mọi người công dân
đều có được địa vị của mình trong tập thể dân tộc, nhất là bằng cách tham gia cuộc
tổng tuyển cử sắp tới. Cuộc tổng tuyển cử này sẽ tiến hành trong năm 1955 căn cứ vào
hiến pháp của mỗi nước, theo phương pháp bỏ phiếu kín và trong sự tôn trọng những quyền tự do căn bản.
4. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam
về việc cấm đem vào Việt Nam quân đội và nhân viên quân sự ngoại quốc, cũng như
tất cả các thứ vũ khí, đạn dược. Hội nghị cũng chứng nhận những lời tuyên bố của hai
Chính phủ Cao Miên và Lào tỏ lòng kiên quyết sẽ chỉ yêu cầu viện trợ của nước ngoài
về trang bị quân sự, nhân viên hoặc huấn luyện viên trong phạm vi cần thiết để bảo vệ
lãnh thổ một cách có hiệu quả, và đối với nước Lào, thì chỉ đến mức độ đã quy định
trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào.
5. Hội nghị chứng nhận những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam
định rằng không được thành lập một căn cứ quân sự nào của một nước ngoài trong
những vùng tập hợp của đôi bên. Đôi bên có nhiệm vụ không để những vùng được trao
cho mình tham gia bất cứ một khối liên minh quân sự nào và dùng vào việc gây lại
chiến sự hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược. Hội nghị cũng chứng nhận những
lời tuyên bố của hai chính phủ Cao Miên và Lào nói rằng hai Chính phủ đó sẽ không
ký kết bất cứ một Hiệp định nào với nước khác nếu Hiệp định đó buộc họ phải tham
gia vào một khối liên minh quân sự không phù hợp với những nguyên tắc của Hiến
chương Liên hợp quốc, hoặc, riêng đối với nước Lào, không phù hợp với những nguyên
tắc của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào, hoặc nếu Hiệp định đó buộc họ phải lập 12
những căn cứ cho những lực lượng quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Cao Miên
hoặc Lào, khi mà an ninh của hai nước không bị đe doạ.
6. Hội nghị chứng nhận rằng mục đích căn bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết
các vấn đề quân sự để đình chỉ chiến sự, và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm
thời, hoàn toàn không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ. Hội nghị
tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản định trong bản tuyên bố này và trong
những Hiệp định đình chỉ chiến sự tạo ra cơ sở cần thiết để giải quyết vấn đề chính trị
ở Việt Nam trong một thời gian ngắn.
7. Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực
hiện lên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, phải làm
cho nhân dân Việt Nam được hưởng những tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức
dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình
tiến triển đến mức cần thiết, và để thực hiện tất cả những điều kiện cần thiết cho nhân
dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý muốn, cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-
1956, dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong
Ban Giám sát và kiểm soát quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ
ngày 20 tháng 7 năm 1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có
những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.
8. Phải triệt để thi hành những điều khoản trong Hiệp định đình chỉ chiến sự nhằm mục
đích bảo vệ tính mạng và tài sản của mọi người và nhất là phải để cho tất cả mọi người
ở Việt Nam tự do lựa chọn vùng mình muốn sinh sống.
9. Những nhà đương cục có thẩm quyền ở vùng Bắc và vùng Nam Việt Nam, cũng như
ở Lào và Cao Miên không được dung thứ những hành động báo thù cá nhân hoặc tập
thể đối với những người đã hợp tác, bất cứ dưới hình thức nào, với một trong hai bên
trong thời gian chiến tranh, hoặc đối với gia đình những người đó.
10. Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng Chính phủ Pháp sẵn
sàng rút quân đội Pháp khỏi lãnh thổ Cao Miên, Lào và Việt Nam theo lời yêu cầu của
những chính phủ có liên quan và trong một thời hạn do các bên thỏa thuận, trừ trường
hợp mà do sự thỏa thuận giữa hai bên, một số quân đội Pháp có thể ở lại những điểm
nhất định, trong một thời gian nhất định.
11. Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng Chính phủ Pháp, trong
sự giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến việc lập lại và củng cố hòa bình ở 13
Cao Miên, Lào và Việt Nam, sẽ căn cứ trên sự tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam.
12. Trong quan hệ với Cao Miên, Lào và Việt Nam, mỗi nước tham gia Hội nghị Giơnevơ
cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước
trên và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó.
13. Các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ thỏa thuận sẽ hỏi ý kiến nhau về mọi vấn đề do
Ban Giám sát và kiểm soát quốc tế chuyển tới, nhằm nghiên cứu những biện pháp tỏ
ra cần thiết để đảm bảo sự tôn trọng những Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt Nam.
Bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương không có chữ ký của
bất cứ phái đoàn nào tham dự hội nghị và các bên tham gia cũng không đưa ra tuyên bố phản
đối đối với bản tuyên bố cuối cùng. Tuy nhiên, giáo trình Đại cương Lịch sử Việt Nam cho
rằng văn bản này đã được các nước dự hội nghị chấp thuận là cam kết chính thức và có giá
trị ràng buộc các bên liên quan. Đại diện Mỹ ra tuyên bố riêng trong đó thừa nhận tôn trọng
Hiệp định Giơnevơ và ủng hộ thống nhất Việt Nam thông qua các giải pháp chính trị.
Theo Thủ tướng Pháp, Mendes-France, phía Pháp biết là Mỹ sẽ không chấp nhận ký
vào bất kỳ văn bản nào có sự tham gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vì khi đó Mỹ công
nhận Đài Loan chứ không công nhận Trung Quốc. Điều này buộc Pháp và các bên khác phải
tạo ra một văn kiện đủ sức ràng buộc Mỹ vào Hiệp định Giơ-ne-vơ. Theo đó, các bên tham
gia sẽ có những tuyên bố về đánh giá của mình đối với văn kiện chung chung nhưng bao hàm
những vấn đề còn nhiều khác biệt giữa các bên cũng như các bên sẽ có cam kết không lật lại
kết quả cuối cùng của cuộc đàm phán. Và cuối cùng, phía Mỹ đã cam kết sẽ không sử dụng
vũ lực để lật lại những gì đã được Hội nghị Giơnevơ quyết định và coi bất cứ nước nào sử
dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực để phá vỡ Hiệp định là kẻ xâm lược. Theo Mendes-
France, mặc dù Mỹ đã không ký Hiệp định nhưng với những tuyên bố của mình, Mỹ đã thừa
nhận và bị ràng buộc bởi Hiệp định.
2.1.3 Thái độ ca các bên sau khi ký hiệp định
Một ngày sau khi Hiệp định được ký kết, tức ngày 22/7, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra
lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm chống đối sự chia
đôi đất nước. Ngoại trưởng của chính phủ Bảo Đại, Trần Văn Đỗ rơi nước mắt, nhưng trưởng
đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: “Những ai yêu nước Việt Nam, những
ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì
đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và 14
giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính
là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều
hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây”
Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trả lời Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt Việt Nam: “Theo
đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục cố
gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc. Đồng thời, chúng ta
phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế quốc Mỹ định cản trở hai bên đi
đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính chất xâm lược, chia
châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á.”
Ngày 22-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Đấu tranh
để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu
tranh lâu dài và gian khổ"., và khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta,
nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng".
Trong bài chính luận “Sách Trắng của Mỹ” đăng trên báo Nhân dân (số 3992) nhằm
phản đối việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại: “Hiệp định Giơnevơ
1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa
vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên
lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa
binh lính, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là
tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất
bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956.”
Trước những thỏa hiệp giữa Pháp với Trung Quốc về một giải pháp khung cho Đông
Dương, Hoa Kỳ tuy chấp nhận Hiệp định theo hướng không tham gia vào bản Tuyên bố cuối cùng của hội nghị.
Ngày 14/5/1956, Chính phủ Pháp thông báo sẽ rút hết quân viễn chinh ở miền Nam
Việt Nam về nước, trút bỏ trách nhiệm thi hành nhiều điều khoản còn lại của Hiệp định, trong
đó có việc tổ chức Tổng tuyển cử ở cả hai miền Nam Bắc cho chính quyền Quốc gia Việt Nam.
Ngày 13/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khi trả lời hãng thông tấn AP (Mỹ):
“Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ đấu tranh mạnh hơn để cho có tổng tuyển cử tự do trong
khắp cả nước. Đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Giơnevơ 15
1954 thừa nhận… Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất.
Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ
thành hai nước riêng biệt…”
2.2 Ý nghĩa của hiệp định
Hiệp định Giơnevơ đánh dấu thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong
đó quan trọng nhất là nền độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
được các nước, kể cả Pháp phải cam kết tôn trọng. Có thể khẳng định, Hiệp định Giơnevơ có
ý nghĩa to lớn đối với cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói
riêng và ý nghĩa của nó được thể hiện dưới nhiều góc độ.
 Một là, nếu trong Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là
quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp và luôn khẳng định quyền lợi của Pháp
ở Nam Bộ thì đến Hiệp định Giơnevơ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam đã được Pháp và các quốc gia khác thừa nhận. Pháp phải rút quân
để lập lại hòa bình ở Đông Dương.
 Hai là, theo Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng, trở
thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương lớn của cách mạng miền Nam. Đồng thời,
Hiệp định đặt cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước sau này.
Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ còn có ý nghĩa quốc tế to lớn
và mang tính thời đại sâu sắc; mở đầu cho quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên
toàn thế giới, làm thay đổi cục diện thế giới và khu vực, thúc đẩy phong trào đấu tranh chống
chủ nghĩa thực dân, đòi độc lập dân tộc, giải phóng miền Bắc nước ta, tạo điều kiện xây dựng
miền Bắc trở thành hậu phương lớn, vững mạnh cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Nhấn mạnh về ý nghĩa quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định, Hội nghị Giơnevơ “ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng
thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Hội
nghị là cơ sở chính trị - pháp lý quốc tế quan trọng để nhân dân Việt Nam đấu tranh trên mặt
trận chính trị, ngoại giao, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ trong toàn quốc.
Hiệp định Giơnevơ đánh dấu sự kết thúc một chặng đường trong quá trình đấu tranh
lâu dài và gian khổ để đi tới độc lập tự do của dân tộc. Việc ký kết dựa trên căn cứ và phần
nào phản ánh đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, song “ký Hiệp 16
định Giơnevơ là đúng lúc, kết thúc kháng chiến chống Pháp là phù hợp, phản ánh đúng so
sánh lực lượng trên chiến trường và hoàn cảnh quốc tế lúc bấy giờ”.
Hiệp định Giơnevơ là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng. Lần đầu tiên các quyền dân
tộc cơ bản của Việt Nam được các nước lớn công nhận tại một hội nghị đa phương. Pháp và
các nước tham gia hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt Nam, Lào và Campuchia.
Pháp buộc phải đình chỉ chiến sự và rút hoàn toàn quân đội khỏi lãnh thổ 3 nước Đông Dương.
Gần 20 năm sau, Hiệp định Paris năm 1973 đã khẳng định lại những cơ sở pháp lý quan trọng
này: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”.
Hiệp định Giơnevơ đã thể hiện bản lĩnh của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam. Lần
đầu tiên tham gia vào một hội nghị đa phương trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức
tạp, các nước lớn tham gia hội nghị đều có mục tiêu và lợi ích riêng nhưng đoàn đàm phán
của ta đã phát huy chiến thắng trên chiến trường, phát huy sức mạnh chính nghĩa của dân tộc,
kiên định về nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược để giành được những kết quả quan
trọng trên bàn Hội nghị. 17
CHƯƠNG 3. MỘT S NHN XÉT
3.1 Nhng thành công hi ngh Giơnevơ
Hội nghị đã ký kết ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và
thông qua Tuyên bố chung bao gồm 13 điểm, với sự nhất trí của bảy đoàn đại biểu, trừ Mỹ
và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Pháp dựng lên.
Trong “Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công” ngày 22-7-1954, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to”. Lần đầu
tiên trong lịch sử dân tộc, các nước lớn đã phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt
Nam gồm độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Hội nghị Giơnevơ diễn ra hết sức phức tạp với sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự dàn xếp của các nước lớn, nhất là xung
quanh vấn đề phân vùng đóng quân, vấn đề tổng tuyển cử và thống nhất nước Việt Nam, vấn
đề các lực lượng kháng chiến ở Lào và Cam-pu-chia... Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó,
theo xu thế chung giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng, đoàn đại biểu
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ký Hiệp định Giơnevơ. Ngày 21/7/1954,
các nước tham dự Hội nghị đã ra một bản Tuyên bố cuối cùng và ký các văn bản Hiệp định
đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, tạo nên khung pháp lý của Hiệp định
Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương.
Tại phiên họp cuối cùng của Hội nghị, trong một tuyên bố riêng, Trưởng đoàn đại biểu
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi đồng bào: “Nhân dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam!
Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập và thống nhất Tổ quốc chúng ta là ở trong tay chúng
ta. Những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới đều đồng tình với chúng
ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cuộc đấu tranh phải gian khổ, nhưng
cuối cùng chúng ta nhất định thắng”.
Việc ký kết Hiệp định Hội nghị Giơnevơ là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, Chính phủ Pháp và "mỗi nước tham
gia Hội nghị Giơnevơ cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ...",
"tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị" của Việt Nam; quân đội Pháp phải rút về
nước, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, bước vào công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn và vững chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Thắng lợi tại Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc
lập, khát vọng tự do và yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng 18
nghìn năm lịch sử. Đây cũng là thắng lợi của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến,
đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thắng lợi của chín năm
kháng chiến trường kỳ gian khổ với những hy sinh to lớn của nhân dân ta.
Hội nghị Giơnevơ 1954 cũng là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt
Nam khi lần đầu tiên bước lên vũ đài đàm phán đa phương với sự tham gia của các cường
quốc, để bàn về các vấn đề liên quan đến quyền cơ bản của chính dân tộc mình. Trong bối
cảnh tình hình thế giới và quan hệ quốc tế có nhiều diễn biến rất phức tạp, các nước lớn tham
gia hội nghị đều theo đuổi những mục tiêu và lợi ích khác nhau, Việt Nam đã giành được
thắng lợi, mang lại những quyền lợi to lớn và chính đáng cho dân tộc.
Hiệp định Giơnevơ còn có ý nghĩa quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc. Trong
bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ, việc một quốc gia nhỏ bé
tự giải phóng mình khỏi chế độ thực dân, đấu tranh giành được các quyền dân tộc cơ bản trên
bàn hội nghị quốc tế với các cường quốc, đã trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với
các dân tộc thuộc địa, bị áp bức khác trên toàn thế giới
3.2 Nhng hn chế ca hiệp định
Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương là một hội nghị quốc tế, với sự tham gia của
9 bên. Các nước lớn đến Hội nghị để giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương với
những động cơ không giống nhau, bao gồm những mục đích riêng và cả những toan tính cho
một ván cờ mới. Hội nghị đã diễn ra rất phức tạp trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sự dàn xếp của các nước lớn. Ngày 21-7-
1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết. Hiệp định này cùng với chiến thắng
Điện Biên Phủ đã kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, đáp ứng nguyện vọng
hoà bình của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một hội nghị quốc tế với sự tham dự của nhiều cường
quốc đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia là độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nhìn chung, các nước châu Á, kể cả Trung Quốc,
khi tới hội nghị này không được coi là có vai trò bình đẳng với các nước phương Tây. Họ
tham dự Hội nghị không mang ý nghĩa là được sự thừa nhận của các nước khác. Nhưng cuối
cùng những nguyên tắc về chủ quyền quốc gia dân tộc đã được thừa nhận. Cùng với những
giá trị được khẳng định, Hội nghị Giơnevơ cũng còn một số điểm hạn chế:
 Lẽ ra việc đàm phán để kết thúc chiến tranh phải là công việc chủ yếu giữa các lực
lượng kháng chiến ở Đông Dương với Pháp. Nhưng trật tự thế giới hai cực và cục diện 19
chiến tranh lạnh đã chi phối kết quả việc giải quyết cuộc chiến tranh bằng một hội nghị
quốc tế, với sự tham gia của nhiều cường quốc với những lợi ích khác nhau.
 Hội nghị đã quyết định những vấn đề có liên quan đến các lực lượng kháng chiến ở
Lào và Campuchia mà không có sự tham gia của các chính phủ kháng chiến ở hai nước này.
 Việc xác định ranh giới quân sự tạm thời và phân chia khu vực tập kết chuyển quân ở
Việt Nam không phải vĩ tuyến 13 hay 16 theo phương án đấu tranh của Việt Nam, mà
là vĩ tuyến 17. Việt Nam phải bỏ lại toàn bộ vùng giải phóng khu V và nhiều vùng tự
do phía Nam vĩ tuyến 17 làm vùng tập kết, chuyển quân cho Pháp. Ở Lào, lực lượng
kháng chiến chỉ được một vùng tập kết gồm hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ. Lực
lượng kháng chiến Campuchia phải phục viên tại chỗ.
 Thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam không phải là 6 tháng như
phương án của Việt Nam, mà là 2 năm.
 Về việc thi hành, trên thực tế Hiệp định Giơnevơ chỉ được thực hiện một phần: chấm
dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương; tập kết, chuyển quân theo khu vực và
thời gian quy định. Việc tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam đã không thể thực
hiện do chính sách can thiệp và xâm lược của Mỹ, và do vậy, một cuộc chiến tranh mới cũng bắt đầu.
Rõ ràng là Hiệp định Giơnevơ chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi của nhân dân Việt Nam
nói riêng, nhân dân ba nước Đông Dương nói chung trên chiến trường và xu thế của cuộc
chiến tranh. Cả Việt Nam, Lào và Campuchia đều có phần thiệt thòi do sự chi phối của xu thế
hoà hoãn và sự thoả hiệp của các nước lớn.
Tại Hội thảo quốc tế Chiến thắng Điện Biên Phủ - 50 năm nhìn lại (4-2004), nữ luật
gia người Pháp (Laury Anne Bellessa) nhận xét: "Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết các cuộc
thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của Hiệp định chỉ để nhằm làm thoả
mãn các cường quốc… Vì muốn bảo vệ quyền lợi của mình ở khu vực Đông Nam Á mà các
cường quốc đã tự quy định phần lớn các điều khoản trong hiệp định, không cần tính đến phản
ứng của các nước Đông Dương. Không còn sự lựa chọn nào khác, các nước Đông Dương
phải nhượng bộ trước các áp lực rất lớn này… Thắng lợi trên thực địa nhưng tại bàn Hội nghị,
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không thể khai thác được thế mạnh quân sự của mình".
Còn Hugues Tertrais, giáo sư Đại học Pentéon Sorbone Paris 1, khẳng định: "Năm 1954,
chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phần nào bị ngăn trở do sức nặng của thời
kỳ "hoà hoãn đôi bên". Theo ông, "tuy có chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã tham gia 20
vào nhóm các đất nước bị chia cắt - Triều Tiên và Đức là những nước bị chia cắt trầm trọng.
Quả thực Việt Nam trở lại với hiện trạng xưa (statu quo ante), hiện trạng của năm 1945: Việt
Nam và cả Đông Dương đã từng bị chia cắt ở vĩ tuyến 16; năm 1954, sau một cuộc đàm phán
ngắn ngủi, Việt Nam lại bị phân chia mà giới tuyến là vĩ tuyến 17".
Những hạn chế của Hội nghị Giơnevơ do hoàn cảnh khách quan mang lại. Nhưng về
mặt chủ quan, cũng cần thấy rõ rằng, Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong việc nhận định
tình hình và chính sách của các nước lớn. Từ rừng núi đi thẳng đến bàn đàm phán, Việt Nam
chưa có đủ thông tin để đánh giá hết khó khăn của Pháp về các mặt chính trị và quân sự, đặc
biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó Việt Nam lại đánh giá quá cao cả về ý đồ
và khả năng Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, không thấy được khả năng răn đe của
Liên Xô, Trung Quốc và dư luận quốc tế, không thấy hết động cơ của mỗi bên tham gia đàm
phán. Các lực lượng kháng chiến ở Việt Nam, Lào và Campuchia đã không thể phối hợp với
nhau trong cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán. Việt Nam không đủ sức kiên trì đấu tranh cho
lợi ích của mình và của bạn, mà phải thuận theo tầm thế của các quan hệ quốc tế lúc đó. Trên
thế giới, mỗi quốc gia đều có lợi ích dân tộc của chính mình. Các cường quốc thường có chiến
lược toàn cầu và giữ vai trò chi phối các quan hệ quốc tế. Dường như không một vấn đề nào
mang tầm cỡ quốc tế được giải quyết mà không có sự can dự của các cường quốc. Trong
nhiều trường hợp, sự thoả hiệp của các nước lớn đã chi phối việc giải quyết các vấn đề khu
vực và thế giới mà không tính đến lợi ích của các quốc gia khác.
Đối với dân tộc Việt Nam, Hiệp định Giơnevơ mới chỉ là một mốc đánh dấu sự kết
thúc một chặng đường trong quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ để đi tới độc lập tự do.
Trong phiên họp cuối cùng tại Hội nghị, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
đã hướng về đồng bào của mình nói những lời đầy tâm huyết và mang tính dự báo: "Nhân
dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam! Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập và thống nhất Tổ
quốc chúng ta là ở trong tay chúng ta. Những người yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn
thế giới đều đồng tình với chúng ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Hồ Chủ tịch: "Cuộc đấu tranh
phải gian khổ, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng”.Thực tiễn lịch sử đó để lại nhiều
bài học để giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa Việt Nam và thế giới, giữa đất nước và
thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập ngày nay.
3.3 Bài hc kinh nghim
Tính đến nay, Hiệp định Giơnevơ đã đi vào lịch sử 60 năm. Việc nhìn nhận lại những
thành công, hạn chế, cho phép ta rút ra những bài học, kinh nghiệm quý báu làm hành trang
cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. 21