lOMoARcPSD| 61463864
A. Khái niệm/ thuật ngữ
1. Văn hóa là
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa.
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa 1 hệ thống hữu các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với Môi trường tự nhiên
Môi trường hội”. Khái niệm này đã u ra 4 đặc trưng bản của
văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
- Với Từ Chi, ông cho rằng “ Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều
văn hóa”, tức nhấn mạnh vào vai trò của con người đối với việc sáng
tạo văn hóa.
- Còn theo chủ tịch HCM, Người lại quan niệm: lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn các phương
thức sdụng. Tn bộ những sáng tạo phát minh đó tức văn hóa”.
Như vậy, khái niệm này lại nhằm nhấn mạnh mục đích sáng tạo văn hóa
cùng những hình thức tồn tại của nó .
Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm bản
của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá tr vật chất và tinh thần + Văn hóa tạo ra sự
khác biệt
+ Văn hóa động lực cho sự phát triển Kết luận: Các định nghĩa về
văn hóa tóm lại thể quy về 2 cách hiểu. Đó những lối sống, cách
suy nghĩ, ứng x(khi được hiểu theo nghĩa rộng) những phương
diện văn học, văn nghệ, học vấn (khi được hiểu theo nghĩa hẹp) - VD:
Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, tổ chức lhội ngày mùa, trang phục
truyền thống (theo nghĩa rộng) hoặc đi đường đâm vào người khác
không xin lỗi thiếu văn hóa ; trình độ văn hóa trình độ học vấn (theo
nghĩa hẹp)
2. Văn minh là
- Phương Đông: văn minh chtia sáng của đạo đức, biểu hiện chính trị,
pháp luật, văn hóa, nghệ thuật
- Phương Tây: (civitas: đô thị, thành phố) văn minh chỉ hội đạt tới giai
đoạn tổ chức đô thị và chữ viết
lOMoARcPSD| 61463864
=> Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho
1 khu vực rộng lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh có thể so sánh
cao thấp, văn hóa chỉ là sự khác biệt.
VD: văn minh lúa nước, văn minh cơ khí, văn minh châu Âu
3. Văn hiến là gì
- Văn hiến: văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các gtrị
tinh thần do hiền tài sáng tạo ra. VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập
quán
4. Văn vật là gì
Văn vật: văn = vẻ đẹp, vật = vật chất. Văn vật thiên vnhững giá trị văn
hóa vật chất. Biểu hiện những công trình, hiện vật giá trị nghệ thuật
lịch sử. VD: Phở Nội, Cốm Làng Vòng, Gốm Bát Tràng Văn hiến,
văn vật chỉ là 1 bộ phận ca văn hóa.
5. Tôn giáo là gì
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt
động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức
6. TÍn ngưỡng là gì
Tín ngưỡng niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ
nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an
về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
7. Phong tục tập quán là gì
Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa tính dân tộc tính
lịch sử được hình thành trong đời sống của con người, trở thành những
chuẩn mực văn hóa được mọi người thừa nhận và tuân theo.
8. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ
tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải
quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
9. Làng xã là gì
Khái niệm: Làng 1 đơn vị cộng 1 vùng đất chung của dân nông
nghiệp, một hình thức tổ chức hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự
cấp, mặt khác, mẫu hình hội phù hợp, là chế thích ứng với sản
xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo scân bằng và
bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
lOMoARcPSD| 61463864
10.Toàn cầu hóa là gì
Toàn cầu hóa khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong hội
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết trao đổi ngày càng
tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân góc độ văn hóa, kinh
tế... trên quy mô toàn cầu
11.Chủ nghĩa yêu nước có ni hàm gì
Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu
nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực về quê hương, đất
nước hay cội nguồn của một nhân hay tập thể, trong đó quê hương thể
một vùng, một thành phố nhưng thông thường thì khái niệm này gắn với
khái niệm quốc gia. Nó gồm những quan điểm như: tự hào về thành tựu hay
văn hóa của qhương, mong muốn được cống hiến hết mình cho quê hương
đất nước. Hiện nay chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, vì thế
chúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa
dân tộc liên quan tới các học thuyết phong trào chính trị hơn, trong khi chủ
nghĩa yêu nước liên quan tới tình cảm nhiều hơn. Chủ nghĩa yêu nước giúp
con người cảm thấy yêu mến, thào, các trách nhiệm hơn với quốc gia dân
tộc. Một lòng yêu nước thái quá trong việc bảo vệ một dân tộc được gọi
chủ nghĩa sô vanh.
B. Nội dung
1 Những biểu hiện của loại hình của văn hóa gốc ng nghiệp trồng trọt
Việt Nam
Do vị trí địa nằm góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất nét trong đặc trưng
văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng sống hòa hợp với
thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tnhiên,
do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định để chờ cây cối lớn lên, đơm
hoa, kết trái thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An lạc
nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn
trọng ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra
lOMoARcPSD| 61463864
nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến
ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước.
- sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất nông nghiệp lúc nước, đó con
ngườicó sự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...),
nên trong nhận thức đã hình thành một lối duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình
biện chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
nghề nông, nhất nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều
yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây;
trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành
nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống
lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm không
phải từng yếu tố riêng lẻ những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích
lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm
thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được a lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa
lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc
trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng.
- Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề
caonguyên lý Mẹ.
- Nguyên tắc trọng tình cũng sở của tâm hiếu hòa, chuộng sự bình
đẳng,dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những
mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống trọng tình.. Nhưng
cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lỗi sống trọng tình cảm
tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người
Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ
nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người
vai tquyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang…
Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi
thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái
không bằng một tí cái tình.
- Lối duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối
sốnglinh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư duy tổng
hợp phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái đdung
hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp
cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích
lOMoARcPSD| 61463864
hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ống thì dài; Đi với bụt mặc áo sa, đi với
ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn
giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất
quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng xử bình đẳng, dân
chủ với nhau. Lối sống trọng tình cách xử dân chủ dẫn đến tâm coi trọng
cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm cũng phải tính đến tập thể,
luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường hội, duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt
còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không
chiến tranh tôn giáo mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến
tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy,
lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt trọng tình dẫn đến thái độ tùy tiện,
coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt
Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong
kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam
và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
2 Đặc trưng của làng xã Việt Nam
Khái niệm: Làng 1 đơn vị cộng 1 vùng đất chung của dân nông
nghiệp, một hình thức tổ chức hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự
cấp, mặt khác, mẫu hình hội phù hợp, là chế thích ứng với sản
xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo scân bằng và
bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
Tính cộng đồng và tính tự trị - là hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam.
+ Tính cộng đồng
Biểu tượng là : Sân đình - Bến nước - Cây
lOMoARcPSD| 61463864
Ngôi đình làng trước hết nơi thờ cúng vị thành hoàng - người có công lập
làng. Do dân đề nghị, nhà vua ký sắc phong thành hoàng - một vthánh của
địa phương (ở Nam Bộ gọi là đình thần). Ngôi đình có nhiều chức năng:
Nơi thờ cúng tôn nghiêm, biểu hiện đạo đức nhớ ơn người lập làng. Bên cạnh
đó còn thờ cúng Trời, Đất Nơi trụ sở ca hội đồng làng xã, thường trực có các
vị hội đồng chức dịch ngồi điều hành việc làng.
Trung tâm văn hóa khi làng mở lễ, hội, văn nghệ, thi đấu, trò chơi. Chỉ có dịp
này, phụ nữ, trẻ con mới có dịp tới đây.
Trong việc điều hành, quản lí việc làng, bên cạnh luật lệ của nhà nứơc phong
kiến, dân làng còn có” lệ làng” do các hội đồng họp quyết nghị. thưởng,
phạt. Khuynh hướng xử lí mâu thuẫn xung đột kiện cáo trong dân làng
hòa giải (thành ngữ: hòa cả làng)
Bến nước / Giếng nước: Nơi sinh hoạt, gặp gỡ của phụ nữ hàng ngày. Gốc
cây đa đầu làng, có thêm quán nước trà, nơi dừng nghỉ chân cho khách qua đường
và người làng đi làm - nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin + Tính tự trị
Biểu tượng : Lũy tre
Lũy tre bao bọc làng quê, như hàng rào của ngôi nhà, có cổng làng nhưng lại
có 2 cổng ). Cuộc sống khép kín, mỗi làng đều có chợ riêng, có đủ mọi nghề
thủ công dịch vụ nhằm tự cấp tự túc. Do vậy kinh tế hàng hóa kém phát triển,
thiếu cạnh tranh.( Lũy có nghĩa là thành lũy để bảo vệ)
Làng tự quản, đặt ra nhiều “lệ là
3 Trống đồng Đông Sơn với việc thể hiện văn hóa Văn Lang, Âu Lạc.
4. Văn hóa châu thổ Bắc Bộ thời Bắc thuộc: Văn hóa , chống Hán hóa.
5. Văn hóa Đại Việt ( thời gian, thành tựu, ý nghĩa trong văn hóa Việt
Nam)
6 Phân tích các biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam 7. Chon 1
phong tục cụ thể: Nguồn gốc, chức năng , các thực hành văn hóa, giá trị
trong văn hóa Việt Nam
8, Chọn 1 tín ngưỡng cụ thể: nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa,
giá trị ( gợi ý tín ngưỡng thờ Mẫu)
Nguồn gốc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu:
lOMoARcPSD| 61463864
Thờ Mẫu tập tục thờ cúng các vị nữ thần từ thời nguyên thuỷ đại diện
cho thiên nhiên như mẹ Đất, mẹNước, mẹ Lúa… bởi trong quá trình mưu
sinh tìm nguồn sống, con người luôn phải dựa vào thiên nhiên,đất trời
vậy họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ
Mẫu, với mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ và che chở cho cuộc sống của họ
đượcbình an, no ấm. Do đó, tín ngưỡng thờ Mẫu lúc này chính stin
tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh thờ phụng các vị nữ thần được cho
khả năng siêu phàm, có thể điều khiển được các hiện tượng tự nhiênmang
tính quy luật nhằm bảo trợ và che chở cho sự sống của con người.
Theo thời gian, khái niệm Mẫu ngày càng được mở rộng bao hàm cả các
nữ anh hùng, hoàng hậu, công chúa, hay bà tổ cô của dòng họ, bà tổ nghề
của mt làng nghề…. Còn trong dân gian Mẫu còn là những người phụ nữ
nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ, khi sống tài giỏi, công
với nước, với dân, khi mất hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh. Những
nhân vật này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa
để trở thành một trong các hiện thân của thánh Mẫu. Họ những vị thần
vừa quyền năng màu nhiệm vừa người mẹ bao dung bảo hộ che
chở, vừa huyền bí lại vừa gần gũi.
Trải qua lịch sử hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam phủ (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải
phủ) rồi đến Tứ Phủthêm Địa Phủ. Vào khoảng thế kỷ XVI, bên cạnh
nhu cầu phát triển nội tại của thứ tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa
mong muốn khát vọng của quần chúng nhân dân, đạo Mẫu của Việt Nam
thêm sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo quan niệm dân gian,
bà là tiên nữ giáng trần, sau đó quy y
Phật giáo được tôn vinh là “Mẫunghi thiên hạ”, hay hóa thân của Mẫu
Thượng Thiên - con gái Ngọc Hoàng thượng đế. Chính sự xuất hiện của
đã khiến cho tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ Tứ Phủ ở nước ta càng phát
triển mạnh và nâng lên một trình độ cao hơn, toàn diện hơn.
Ý nghĩa của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu nét sinh hoạt
tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh người dân Việt trong suốt chiều
dài lịch sử dựng nước giữ nước, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên trong
mình những giá trị sâu sắc
lOMoARcPSD| 61463864
Phát huy tinh thần Việt Nam: Thờ Mẫu là tín ngưỡng dan gian, đậm bản
chất bản địa chứa đựngnhững giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc,
giúpphát huy tinh thần đoàn kết dân tộc chống thiên tai, chống giặc ngoại
xâm. Cột mốc đánh dấu sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
phải kể đến sự xuất hiện của mẹ Âu cùng với Lạc Long Quân sinh ra
bọc “trăm trứng”. Truyền thuyết này nhằm tônvinh người mẹ đối với vấn
đề đoàn kết dân tộc, là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Mẫu trong lịch sử, phản
ánh nhu cầu đặt ra cho cả cộng đồng người Việt phải đoànkết gắn mới
tồn tại và phát triển được.
Tôn vinh vai trò của người phụ nữ Việt: Nếu như trước kia Việt Nam bị
ảnh hưởng rất nhiều của hệ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo
thì ngày nay với sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu đã khiếnnhững quan
niệm cổ hủ đó ngày một mất đi, đời sốngcon người tiến bộ hơn rất nhiều.
Thỏa mãn nhu cầu và khát vọng của con người: Sức mạnh và ý nghĩa của
tín ngưỡng Thờ Mẫu chính làthỏa mãn đáp ứng nhu cầu và khát vọng của
con người về sức khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn…
hướng con người ta đến với lòng từ bi bác ái, nền tảng của đạo đức
hội, nguyên tắc ứng xử giữa người với người. Thông qua các nghi lễ hầu
đồng và các yếu tố dân gian như trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa,
diễn xướng dân gian,... đặc biệt tính tương tác cao giữa người thực hành
nghi lễ - thầy đồng những người dự hầu để gửi gắm, biểu đạt những
mong muốn, khát vọng gửi đến với thần linh những đấng tối cao.
9, Chọn 1 tôn giáo cụ thể: Nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá
trị ( gợi ý Phật Giáo) PHẬT GIÁO
Nguồn gốc
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca
Mâu Ni (652-544 TCN)
+ thái tnhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, thị màu da đồng cảm
với nỗi khổ của muôn dân -> tìm con đường giải thoát
lOMoARcPSD| 61463864
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải
thoát. Trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của
mìn
Giáo lý: Kinh Phật, được xếp thành 3 tạng
- Kinh tạng: chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử
- Luật tạng: chứa các lời Phật dạy về thế giới luật phươngt thức sinh hoạt của
chúng tăng
- Luận tang: chứa những lời bàn luận
Nội dung giáo lý : học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát, có cốt lõi là “Tứ diệu đế”
(Bốn chân lý kì diệu)
1. Khổ đế: bản chất của nỗi khổ “Bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng
hội, sở cầu bất đạt, ngũ thụ uẩn
2. Tập đế: chân về nguyên nhân của nỗi khổ Đó ái dục (tham muốn) minh
(kém sáng suốt). Dục vọng thể hiện hành động gọi Nghiệp; hành động xấu
khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo)
=> Luẩn quẩn trong vòng luân hồi
3. Diệt đế : cảnh giới diệt kh
Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi niết bàn (nghĩa đen: không ham muốn, dập tắt)
Thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
4. Đạo đế : con đường diệt khổ “Bát chính đạo” (tám con đường diệt khổ):
-Rèn luyện đạo đức- GIỚI: chánh ngữ, chánh nghiệp, tránh mạng
- Rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH: chánh niệm, chánh định
- Khai sáng trí tuệ - TUỆ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn
lOMoARcPSD| 61463864
Phật giáo có 2 phái: Đại thừa & Tiểu thừa
+Tiểu thừa (“cỗ xe nhỏ” - chở được ít người):
- Theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật - Phật
tử phải tự giác ngộ cho bản thân,
- Chỉ thờ Phật Thích Ca chỉ tu đến bậc La hán (người đã thoát cảnh luân hồi, đáng
được tôn kính)
+ Đại thừa (“cỗ xe lớn” - chở được nhiều người):
- Không cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật
- Thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người
- Thờ nhiều Phật, tu qua các bậc La hán, Bồ Tát đến Phật
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: 4 giai đoạn
Từ đầu công nguyên đến hết thời Bắc thuộc: giai đoạn hình thành phát triển
rộng khắp
- Đầu công nguyên (TK I,II): Du nhập vào Việt Nam qua đường biển, trung tâm
chùa Dâu (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) nhờ 1 số nhà truyền đạo gốc n
Độ, Trung Quốc. Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa, Bụt như 1 vị thần luôn
xuất hiện giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu
- TK IV-V: phật giáo Đại thừa từ Trung Hoa tràn vào vào thay thế luồng Tiểu
thừa trước đó. Từ Buddha được phiên âm thành Phật (theo tiếng Hán) dần thay thế
cho Bụt (phiên âm theo tiếng Phạn). Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban
đầu (“Gần chùa gọi Bụt = anh”) hoặc trong các truyện cổ dân gian (Tấm Cám)
- 3 tông phái được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh đtông Mật
tông
+ Thiền Tông: chủ trương tập trung ttuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý, đề cao
cái tâm =>Đòi hỏi nhiều công phu, trí tuệ, phổ biến ở giới tri thức thượng lưu
+ Tịnh Độ tông: dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài đề cứu chúng sinh thoát khổ thường
xuyên đi chùa lễ Phật, tụng niệm “Nam A-di-đà Phật” =>đơn giản, phổ biến cho
mọi người giới bình dân
lOMoARcPSD| 61463864
+ Mật tông: sử dụng những ph p tu luyện mật (linh phù, mật chú, ấn quyết,..) để
thu hút tín đồ mau chóng đạt đến giác ngộ giải thoát =>Hòa vào dòng tín
ngưỡng dân gian Việt Nam như cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị ma và chữa
bệnh,...
Thời Lí – Trần: giai đoạn cực thịnh
- Nhiều chùa tháp quy to lớn/kiến trúc độc đáo được xây dựng: Chùa
PhậtTích, chàu Dam (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (Một Ct), hệ thống chùa Yên
Tử,v.v.
- Bốn ng trình nghệ thuật lớn thời - Trần sách vở Trung Hoa còn
truyềntụng là “An Na tứ đại khí”:
+ Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (pho tượng Di lặc bằng đồng cao 6 trượng (24m)
đặt trong một tòa Phật điện cao 7 trượng, xây dựng vào TK XI)
+ Tháp Báo Thiên ( vua Lý Thánh Tông cho xây năm 1057, 12 tầng, 20 trượng,
đệ nhất danh thắng đế đô một thời, bị phá hủy bởi quân Vương Thông năm 1414,
những gì còn sót lại đã bị Pháp phá hoàn toàn để xây nhà thờ lớn trên nền đất ấy.)
+ Chuông Quy Điền (năm 1101 vua Nhân Tông xuất hàng vạn cân đồng để đúc
dđịnh treo tại chùa Diên Hựu nhưng do to và nặng quá không thể treo lên, đành
để ngoài ruộng, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền
(ruộng rùa))
+ Vạc Phổ Minh (thời Trần Nhân Tông, vạc to đến mức nấu được cả 1 con bò mộng,
trẻ con thể chạy đùa trên thành miệng vạc. Nay còn lại 3 trụ đá chân vạc
trước sân chùa Phổ Minh)
Thời Hậu =>Cuối TK XIX: nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo là quốc giáo, Phật
giáo dần suy thoái. Đầu TK XVIII, vua Quang Trung quan chấn hưng đạo Phật,
song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả
Đầu TK XX => nay: Giai đoạn chấn hưng Phật giáo
- Đầu TK XX, trước trào lưu Âu hóa, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy
lên, khởi đầu từ các đô thị miền Nam. Các hội Phật giáo Nam,Trung, Bắc lần lượt
ra đời.
- Đến nay, Phật giáo tôn giáo số tín đđông nhất Việt Nam. Xuất gia
khoảng 3 triệu người, thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu
và chịu ảnh hưởng cũng khoảng vài chục triệu.
lOMoARcPSD| 61463864
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian: VD:
- Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ những miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên:
Mây - Mưa - Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thần thánh, thành hoàng, thổ địa,
các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia
hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
+ Tổng hợp các tông phái với nhau: không tông phái Phật giáo nào là thuần
khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau.
Tượng Phật Thích ca tới 5 dạng: Thích ca sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết
Sơn, Thích Ca đứng thuyết pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc
sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, mặc áo vàng) nhưng lại
theo giáo lý Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng
có đồ nâu lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo.
+ Kết hợp việc đạo với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà
Tống
- Vua Đại Hành hỏi ý kiến Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống- Thời
Lý, thiên sư Vạn Hạnh cố vấn mọi mặt cho vua Lý Thái Tổ
..
lOMoARcPSD| 61463864
. Nhiều vua quan quý tộc đi tu Đầu TK XX, Phật tử xuống đường phản đối nền độc
tài của gia đình họ Ngô: hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu hè 1963.
Khuynh hướng thiên vềnữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp)
+ Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà
VD: - Bồ tát Quan Thế Âm => Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay
- Tạo ra Phật bà riêng: Đứa con giá nàng Man, sinh ngày 8/4, được xem là Phật
Tổ Việt Nam, Man Phật Mẫu => 8/4 ngày Phật Đản; hay Quan Âm Thị Kính,
Phật bà chùa Hương, các thánh mẫu,...
+ Chùa chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”
Tính linh hoạt
- Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, gái làng Dâu Bắc Ninh,
một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của
nàng hóa thân vào đá à trở thành Phật Tổ với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4.
- Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất tu tại
gia,thứ nhì tu chợ, thứ 3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu
cho 1 người”; Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật; đồng nhất
cha mẹ, ông bà với Phật
- Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi
người, làm mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn
con, ban lộc cho bình dân để làm ăn phát đạt, cứu độ người chết giúp họ siêu
thoát.
- Tượng Phật mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn
ăn mặc(Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc ăn (Di lặc to béo), ông Bụt Ốc
(Thích ca tóc quăn),.. ; nhiều pho tượng tạc theo dáng chân co chân duỗi rất thoải
mái, giản dị,...
- Chùa thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong
ba gian hai chái, năm gian hai chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ
hai của mỗi làng
lOMoARcPSD| 61463864
Phật gíao Hòa Hảo (tổng hớp đạo Phật với đạo ông bà - thờ cúng tổ tiên)
- Lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản, kết hợp với đạo thờ ông bà tổ tiên đề ra
thuyết “Tứ ân”: Ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào nhân
loại
. Kết luận: Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của
dân tộc Việt Nam, kết hợp hài hòa với tín ngưỡng dân tộc và đã trở thành bản
chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam.
10. Chọn 1 lễ hội cụ thể: nguồn gốc, chức năng , các thực hành văn hóa, giá trị
Lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định
- Khai ấn ? “Khai ấn để báo cho mọi người biết giờ nghỉ của quan
chức, chính quyền; thời gian nghỉ Tết kết thúc và bắt đầu vào thời gian làm việc.
Bây giờ, người ta hiểu khai ấn theo một cách khác” theo Nhà Sử học Lê Văn Lan
- Kiểu lhội: Lễ hội Khai Ấn Lễ hội dân gian truyền thống, thuộc loại lễ
hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường xã hội dựa theo cấu
trúc của hệ thống văn hóa
- Địa điểm tổ chức:tại Đền Trần hay còn gọi Trần Miếu. Ngôi đền nằm
đường Trần Thừa, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định (sát quốc lộ 10).
- Thờ ai: Ngôi đền này là nơi thờ 14 vị vua nhà Trần cùng các quan lại cóng
phù tá - những người đã có công dựng nước khai sông, lấp biển mở mang bờ cõi với
hào khí Đông A sáng ngời, ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông.
- Thời gian diễn ra lễ hội: từ ngày 11-16 tháng Giêng âm lịch hằng năm -
Nguồn gốc của lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định:
+Lễ khai ấn một tập tục từ thế kỷ XIII, chính xác vào năm 1239 của triều đại
nhà Trần thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu
đãi phong chức cho những quan quân công. Những năm kháng chiến chống
Nguyên- Mông sau đó, Lễ khai ấn bị gián đoạn cho tới năm 1262 được Thượng
hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại.
+Thiên Trường không phải là Kinh đô nước Việt nhưng gắn với việc khai ấn là bởi
trong kháng chiến chống Nguyên - Mông, Thăng Long thực hiện vườn không nhà
lOMoARcPSD| 61463864
trống, rút lui chiến lược thì nơi đây căn cứ địa dtiến thoái như một "Thủ đô kháng
chiến" theo cách gọi hiện đại để tận dụng địa thế và huy động sức người sức của cả
một vùng trấn Sơn Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh sĩ Phạm Sư Mạnh mới
gọi nơi đây là "Hùng thắng Đông kinh hộ ấn vàng...".
+Trải bao thế kỷ, ấn không còn. Năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình
ghé lại đây và cho khắc lại. Ấn cũ khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới khắc là "Trần
triều điển cố" để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương".
-Thời khắc KHAI ẤN: vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm 14 đến 1
giờ sáng ngày 15 tháng Giêng)
- Ý nghĩa Ấn đền Trần: Bản chất của bốn ch“Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà
Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn
phẩm chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng
bền vững. Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn.
-Phần Lễ * Nghi lễ diễn ra trong lễ hội
- Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân
làng tề tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ Khai Ấn.
+ Đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm
ấn tiến sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung
thiên, rồi rước ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau
khi xin dấu son được chia phát cho những người mặt trong buổi lễ, đem về treo
trong nhà để lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng.
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn
rồi rước theo đường về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt
lên bàn thờ để tiến hành tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi
nhớ cội nguồn tổ tiên.
- Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. được đựng
trong các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả (Triều đẩu), chép (Long ngư), ứng với
lOMoARcPSD| 61463864
Trần Kinh Trần hai vị tổ họ Trần. Trước đây đựng trong 11 thúng sơn
đỏ. Một đôi cá Triều đẩu nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá t
sáng sớm tới trưa, rồi rước cá thả ra sông Hồng
-Phần Hội
Sau phần lễ là phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú và độc đáo n
hội diễn võ củ 3 thế hệ (ông, cha, con) tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc
đấu vật, múa rồng, múa tử…hội chọi gà, ném vòng cổ chai, chơi đu, chơi cờ
thẻ… Đặc biệt múa bài Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân thời
Trần. Tương truyền do thái sư Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ ở
cung đình. Sau này dân làng Phường Bông (Mỹ Trung) vốn xưa phương múa
hát phục vụ cung đình, tập luyệ các điệu a này trình diễn trong các dịp lễ
hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm đúng vào ngày kỵ Trần
Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn những ngày kỵ giỗ khác như ngày giỗ của
thân Phụ Vương Mẫu, các con các lão tướng Trần Hưng Đạo.
-Tầm quan trọng của lễ hội đền Trần : Đền Trần là một nơi linh thiêng,là niềm tự
hào của người con Nam Định nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Lễ Khai
ấn đền Trần là một phong tục tốt đẹp,một hoạt động văn hóa mang tính nhân văn sâu
sắc thể hiện truyền thống yêu nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta.
*Giá trị của Lễ hội:
- VĂN HOÁ: Tưởng nhớ công đức của các bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao to
lớn của Vương Triều nhà Trần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa.
- TINH THẦN: Khơi dậy lòng yêu nước, tình yêu quê hương. Ý thức bảo tồn
văn hoá dân tộc, văn hoá bản địa, tinh thần đoàn kết, giáo dục truyền thống yêu nước
chống giặc ngoại xâm
- KINH TẾ: Giúp tăng thêm thu nhập cho con người, địa phương. Tạo việc làm
cho người dân địa phương, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân
- DU LỊCH: Từng bước tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch đến tham quan
hàng năm. Góp phần đa dạng hoá các loại hình du lịch. Góp phần quảng vẻ đẹp
của lễ hội, văn hoá, phong tục của lễ hội và bạn bè quốc tế. Tạo ra những cảnh quan
đẹp trong mắt khách du lịch. Giúp cho đất nước trở nên giàu mạnh hơn, phát triển
lOMoARcPSD| 61463864
hơn được nhiều người biết đến. Giúp cho ngành du lịch trở nên phát triển thu
nhập tăng hàng năm.
11. Toàn cầu hóa: Phân tích tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc văn
hóa dân tộc, liên hệ với bản thân
12: Làm quan điểm: Văn hóa nề tảng, động lực mục tiêu của sự phát
triển.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864
A. Khái niệm/ thuật ngữ 1. Văn hóa là gì
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa.
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là 1 hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với Môi trường tự nhiên
và Môi trường xã hội”. Khái niệm này đã nêu ra 4 đặc trưng cơ bản của
văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
- Với Từ Chi, ông cho rằng “ Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều
là văn hóa”, tức nhấn mạnh vào vai trò của con người đối với việc sáng tạo văn hóa.
- Còn theo chủ tịch HCM, Người lại quan niệm: ” Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Như vậy, khái niệm này lại nhằm nhấn mạnh mục đích sáng tạo văn hóa
cùng những hình thức tồn tại của nó .
Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần + Văn hóa tạo ra sự khác biệt
+ Văn hóa là động lực cho sự phát triển  Kết luận: Các định nghĩa về
văn hóa tóm lại có thể quy về 2 cách hiểu. Đó là những lối sống, cách
suy nghĩ, ứng xử (khi được hiểu theo nghĩa rộng) và là những phương
diện văn học, văn nghệ, học vấn (khi được hiểu theo nghĩa hẹp) - VD:
Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, tổ chức lễ hội ngày mùa, trang phục
truyền thống … (theo nghĩa rộng) hoặc đi đường đâm vào người khác
không xin lỗi  thiếu văn hóa ; trình độ văn hóa  trình độ học vấn (theo nghĩa hẹp) 2. Văn minh là gì
- Phương Đông: văn minh chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị,
pháp luật, văn hóa, nghệ thuật
- Phương Tây: (civitas: đô thị, thành phố) văn minh chỉ xã hội đạt tới giai
đoạn tổ chức đô thị và chữ viết lOMoAR cPSD| 61463864
=> Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho
1 khu vực rộng lớn, 1 thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh có thể so sánh
cao thấp, văn hóa chỉ là sự khác biệt.
VD: văn minh lúa nước, văn minh cơ khí, văn minh châu Âu 3. Văn hiến là gì
- Văn hiến: văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các giá trị
tinh thần do hiền tài sáng tạo ra. VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán 4. Văn vật là gì
Văn vật: văn = vẻ đẹp, vật = vật chất. Văn vật thiên về những giá trị văn
hóa vật chất. Biểu hiện ở những công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật
và lịch sử. VD: Phở Hà Nội, Cốm Làng Vòng, Gốm Bát Tràng  Văn hiến,
văn vật chỉ là 1 bộ phận của văn hóa. 5. Tôn giáo là gì
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt
động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức
6. TÍn ngưỡng là gì
Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ
nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an
về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
7. Phong tục tập quán là gì
“ Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính
lịch sử được hình thành trong đời sống của con người, trở thành những
chuẩn mực văn hóa được mọi người thừa nhận và tuân theo.
8. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ
tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải
quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. 9. Làng xã là gì
Khái niệm: Làng là 1 đơn vị cộng cư có 1 vùng đất chung của cư dân nông
nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự
cấp, mặt khác, là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản
xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và
bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. lOMoAR cPSD| 61463864
10.Toàn cầu hóa là gì
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng
tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh
tế... trên quy mô toàn cầu
11.Chủ nghĩa yêu nước có nội hàm gì
Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu
nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực về quê hương, đất
nước hay cội nguồn của một cá nhân hay tập thể, trong đó quê hương có thể
là một vùng, một thành phố nhưng thông thường thì khái niệm này gắn với
khái niệm quốc gia. Nó gồm những quan điểm như: tự hào về thành tựu hay
văn hóa của quê hương, mong muốn được cống hiến hết mình cho quê hương
đất nước. Hiện nay chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, vì thế
chúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa
dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủ
nghĩa yêu nước liên quan tới tình cảm nhiều hơn. Chủ nghĩa yêu nước giúp
con người cảm thấy yêu mến, tự hào, có các trách nhiệm hơn với quốc gia dân
tộc. Một lòng yêu nước thái quá trong việc bảo vệ một dân tộc được gọi là chủ nghĩa sô vanh. B. Nội dung
1 Những biểu hiện của loại hình của văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt ở Việt Nam
Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á nên Việt Nam thuộc loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình. Tất cả những đặc trưng của loại
hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa Việt Nam.
-Trong ứng xử với môi trường tự nhiên luôn có ý thức tôn trọng và sống hòa hợp với
thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh
Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên,
do nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm
hoa, kết trái và thu hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng” An cư lạc
nghiệp” . Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn
trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt Nam mở miệng ra là lOMoAR cPSD| 61463864
nói “ nhờ trời”, “lạy trời”… Các tín ngưỡng và lễ hội sung bái tự nhiên rất phổ biến
ở các tộc người trên khắp mọi vùng đât nước. -
Vì sống bằng kinh tế nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúc nước, ở đó con
ngườicó sự phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên (như trời, đất, nước, nắng, mưa...),
nên trong nhận thức đã hình thành một lối tư duy tổng hợp, trọng quan hệ, trọng tình
biện chứng, thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào nhiều
yếu tố thiên nhiên như : thời tiết, nước, khí hậu,... “ trông trời, trông đất, trông mây;
trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…” nên về mặt nhận thức, hình thành
nên lối tư duy tổng hợp- biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính: sống
lâu lên lão làng, trăm hay không bằng tay quen… Người làm nông quan tâm không
phải là từng yếu tố riêng lẻ mà là những mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích
lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm
thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa
lúa; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…
-Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc
trọng tình, chuộng sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến những láng giềng. -
Lối sống trọng tình đưa đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu đề caonguyên lý Mẹ. -
Nguyên tắc trọng tình cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, chuộng sự bình
đẳng,dân chủ, đề cao tính cộng đồng, tính tập thể.
Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt có lỗi sống cố định lâu dài nên tạo ra những
mối quan hệ tình cảm thân thiết, gắn bó, hình thành nên lối sống trọng tình.. Nhưng
cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội. Lỗi sống trọng tình cảm
tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Trong ngôi nhà của người
Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người Việt coi: Nhất vợ
nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng được xem là người có
vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu; Con dại cái mang…
Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa: Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi
thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt lý cao hơn tình: Một bồ cái lý
không bằng một tí cái tình. -
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối
sốnglinh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. - Tư duy tổng
hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung
hợp trong tiếp nhận các yếu tố khoan dung trong ứng xử, mềm dẻo trong đối phó.
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp
cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi để thích lOMoAR cPSD| 61463864
hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với
ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn
giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải quyết công việc( Nhất
quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân
chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng
cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể,
luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt
còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có
chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến
tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy,
lối ứng xử của người Việt truyền thống.
- Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt và trọng tình là nó dẫn đến thái độ tùy tiện,
coi thường tính nguyên tắc, ý thức tổ chức kỷ luật kém.
Văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt
Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều kiện để bức ra khỏi cái khung phong
kiến phương Đông, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam
và dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt Nam.
2 Đặc trưng của làng xã Việt Nam
Khái niệm: Làng là 1 đơn vị cộng cư có 1 vùng đất chung của cư dân nông
nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cung tự
cấp, mặt khác, là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản
xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và
bền vững của xã hội nông nghiệp ấy.
Tính cộng đồng và tính tự trị - là hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam.
+ Tính cộng đồng
Biểu tượng là : Sân đình - Bến nước - Cây lOMoAR cPSD| 61463864 
Ngôi đình làng trước hết là nơi thờ cúng vị thành hoàng - người có công lập
làng. Do dân đề nghị, nhà vua ký sắc phong thành hoàng - một vị thánh của
địa phương (ở Nam Bộ gọi là đình thần). Ngôi đình có nhiều chức năng: 
Nơi thờ cúng tôn nghiêm, biểu hiện đạo đức nhớ ơn người lập làng. Bên cạnh
đó còn thờ cúng Trời, Đất Nơi trụ sở của hội đồng làng xã, thường trực có các
vị hội đồng chức dịch ngồi điều hành việc làng. 
Trung tâm văn hóa khi làng mở lễ, hội, văn nghệ, thi đấu, trò chơi. Chỉ có dịp
này, phụ nữ, trẻ con mới có dịp tới đây. 
Trong việc điều hành, quản lí việc làng, bên cạnh luật lệ của nhà nứơc phong
kiến, dân làng còn có” lệ làng” do các hội đồng họp và quyết nghị. Có thưởng,
có phạt. Khuynh hướng xử lí mâu thuẫn xung đột kiện cáo trong dân làng là
hòa giải (thành ngữ: hòa cả làng) 
Bến nước / Giếng nước: Nơi sinh hoạt, gặp gỡ của phụ nữ hàng ngày. Gốc
cây đa đầu làng, có thêm quán nước trà, nơi dừng nghỉ chân cho khách qua đường
và người làng đi làm - nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin + Tính tự trị  Biểu tượng : Lũy tre 
Lũy tre bao bọc làng quê, như hàng rào của ngôi nhà, có cổng làng nhưng lại
có 2 cổng ). Cuộc sống khép kín, mỗi làng đều có chợ riêng, có đủ mọi nghề
thủ công dịch vụ nhằm tự cấp tự túc. Do vậy kinh tế hàng hóa kém phát triển,
thiếu cạnh tranh.( Lũy có nghĩa là thành lũy để bảo vệ) 
Làng tự quản, đặt ra nhiều “lệ là
3 Trống đồng Đông Sơn với việc thể hiện văn hóa Văn Lang, Âu Lạc.
4. Văn hóa châu thổ Bắc Bộ thời Bắc thuộc: Văn hóa , chống Hán hóa.
5. Văn hóa Đại Việt ( thời gian, thành tựu, ý nghĩa trong văn hóa Việt Nam)
6 Phân tích các biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam 7. Chon 1
phong tục cụ thể: Nguồn gốc, chức năng , các thực hành văn hóa, giá trị
trong văn hóa Việt Nam

8, Chọn 1 tín ngưỡng cụ thể: nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa,
giá trị ( gợi ý tín ngưỡng thờ Mẫu)
Nguồn gốc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: lOMoAR cPSD| 61463864 
Thờ Mẫu là tập tục thờ cúng các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ đại diện
cho thiên nhiên như mẹ Đất, mẹNước, mẹ Lúa… bởi trong quá trình mưu
sinh tìm nguồn sống, con người luôn phải dựa vào thiên nhiên,đất trời vì
vậy họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ
Mẫu, với mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ và che chở cho cuộc sống của họ
đượcbình an, no ấm. Do đó, tín ngưỡng thờ Mẫu lúc này chính là sự tin
tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng các vị nữ thần được cho là có
khả năng siêu phàm, có thể điều khiển được các hiện tượng tự nhiênmang
tính quy luật nhằm bảo trợ và che chở cho sự sống của con người. 
Theo thời gian, khái niệm Mẫu ngày càng được mở rộng bao hàm cả các
nữ anh hùng, hoàng hậu, công chúa, hay bà tổ cô của dòng họ, bà tổ nghề
của một làng nghề…. Còn trong dân gian Mẫu còn là những người phụ nữ
nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ, khi sống tài giỏi, có công
với nước, với dân, khi mất hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh. Những
nhân vật này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa
để trở thành một trong các hiện thân của thánh Mẫu. Họ là những vị thần
vừa có quyền năng màu nhiệm vừa là người mẹ bao dung bảo hộ và che
chở, vừa huyền bí lại vừa gần gũi. 
Trải qua lịch sử hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam phủ (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải
phủ) rồi đến Tứ Phủ có thêm Địa Phủ. Vào khoảng thế kỷ XVI, bên cạnh
nhu cầu phát triển nội tại của thứ tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa
là mong muốn khát vọng của quần chúng nhân dân, đạo Mẫu của Việt Nam
có thêm sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo quan niệm dân gian,
bà là tiên nữ giáng trần, sau đó quy y
Phật giáo và được tôn vinh là “Mẫunghi thiên hạ”, hay hóa thân của Mẫu
Thượng Thiên - con gái Ngọc Hoàng thượng đế. Chính sự xuất hiện của
Bà đã khiến cho tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ Tứ Phủ ở nước ta càng phát
triển mạnh và nâng lên một trình độ cao hơn, toàn diện hơn.
Ý nghĩa của Tín ngưỡng Thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu là nét sinh hoạt có
tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh người dân Việt trong suốt chiều
dài lịch sử dựng nước và giữ nước, cho đến ngày nay nó vẫn còn nguyên trong
mình những giá trị sâu sắc lOMoAR cPSD| 61463864 
Phát huy tinh thần Việt Nam: Thờ Mẫu là tín ngưỡng dan gian, đậm bản
chất bản địa và chứa đựngnhững giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc,
giúpphát huy tinh thần đoàn kết dân tộc chống thiên tai, chống giặc ngoại
xâm. Cột mốc đánh dấu sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
phải kể đến sự xuất hiện của mẹ Âu Cơ cùng với Lạc Long Quân sinh ra
bọc “trăm trứng”. Truyền thuyết này nhằm tônvinh người mẹ đối với vấn
đề đoàn kết dân tộc, là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Mẫu trong lịch sử, phản
ánh nhu cầu đặt ra cho cả cộng đồng người Việt phải đoànkết gắn bó mới
tồn tại và phát triển được. 
Tôn vinh vai trò của người phụ nữ Việt: Nếu như trước kia Việt Nam bị
ảnh hưởng rất nhiều của hệ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo
thì ngày nay với sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu đã khiếnnhững quan
niệm cổ hủ đó ngày một mất đi, đời sốngcon người tiến bộ hơn rất nhiều. 
Thỏa mãn nhu cầu và khát vọng của con người: Sức mạnh và ý nghĩa của
tín ngưỡng Thờ Mẫu chính làthỏa mãn đáp ứng nhu cầu và khát vọng của
con người về sức khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn…
hướng con người ta đến với lòng từ bi bác ái, là nền tảng của đạo đức xã
hội, nguyên tắc ứng xử giữa người với người. Thông qua các nghi lễ hầu
đồng và các yếu tố dân gian như trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa,
diễn xướng dân gian,... đặc biệt tính tương tác cao giữa người thực hành
nghi lễ - thầy đồng và những người dự hầu để gửi gắm, biểu đạt những
mong muốn, khát vọng gửi đến với thần linh những đấng tối cao.
9, Chọn 1 tôn giáo cụ thể: Nguồn gốc, chức năng, các thực hành văn hóa, giá
trị ( gợi ý Phật Giáo) PHẬT GIÁO Nguồn gốc
- Ra đời khoảng thế kỉ VI TCN tại Ấn Độ
- Người sáng lập là Siddhartha Gautama hay còn được gọi là Tất Đạt Đạ / Thích Ca Mâu Ni (652-544 TCN)
+ Là thái tử nhưng bất bình với sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm
với nỗi khổ của muôn dân -> tìm con đường giải thoát lOMoAR cPSD| 61463864
+ Rời nhà lúc 29 tuổi, đến 35 tuổi thì giác ngộ được tư tưởng, tìm ra hướng giải
thoát. Trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi các nơi để truyền bá tư tưởng của mìn
Giáo lý: Kinh Phật, được xếp thành 3 tạng
- Kinh tạng: chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử
- Luật tạng: chứa các lời Phật dạy về thế giới luật và phươngt thức sinh hoạt của chúng tăng
- Luận tang: chứa những lời bàn luận
Nội dung giáo lý : học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát, có cốt lõi là “Tứ diệu đế” (Bốn chân lý kì diệu)
1. Khổ đế: bản chất của nỗi khổ “Bát khổ”: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng
hội, sở cầu bất đạt, ngũ thụ uẩn
2. Tập đế: chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là ái dục (tham muốn) và vô minh
(kém sáng suốt). Dục vọng thể hiện hành động gọi là Nghiệp; hành động xấu
khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo)
=> Luẩn quẩn trong vòng luân hồi
3. Diệt đế : cảnh giới diệt khổ
Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ.
Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nghĩa đen: không ham muốn, dập tắt) 
Thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
4. Đạo đế : con đường diệt khổ “Bát chính đạo” (tám con đường diệt khổ):
-Rèn luyện đạo đức- GIỚI: chánh ngữ, chánh nghiệp, tránh mạng
- Rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH: chánh niệm, chánh định
- Khai sáng trí tuệ - TUỆ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn lOMoAR cPSD| 61463864
Phật giáo có 2 phái: Đại thừa & Tiểu thừa
+Tiểu thừa (“cỗ xe nhỏ” - chở được ít người):
- Theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật - Phật
tử phải tự giác ngộ cho bản thân,
- Chỉ thờ Phật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La hán (người đã thoát cảnh luân hồi, đáng được tôn kính)
+ Đại thừa (“cỗ xe lớn” - chở được nhiều người):
- Không cố chấp theo kinh điển, khoan dung đại lượng trong thực hiện giáo luật
- Thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người
- Thờ nhiều Phật, tu qua các bậc La hán, Bồ Tát đến Phật
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: 4 giai đoạn
Từ đầu công nguyên đến hết thời Bắc thuộc: giai đoạn hình thành và phát triển
rộng khắp -
Đầu công nguyên (TK I,II): Du nhập vào Việt Nam qua đường biển, trung tâm
là chùa Dâu (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh) nhờ 1 số nhà truyền đạo gốc Ấn
Độ, Trung Quốc. Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa, Bụt như 1 vị thần luôn
xuất hiện giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu -
TK IV-V: phật giáo Đại thừa từ Trung Hoa tràn vào vào thay thế luồng Tiểu
thừa trước đó. Từ Buddha được phiên âm thành Phật (theo tiếng Hán) dần thay thế
cho Bụt (phiên âm theo tiếng Phạn). Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban
đầu (“Gần chùa gọi Bụt = anh”) hoặc trong các truyện cổ dân gian (Tấm Cám) -
Có 3 tông phái được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông
+ Thiền Tông: chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý, đề cao
cái tâm =>Đòi hỏi nhiều công phu, trí tuệ, phổ biến ở giới tri thức thượng lưu
+ Tịnh Độ tông: dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài đề cứu chúng sinh thoát khổ  thường
xuyên đi chùa lễ Phật, tụng niệm “Nam mô A-di-đà Phật” =>đơn giản, phổ biến cho
mọi người giới bình dân lOMoAR cPSD| 61463864
+ Mật tông: sử dụng những ph p tu luyện bí mật (linh phù, mật chú, ấn quyết,..) để
thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát =>Hòa vào dòng tín
ngưỡng dân gian Việt Nam như cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị ma và chữa bệnh,...
Thời Lí – Trần: giai đoạn cực thịnh -
Nhiều chùa tháp có quy mô to lớn/kiến trúc độc đáo được xây dựng: Chùa
PhậtTích, chàu Dam (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (Một Cột), hệ thống chùa Yên Tử,v.v. -
Bốn công trình nghệ thuật lớn thời Lý - Trần mà sách vở Trung Hoa còn
truyềntụng là “An Na tứ đại khí”:
+ Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (pho tượng Di lặc bằng đồng cao 6 trượng (24m)
đặt trong một tòa Phật điện cao 7 trượng, xây dựng vào TK XI)
+ Tháp Báo Thiên ( vua Lý Thánh Tông cho xây năm 1057, 12 tầng, 20 trượng, là
đệ nhất danh thắng đế đô một thời, bị phá hủy bởi quân Vương Thông năm 1414,
những gì còn sót lại đã bị Pháp phá hoàn toàn để xây nhà thờ lớn trên nền đất ấy.)
+ Chuông Quy Điền (năm 1101 vua Lý Nhân Tông xuất hàng vạn cân đồng để đúc
và dự định treo tại chùa Diên Hựu nhưng do to và nặng quá không thể treo lên, đành
để ngoài ruộng, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền (ruộng rùa))
+ Vạc Phổ Minh (thời Trần Nhân Tông, vạc to đến mức nấu được cả 1 con bò mộng,
trẻ con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc. Nay còn lại 3 trụ đá kê chân vạc
trước sân chùa Phổ Minh)
Thời Hậu Lê =>Cuối TK XIX: nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo là quốc giáo, Phật
giáo dần suy thoái. Đầu TK XVIII, vua Quang Trung có quan tâ chấn hưng đạo Phật,
song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả
Đầu TK XX => nay: Giai đoạn chấn hưng Phật giáo -
Đầu TK XX, trước trào lưu Âu hóa, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy
lên, khởi đầu từ các đô thị miền Nam. Các hội Phật giáo Nam,Trung, Bắc Kì lần lượt ra đời. -
Đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số tín đồ đông nhất ở Việt Nam. Xuất gia
khoảng 3 triệu người, thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu
và chịu ảnh hưởng cũng khoảng vài chục triệu. lOMoAR cPSD| 61463864
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Tính tổng hợp:
+ Hòa nhập với tín ngưỡng dân gian: VD:
- Hệ thống chùa Tứ pháp vẫn chỉ là những miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên:
Mây - Mưa - Sấm - Chớp và thờ đá
- Lối kiến trúc chùa: tiền Phật hậu Thần, đưa cả thần thánh, thành hoàng, thổ địa,
các anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa. Hầu như không chùa nào không để bia
hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
+ Tổng hợp các tông phái với nhau: không có tông phái Phật giáo nào là thuần khiết VD:
- phối hợp Thiền Tông với Tịnh Độ tông.
- Bắc: Chùa có nhiều pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau.
Tượng Phật Thích ca có tới 5 dạng: Thích ca sơ sinh (Thích Ca Cứu Long), Tuyết
Sơn, Thích Ca đứng thuyết pháp, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập niết bàn (lúc sắp mất)
- Nam: chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại
theo giáo lý Đại thừa (cạnh Phật Thích Ca lớn có nhiều tượng nhỏ, ngoài áo vàng có đồ nâu lam)
+ Tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, Phật với Nho, với Đạo.
+ Kết hợp việc đạo với việc đời
VD: Các cao tăng được mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng
- Vua Đinh Tiên Hoàng phong đại sư Khuông Việt làm tăng thống, tiếp sứ thần nhà Tống
- Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh Tống- Thời
Lý, thiên sư Vạn Hạnh cố vấn mọi mặt cho vua Lý Thái Tổ .. lOMoAR cPSD| 61463864
. Nhiều vua quan quý tộc đi tu Đầu TK XX, Phật tử xuống đường phản đối nền độc
tài của gia đình họ Ngô: hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu hè 1963.
Khuynh hướng thiên vềnữ tính (Đặc trưng bản chất của VH nông nghiệp)
+ Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là đàn ông, sang VN thành Phật Ông, Phật Bà
VD: - Bồ tát Quan Thế Âm => Phật Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay -
Tạo ra Phật bà riêng: Đứa con giá nàng Man, sinh ngày 8/4, được xem là Phật
Tổ Việt Nam, bà Man là Phật Mẫu => 8/4 là ngày Phật Đản; hay Quan Âm Thị Kính,
Phật bà chùa Hương, các thánh mẫu,...
+ Chùa chiền mang tên các bà: Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,...
+ Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”  Tính linh hoạt -
Tạo ra lịch sử Phật giáo cho riêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh,
một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu, đứa con gái của
nàng hóa thân vào đá à trở thành Phật Tổ với ngày sinh là ngày Phật Đản 8/4. -
Coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất là tu tại
gia,thứ nhì tu chợ, thứ 3 tu chùa”hay “Dù xây 9 bậc phù đồ, không = làm phúc cứu
cho 1 người”; Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật; đồng nhất
cha mẹ, ông bà với Phật -
Đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng cứu giúp mọi
người, làm mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi, ban cho người hiếm muộn có
con, ban lộc cho bình dân để làm ăn phát đạt, cứu độ người chết và giúp họ siêu thoát. -
Tượng Phật mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn
ăn mà mặc(Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di lặc to béo), ông Bụt Ốc
(Thích ca tóc quăn),.. ; nhiều pho tượng tạc theo dáng chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị,... -
Chùa thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổ truyền với hình thức mái cong có
ba gian hai chái, năm gian hai chái, trở thành công trình công cộng quan trọng thứ hai của mỗi làng lOMoAR cPSD| 61463864
Phật gíao Hòa Hảo (tổng hớp đạo Phật với đạo ông bà - thờ cúng tổ tiên) -
Lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản, kết hợp với đạo thờ ông bà tổ tiên đề ra
thuyết “Tứ ân”: Ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại
. Kết luận: Phật Giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối sống của
dân tộc Việt Nam, kết hợp hài hòa với tín ngưỡng dân tộc và đã trở thành bản
chất và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

10. Chọn 1 lễ hội cụ thể: nguồn gốc, chức năng , các thực hành văn hóa, giá trị
Lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định -
Khai ấn là gì ? “Khai ấn là để báo cho mọi người biết là giờ nghỉ của quan
chức, chính quyền; thời gian nghỉ Tết kết thúc và bắt đầu vào thời gian làm việc.
Bây giờ, người ta hiểu khai ấn theo một cách khác” theo Nhà Sử học Lê Văn Lan -
Kiểu lễ hội: Lễ hội Khai Ấn là Lễ hội dân gian truyền thống, thuộc loại lễ
hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường xã hội dựa theo cấu
trúc của hệ thống văn hóa -
Địa điểm tổ chức:tại Đền Trần hay còn gọi là Trần Miếu. Ngôi đền nằm ở
đường Trần Thừa, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định (sát quốc lộ 10). -
Thờ ai: Ngôi đền này là nơi thờ 14 vị vua nhà Trần cùng các quan lại có công
phù tá - những người đã có công dựng nước khai sông, lấp biển mở mang bờ cõi với
hào khí Đông A sáng ngời, ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông. -
Thời gian diễn ra lễ hội: từ ngày 11-16 tháng Giêng âm lịch hằng năm -
Nguồn gốc của lễ hội KHAI ẤN đền Trần Nam Định:
+Lễ khai ấn là một tập tục từ thế kỷ XIII, chính xác là vào năm 1239 của triều đại
nhà Trần thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu
đãi và phong chức cho những quan quân có công. Những năm kháng chiến chống
Nguyên- Mông sau đó, Lễ khai ấn bị gián đoạn cho tới năm 1262 được Thượng
hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại.
+Thiên Trường không phải là Kinh đô nước Việt nhưng gắn với việc khai ấn là bởi
trong kháng chiến chống Nguyên - Mông, Thăng Long thực hiện vườn không nhà lOMoAR cPSD| 61463864
trống, rút lui chiến lược thì nơi đây là căn cứ địa dễ tiến thoái như một "Thủ đô kháng
chiến" theo cách gọi hiện đại để tận dụng địa thế và huy động sức người sức của cả
một vùng trấn Sơn Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh sĩ Phạm Sư Mạnh mới
gọi nơi đây là "Hùng thắng Đông kinh hộ ấn vàng...".
+Trải bao thế kỷ, ấn cũ không còn. Năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình có
ghé lại đây và cho khắc lại. Ấn cũ khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới khắc là "Trần
triều điển cố" để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương".
-Thời khắc KHAI ẤN: vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm 14 đến 1
giờ sáng ngày 15 tháng Giêng)
- Ý nghĩa Ấn đền Trần: Bản chất của bốn chữ “Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà
Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn
phẩm chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng
bền vững. Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn.
-Phần Lễ * Nghi lễ diễn ra trong lễ hội
- Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân
làng tề tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ Khai Ấn.
+ Đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm
ấn tiến sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung
thiên, rồi rước ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau
khi xin dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo
trong nhà để lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng.
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn
rồi rước theo đường cũ về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt
lên bàn thờ để tiến hành tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi
nhớ cội nguồn tổ tiên.
- Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. Cá được đựng
trong các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả (Triều đẩu), chép (Long ngư), ứng với lOMoAR cPSD| 61463864
Trần Kinh và Trần Lý là hai vị tổ họ Trần. Trước đây cá đựng trong 11 thúng sơn
đỏ. Một đôi cá Triều đẩu nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá từ
sáng sớm tới trưa, rồi rước cá thả ra sông Hồng -Phần Hội
Sau phần lễ là phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú và độc đáo như
hội diễn võ củ 3 thế hệ (ông, cha, con) tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc
đấu vật, múa rồng, múa sư tử…hội chọi gà, ném vòng cổ chai, chơi đu, chơi cờ
thẻ… Đặc biệt múa bài Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân thời
Trần. Tương truyền do thái sư Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ ở
cung đình. Sau này dân làng Phường Bông (Mỹ Trung) vốn xưa là phương múa
hát phục vụ cung đình, tập luyệ các điệu múa này và trình diễn trong các dịp lễ
hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm đúng vào ngày kỵ Trần
Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn có những ngày kỵ giỗ khác như ngày giỗ của
thân Phụ Vương Mẫu, các con các lão tướng Trần Hưng Đạo.
-Tầm quan trọng của lễ hội đền Trần : Đền Trần là một nơi linh thiêng,là niềm tự
hào của người con Nam Định nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Lễ Khai
ấn đền Trần là một phong tục tốt đẹp,một hoạt động văn hóa mang tính nhân văn sâu
sắc thể hiện truyền thống yêu nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta.
*Giá trị của Lễ hội: -
VĂN HOÁ: Tưởng nhớ công đức của các bậc tiền nhân, ghi nhớ công lao to
lớn của Vương Triều nhà Trần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa. -
TINH THẦN: Khơi dậy lòng yêu nước, tình yêu quê hương. Ý thức bảo tồn
văn hoá dân tộc, văn hoá bản địa, tinh thần đoàn kết, giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm -
KINH TẾ: Giúp tăng thêm thu nhập cho con người, địa phương. Tạo việc làm
cho người dân địa phương, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân -
DU LỊCH: Từng bước tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch đến tham quan
hàng năm. Góp phần đa dạng hoá các loại hình du lịch. Góp phần quảng bá vẻ đẹp
của lễ hội, văn hoá, phong tục của lễ hội và bạn bè quốc tế. Tạo ra những cảnh quan
đẹp trong mắt khách du lịch. Giúp cho đất nước trở nên giàu mạnh hơn, phát triển lOMoAR cPSD| 61463864
hơn và được nhiều người biết đến. Giúp cho ngành du lịch trở nên phát triển thu nhập tăng hàng năm.
11. Toàn cầu hóa: Phân tích tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc văn
hóa dân tộc, liên hệ với bản thân
12: Làm rõ quan điểm: Văn hóa là nề tảng, động lực và mục tiêu của sự phát triển.