












Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830 NHÓM 7
I. Chủ đề thảo luận: Độc quyền có tác động tích cực đối với nền kinh tế vì sao
vẫn cần kiểm soát độc quyền? Có thể kiểm soát độc quyền thực hiện lợi ích của
các tổ chức này trong quan hệ lợi ích với xã hội bằng những phương pháp nào?
Tác động của độc quyền trong nền kinh tế thị trường *Tác động tích cực:
-Độc quyền tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu và triển khai
các hoạt động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật -Độc
quyền có thể làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh
tranh của bản thân tổ chức độc quyền:
-Độc quyền tạo được sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển theo hướng sản xuất lớn, hiện đại *Tác động tiêu cực:
-Độc quyền xuất hiện làm cho cạnh tranh không hoàn hảo, gây thiệt hại
cho người tiêu dùng và xã hội:
-Độc quyền có thể làm kìm hãm sự tiến bộ kĩ thuật dẫn đến kìm hãm kinh tế, xã hội:
-Độc quyền làm tăng sự phân hóa giàu nghèo *Vì
sao cần kiểm soát vấn đề độc quyền?
Mọi vấn đề đều có hai mặt trái ngược nhau và độc quyền trong kinh doanh cũng
vậy. Bên cạnh những mặt tích cực như tạo ra các tiềm năng to lớn trong nghiên cứu,
tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động của người làm việc và thúc đẩy
kinh tế phát triển thì vẫn còn tồn tại những vấn đề tiêu cực khác. Cạnh tranh không
lành mạnh, tăng phân hóa giàu nghèo hay kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật đều là những
hệ lụy của độc quyền. Do đó cần có sự kiểm soát độc quyền, đặc biệt từ phía nhà nước. lOMoAR cPSD| 61256830
Nhà nước đã tạo ra pháp luật cạnh tranh trong cơ chế thị trường nhằm kiểm soát
cạnh tranh không lành mạnh. Vì đây là lĩnh vực có sự tự do kinh doanh, tự do khế
ước và tự do lập hội. Do đó ngay khi sự tự do này vượt quá giới hạn của chúng thì
sẽ có sự can thiệp của pháp luật. Mục đích chủ yếu của pháp luật cạnh tranh là ngăn
cản, xử lý, nghiêm cấm những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trái với đạo đức
và pháp luật. Ngoài ra pháp luật cạnh tranh còn góp phần: Đảm bảo, thúc đẩy sự
bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh; bảo vệ và
khuyến khích cạnh tranh lành mạnh; ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và
cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường; bảo vệ lợi ích công cộng hay cộng đồng
mà Nhà nước là người đại diện, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người tiêu dùng.
Cạnh tranh trong thị trường có liên quan cũng như ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề
độc quyền. Sự tự do trong kinh doanh bao gồm cả tự do cạnh tranh dẫn đến việc các
doanh nghiệp sẽ cố gắng cạnh tranh lẫn nhau để đem lại lợi nhuận tối ưu nhất.Vì thế
họ cố gắng tăng cường và tập trung sản xuất hoặc có thể xảy ra các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng đến quyền của các tổ chức, cá nhân kinh
doanh khác, xa hơn là gây thiệt hại cho nền kinh tế. Từ đó độc quyền sẽ xuất hiện
không những không thủ tiêu cạnh tranh mà còn khiến nó trở nên đa dạng gay gắt hơn.
Khác với cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền còn gây ra những hậu quả
nghiêm trọng hơn. Không chỉ dừng lại ảnh hưởng quyền và lợi ích của những chủ
thể khác, hành vi dàn xếp, thỏa thuận, liên kết nhằm độc quyền hóa, thủ tiêu cạnh
tranh gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều lần. Chúng vừa phá vỡ, thay
đổi trật tự, cơ cấu của những lĩnh vực, thị trường,những mảng kinh doanh nhất định
vừa ảnh hưởng trực tiếp đến những chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng và nền kinh tế.
Độc quyền một lĩnh vực, ngành hàng trong thời gian lâu dài không những đem lại
lượng lợi nhuận khổng lồ mà còn hình thành nên những cá nhân tổ chức với khối tài
sản lớn ảnh hưởng, chi phối nền kinh tế, chính trị. Quyền lực chia năm xẻ bảy giữa
Nhà nước và tư bản. Lâu dần dễ hình thành các cá nhân, tổ chức lạm quyền, lợi dụng
việc công cho mục đích riêng để đem lại lợi ích, giàu có cho bản thân. Khoảng cách
giàu nghèo xảy ra đậm nét hơn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả đất nước.
Do đó mục đích của pháp luật trong việc kiểm soát độc quyền là chống độc quyền
hóa (ngăn cản những đối thủ khác tham gia thị trường), hạn chế hay thủ tiêu cạnh lOMoAR cPSD| 61256830
tranh. Vì cạnh tranh là động lực thúc đẩy cho sự tiến lên của nền kinh tế. Có thể hiểu
rằng kiểm soát độc quyền từ phía các cá nhân, tổ chức nhằm đem lại lợi cho bản thân
là hoàn toàn nghiêm cấm.
Tuy nhiên mục đích của pháp luật không hoàn toàn ngăn cản việc độc quyền nó
chỉ ngăn cấm những toan tính mong muốn độc quyền hóa. Một số lĩnh vực tối ưu,
liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng, cần thiết, ảnh hưởng đến quân sự, an ninh
quốc gia,… thì vẫn cho phép duy trì trạng thái độc quyền dưới sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước
Các phương pháp kiểm soát độc quyền.
- Phương thức thứ nhất, tiếp tục đổi mới nhận thức về cạnh tranh, phải thống
nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế đối với thị
trường nước ta. Hạn chế bớt những doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh
doanh để có thể tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển kinh tế. Tăng
tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia.
- Phương thức thứ hai, cần đề ra quy định hợp lý để có thể cải tổ pháp luật về
cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành một cách thuần thục nhất
và cần hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.
Nới lỏng các điều kiện ra nhập và rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các
nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh.
- Phương thức thứ ba, tiến hành thực hiện xây dựng một cơ quan chuyên trách
theo dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền. Trường
hợp cần thiết thì đổi mới chế độ chứng từ, kế toán kiểm toán để tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác giám sát tài chính của các doanh nghiệp.
- Phương thức thứ tư, đó là cần thực hiện những kế hoạch cải thiện môi trường
thông tin và pháp luật theo hướng minh bạch và kịp thời hơn, bên cạnh đó
cũng phải nhanh chóng cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh.
- Phương thức thứ năm, tổ chức lại cơ cấu và kiểm soát độc quyền kể cả độc
quyền tự nhiên. Ví dụ như việc xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh, chỉ duy
trì độc quyền ở một số ngành quan trọng phục vụ cho quá trình phát triển kinh lOMoAR cPSD| 61256830
tế như: sản xuất và truyền tải điện năng, khai thác dầu khí, bưu chính viễn
thông, xây dựng cơ sở hạ tầng… kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp độc quyền thuộc Nhà nước.
- Phương thức thứ sáu, ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền, biện
pháp chủ yếu để đấu tranh với các nguy cơ xuất hiện hành vi độc quyền trên
thị trường là sử dụng các chính sách chống độc quyền.
- Phương thức thứ bảy, kiểm soát giá cả đối với các hàng hóa và dịch vụ do
hãng độc quyền cung cấp là một giải pháp phổ biến khác. Mục đích của nó là
buộc hãng độc quyền phải bán sản phẩm ở mức giá cạnh tranh.
Chính vì vậy, để đảm bảo duy trì cạnh tranh lành mạnh và tính độc quyền thì cần
phải có những biện phạm cụ thể áp dụng từ pháp luật đến thực tế thì mới đảm bảo
kiểm soát được tính độc quyền.
II. Bài tập tự luận 1.
Trình bày sơ lược sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị. Kinh
tếchính trị Mác – Lênin đã kế thừa lịch sử tư tưởng kinh tế như thế nào?
Sơ lược sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị:
Từ thời cổ đại đến thế kỉ XVIII.
Từ sau thế kỉ thứ XVIII đến nay.
- Tiền đề phát triển lý luận kinh tế chính trị: do trình độ mới của sản xuất xã hội.
- Hệ thống lí luận kinh tế chính trị bước đầu nghiên cứu về nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa: Chủ nghĩa trọng thương.
- Chủ nghĩa trọng thương dành trọng tâm vào nghiên cửu lĩnh vực lưu thông.
Chủ nghĩa trọng thương đã khái quát đúng mục đích của các nhà tư bản là tìm
kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương lý giải thiếu tính khoa học
khi cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là từ thương nghiệp, thông qua việc mua rẻ, bán đắt.
- Chủ nghĩa trọng thương dành trọng tâm vào nghiên cửu lĩnh vực lưu thông.
Chủ nghĩa trọng thương đã khái quát đúng mục đích của các nhà tư bản là tìm
kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương lý giải thiếu tính khoa học
khi cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là từ thương nghiệp, thông qua việc mua rẻ, bán đắt. lOMoAR cPSD| 61256830
- Kinh tế chính trị cồ điển Anh được hình thành và phát triển trong thời kỳ từ
cuối thế kỷ thứ XVIII đến nửa đầu thế kỷ thứ XIX, mở đầu là các quan điểm
lý luận của W.Petty, tiếp đến là A.Smith và kết thúc ở hệ thống lý luận có
nhiều giá trị khoa học của D.Ricardo.
- Kinh tế chính trị cổ điển Anh nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình
tái sản xuất, trình bày một cách hệ thống (đặc biệt từ A.Smitlì - một tiền bối
lớn nhất có nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ với nhiều luận điểm giá trị khoa
học mà D.Ricardo kế thừa) các phạm trù kinh tế chính trị như phân công lao
động, hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, giá cả thị trường, tiền lương, lợi nhuận,
lợi tức, địa tô, tư bản... dể rút ra các quy luật kinh tế. Lý luận kinh tế chính trị
cồ điển Anh đã rút ra được giá trị là do hao phí lao dộng tạo ra, giá trị khác
với của cải... Đó là những đóng góp khoa học rất lớn của các đại biểu kinh tế
chính trị cồ điển Anh vào lĩnh vực lý luận kinh tế chính trị cùa nhân loại, thể
hiện sự phát triển vượt bậc so với hệ thống lý luận của chủ nghĩa trọng nông.
- Như vậy, có thề rút ra: Kinh tế chỉnh trị là môn khoa học kinh tế nghiên cứu
các quan hệ kinh tế để tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của các hiện
tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người tưrng ứng với những trình
độ phát, triển nhất định của nên sản xuât xã hội.
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin là một trong những dòng lý thuyết kinh tế chính
trị nằm trong dòng chảy tư tưởng kinh tế phát triền liên tục trên thế giới, được
hình thành, xây dựng bởi C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I. Lênin, dựa trên cơ sở
kế thừa và phát triển những giá trị khoa học kinh tế chính trị của nhân loại
trước đó, trực tiếp là những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cồ
điển Anh. Kinh tế chính trị Mác - Lênin có quá trình phát triền không ngừng
kể từ giữa thế ký thứ XIX đến nay. Kinh tế chính trị Mác - Lênin là một môn
khoa học trong hệ thống các môn khoa học kinh té cùa nhân loại.
Kinh tế chính trị Mác- Lênin đã kế thừa lịch sử tư tưởng kinh tế:
- Học thuyết kinh tế Mác - Lênin là sự kết thừa những tinh hoa của nhân loại
- Những tư tưởng kinh tế xuất hiện rất sớm, ngay từ thời cổ đại và nó không
ngừng được phát triển, đến chủ nghĩa tư bản những tư tưởng này phát triển
trở thành những học thuyết kinh tế: trọng thương, trọng nông, tư sản cổ điển,
tiểu tư sản, không tưởng… những học thuyết này có nhiều thành tựu đồng thời
cũng có nhiều hạn chế. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những thành tựu của
họ và khắc phục những hạn chế để xây dựng lện học thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin.
- Học thuyết kinh tế Mác - Lênin dựa trên phương pháp luận khoa học lOMoAR cPSD| 61256830
- Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu kinh tế chính trị Mácxít: Biện chứng
duy vật, đồng thời còn sử dụng một loạt các phương pháp khác như: phương
pháp trừu tượng hóa khoa học, lôgíc và lịch sư, phân tích, tổng hợp…
- Với những phương pháp nghiên cứu như trên đã khắc phục được những hạn
chế của các phương pháp nghiên cứu của các nhà kinh tế đi trước (quan sát,
duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan…) và đi vào nghiên cứu các hiện
tượng, các quá trình kinh tế từ trong quá trình sản xuất vật chất, quá trình vận
động phát triển, và trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
- Học thuyết kinh tế Mác -Lênin là sự khái quát thực tiễn sinh động của chủ nghĩa tư bản
- Những nhà kinh tế trước Mác sống trong thời kỳ chủ nghĩa tư đang trên đà
phát triển theo chiều hướng tiến bộ chưa bộc lộ những mâu thuẫn và chưa bộc
lộ đày đủ bản chất của nó nên những học thuyết của họ còn nhiều mặt hạn
chế. Đến Mác, Ăngghen, Lênin thì chủ nghĩa tư bản đã hoàn thành cách mạng
công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa. Thực tiễn đó đã cho phép Mác và
tiếp đó là Lênin đã phân tích một cách sâu sắc và đầy đủ về bản chất và quá
trình vận động của chủ nghĩa tư bản. 2.
Nêu khái niệm sản xuất hàng hóa và phân tích tính hai mặt của lao
độngsản xuất hàng hóa? Ý nghĩa của việc phát hiện ra tính chất hai mặt của
lao động sản xuất hàng hóa đối với việc xây dựng lý luận giá trị lao động của C.Mác?
• Khái niệm sản xuất hàng hóa: Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế
mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm không nhằm mục đích phục
vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán.
• Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Hàng hóa có hai thuộc
tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động
cụ thể và lao động trừu tượng.
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của
những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục
đích, đối tượng, công cụ, phương pháp và kết quả lao động riêng. Lao
động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
- Đặc trưng của LĐCT: Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử
dụng nhất định. Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao
động xã hội. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Giá lOMoAR cPSD| 61256830
trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì vậy lao động cụ thể cũng là phạm
trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền vối vật phẩm, nó là một điều kiện không
thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Các hình thức phong
phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển và
sự áp dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng là tấm
gương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế và khoa học công nghệ ở mỗi thời đại.
- Vd: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn,
cái ghế, đối tượng lao động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao
tác về cưa, về bào, khoan, đục; phương tiện được sử dụng là cái cưa,
cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế.
- Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa
không kể đến hình thức cụ thể của nó, đó là sự hao phí sức lao động nói
chung cảu người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thân kinh, trí óc
- Đặc trưng LĐTT: Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa, làm cơ
sở cho sự ngang bằng trao đổi. Giá trị của hàng hóa là một phạm trù
lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa cũng là một
phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
- Vd: lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu
xét về mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ
tất cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn có một
cái chung, đều phải hao phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người.
-Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hỏa có ý nghĩa rất
to lớn về mặt lý luận:
● Xác định được chất của giá trị là do lao động trừu tượng kết tinh, biểu hiện
quan hệ xã hội và là một phạm trù lịch sử
● Xác định được lượng của giá trị: là lượng thời gian lao động trung bình hay
lượng thời gian lao động xã hội cần thiết
● Xác định được hình thái biểu hiện của giá trị. Hình thái phát triển từ thấp tới
cao, từ hình thái cơ bản đến hình thái mở rộng, hình thái chung và cuối cùng là hình thái tiền
● Xác định được quy luật giá trị. Đây là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hóa.
Quy luật này đòi hỏi người trao đổi và sản xuất hàng hóa phải đảm bảo thời
gian lao động xã hội cần thiết lOMoAR cPSD| 61256830
Đồng thời, lao động của mỗi người sản xuất hàng hóa, nếu xét về mặt hao phí sức
lực nói chung, tức lao động trừu tượng, thì nó luôn là một bộ phận của lao động xã
hội thống nhất, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên lao động trừu
tượng là biểu hiện của lao động xã hội.
Trong nền sản xuất hàng hóa, lao động tư nhân và lao động xã hội không phải là hai
lao động khác nhau, mà chỉ là hai mặt đối lập của một lao động thống nhất. Giữa lao
động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau. Đó là mâu thuẫn cơ bản của
"sản xuất hàng hóa". Mâu thuẫn này biểu hiện ở chỗ:
- Sản phẩm do người sản xuất hàng hóa tạo ra có thể không ăn khớp hoặc không
phù hợp với nhu cầu của xã hội.
- Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất có thể cao hơn hay thấp hơn hao
phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận.
=> Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọi mâu
thuẫn trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng
hóa vừa vận động phát triển, lại vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng sản xuất thừa. 3.
Phân tích những ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường? Vì sao
nền kinh tế thị trường cần phải có sự điều tiết của nhà nước?
Khái niệm : Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị
trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao
đổi đều được thông qua thị trường, chỉ chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Ưu thế của nền kinh tế thị trường: •
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực cho sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế •
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ
thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia. •
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa
nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. lOMoAR cPSD| 61256830
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường : •
Một là, nên kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảngchậm •
Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài
nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên , môi trường xã hội. •
Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc xã hội
Do những khuyết tật của kinh tế thị trường nên trong thực tế không tồn tại một nền
kinh tế thị trường thuần túy mà thường có sự can thiệp của nhà nước để sửa chữa
những thất bại của cơ chế thị trường. Khi đó nền kinh tế được gọi là kinh tế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước .
Nền kinh tế thị trường cần phải có sự điều tiết của nhà nước vì:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường dẫn đến các vấn đề về kinh tế, xã hội
nảy sinh ngày càng gay gắt không thể giải quyết được nếu chỉ dựa vào sở hữu
tư nhân. Các cuộc khủng hoảng, thất nghiệp diễn ra hàng loạt, áp lực cạnh
tranh trên thị trường toàn cầu,... do đó cần có nhà nước đứng ra để điều tiết.
Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế,
tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các
nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết
nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hộ
Nhờ có sự điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã giải quyết
các vấn đề như: kích thích tăng trưởng kinh tế, điều tiết việc làm, thúc đẩy sự
chuyển dịch tiến bộ trong cơ cấu ngành và khu vực, hỗ trợ xuất khẩu,... lOMoAR cPSD| 61256830
Mọi quan hệ sản xuất và trao đổi, các hoạt dộng của các chủ thể đều chịu sự tác
động của các quy luật kinh tế khách quan của thị trường; đồng thời chịu sự
điều tiết của nhà nước thông qua việc thực hiện hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế 4.
Phân tích sự chuyển hóa tiền thành tư bản và ý nghĩa của việc phát hiện
rahàng hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản?
- Tiền là hàng hoá đặc biệt đc tách ra từ hàng hoá, làm vật ngang giá cho tất
cả hàng hoá, là sự thể giện chung của giá trị , biểu hiện trực tiếp giá trị
hàng hoá, biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá
- Tư bản : là đem lại giá trị thặng dư
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thức biểu
hiện đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một
số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, tiền chỉ biến thành
tư bản khi được sử dụng để đem lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
- Tiền với tư cách là tiền thông thường vận động theo công thức: H - T – H.
- Tiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: T - H – T. Bất cứ
tiền nào vận động theo công thức T - H – T đều chuyển hoá thành tư bản
SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA 2 CÔNG THỨC Giống nhau Khác nhau Công thức 1 Lưu thông hàng hoá
đơn giản bắt đầu bằng hành vi bán (H-T) và
Đều cấu thành bởi hai kết thúc bằng hành vi
yếu tố hàng và tiền; đều mua (T-H); điểm xuất
chứa đựng hai hành vi phát và kết thúc là là
đối lập mua và bán; đều hàng hoá, tiền chỉ đóng
biểu hiện quan hệ kinh vai trò trung gian, mục
tế giữa người mua và đích cuối cùng của quá bán lOMoAR cPSD| 61256830
trình này là giá trị sử dụng Công thức 2 Lưu thông tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (H-T); điểm xuất phát
và kết thúc đều là hàng hoá, hnagf hoá chỉ đóng vai trò trung gian, mục
đích cuối cùng của lưu
thông tư bản là giá trị, và là giá trị lớn hơn
- Tư bản vận dụng theo công thức chung: T-H-T’ trong đó T’=T+m(m>0) ,
với là số tiền dôi ra được C.Mác gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ứng ra ban
đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư đã trở thành tư bản
Ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu
thuẫn trong công thức chung của tư bản
Trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không
tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư. Trao đổi ngang giá thì
chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị từ tiền thành hàng và từ hàng thành tiền, còn
tổng giá trị của hàng hóa trong xã hội cũng không tăng lên. Ngoài lưu thông cũng
không tạo ra giá trị thặng dư. Nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa
của anh ta thì giá trị của những hàng hóa ấy không hề tăng lên một chút nào. Ở ngoài
lưu thông, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hàng hóa thì phải
bằng lao động của mình. Vậy giá trị thặng dư không xuất hiện từ lưu thông cũng
không xuất hiện ngoài lưu thông và giá trị thặng dư tạo ra từ đâu? Đó chính là từ
hàng hóa sức lao động. Bởi vì quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá
trình sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị lOMoAR cPSD| 61256830
mới lớn hơn giá trị chị của bản thân hàng hóa sức lao động. Phần lớn đó chính là là
giá trị thặng dư. Từ đó cho thấy hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết
mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Chính hàng hóa sức lao động trong
quá trình được sử dụng để tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản và việc nghiên cứu
hàng hóa sức lao động đã chỉ rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. 5.
Trình bày cơ sở phân chia các cặp phạm trù tư bản cố định – tư bản
lưuđộng; tư bản bất biến – tư bản khả biến? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?
+Tư bản cố định – tư bản lưu động -
Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà trong quá trình sản xuất chuyển dần giá
trịlàm nhiều lần vào sản phẩm mới như nhà xưởng, máy móc, thiết bị... -
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản mà trong quá trình sản xuất chuyển một
lầntoàn bộ giá trị vào sản phẩm mới như nguyên liệu, nhiên liệu và tiền lương -
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và bị hao
mòndần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị sử dụng. Do quá trình sử dụng
và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của Tư bản cố định dần dần hao
mòn đi tới chỗ phải thay thế.
Hao mòn vô hình là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị. Hao mòn vô hình xảy ra khi
máy móc còn tốt nhưng bị mất giá cả vì xuất hiện máy móc hiện đại hơn, công suất
cao hơn những lại rẻ hơn hoặc giá trị tương đương.
Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động chỉ diễn ra đối với tư bản sản
xuất, căn cứ tính chất chuyển giá trị vào trong sản phẩm mới. Tư bản cố định chuyển
giá trị dần dần, từng phần một vào trong sản phẩm mới, tư bản lưu động chuyển
giá trị ngay một lần và toàn bộ vào trong sản phẩm mới sau quá trình sản xuất.
+Tư bản bất biến – tư bản khả biến -
Bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất (nhà xưởng, máy móc, thiết
bị,nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu phụ...) mà giá trị của nó được bảo tồn và chuyển
nguyên vào sản phẩm, tức là giá trị không thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất
là Tư bản bất biến (ký hiệu là c). -
Bộ phận Tư bản dùng để mua sức lao động mà trong quá trình sản xuất
khôngnhững nó tái sản xuất ra giá trị sức lao động mà còn sản xuất ra giá trị thặng lOMoAR cPSD| 61256830
dư. Nghĩa là bộ phận Tư bản này có sự thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất
gọi là Tư bản khả biến (ký hiệu là v)
* Cơ sở phân chia: Nhờ vào tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
+ Lao động cụ thể: bảo tồn và chuyển dịch giá tị của TLSX +
Lao động trừu tượng: tạo ra giá trị mới.
+ Tư bản cố định và Tư bản lưu động.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu: Chia tư bản ra làm tư bản bất biến và tư bản khả biến
là công lao vĩ đại của Mác. Sự phân chia ấy đã vạch rõ nguồn gốc thực sự của giá trị
thặng dư là do tư bản khả biến tạo ra. Sự phân chia đó cho thấy vai trò của mỗi bộ
phận tư bản trong việc tạo ra gái trị hàng hóa. Giá trị hàng hóa C+V+M
Các nhà kinh tế học tư sản không thừa nhận sự phân chia đó, học chia tư bản thành
tư bản cố định và tư bản lưu động. Chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu
động sẽ che đậy nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư. Vì đem giá trị mua sức lao
động và giá trị mua nguyên liệu, nhiên liệu đưa vào một khái niệm tư bản lưu động
sẽ làm lu mờ tác dụng đặc biệt của yếu tố sức lao động trong việc tạo ra giá trị và
giá trị thặng dư. Chỉ khi nào khảo sát sự khác nhau của các bộ phận tư bản về phương
hướng chuyển dịch giá trị thì Mác mới chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản
lưu động để trong quản lý sản xuất cần có các biện pháp chống hao mòn vô hình và
hao mòn hữu hình, còn khi khảo sát tác dụng khác nhau của các bộ phận tư bản trong
quá trình tăng thêm giá trị thì chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.