



















Preview text:
KINH TẾ HỌC CHO NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
CÂU 1+ câu 2 : trình bày sự khác nhau giữa di chuyển và dịch chuyển dọc đường cầu và đường cung
Sự di chuyển dọc theo một đường cầu hoặc đường cung xảy ra khi có sự thay đổi trong mức giá
hiện hành của chính hàng hoá mà người ta đang phân tích.
Chẳng hạn, trên một đường cầu D1 xác định, khi mức giá là P1, lượng cầu là Q1. Điểm A trên
đường cầu nói trên mô tả trạng thái này. Nếu vì một lý do nào đó mà mức giá của hàng hoá
chúng ta đang phân tích hạ xuống thành P2 thì lượng cầu về hàng hoá sẽ tăng lên tương ứng
thành Q2. Điểm B cũng trên đường cầu nói trên chính thể hiện trạng thái mới đó. Như vậy, sự di
chuyển từ điểm A đến điểm B trên cùng một đường cầu là kết quả của việc mức giá hiện hành của hàng hoá thay đổi.
Hình 1: Di chuyển dọc theo một đường và dịch chuyển cả một đường.
Khi mức giá hiện hành của hàng hoá hạ từ P1 xuống P2, chỉ có sự di chuyển dọc theo đường
cầu D1 từ điểm A đến điểm B.
Sự dịch chuyển đường cung hoặc cầu do sự thay đổi của các yếu tố khác có liên quan như:
+ đường cầu: thu nhập, thị hiếu, giá của các hàng hóa liên quan, dân số, kỳ vọng
Ví dụ: thịt lợn là một loại hàng hóa bình thường, hình sau minh họa khi thu nhập tăng lượng cầu
thịt lợn đều tăng tại mọi mức giá: trước đây khi giá là 80k thì thị trường mua 200 tấn nhưng khi
thu nhập tăng nên tại mức giá đó thị trường mua 250 tấn-1 năm. Đường cầu dịch chuyền từ D1 sang D2
+ đường cung: công nghệ sản xuất, số lượng người sản xuất, giá của các yếu tố đầu vào, chính sách thuế, các kỳ vọng
Vd: nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận tăng và do đó hãng
muốn sản xuất thêm hàng hóa dịch vụ. hình vẽ ( nguyên tắc khi vẽ hình là mức giá không đổi: trang 55-vi mô)
.Trên thực tế, sự di chuyển dọc theo một đường và dịch chuyển của một đường khác trong hai
đường cầu và cung thường diễn ra đồng thời. Ví dụ, do thu nhập của những người tiêu dùng tăng
lên, đường cầu về một loại hàng hoá thông thường X sẽ dịch chuyển sang phải. Kết quả là giá
cân bằng của hàng hoá X sẽ tăng lên. Cùng với sự kiện này, lượng cung về hàng hoá X cũng tăng
lên. Ở đây, bắt nguồn từ việc thu nhập tăng, có một sự dịch chuyển của đường cầu về hàng hoá X
đồng thời với sự di chuyển dọc theo đường cung của hàng hoá này.
Hình 2: Sự dịch chuyển đường cầu đi đôi với sự di chuyển dọc theo đường cung. Khi thu
nhập tăng, đường cầu về một loại hàng hoá thông thường sẽ dịch chuyển từ D1 thành D2, điểm
cân bằng từE chuyển thành F, thể hiện sự di chuyển dọc theo đường cung S đồng thời xảy ra.
Câu 4: giải thích sự khác nhau giữa độ co giãn của cầu trong dài hạn và ngắn hạn. cho ví dụ minh họa
Đối với phần lớn các hàng hóa khoảng thời gian càng dài độ co giãn của cầu càng lớn. Khái
niệm ngắn hạn liên quan đến thời ký trong đó ít nhất một vài sự điều chỉnh là ko thể thực
hiện được trong khi dài hạn là thời kỳ đủ dài để thực hiện các quá trình điều chỉnh. , trong
ngắn hạn rất khó có thể thay đổi thói quen tiêu dùng, khi giá thay đổi người tiêu dùng thường
vẫn tiếp tục mua lượng hàng hóa tương tự trong thời điểm đó. Tuy nhiên trong thời gian đủ
dài người tiêu d có thể thay đổi thói quen họ sẽ tìm hàng hóa thay thế có thể chấp nhận được
và có chi phí ít hơn. Khi quá trình thay thế xảy ra lượng cầu đối với hàng hóa ban đầu sẽ
giảm mạnh dẫn đến cầu co giãn hơn.
Ví dụ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973-1974 khiến cho giá dầu tăng gấp 4 lần, chi phí
sưởi ấm và gas tăng. Ban đầu, người tiêu dùng vấn phải duy trì tiêu dụng tại mức xấp xỉ ban
đầu và chỉ có thể khắc phục tình trạng giá cao bằng cách sử dụng tiết kiệm hơn. Do vậy cầu
trong ngắn hạn ít co giãn. Tuy nhiên trong dài hạn người tiêu dùng phải chuyển sang sử dụng
các hàng hóa thay thế cho dầu hoặc mua các phương tiện đòi hỏi ít nhiên liệu hơn và lượng
dầu sẽ giảm mạnh hơn trong dài hạn, cầu trở nên co giãn hơn. Bản thân các nhà sản xuất
cũng phải điều chỉnh hành vi, sản xuất ra các sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu.
Tuy nhiên với một số hàng hóa thì cầu trong dài hạn lại ít co giãn hơn đặc biệt là với các
hàng hóa lâu bền như ô tô, tủ lạnh, máy chạy địa DVD… ví dụ nếu giá ti vi LG tăng, lúc đầu
người tiêu dùng có thể trì hoãn mua tivi mới, lượng cầu có thể giảm mạnh và cầu co giãn
mạnh, Tuy nhiên trong dài hạn những chiếc tivi cũ không còn sử dụng được nữa và cần phải
được thay thế bằng cái mới, theo đó lượng cầu hàng hóa lại tăng lên. Vì vậy lượng cầu tivi
LG trong dài hạn thường co giãn ít hơn trong ngắn hạn
Câu 5: giả sử chính phủ kiểm soát giá thị bò và thịt gà và chỉ định giá của 2 sản phẩm này
ở mức thấp hơn giá bán của thị trường trước đó. Giải thích vì sao hiện tượng khan hiếm
hàng hóa có thể xảy ra trong trường hợp này và nhân tố nào có thể ảnh hướng đến độ khan hiếm.
Chính phủ có thể tác động tới thị trường thông qua các chính sách can thiệp trực tiếp vào giá
làm cho lượng cung và cầu khác hẳn nhau. Trong trường hợp trên là chính phủ đặt giá trần
cho thịt bò và thịt gà thấp hơn mức giá của thị trường. Giá trần là mức giá cao nhất đối với
một mặt hàng nào đó do chính phủ ấn định, các hãng sản xuất khong được bán hàn với giá
cao hơn mức giá trần đó nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên điều này làm ảnh hưởng
đến lợi ích của người bán, người sản xuất và kết quả là thiếu hụt hàng hóa sẽ xuất hiện.
Giả sử với cân bằng ban đầu, với mức cung thịt gà và thịt lợn là S cân bằng tại E với mức giá
là P1 và lượng cầu là Q1. Khi chính phủ áp dụng mức giá Pc thấp hơn giá cần bằng ban đầu
P1. Khi đó lượng cung mà các nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng là Q2 trong khi đó lượng cầu
của người tiêu dùng là Q3 lớn hơn Q2. Do vậy tồn tại một lượng dư cầu là Q3-Q2. Mức độ
khan hiếm hàng hóa càng lớn khi cầu hàng hóa càng co giãn mạnh với giá (đường cầu càng thoải). P S E Pc D Q2 Q1 Q3 Q
Câu 6: Một trường đại học quyết định sẽ kiểm soát giá cho thuê phòng của sinh viên
giúp cắt giảm chi phí sinh hoạt, Giả sử giá thuê phòng trên thị trường cho 2 người là 3tr
đồng dự kiến tăng thành 4tr từ 1/2019. Tuy nhiên trường này vẫn quyết định duy trì giá
thuê phòng ở mức 3tr/tháng. Hãy vẽ đồ thị và giải thích quyết định trên có đem lại lợi
ích cho tất cả sinh viên hay ko? Vì sao?
Đồ thị dưới đây thể hiện mức cung cầu của phòng trọ tại trường đại học đó. Trước khi thi
trường tăng giá phòng trọ cho sinh viên có đường cầu là D, đường cung S1 và cân bằng tại
E1 với mức giá P1 và lượng cầu Q1. Khi giá thuê phòng trọ trên thị trường tăng lên gần 30%
từ 3tr lên 4tr, đây có thể nói là mức tăng giá khá cao. Đồng thời phòng trọ là một mặt hàng
thiết yếu của sinh viên nên lượng cầu rất khó để giảm. khi giá phòng trọ bên ngoài tăng nhu
cầu phòng trọ KTX sẽ tăng lên làm cho đường cầu phòng KTX dịch chuyển sang D2. Với
mức giá không đổi là P1 khi đó lượng cung là Q1 trong khi lượng cầu là Q2. Khi đó tồn tại
hiện tượng dư cầu hay thiết hụt hàng hóa một lượng là Q2-Q1. Khi nhà trường đặt mức giá
như vậy, một số sinh viên may mắn có thể thuê được phòng với giá rẻ hơn thị trường, nhưng
rất nhiều sinh viên khác không thể thuê được. Khi đó có thể cả người cho thuê và sinh viên
có thể sử dụng các hành vi không hợp lệ để mua hàng. Ví dụ như người cho thuê ưu tiên cho
người quen, bạn bè, con cán bộ… hay sinh viên chấp nhận trả thêm một khoản nhỏ để thuê
được phòng gây ra những ảnh hưởng xấu. như vậy quyết định trên mặc dù nhằm đảm bảo lợi
ích cho sinh viên nhưng không phải là cho tất cả các sinh viên. P S P1 D1 D2 Q1 Q2 Q
Câu 7: 4 giả thiết về sở thích của người tiêu dùng là gì? giải thích ngắn gọn
Các giả thiết về sở thích của người tiêu dùng -
Tính hợp lý: Người tiêu dùng được giả định là hợp lý, người tiêu dùng muốn nhiều hàng hóa hơn ít -
Tính nhất quán: Người tiêu dùng hành động một cách nhất quán, nếu người tiêu dùng
thích kết hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B kho có cả hai kết hợp hàng hóa thì
người tiêu dùng sẽ không chọn kết hợp hàng hóa B khi kết hợp hàng hóa A cũng có sẵn -
Tính bắc cấu: Nếu người tiêu dùng thích kết hợp hàng hóa A hơn kết hợp hàng hóa B và
thích B hơn thích C thì người tiêu dùng sẽ chọn A thay vì C -
Kết hợp hàng hóa bộc lộ sở thích : Khi người tiêu dùng chọn một kết hợp hàng hóa với
một ngân sách đã cho thì sở thích của anh ta đã được bộc lộ bởi kết hợp hàng hóa đó. Kết
hợp hàng hóa được coi là tốt nhất so với các kết hợp hàng hóa khác đòi hỏi cùng một
ngân sách nhất định. kết hợp hàng hóa được chọn này tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng
Câu 8: Liệu 2 đường bàng quang có cắt nhau ko? Giải thích ngắn gọn –trang 139-gt Vi mô
Đường bàng quan là tập hợp các kết hợp hàng hóa hay các giỏ hàng hóa mang lại cùng một
mức lợi ích cho người tiêu dùng. Người ta còn gọi là đường bàng quan là đường đồng mức
lợi ích hay đường đồng mức thỏa mãn.
Đặc điểm của đường bàng quanL
Có độ dốc âm, điều đó có nghĩa là nếu lượng một loại hành hóa giảm xuống thì hàng hóa kia
phải tăng lên để người tiêu dùng cùng thu được một mức lợi ích
Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ người tiêu dùng càng thu được lợi ích lớn hơn.
Các đường bàng quan ko cắt nhau . vì nếu có hai đường cắt nhau thì giao điểm biểu diễn
cùng một lợi hình. Điều này vô lý như biều thị ở hình dưới. (vẽ hai đường bàng quan cắt nhau ra)
(cụ thể hình ảnh trang 140 gt vi mô)
Câu 9: Tỉ lệ thay thế cận biên có y/n gì? MRS có thay đổi khi di chuyển dọc đường bàng
quan hay ko? (xét 2 TH đường bàng quan dạng cong và tuyết tính)
- Tỉ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y (MRS) là số đơn vị hàng hóa Y phải
giảm đi khi tăng tiêu dùng 1 đvị hàng hóa X để giữ nguyên mức thỏa mãn đã cho và đc xđ bằng cth: MRS= -ΔY/ΔX
Như vậy, MRS là tỉ lệ thay thế giữa 2 hàng hóa mà vẫn bảo đảm lợi ích k tđổi đvs ng tiêu dùng.
-Tỉ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y đc đo bởi độ dốc của đường bàng quan.
Vì mọi điểm trên đg bàng quan đều có lợi ích như nhau nên tổng lợi ích tăng thêm do vc tăng
tiêu dùng hàng hóa X phải = tổng lợi ích mất đi do giảm tiêu dùng hàng hóa Y. Vì vậy ta có: ΔX.MUx + ΔY.MUy =0 MRS x/y= -Δy/Δx= MUx / Muy
+TH đường bàng quan dạng cong:
Khi vận động dọc theo đg bàng quan từ trái qua phải, để giữ nguyên mức lợi ích thì khi
tăng hàng hóa X phải giảm lượng tiêu dùng hàng hóa Y do đó lợi ích CB của hàng X sẽ giảm
xuống theo ql lợi ích CB giảm dần còn lợi ích CB của hàng hóa Y lại tăng lên, vì vậy MRS sẽ
giảm xuống. Như vậy, đg bàng quan lồi so với gốc tọa độ cho biết để có thêm những lượng hàng
hóa X càng về sau, lượng hàng hóa Y mà ng tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ càng ít đi.
+Th đường bàng quan tuyến tính:
Khi Các đường bàng quan là đường thẳng thì MRS là 1 hằng số, khi đó các hàng hóa thay thế
hoàn hảo trong tiêu dùng. VD:
Câu 10 : So sánh tỉ lệ thay thế cận biên MRS và tỉ lệ thay thế giữa 2 mức giá khiến cho ng
tiêu dùng đạt lợi ích tối đa
Vs bản đồ đg bàng quan và đg ngân sách trên, trạng thái CB hay điểm tiêu dùng tối ưu đạt tại
điểm E. Lựa chọn tiêu dùng tối ưu đc thiết lập tại E- là tiếp điểm của đg ngân sách và đg bàng
quan cao nhất có thể. ở đó độ dốc đg bàng quan (tức là tỉ lệ thay thế CB giữa 2 hàng hóa X và Y)
sẽ bằng vs độ dốc đg ngân sách (tỉ lệ thay thế CB trên thị trg). Khi đó đk tối ưu của ng tiêu dùng là: Mux/MUy= Px/Py
Người tiêu dùng hợp lí sẽ mua mỗi loại hàng hóa cho đến khi tỉ lệ giữa lợi ích tăng thêm thu đc
so vs giá phải trả là bằng nhau cho mỗi loại hàng hóa. Hay ns cách khac, lợi ích CB phát sinh do
mỗi đơn vị tiền tể chi ra phải là như nhau đvs mỗi loại hàng hóa.
Câu 11 : Độ co giãn của đường cầu và độ dốc của đường cầu có tương đương nhau hay không ? Tại sao ?
Độ co giãn của đường cầu và độ dốc của đường cầu đều có thể cho biết sự phản ứng của
lượng cầu khi giá thay đổi nhưng nó là hai khái niệm khác nhau và ý nghĩa khác nhau. Vì vậy
chúng không tương đương nhau. Vì
Độ dốc: độ dốc là thước đo bằng số chính xác mức thay đổi của Y ứng với mức thay đổi của X.
Độ co giãn của đường cầu: bằng tích của độ dốc và tỉ số giá và sản lượng.
Câu 12 : Độ co giãn chéo của cầu là gì ? Liệu độ co giãn này có luôn dương hay không ?
Lượng cầu hàng hóa không những chỉ phụ thuộc vào giá trị của bản thân hàng hóa, mà còn
phụ thuộc vào giá của hàng hóa khác có liên quan như hàng hóa bổ sung, hàng hóa thay thế. Để
đo lường phản ứng của lượng cầu của hàng hóa theo hàng hóa khác chúng ta sử dụng độ co giãn
chéo của cầu, với công thức tổng quát như sau :
độ co giãn chéo của cầu = Thay đổi phần trăm lượng cầu hàng hóa / Thay đổi phần trăm giá của hàng hóa bổ sung.
Công thức : Sách giáo trình vi mô - trang 104.
Độ co giãn chéo của cầu không luôn co giãn âm. Vì độ co giãn chéo của cầu đối với giá
hàng hóa bổ sung mang dấu âm và độ co giãn chéo của cầu đối với giá hàng hóa thay thế mang
dấu dương. Vì khi giá hàng hoá Y tăng thì lượng cầu về hàng hoá X ở mỗi mức giá (của X) sẽ giảm và ngược lại. Câu 13 :
Câu 14 : Giả sử bạn là nhà tuyển dụng, bạn quan tâm đến năng suất lao động trung bình
hay năng suất lao động cận biên của người bạn thuê gần nhất. Nếu NSLĐ trung bình giảm,
bạn có thuê thêm nhân công hay không ? Tại sao.
Nếu là một nhà tuyển dụng em sẽ quan tâm tới việc tối đa hóa lợi nhuận củadoanh nghiệp khi
thuê thêm lao động. Do đó sẽ quan tâm ddeend năng suất lao động cận biên của người được thuê
gần nhất hơn. Việc thuê mua lao động của DN sẽ dựa trên nguyên tắc sau: MRP(l)= MC(l)
MRP(L) là sản phẩm doanh thu cận biện của lao động
MC (l) là chi phí cận biên của lao động
Nếu trong TH, thị trường lao động và thị trường hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoàn hảo thì
nguyên tắc trở thành: MRP (l)= w
W là tiền lương/ giá của 1 đơn vị lao động
Vậy: MRP(L)=MR x MP(l)= P0 x MP(l)
Theo quy luật năng suất cận biện giảm dần: MP(L) có xu hướng giảm nếu ta tăng lao động đầu
vào do đó sản phẩm doanh thu cận biên của lao động MRP(l) cũng có xu hướng giảm khi số lượng lao động tăng.
APL > MLP : APL giảm dần khi tăng lao động => DN giảm thuê lao động. Câu 15 : Trang 225 SGT Vi mô
Câu 16: Nếu một chủ doanh nghiệp không tự trả lương cho mình thì chi phí kế toán bằng 0
nhưng chi phí kinh tế lớn hơn 0. Theo anh (chị) nhận định trên đúng hay sai? Giải thích?
Nhận định trên là đúng. Giải thích:
Chi phí kế toán là những khoản chi phí trực tiếp mà doanh nghiệp thực tế phải bỏ ra khi sản
xuất hàng hóa. Nó bao gồm những khoản chi phí như: khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
mua sắm nguyên, nhiên, vật liệu; trả tiền thuê nhân công hay thanh toán các khoản lãi vay... Chi
phí kế toán luôn luôn thể hiện dưới dạng những dòng tiền mà người chủ doanh nghiệp thực sự
phải chi trả, thanh toán khi thuê, mua các yếu tố đầu vào...
Chi phí kinh tế là tổng cộng của các khoản chi phí cơ hội của việc doanh nghiệp sử dụng các
nguồn lực để sản xuất khối lượng hàng hóa.
Như thế, chi phí kế toán là một bộ phận của chi phí kinh tế. Ngoài chi phí kế toán, chi phí kinh tế
còn bao gồm những khoản chi phí cơ hội ẩn có liên quan. Đó là những khoản chi phí mà doanh
nghiệp không phải trực tiếp chi trả song lại là những khoản mất mát hay thiệt hại thực sự mà
doanh nghiệp phải gánh chịu hay hy sinh khi thực hiện quyết định sản xuất kinh doanh của mình.
Chủ doanh nghiệp không tự thuê chính bản thân mình, do đó, về mặt kế toán, người này
dường như không phải bỏ ra một đồng nào để khai thác sức lao động của bản thân=> không có
một dòng tiền nào phát sinh=> chi phí kế toán bằng 0.
Tuy thế, khi phải làm những công việc ở doanh nghiệp, người chủ doanh nghiệp mất đi
cơ hội làm những công việc khác, tức là mất đi khả năng sử dụng nguồn lực lao động của mình
theo những phương án khác => phát sinh chi phí cơ hội của việc làm chủ doanh nghiệp => chi phí kinh tế >0
Câu 17: Đầu thế kỉ XX, có tới hàng trăm công ty sản xuất ô tô được thành lập tại Mỹ. Tuy nhiên
cuối thế kỉ XX chỉ còn lại 3 hãng. Giả sử không bàn tới nguyên nhân đây là kết quả do chính
sách chống độc quyền của chính phủ thì vì số lượng hãng sản xuất xe lại sụt giảm nhanh đến vậy?
Mỹ đi tiên phong sản xuất xe hơi hàng loạt thị trường vào đầu thế kỷ 20 và là thị trường
ôtô lớn nhất thế giới trong hơn một trăm năm, gây ra sự sáng tạo của hàng trăm thương hiệu. 3
thương hiệu xe hơi tốt nhất của Mỹ và đã sống sót qua các thời điểm là General Motors, Ford và Fiat Chrysler của Mỹ.
Nguyên nhân số lượng hãng sản xuất ô tô Mỹ sụt giảm nhanh:
Sự cạnh tranh khốc liệt của các hãng. Đầu thế kỉ XX, nhiều hãng xe mới lần lượt ra đời
cùng với ngày càng nhiều mẫu xe mới cải tiến hơn so với mẫu xe trước cạnh tranh nhau.
Sự phát triển nhanh chóng này làm nhiều hãng phá sản do không bán được.
Do tác động của các của các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ từ thế kỉ XX. Trong đó phải kể
đến là cuộc đại khủng hoảng (1929-1933),cuộc khủng hoảng giàu mỏ năm 1973, sự sụp
đổ của thị trường chứng khoán Mỹ năm 1973-1974, khủng hoảng tài chính 2007
+ Khi tình hình kinh tế khó khăn, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm chi tiêu, đặc biệt
là cho những tài sản lớn như ô tô => doanh thu các hãng xe giảm => sự sụp đổ của nhiều
hãng xe như Essex (1931), Franklin (1934), Reo (1936), Auburn, Graham,... Cuộc đại
khủng khoảng dần cắt bỏ tầng lớp quý tộc cũ. Những hãng xe được tầng lớp giàu có cũ ưa chuộng bị suy vong
+ Giá dầu thế giới tăng cao đã xảy ra với tốc độ quá nhanh => Thị hiếu người tiêu dùng
thay đổi, họ có xu hướng sử dụng những mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu. Các nhà sản xuất ô
tô Mỹ có phản ứng quá chậm, và mắc một sai lầm lớn là ngày càng tung ra nhiều mẫu xe
“khủng” hơn (xe tiêu tốn nhiên liệu lớn)
+Đúng lúc đang nỗ lực tái cơ cấu để đáp ứng thay đổi của thị hiếu thì xảy ra cuộc khủng
hoảng tài chính, dẫn đến suy thoái kinh tế. Thị trường chứng khoán khủng hoảng làm giá
cổ phiếu của các hãng xe sụt giảm mạnh. Nếu như những biến cố trên thị trường tài chính
Mỹ xảy ra chậm hơn vài năm, thiệt hại đối với các nhà sản xuất ô tô Mỹ có lẽ không lớn đến vậy.
Câu 18: Những giả thiết cần có khi phân tích 1 thị trường cạnh tranh hoàn hảo là gì? Theo
bạn giả thiết nào quan trọng nhất? Các giả thiết:
Có vô số người bán và người mua trên thị trường. Sản lượng của họ là tương đối nhỏ so
với lượng cung trên thị trường => họ không thể tác động tới giá của thị trường được =>
Các hãng sản xuất là người “chấp nhận giá” sẵn có trên thị trường. Nói cách khác, đường
cầu đối với hãng là một đường nằm ngang.
Sản phẩm đồng nhất và người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về sản phẩm. Sản phẩm của
các hãng là giống nhau để người mua không cần quan tâm họ sẽ mua của ai
Thông tin trên thị trường hoàn hảo với cả người mua và người bán. Mọi hành vi của
người mau và người bán đều được phản ánh đầy đủ trên thị trường. Như vậy mọi thông
tin về sản phẩm và giá cả đều được người mua biết rõ
Tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường
Theo em, giả thiết 1 quan trọng nhất. Vì nó phân biệt rõ ràng thị trường cạnh tranh hoàn
hảo với các thị trường khác (thị trường độc quyền, cạnh tranh độc quyền, độc quyền tập đoàn)
Câu 19: Liệu 1 doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền hay không khi họ không phải hãng
duy nhất sản xuất hàng hóa cung ứng trên thị trường?
Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld, Kinh tế học vi mô, thì: “Sức mạnh độc quyền là
khả năng người bán hoặc người mua có thể tác động đến giá cả của hàng hóa”.
Một doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền ngay cả khi họ không phải hãng duy nhất sản xuất
hàng hóa. Một doanh nghiêp có sức mạnh độc quyền khi không phải hãng duy nhất sản xuất
hàng hóa là khi doanh nghiệp chiếm thị phần lớn (quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi
thế về quy mô, bản quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào) hoặc các
hãng có thể liên kết với nhau trên thị trường (đồng ý hạn chế sản lượng và tăng giá).
Câu 20: Rào cản gia nhập và từ bỏ thị trường là gì? Có những loại rào cản nào mà nhà độc
quyền có thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường? Cho ví dụ minh họa?
Rào cản gia nhập và từ bỏ thị trường: rào cản gia nhập thị trường là những nhân tố ngăn
cản hoặc kìm hãm các doanh nghiệp tham gia hay rút lui tại một thị trường.
Các rào cản nào mà nhà độc quyền có thể sử dụng để ngăn chặn đối thủ gia nhập thị
trường, chia làm 2 loại theo nguồn gốc độc quyền:
+ nguồn gốc độc quyền bán: quy định của chính phủ, rào cản gia nhập, lợi thế về quy
mô, bản quyền bằng phát minh sáng chế, sở hữu duy nhất yếu tố đầu vào
+ nguồn gốc độc quyền tự nhiên: là hãng độc quyền phát sinh từ những đặc điểm sản
xuất đặc biệt trong một ngành, hãng luôn luôn tạo ra tính kinh tế của quy mô lớn: đặc
trưng sản phẩm, yêu cầu vốn lớn, chi phí chuyển đổi cao Ví dụ minh họa:
+ theo quy định của chính phủ: Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN đang độc quyền trong
phân phối điện trên lãnh thổ Việt Nam- người tự đặt ra giá thu mua điện năng của các nhà
máy thủy điện, nhiệt điện, khí điện đạm kể cả thu mua sản lượng điện từ bên ngoài như Trung Quốc…
+ Tổng công ty Đường sắt Việt Nam vẫn gần như độc quyền toàn bộ ngành đường
sắt. Do quy mô vốn khi gia nhập ngành lớn.
Câu 21: Chu kỳ kinh tế là gì? Các tiêu chí đánh giá các giai đoạn của chu kì kinh tế?
Chu kỳ kinh tế (còn gọi là chu kỳ kinh doanh) là sự biến động của GDP thực tế theo
trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Cũng có quan
điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy
thoái và hưng thịnh (hay mở rộng). Kinh tế chính trị Marx-Lenin cho rằng một chu kỳ
kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn pha là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
Tiêu chí đánh gia các giai đoạn của chu kì kinh tế:
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh
nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo
theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp
theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi
nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi
làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Câu 22: Phân tích mối quan hệ giữa chu kì kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực cho đầu tư?
Nguồn lực ngân sách nhà nước:
+ Chính sách tài khóa thuận chu kì ở nhiều nước đang phát triển: mở rộng khi phục hồi và thắt
chặt khi suy thoái do hiệu ứng tham lam
+ Chính sách nghịch chu kì tại các quốc gia phát triển: mở rộng khi suy thoái và thu hẹp khi phục
hồi Nguồn lực tư nhân:
+ khi nền kinh tế suy thoái:
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến => Việc
này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà
xưởng cũng giảm, cầu về lao động giảm
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi
các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh => Cầu về vốn cũng giảm
+ Khi nền kinh tế hưng thịnh:
Tiêu dùng tăng cao, hàng hóa bán chạy => các nhà sản xuất tăng sản lượng => các doanh
nghiệp mở rộng đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công nghệ, thuê nhiều lao
động hơn, nhiều doanh nghiệp mới gia nhập ngành
Lợi nhuận các doanh nghiệp tăng nhanh chóng, giá cổ phiếu tăng cao => nhu cầu sử dụng vốn tăng cao
Câu 23: Các lý thuyết chu kì kinh tế. Vận dụng đánh giá chu kì kinh tế tại Việt Nam. 1.Định nghĩa:
Chu kì kinh tế (còn được gọi là chu kì kinh doanh) là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự
ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ
yếu nên chu kì kinh tế chỉ gồm 2 pha là suy thoái và hưng thịnh.
2.Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế
-Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của chính sách tiền tệ
và tín dụng. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế năm
1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton Friedman. Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với
cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ 1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa
tới 18% để chống lạm phát.
-Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động
ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốctrong đầu tư tạo ra những
dao động có tính chu kỳ của GDP.
-Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michał Kalecki,... Lý
thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính
sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử.
-Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert Barro,
Thomas Sargent...phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả, tiền lương
đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc
làm. Một trong những phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do
mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
-Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về
năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ.
Vận dụng đánh giá chu kì kinh tế tại Việt Nam:
20 năm đổi mới: ba chu kỳ kinh tế
Nhìn vào số liệu thống kê về tăng trưởng và thất nghiệp ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay có thể
thấy sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ với tần suất từ 9-
10 năm. Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4,9% trong khi
tỷ lệ thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990.
Từ năm 1990, sau khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế và
đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn và bước vào thời kỳ
phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức
cao nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%.
Tuy nhiên, do cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nên nước ta lại nhanh chóng đi vào
thời kỳ suy thoái 1998-1999. Tốc độ tăng trưởng chỉ còn 5,8% năm 1998 và xuống đáy 4,8%
năm 1999. Cũng trong năm 1999, thất nghiệp tăng lên 6,7% và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn ở mức rất cao 28,9%.
Từ năm 2000-2008, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cách mạnh mẽ, đặc biệt
là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dào trong khu vực dân doanh. GDP
liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2%. Tuy
nhiên, để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn 2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình
25%/năm, tín dụng nội địa tăng trên 35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007.
Trong khi đó, có tới 60% lượng tín dụng được dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu
quả khi ICOR ở mức rất cao (9-12) và chỉ có thể tạo việc làm cho khoảng 10% lực lượng lao
động. Theo phân tích về chu kỳ của trường phái kinh tế học Áo (Mises, Hayek), sự dư thừa tín
dụng và phân bổ không hiệu quả này rốt cuộc đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng và buộc thị
trường tín dụng phải điều chỉnh như chúng ta đã chứng kiến trong năm 2008.
Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới cũng là một cú sốc mạnh từ bên ngoài đã
cộng hưởng và nhanh chóng đưa nước ta vào pha suy thoái của chu kỳ. Tăng trưởng GDP giảm
xuống chỉ còn 6,2% năm 2008, thất nghiệp tăng lên 4,6%.
Một số dự báo gần đây cho rằng tăng trưởng GDP năm 2009 có thể chỉ còn khoảng 4% và thất
nghiệp sẽ ở mức rất cao. Một điểm cần lưu ý là các trường phái kinh tế đều không thể thống nhất
về tần suất của các chu kỳ kinh tế. Việt Nam đã ở đáy của chu kỳ trong giai đoạn 1989-1990,
1998-1999 và có thể là 2008-2009 nhưng không phải là đến 2018-2019 chúng ta mới rơi vào thời kỳ suy thoái tiếp theo.
Do đó, nếu vẫn tiếp tục duy ý chí theo đuổi tỷ lệ tăng trưởng cao và nóng vội dùng mọi biện
pháp để đạt mức tăng trưởng đề ra mà không chú trọng đến sự bền vững của tăng trưởng thì thời
kỳ suy thoái tiếp theo có thể sẽ đến sớm hơn và trầm trọng hơn nhiều.
Một số bài học: Từ kinh nghiệm một số nước trong việc vượt qua khủng hoảng chu kỳ chúng ta
có thể rút ra một số bài học cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô như sau:
Thứ nhất, giai đoạn vượt qua suy thoái mang tính chu kỳ luôn là cơ hội tốt để những nước đang
chuyển đổi như Việt Nam đẩy mạnh cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chỗ chủ yếu
dựa vào tăng vốn đầu tư, xuất khẩu tài nguyên chuyển sang tăng trưởng nhờ vào năng lực cạnh
tranh, phát huy lợi thế so sánh...
Thứ hai, đối với một nền kinh tế có độ mở cao như nước ta thì các cú sốc từ bên ngoài sẽ nhanh
chóng tác động tới nền kinh tế trong nước và đẩy chu kỳ kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái.
Cuối tháng 9, đầu tháng 10-2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng tại Mỹ đang ở giai
đoạn khó khăn nhất và đã lan ra nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà hoạch định chính sách và
chuyên gia kinh tế vẫn khẳng định “sẽ không ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế Việt Nam”,
“không ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam” hoặc “không gây quan ngại nhiều đến nền kinh tế Việt
Nam”... một cách rất chủ quan và thiếu căn cứ.
Thứ ba, kỳ vọng (expectations) của người dân và doanh nghiệp là phạm trù của môn tâm lý học
nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế học hiện đại và do đó các nhà
hoạch định chính sách không thể bỏ qua.
Ở các nước phát triển, việc tính toán và theo dõi các chỉ số nói lên kỳ vọng của người dân và
doanh nghiệp như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, chỉ số lòng tin nhà đầu tư, chỉ số lòng tin các
chủ doanh nghiệp... là rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách vĩ mô.
Thứ tư, trong thời kỳ khó khăn của chu kỳ kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được kết
hợp linh hoạt để phục hồi tăng trưởng GDP và tạo việc làm. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ
lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn là cần thiết nhưng cần chú ý không rơi vào bẫy thanh khoản
(liquidity trap) khi lãi suất đã giảm thấp nhưng ngân hàng vẫn không cho vay, doanh nghiệp
không thể tiếp cận tín dụng như trong thời gian qua ở nước ta. Khi đó chính sách tiền tệ sẽ không
còn tác dụng kích thích nền kinh tế.
Nước Mỹ đã áp dụng chính sách lãi suất bằng 0 từ ngày 16-12-2008 nhưng cũng giống như Nhật
Bản trước đây, họ dường như đang mắc kẹt trong chiếc bẫy thanh khoản vô hình và bây giờ việc
khôi phục nền kinh tế chỉ còn biết trông chờ vào các gói kích thích tài khóa khổng lồ của Tổng thống Obama mà thôi.
Đối với chính sách tài khóa, cần tính toán thận trọng hiệu quả và liều lượng của gói kích cầu.
Chính sách kích cầu mà nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đang sử dụng dựa trên quan điểm
Keynes với lập luận cho rằng sẽ tạo ra tác động số nhân (multiplier effect) theo đó khoản chi tiêu
kích cầu của Chính phủ sẽ là thu nhập của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế theo cấp
số nhân, qua đó làm tăng tổng cầu và tăng GDP, tạo việc làm. Không hiểu các giải pháp kích cầu
của chúng ta như giảm thuế giá trị gia tăng, giãn thuế thu nhập cá nhân, bảo lãnh tín dụng hay bù
lãi suất được tính toán với số nhân là bao nhiêu?
Nếu số nhân nhỏ hơn 1 do doanh nghiệp vay bù lãi suất chỉ để đảo nợ, để gửi ăn chênh lệch hoặc
tiền hỗ trợ hộ nghèo lại nằm trong két của các quan tham... thì việc kích cầu chỉ có ý nghĩa về
mặt tâm lý và nên dừng ở mức hiện tại, không nên mở rộng lên 6 tỉ đô la để tránh làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách.
Câu 24: Chính sách tài khóa là gì? Phân tích mục tiêu, công cụ chính sách tài khóa?
Chính sách tài khoá là gì? Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu ngân sách để
tác động vào tổng cầu, qua đó nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt mục tiêu mong muốn.
* Mục tiêu và công cụ của chính sách tài khoá:
- Mục tiêu: Nhằm điều chỉnh sản lượng để đạt đến sản lượng tiềm năng, ổn định kinh tế vĩ mô
- Công cụ: 2 công cụ -> Thuế (T)
-> Chi tiêu ngân sách (G)
Phân loại: Chính sách tài khóa được chia làm 2 loại là chính sách tài khóa mở rộng và chính
sách tài khóa thu hẹp. Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách mà chính phủ sẽ tăng G, tức
tăng chi tiêu chính phủ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu - giảm thuế T sẽ làm tăng thu nhập khả
dụng của các hộ gia đình, từ đó kích thích tiêu dùng tăng theo, làm tăng tổng cầu. Chính sách tài
khóa thu hẹp (chính sách tài khóa thắt chặt) là chính sách mà chính phủ sẽ giảm G, tức giảm chi
mua hàng hóa, dịch vụ - tăng thuế T, làm giảm thu nhập khả dụng, từ đó làm giảm tổng cầu.
Ưu điểm của chính sách tài khóa:
Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi
tiêu G (đầu tư công), giảm thuế T để chống lại. Còn khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát, nhà
nước có thể sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt: giảm chi tiêu G, tăng thuế T để giảm lạm phát.
Nhược điểm của chính sách tài khóa:
+ Chính sách tài khóa mở rộng làm nghiêm trọng hơn tình trạng thâm hụt ngân sách, gia
tăng nợ công. Nhìn bên ngoài, những nỗ lực mở rộng của chính phủ có vẻ chỉ mang lại hiệu
quả tích cực bằng cách kích thích nền kinh tế nhưng hiệu ứng domino kéo theo lại mở rộng
hơn thế nhiều. Khi tốc độ chi tiêu chính phủ nhanh hơn so với thu thuế, nợ sẽ tích lũy quá
nhiều khi phát hành trái phiếu chịu lãi suất để tài trợ cho việc chi tiêu, từ đó dẫn tới gia tăng nợ quốc gia.
+ Chính sách tài khóa làm tăng chi phí vay vốn. Khi chính phủ vay nợ để chi tiêu thông qua
trái phiếu, làm tăng cầu trên thị trường vốn, làm tăng lãi suất vay vốn.
+ Chính sách tài khóa có độ trễ do tác động của độ trễ tự nhiên hoặc do phải trải qua nhiều
khâu chính sách khác nhau. Các công cụ của CSTK a, Chi tiêu công:
- Khái niệm: Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương, chính
quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho
các hoạt động do Chính phủ quản lý. - Cơ chế tác động:
- Đặc điểm: Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của
cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của nhà nước và
cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa
công khổng lồ cho nền kinh tế.
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị,
xã hội mà nhà nước thực hiện
Các khoản chi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã
được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu công này nhằm
đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý phát triển kinh tế - xã hội. Mặt
khác, các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung,
mức độ của các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia
Các khoản chi tiêu công hoàn toàn mang tính công cộng.
Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hàng của chính phủ về mua hàng hóa dịch vụ
nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời đó cũng là những khoản
phải chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ máy quản lý nhà
nước, chi hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tần lớp dân cư...
Các khoản chi tiêu công mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp và thể
hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được
hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công. b. Hệ thống thuế:
- Khái niệm: Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật ( như giao dịch,
tài sản ) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều
tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Cơ chế tác động: Hệ thống thuế hiện hành bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau tác động
lên tất cả các hoạt động kinh tế, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, Chính
phủ hoàn toàn có thể sử dụng công cụ thuế để điều tiết hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp, khuyến khích đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất có lợi cho quốc kê dân sinh, thực
hiện điều tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, bảo hộ và khuyến khích phát triển sản xuất trong nước và tạo điều kiện hàng hóa trong
nước cạnh tranh trên thị trường Thế giới.
Bên cạnh đó cần phải thực hiện tốt công tác quản lý thuế để đàm tăng nguồn thu đáp ứng
chỉ thường xuyên và đáp ứng cân đối NSNN
- Đặc điểm: Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản
thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã
hội dưới hình thức giá trị.
+ Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước.
+ Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế ( GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản
xuất, thu nhập, lãi suất,... ).
+ Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.
+ Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ quan trọng để phân phối lại thu nhập,
góp phần tích cực giam bội chi NSNN, giàm lạm phát góp phần ổn định trật tự hội.
+ Thuế là công cụ quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô : khuyến khích hoặc kìm hãm hoạt
động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế theo từng mục tiêu chung của Đất nước ;
thúc đây tăng cường đầu tư vốn và lành mạnh hóa thị trường.
+ Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ( công bằng - thuế suất).
Câu 25: tác động của chính sách tài khóa tới hoạt động đầu tư. Liên hệ VN?
2.1.Phân tích trên cơ sở kinh tế học
2.1.1. Chính sách TK mở rộng
Chính sách tài khoá mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế có mức sản lượng thấp hơn
sản lượng tiềm năng : Tăng G => IS dịch phải một đoạn ΔY=m.ΔG. Lúc này sản lượng cân bằng
tăng do đó làm tăng cầu tiền để phục vụ mục đích giao dịch. Khi MS tăng -> r tăng, I giảm. Sự
lấn át đầu tư như vậy triệt tiêu một phần ảnh hưởng của chính sách mở rộng tài khoá đối với tổng cầu.
2.2.2. Chính sách TK thắt chặt
Khi chính phủ giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, tổng cầu giảm làm cho sản lượng cân bằng
giảm, điều này dẫn đến cầu tiền tệ cũng giảm. Khi MS giảm -> r giảm -> khuyến khích đầu tư tư
nhân và nhờ đó tổng cầu tăng trở lại.
2.2. Phân tích bằng lí luận thực tiễn
2.1 Tác động của chính sách tài khóa đến quy mô vốn đầu tư toàn xã hội
Chính sách thuế: Nếu chính phủ tăng thu NSNN bằng việc tăng thuế thu nhập doanh
nghiệp của các công ti tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư của khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài (FDI) đó là giảm chính sách
đầu tư đi từ đó quy mô vốn đầu tư giảm
2.2 Tác động của chính sách tài khóa đến môi trường đầu tư
Tăng Chi đầu tư phát triển (đầu tư vào cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, phát triển sản xuất)
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, ổn định tăng trưởng vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội (giao
thông thuận lợi, viễn thông tốt,…) hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước
ngoài. Chính sách thuế thay đổi là yếu tố tác động đến đầu tư.
2.3 Tác động của chính sách tài khóa tác động đến đầu tư của khu vực tư nhân
Đầu tư công mở đường cho đầu tư khu vực tư nhân. Có trường hợp đầu tư công lấn át đầu
tư tư nhân đó là những trường hợp mà chính phủ cần lắm vai trò lớn như đầu tư vào quân sự ,
hay các công trình xã hội,… LIÊN HỆ VN:
Với tình hình khủng hoảng, lãi suất tăng chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất
khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút. Năm 2008 Chính phủ
mở rộng tài khóa với nhiều dự án đầu tư công được thực hiện, chi đầu tư phát triển vượt dự toán
20% (gần 120.000 tỷ đồng). Tuy nhiên đồng vốn sử dụng chưa hiệu quả, hệ số Icor cao lên đến
6.75 năm 2008 và 7.35 năm 2009. Chính phủ đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
và hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế đồng thời giảm chi tiêu chính phủ, giảm bội chi ngân sách
nhà nước. Thắt chặt tài khóa cùng với mức lạm phát cao làm cho tổng vốn đầu tư trong nước
năm 2011 giảm xuống còn gần bằng năm 2009. Trong giai đoạn 2011-2016 đã đem lại thành tựu
đáng kể: Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực gắn với quá trình tái cơ cấu đầu tư công. Vốn đầu
tư công, nhất là đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) và trái phiếu chính phủ (TPCP)
được bố trí tập trung hơn, ưu tiên tập trung cho các công trình dự án quan trọng, cấp thiết, sớm
hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng để phát huy hiệu quả, đã tập trung xử lý nợ đọng xây dựng
cơ bản (XDCB) và thanh toán vốn ứng trước; tăng cường quyền tự chủ, chủ động đi đôi với tăng
cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc phê duyệt dự án đầu tư, lựa chọn danh mục
và phân bổ vốn cho từng dự án cụ thể theo đúng các mục tiêu, định hướng phát triển; phân bổ
vốn đầu tư bảo đảm tính công khai, minh bạch. Tỷ trọng vốn đầu tư trong giai đoạn này luôn
chiếm trên 30% GDP, khả năng hấp thụ vốn khả quan hơn giai đoạn trươc với hệ số ICOR giao
động quanh 5. Cùng với đó tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, tỷ lệ thất nghiệm trong
giai đoạn này giảm đáng kể từ 3,57% năm 2010 xuống còn 1,66% năm 2016. Vốn đầu tư toàn xã
hội tăng, thị trường bất động sản đang phục hồi, giải ngân FDI cao nhất từ trước đến nay, đạt
15,8 tỷ USD và khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng nhất cho xuất khẩu của Việt Nam
với mức xuất siêu 23,7 tỷ USD. Cùng với chính sách tái cơ cầu đầu tư công đẩy mạnh việc thực
hiện chính sách "xã hội hóa" đầu tư trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao
để một mặt tăng thêm nguồn vốn đầu tư đã mang lại nguồn vốn đầu tư tăng mạnh hơn so với các
năm 2014-2016 đồng thời mang lại tăng trưởng kinh tế vượt ngoài dự báo.
Câu 26: Chính sách tiền tệ và các công cụ điều tiết