TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN,
CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE
TIỂU LUẬN
KINH TẾ VI MÔ
LÃI GIẢ - LỖ THẬT
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Đình Hoàng Sơn
Mã sinh viên: 11225630
Lớp: Tài chính doanh nghiệp CLC 64E
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Văn Minh
Mục Lục
Trang
Lời mở đầu 3
Định nghĩa lãi giả lỗ thật
4
Các nguyên nhân dẫn đến lãi giả lỗ thật
+Nguyên nhân khách quan
+ Nguyên nhân chủ quan
+ Nguyên nhân không xác định
Giải pháp
Lời Mở Đầu
Trong hoạt động của doanh nghiệp , các hoạt động kinh
doanh được tổng kết theo các quý , theo năm . Đó báo
cáo tài chinh thường niên theo quý , dựa vào báo cáo
tài chính của một doanh nghiệp chúng ta thể biết phần
nào được hoạt động của doanh nghiệp , tư liệu sản xuất và
dòng tiền của doanh nghiệp . Nhờ báo cáo tài chính ,
các nhà đầu tư hay các ngân hàngthể dựa vào đó để
thể cho vay hay mua cổ phiếu của các doanh nghiệp đó .
Ngoài ra , dựa vào báo cáo tài chính , các ngân hàng
thể đánh giá độ tín nhiệm của các doanh nghiệp để
mức cho vay hợp . Vậy nên những thủ thuật để
thể tang hạn mức tín dụng của doanh nghiệp . Có 2 trường
hợp xảy ra là Lãi giả , Lỗ thật và Lãi thật , Lỗ giả .
Tình huống đặt ra đây một doanh nghiệp sản xuất
bánh kẹo . Doanh nghiệp đó sản xuất 600 gói kẹo trong 1
ngày với hạn sử dụng khá ngắn bởi không sử dụng hóa
chất bảo quản . Trong 1 tháng họ bán được 15000 gói
kẹo , doanh thu tính ra là 120 triệu đồng , nhưng đằng sau
đó còn tiền thuê nhà xưởng , trả lương cho công nhân
số kẹo còn tồn kia sẽ bị bỏ đi tại quá hạn sử dụng .
Vậy thực tế ra công ty đó đang chịu lỗ doanh thu hàng
tháng họ vẫn có .
Đây hiện tượng khá phổ biến trong kinh doanh
hình đó không hiệu quả . Bài tiểu luận này xin được giải
đáp phần nào về hiện tượng này
3
Nội Dung
I.Khái niệm về lãi giả lỗ thật :
Lãi giả lỗ thật: sự khác biệt giữa tính toán kết quả kinh
doanh thực tế (Tính toán không đúng, trên sổ sách là có lời; thực
tế lại bị lỗ -> lãi giả lỗ thật), có thể xảy ra do:
Ý muốn chủ quan, doanh nghiệp chủ ý: Các doanh nghiệp mặc
hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ, không lãi
nhưng cần huy động vốn =>làm báo cáo rằng hoạt động kinh
doanh của mình có sinh lời để thu hút các nhà đầu tư.
Khách quan, vô tình: trường hợp này sẽ được làm rõ trong mục
II. Nguyên nhận
1.Nguyên nhân chủ quan :
1.1 Do sự sai lầm của doanh nghiệp về việc tính lợi
nhuận:
LỢI NHUẬN = TỔNG DOANH THU – TỔNG CHI PHÍ
+Doanh nghiệp trong thời buổi kinh tế khó khan vay vốn để
làm ăn với lãi suất cao từ ngân hàng với một niềm hy vọng
rằng công việc kinh doanh trong tương lai sẽ trở nên tích cực
hơn . Mặc họ vẫn lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm
của mình sau khi trừ đi các chi phí như nhà xưởng hay nhân
công nhưng họ phải trả một mức lãi cao của ngân hàng nên
sau khi quyết toán thì lợi nhuận của họ bị âm .
dụ : Doanh nghiệp A vay vốn ngân hàng 1 tỷ với mức
lãi suất 15% trong thời lạm phát tăng cao với hy vọng
rằng họ sẽ thu lợi nhuận . Sau một thời gian sản xuất buôn
bán và trừ đi các chi phí thì họ lãi 100 triệu nhưng đến kỳ hạn
đóng tiền lãi , họ phải đóng cho ngân hàng 150 triệu lúc
này lợi nhuận của họ là -50 triệu .
1.2 Áp lực t cổ đông s tham lam ca ch doanh nghiệp
muốn lợi dụng o o i chính đ th thu lợi bất chính .
+c c đông khi đầu tc là h đã b 1 phn tài sn vào
ng ty tt nhiên h muốn nhìn thy được li nhuận đ h
th có niềm tin them vào doanh nghip
+Các ch doanh nghiệp muốn m lận o cáo tài chính để
khi trình ra các ngân hàng mun u cu vay vốn thì họ
một độ tín nhim cao có th vay vi một khon tiền cao
n với mt mc i suất thấp hơn hoc h có th hp pháp
việc doanh nghiệp n sàn chng khoán đ thu lợi từ c nhà
đầu tư
+Các nhà đầu tư nh l còn chưa có kinh nghim cũng n
không có các công c h tr tư vấn tài chính th dễ b mc
o cái bẫy của doanh nghip để ri khiến khon đu của
họ b thất thoát .
Điều này xuất phát từ lòng tham cũng như muốn làm hài
lòng những ông lớn tài chính đứng sau hậu thuẫn .
Điều này khá đúng với doanh nghiệp A được nêu trên ví dụ
bởi họ sai lầm trong hướng đi họ tin rằng việc tiếp tục
sản xuất sẽ giúp họ thoát khỏi tình cảnh hiện tại
2.Nguyên nhân khách quan :
2.1 Phân bổ không hợp lí ( chi phí kì này chuyển sang các kì
sau)
- Chi phí sửa chữa lớn, chi phí Tổ chức sự kiện ( các chi phí
mang tính thời vụ)
-Khấu hao máy móc: phân bổ đều không đúng bởi các
máy móc khi mới mua về sẽ hoạt động trơn tru hơn so với
sau khi để một thời gian khi đó năng suất sẽ kém hiệu
quả hơn
2.2 Thiếu các chi phí ẩn ( không phát sinh bằng tiền) –Chi
phí cơ hội
- Chi phí thuê mặt bằng, lương founders
- Chi phí vốn vay ( vốn cá nhân): vốn này nếu không bỏ kinh
doanh thể gửi tiết kiệm sinh lời nhiều hơn =>Việc kinh
doanh thực tế là lỗ
2.3 Bẫy chi phí cố định
Chi phí cố định: doanh số tăng hay giảm thì các chi phí này
cũng giữ nguyên không đổi để thể duy trì hoạt động kinh
doanh ( Chi phí quản lí, chi phí thuê mặt bằng…)Ví dụ:
Xét một đơn vị kinh doanh trong bảng sau:
tháng 1 2 3
Doanh thu 100 50 50
Chi phí biến đổi -30 -15 -15
Chi phí cố định -50 -50 -50
Lợi nhuận 20 -15 -15
Trong tháng 1 ta thấy được doanh nghiệp đang lãi với mức
doanh thu là 100 nhưng sau đó vào tháng 2 tháng 3 thì doanh
thu còn lại chỉ 50 nhưng doanh nghiệp vẫn phải chịu các chi
phí cố định như thế dẫn đến lợi nhuận về sau bị âm .
3.Nhng yếu tố không kim soát được :
Đơn c có th kể ra đó chính là dịch covid -19 hoành nh khiến cho
mọi hoạt động kinh tế bị đình tr nền kinh tế bị suy thi lạm
phát tăng cao , điu này đẩy g của các mt hàng , các vt liệu t
ng cao dn đến si gi l thật của c doanh nghip
Hay mt do nữa đó cnh việc khách ng chm thanh toán . Gi
sử rằng một sản phm khách ng muốn mua g 5 triệu nhưng
người mua tr trước 1,5 triệu đưc người n chp nhận sẽ tr
phần còn lại vào kì hn sau . Khi tính li nhuận thì ngưi n s ghi
o s 5 triệu nhưng dòng tin thực chất ch là 1,5 triu và còn 3,5
triệu kia là một khoản chậm thanh toán .
III . Giải pháp
Cũng như bình thường , vấn đề nào sẽ đi cùng với cách giải
quyết ấy trong trường hợp này cũng như vậy . Bài tiểu luận
xin đề xuất một số phương án giải quyết cho các nguyên nhân
trên .
1.Với nguyên nhân chủ quan :
+Cần một chế tài đủ mạnh để thể răn đe các doanh nghiệp
một cách mạnh mẽ để không bị các thủ thuật của báo cáo qua
mắt.
+Các doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động cần phải soi lại
cách mà họ hoạt động , nếu cần thiết có thể thuê những nhân sự ,
những nhà phân tích tài chính để vạch ra hướng đi ràng cụ
thểhơnnữa .
2.Với nguyên nhân khách quan :
+Việc phân bổ không đồng đều hợp các nguồn lựcdo sự
tác trách của người quản họ cần chịu trách nhiệm một cách
trực tiếp cho các vấn đề này thể yêu cầu các chủ doanh
nghiệp có thể cung cấp cho họ những công cụ ước tính một cách
hợp lí nhất để tính toán rủi ro .
+Tính toán từng đồng cần phải chi tiêu “đồng tiền đi liền
khúc ruột liệu cơm gắp mắm” , vạch ra cho doanh nghiệp
một hướng đi cụ thể và căn cứ vào báo cáo tài chính trug thức đê
quyết định xu hướng kinh doanh
3.Các yếu tố bất ngờ :
Việc covid-19 hay thiên tai điều không ai thể tính toán
được hoàn toàn chúng ta cần có “của để dành” để có thể ứng
phó với các trường hợp bất ngờ xảy đến để doanh nghiệp hoạt
động trơn tru hơn

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ
LÃI GIẢ - LỖ THẬT
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Đình Hoàng Sơn
Mã sinh viên: 11225630
Lớp: Tài chính doanh nghiệp CLC 64E
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Văn Minh Mục Lục Trang Lời mở đầu 3
Định nghĩa lãi giả lỗ thật 4
Các nguyên nhân dẫn đến lãi giả lỗ thật +Nguyên nhân khách quan + Nguyên nhân chủ quan
+ Nguyên nhân không xác định Giải pháp Lời Mở Đầu
Trong hoạt động của doanh nghiệp , các hoạt động kinh
doanh được tổng kết theo các quý , theo năm . Đó là báo
cáo tài chinh thường niên và theo quý , dựa vào báo cáo
tài chính của một doanh nghiệp chúng ta có thể biết phần
nào được hoạt động của doanh nghiệp , tư liệu sản xuất và
dòng tiền của doanh nghiệp . Nhờ có báo cáo tài chính ,
các nhà đầu tư hay các ngân hàng có thể dựa vào đó để có
thể cho vay hay mua cổ phiếu của các doanh nghiệp đó .
Ngoài ra , dựa vào báo cáo tài chính , các ngân hàng có
thể đánh giá độ tín nhiệm của các doanh nghiệp để có
mức cho vay hợp lí . Vậy nên có những thủ thuật để có
thể tang hạn mức tín dụng của doanh nghiệp . Có 2 trường
hợp xảy ra là Lãi giả , Lỗ thật và Lãi thật , Lỗ giả .
Tình huống đặt ra ở đây là một doanh nghiệp sản xuất
bánh kẹo . Doanh nghiệp đó sản xuất 600 gói kẹo trong 1
ngày với hạn sử dụng khá ngắn bởi không sử dụng hóa
chất bảo quản . Trong 1 tháng họ bán được 15000 gói
kẹo , doanh thu tính ra là 120 triệu đồng , nhưng đằng sau
đó còn tiền thuê nhà xưởng , trả lương cho công nhân và
số kẹo còn tồn dư kia sẽ bị bỏ đi tại quá hạn sử dụng .
Vậy thực tế ra công ty đó đang chịu lỗ dù doanh thu hàng tháng họ vẫn có .
Đây là hiện tượng khá phổ biến trong kinh doanh mà mô
hình đó không hiệu quả . Bài tiểu luận này xin được giải
đáp phần nào về hiện tượng này 3 Nội Dung
I.Khái niệm về lãi giả lỗ thật :
Lãi giả lỗ thật: Có sự khác biệt giữa tính toán và kết quả kinh
doanh thực tế (Tính toán không đúng, trên sổ sách là có lời; thực
tế lại bị lỗ -> lãi giả lỗ thật), có thể xảy ra do:
Ý muốn chủ quan, doanh nghiệp chủ ý: Các doanh nghiệp mặc
dù có hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ, không có lãi
nhưng cần huy động vốn =>làm báo cáo rằng hoạt động kinh
doanh của mình có sinh lời để thu hút các nhà đầu tư.
Khách quan, vô tình: trường hợp này sẽ được làm rõ trong mục II. Nguyên nhận 1.Nguyên nhân chủ quan :
1.1 Do sự sai lầm của doanh nghiệp về việc tính lợi nhuận:
LỢI NHUẬN = TỔNG DOANH THU – TỔNG CHI PHÍ
+Doanh nghiệp trong thời buổi kinh tế khó khan vay vốn để
làm ăn với lãi suất cao từ ngân hàng với một niềm hy vọng
rằng công việc kinh doanh trong tương lai sẽ trở nên tích cực
hơn . Mặc dù họ vẫn có lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm
của mình sau khi trừ đi các chi phí như nhà xưởng hay nhân
công nhưng họ phải trả một mức lãi cao của ngân hàng nên
sau khi quyết toán thì lợi nhuận của họ bị âm .
Ví dụ : Doanh nghiệp A vay vốn ngân hàng là 1 tỷ với mức
lãi suất là 15% trong thời kì lạm phát tăng cao với hy vọng
rằng họ sẽ thu lợi nhuận . Sau một thời gian sản xuất và buôn
bán và trừ đi các chi phí thì họ lãi 100 triệu nhưng đến kỳ hạn
đóng tiền lãi , họ phải đóng cho ngân hàng là 150 triệu và lúc
này lợi nhuận của họ là -50 triệu .
1.2 Áp lực từ cổ đông và sự tham lam của chủ doanh nghiệp
muốn lợi dụng báo cáo tài chính để có thể thu lợi bất chính .
+Các cổ đông khi đầu tư tức là họ đã bỏ 1 phần tài sản vào
công ty và tất nhiên họ muốn nhìn thấy được lợi nhuận để họ
có thể có niềm tin them vào doanh nghiệp
+Các chủ doanh nghiệp muốn làm lận báo cáo tài chính để
khi trình ra các ngân hàng muốn yêu cầu vay vốn thì họ có
một độ tín nhiệm cao và có thể vay với một khoản tiền cao
hơn với một mức lãi suất thấp hơn hoặc họ có thể hợp pháp
việc doanh nghiệp lên sàn chứng khoán để thu lợi từ các nhà đầu tư
+Các nhà đầu tư nhỏ lẻ còn chưa có kinh nghiệm cũng như
không có các công cụ hỗ trợ tư vấn tài chính có thể dễ bị mắc
vào cái bẫy của doanh nghiệp để rồi khiến khoản đầu tư của họ bị thất thoát .
Điều này xuất phát từ lòng tham cũng như muốn làm hài
lòng những ông lớn tài chính đứng sau hậu thuẫn .
Điều này khá đúng với doanh nghiệp A được nêu trên ví dụ
bởi họ sai lầm trong hướng đi và họ tin rằng việc tiếp tục
sản xuất sẽ giúp họ thoát khỏi tình cảnh hiện tại
2.Nguyên nhân khách quan :
2.1 Phân bổ không hợp lí ( chi phí kì này chuyển sang các kì sau)
- Chi phí sửa chữa lớn, chi phí Tổ chức sự kiện ( các chi phí mang tính thời vụ)
-Khấu hao máy móc: phân bổ đều là không đúng bởi vì các
máy móc khi mới mua về sẽ hoạt động trơn tru hơn so với
sau khi để một thời gian và khi đó năng suất sẽ kém hiệu quả hơn
2.2 Thiếu các chi phí ẩn ( không phát sinh bằng tiền) –Chi phí cơ hội
- Chi phí thuê mặt bằng, lương founders
- Chi phí vốn vay ( vốn cá nhân): vốn này nếu không bỏ kinh
doanh có thể gửi tiết kiệm sinh lời nhiều hơn =>Việc kinh
doanh thực tế là lỗ
2.3 Bẫy chi phí cố định
Chi phí cố định: doanh số tăng hay giảm thì các chi phí này
cũng giữ nguyên không đổi để có thể duy trì hoạt động kinh
doanh ( Ví dụ: Chi phí quản lí, chi phí thuê mặt bằng…)
Xét một đơn vị kinh doanh trong bảng sau: tháng 1 2 3 Doanh thu 100 50 50 Chi phí biến đổi -30 -15 -15 Chi phí cố định -50 -50 -50 Lợi nhuận 20 -15 -15
Trong tháng 1 ta thấy được doanh nghiệp đang có lãi với mức
doanh thu là 100 nhưng sau đó vào tháng 2 và tháng 3 thì doanh
thu còn lại chỉ là 50 nhưng doanh nghiệp vẫn phải chịu các chi
phí cố định như thế dẫn đến lợi nhuận về sau bị âm .
3.Những yếu tố không kiểm soát được :
Đơn cử có thể kể ra đó chính là dịch covid -19 hoành hành khiến cho
mọi hoạt động kinh tế bị đình trệ và nền kinh tế bị suy thoái và lạm
phát tăng cao , điều này đẩy giá của các mặt hàng , các vật liệu thô
tăng cao dẫn đến sự lãi giả lỗ thật của các doanh nghiệp
Hay một lí do nữa đó chính là việc khách hàng chậm thanh toán . Giả
sử rằng một sản phẩm khách hàng muốn mua có giá 5 triệu nhưng
người mua trả trước là 1,5 triệu và được người bán chấp nhận sẽ trả
phần còn lại vào kì hạn sau . Khi tính lợi nhuận thì người bán sẽ ghi
vào sổ là 5 triệu nhưng dòng tiền thực chất chỉ là 1,5 triệu và còn 3,5
triệu kia là một khoản chậm thanh toán . III . Giải pháp
Cũng như bình thường , vấn đề nào sẽ đi cùng với cách giải
quyết ấy và trong trường hợp này cũng như vậy . Bài tiểu luận
xin đề xuất một số phương án giải quyết cho các nguyên nhân trên .
1.Với nguyên nhân chủ quan :
+Cần có một chế tài đủ mạnh để có thể răn đe các doanh nghiệp
một cách mạnh mẽ để không bị các thủ thuật của báo cáo qua mắt.
+Các doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động cần phải soi lại
cách mà họ hoạt động , nếu cần thiết có thể thuê những nhân sự ,
những nhà phân tích tài chính để vạch ra hướng đi rõ ràng và cụ thểhơnnữa .
2.Với nguyên nhân khách quan :
+Việc phân bổ không đồng đều có hợp lí các nguồn lực là do sự
tác trách của người quản lí và họ cần chịu trách nhiệm một cách
trực tiếp cho các vấn đề này và có thể yêu cầu các chủ doanh
nghiệp có thể cung cấp cho họ những công cụ ước tính một cách
hợp lí nhất để tính toán rủi ro .
+Tính toán từng đồng mà cần phải chi tiêu “đồng tiền đi liền
khúc ruột “ và “ liệu cơm gắp mắm” , vạch ra cho doanh nghiệp
một hướng đi cụ thể và căn cứ vào báo cáo tài chính trug thức đê quyết định xu hướng kinh doanh
3.Các yếu tố bất ngờ :
Việc covid-19 hay thiên tai là điều không ai có thể tính toán
được hoàn toàn mà chúng ta cần có “của để dành” để có thể ứng
phó với các trường hợp bất ngờ xảy đến để doanh nghiệp hoạt động trơn tru hơn