CHƯƠNG 1
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945)
Câu 1: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con
đường cách mạng vô sản? Trả lời:
- Do tác động của bối cảnh thời đại.
+ CNTB đã chuyển hẳn sang CNĐQ trong lòng nó tồn tại những mâu thuẫn gay
gắt… --> yêu cầu bức thiết cần phải tìm ra con đg giải phóng dân tốc
+ Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện
thực và được truyền bá khắp nơi... dẫn đến sự ra đời của các Đảng cộng sản và Quốc tế Cộng sản...
=> Thời đại đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu lý luận và thực tiễn để lựa chọn
con đường cứu nước đúng đắn.
Xuất phát từ yêu cầu của cách mạng Việt Nam: Phong trào cách mạng Việt Nam
diễn ra sôi nổi, liên tục, sử dụng nhiều vũ khí tư tưởng khác nhau nhưng kết quả đều thất bại.
Thứ nhất, con đường cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đã thất bại. Điển hình là
năm 1897, phong trào Cần Vương thất bại chấm dứt thời kỳ đấu tranh dưới sự lãnh đạo
của tầng lớp sĩ phu mang đậm tư tưởng Nho giáo. Đến thế kỷ XX, cầm vũ khí đánh Pháp
tương đối quy mô chỉ còn có Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế. Dù rất kiên cường nhưng
ngọn cờ phong kiến với chủ trương yêu nước chống pháp bảo vệ chế độ phong kiến lúc
đó không còn đủ sức để tập hợp 1 cách rộng rãi các tầng lớp nông dân công nhân.
. Con đường cứu nước theo hệ ý thức tư sản cũng thể hiện sự bất lực trước những
nhiệm vụ lịch sử. Ngọn cờ tiên phong được “Duy tân hội” phất lên đó là vào đầu thế kỷ
XX với tư tưởng: phải duy tân, không duy tân thì không quang phục được. Và chỉ có một
con đường duy tân sang Nhật học hỏi (Đông du) cũng chính là đi cầu viện. Điều này
không khác nào là “đuổi hùm cửa trước rước sói” cửa sau. Kết quả là Phan Bội Châu
nhận ra rằng: “đồng văn đồng chủng” không bằng “đồng bệnh”, tư tưởng chủng tộc lùi
bước trước tư tưởng dân tộc. Trái ngược với đường lối của Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh chủ trương cách mạng theo đường lối ôn hoà. Tư tưởng cốt lõi là “ỷ Pháp cầu tiến
bộ”, dựa vào Pháp mà đi lên. Song dù có bạo động hay bất bạo động, dù theo đường lối
của Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh thì kết quả cuối cùng đều bị thực dân Pháp phá
hoại, bắt giam những người lãnh tụ hoặc tìm mọi cách ly khai họ ra khỏi phong trào và lợi dụng tư tưởng cũ
Nguyễn Ái Quốc xuất thân trong một gia đình nhà Nho nhưng không bị ràng buộc
bởi tư tưởng trung quân; đồng thời với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên các bận tiền
bối đương thời, không bị ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến, NAQ đã nhạy bén nhận ra
con đường cứu nước mới.
Người lựa chọn CMVS vì tính đúng đắn của nó đối với nước thuộc địa, là con
đường phù hợp hoàn cảnh cụ thể của nước ta khi đó. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong
cuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc là việc Người đọc được bản “Sơ thảo luận cương
về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Với sự kiện này,
lần đầu tiên Nguyễn ái Quốc tìm thấy và đến với con đường cách mạng vô sản. Trên
đường đi tìm chân lý cho dân tộc, Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin từ
một phương diện hết sức thực tế: chỉ có chủ nghĩa cộng sản, con đường cách mạng vô sản
mới có thể chỉ ra con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc và đồng thời thực
hiện được ba cuộc giải phóng vốn là ước mơ từ lâu của nhân loại là giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Mặc khác, con đường CMVS đã có tiền lệ, chính con đường CMVS đã đưa đến
thắng lợi CMT10 Nga năm 1917, đánh đổ CNTB ở Nga và lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng TG, thành quả CM đã đưa nhân dân lao động và công nhân lên nắm chính quyền.
Con được CMVS k còn là lý thuyết mà đã trở thành hiện thức ở đất nước Nga rộng lớn,
ai dám nói nó sẽ không thể thực thi ở VN.
Vì vậy NAQ đã lựa chọn con đg CMVS làm con đường cứu nước
Câu 2: Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử? Trả lời:
V.I. Lênin đã từng tuyên bố: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách
mạng, chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga”. Tổ chức những người cách mạng mà Lê-nin nói
đến đó là “một đảng kiểu mới, thực sự cách mạng và thực sự cộng sản" – đó là Đảng Cộng sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình vận động hoàn toàn
khách quan, hợp quy luật của lịch sử. Sau khi thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm
lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta đã biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến
độc lập có chủ quyền thành xã hội thực dân nửa phong kiến. Chính sách của Thực dân
Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả khía cạnh, bao gồm cả kinh tế, chính trị và văn hóa-
xã hội. Chính những chính sách cai trị này đã tạo nên sự chuyển biến của xã hội Việt
Nam, trong đó là có sự chuyển biến của mâu thuẫn xã hội: xuất hiện mâu thuẫn mới (cơ
bản chủ yếu) giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn cũ vẫn tồn
tại giữa địa chủ phong kiến phản động với đại quần chúng nông dân. Có mâu thuẫn tất
yếu sẽ được giải quyết bằng đấu tranh. Lịch sử đặt ra yêu cầu phải tìm được một
đường lối cứu nước đúng đắn nhằm đánh đổ ách áp bức giành độc lập tự do cho
nhân dân. Và khi đã tìm được con đường cứu nước là chủ nghĩa cộng sản thì nhất thiết
phải có một chính đảng lãnh đạo. Nhưng chính đảng ở đây phải là duy nhất. Bởi vậy
khi 3 tổ chức Cộng sản tồn tại và hoạt động riêng rẽ làm cho lực lượng và sức mạnh của
phong trào cách mạng bị phân tán thì với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản
Nguyễn Ái Quốc tổ chức hội nghị quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một tổ
chức duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước: Cuộc
đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc tuy diễn ra liên tục mạnh
mẽ: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến (phong trào Cần Vương (1885-
1896) do vua Hàm Nghi và Thượng thư Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, đỉnh cao là khởi nghĩa
Hương Khê của Phan Đình Phùng, phong trào của Hoàng Hoa Thám,…) hay phong trào
yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Nguyễn Thái Học,… Thế nhưng các phong trào đều lần lượt bị thất bại vì đã không đáp
ứng được những yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Phong trào yêu
nước theo khuynh hướng phong kiến không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất
để tạo thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuối cùng cũng bị thực dân Pháp
đàn áp. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu thì
chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Chủ trương cải cách chấn hưng
đất nước của Phan Châu Trinh thì lại “đã đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng cải
tử hoàn sinh cho nước Nam”, vì vậy nó mang tính cải lương. Tất cả đều thiếu đường lối
chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội;
chưa có một tổ chức đảng chân chính vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn
dân tộc, lực lượng tham gia còn nhỏ lẻ; chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích
hợp để đánh đổ kẻ thù. Trong khi phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị khác
nhau đang bế tắc về đường lối thì khuynh hướng vô sản thắng thế, Đảng Cộng sản ra
đời để giải quyết sự khủng hoảng này. Chính vì vậy sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam là quy luật tất yếu, là lựa chọn của lịch sử, phù hợp với tình hình đất nước
Câu 3: Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
Cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc,
tính giai cấp và tính nhân văn? Trả lời:
Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là Cương lĩnh đúng đắn và
sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân văn
được thể hiện trong nội dung bản cương lĩnh:
Cương lĩnh xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
“Phương hướng … xác định lực lượng đồng minh quốc tế.” – Giáo trình trang 12-13.
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận
điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự
chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu
của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai
tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường
lối chiến lược và sách của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách
mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến
lược và sách lược đã đề ra.
Như vậy, trước yêu cầu của lịch sử cách mạng Việt Nam cần phải thống nhất các tổ chức
cộng sản trong nước, chấm dứt sự chia rẽ bất lợi cho cách mạng, với uy tín chính trị và
phương thức hợp nhất phù hợp, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì hợp nhất
các tổ chức cộng sản. Những văn kiện được thông qua trong Hội nghị hợp nhất dù “vắt
tắt”, nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạng Việt
Nam, đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới. Đây là một cương lĩnh đúng đắn
và sáng tạo, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân văn.
Câu 4: Vai trò, lãnh đạp của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc 1930-1945.
Trả lời: (Theo Tạp chí Cộng sản)
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931
Cao trào cách mạng 1930-1931 không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả tất
yếu của các điều kiện khách quan và chủ quan trong đời sống xã hội của nước ta lúc đó.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã thúc đẩy thực dân Pháp tăng cường cấu kết với
thế lực phong kiến thuộc địa ra sức bóc lột nhân dân Việt Nam và đẩy đời sống của toàn
thể nhân dân lâm vào tình trạng cùng cực; buộc nhân dân ta vùng dậy đấu tranh chống
bọn thực dân đế quốc và phong kiến thuộc địa. Đảng ra đời là nhân tố quyết định và là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết
Nghệ Tĩnh. Cao trào cách mạng 1930-1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng
Việt Nam để tiến tới giành chính quyền trên cả nước.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo cao trào dân chủ Đông Dương 1936-1939
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.