Lịch sử Đảng giai đoạn 1960–1968: Xây dựng hậu phương
đấu tranh giải phóng miền Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần III của Đảng (9/1960)
Sau hơn một thập kỷ lãnh đạo đất nước kháng chiến và kiến
quốc,Đảng tổ chức Đại hội lần III vào tháng 9/1960. Tại đại hội
này, Đảng khẳng định mục tiêu chiến lược là “xây dựng CNXH
miền Bắc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”.
Đường lối chung được hoạch định rõ: miền Bắc tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa, giữ vững hậu phương lớn; miền Nam tiếp
tục đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giành
chính quyền. Mục tiêu chiến lược chung là giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Theo đường lối của Đảng, miền Bắc xã hội
chủ nghĩa trở thành chỗ dựa chính yếu, đóng vai trò “quyết định
nhất” trong việc xây dựng tiềm lực, lực lượng, hậu thuẫn cho cách
mạng toàn quốc, trong khi miền Nam nắm vai trò quyết định trực
tiếp trên chiến trường với phong trào đấu tranh sôi nổi. Nhờ vậy,
đến cuối 1960, Đảng đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược: giương
cao ngọn cờ Độc lập – Dân tộc và XHCN, biến hai mục tiêu lớn
thành hai mũi tiến công kiên định của cách mạng Việt Nam. Đại
hội III từ đó là mốc quan trọng, gắn kết mục tiêu giải phóng miền
Nam với xây dựng CNXH ở hậu phương, tạo tiền đề cho những
bước phát triển mới của cả nước.
Xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc (1961–1965)
Ngay sau Đại hội III, miền Bắc bước vào giai đoạn kiến thiết XHCN
thông qua Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961–1965).
Trọng tâm là xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật ban đầu của
CNXH, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và nông nghiệp, hoàn
thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, đồng thời
phát triển công nghiệp nhẹ và thúc đẩy văn hóa – kỹ thuật. Mục
tiêu là “xây dựng bước đầu sở vật chất kỹ thuật của CNXH,
thực hiện một bước công nghiệp hóa XHCN hoàn thành công
cuộc cải tạo XHCN… tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên CNXH”. Các phong trào thi đua sôi nổi được
phát động trên mọi mặt trận: điển hình là phong trào nông nghiệp
“Gió Đại Phong” ở Quảng Bình, lan rộng khắp miền Bắc. Trong
công nghiệp, có phong trào thi đua với Nhà máy cơ khí Duyên Hải
(Hải Phòng) và “Sóng Duyên Hải”. Ngành quân đội phát động
phong trào “Ba nhất” từ 1960 để nâng cao chất lượng huấn
luyện và chiến đấu. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động
phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai, miền Nam ruột
thịt” vào đầu năm 1964. Khẩu hiệu này nhanh chóng lan tỏa
khắp hậu phương, khích lệ người dân và công nhân vượt mọi khó
khăn tăng gia sản xuất, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh
thắng giặc Mỹ”. Từ phong trào này, hàng trăm ngàn công nhân và
nông dân đã đăng ký vượt mức kế hoạch, tạo nên “nguồn sức
mạnh vật chất và tinh thần to lớn” hỗ trợ miền Nam.
Kết quả, đến năm 1964 hầu hết mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5
năm đã hoàn thành: công nghiệp nặng và nông nghiệp phát triển
đáng kể, cải tạo XHCN cơ bản hoàn tất, đời sống vật chất – tinh
thần nhân dân cải thiện. Nền kinh tế kế hoạch hóa bắt đầu vận
hành, quốc phòng được củng cố. Nhờ đó, miền Bắc trở thành hậu
phương vững chắc của cách mạng cả nước.
Miền Bắc chi viện cho miền Nam
Trong giai đoạn 1961–1965, miền Bắc tích cực chi viện cho cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam trên mọi phương diện. Tuyến
đường Hồ Chí Minh trên bộ (Đường Trường Sơn) và “tàu không số”
trên biển trở thành huyết mạch chiến lược. Những con tàu
không số của Hải quân Nhân dân Việt Nam xuyên thủng bao
vòng vây, chở hàng vạn tấn vũ khí, trang thiết bị cùng hàng nghìn
lượt cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.
Nỗ lực chi viện được thể hiện rõ qua con số thống kê: đến năm
1965, số cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam
tăng gấp 9 lần so với năm 1961, và lượng vật chất chi viện tăng
gấp 10 lần. Các tuyến vận chuyển Trường Sơn – Biển Đông đã trở
thành “tuyến vận tải chiến lược” đảm bảo lực lượng và vũ khí
thường xuyên cho tiền tuyến miền Nam. Như vậy, miền Bắc với
hậu phương giàu mạnh đã trực tiếp hỗ trợ cuộc kháng chiến ở
miền Nam, tạo điều kiện then chốt cho phong trào giải phóng
miền Nam từng bước phát triển và giành thắng lợi.
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965–1968)
Sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam,
tháng 3/1965 Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng lực lượng đồng minh vào miền
Nam, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, nhằm tìm diệt lực lượng
chủ lực cách mạng, giành thế chủ động và buộc ta phải đàm phán
trong thế yếu. Về quân sự, Mỹ mở các chiến dịch càn quét quy mô
và dồn dân vào ấp chiến lược kiểu mới để tách rời quân Giải
phóng khỏi nhân dân. Về chính trị, chúng duy trì chính quyền Sài
Gòn như một “bình phong hợp pháp”, tiến hành chiến tranh tâm
lý xuyên tạc “chống cộng”. Về hậu cần, Mỹ xây dựng hàng loạt
căn cứ, sân bay lớn (Đà Nẵng, Biên Hòa, Căn cứ Cam Ranh…) cho
cuộc chiến tranh lâu dài, viện trợ kinh tế – quân sự mạnh giúp
VNCH trở thành “chiến tranh lớn nhất của Mỹ sau Đệ nhị Thế chiến”.
Tuy nhiên, từ 1965–1968 chiến lược này dần bộc lộ thất bại. Trong
giai đoạn 1965–1966, Quân giải phóng Việt Nam đã kiên cường
đánh trả các cuộc hành quân “tìm diệt” của Mỹ – ngụy. Sang 1967–1968,
dù Mỹ có một số thắng lợi cục bộ, họ hoàn toàn
không thể tiêu diệt được lực lượng cách mạng Việt Nam. Cao trào
là Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đòn đánh
bất ngờ khiến tư tưởng xâm lược của Mỹ bị lung lay dữ dội, làm dư
luận Mỹ sôi sục phản đối cuộc chiến. Kết quả cuối cùng, Mỹ –
ngụy bị thiệt hại nặng nề, xã hội Mỹ lục đục chia rẽ, phong trào
phản chiến lan rộng và buộc phải “xuống thang, tiến tới Việt Nam
hóa chiến tranh”. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” trở thành minh
chứng hùng hồn cho thất bại của chủ nghĩa thực dân kiểu mới
trên đất Việt; dù Mỹ có ưu thế kinh tế và vũ khí, chúng đã không
thể khuất phục được ý chí độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.
Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ là Tổng tiến công
nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu chiến lược của chiến
dịch này là tấn công mạnh vào các đô thị, các trung tâm đầu
não của Mỹ ngụy khắp miền Nam; kích thích phong trào nổi
dậy của nhân dân giành chính quyền và làm lung lay ý chí xâm
lược của địch, buộc chúng phải chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch
được tổ chức thành nhiều đợt liên tiếp. Đợt 1 (Từ đêm 30/1/1968)
mở màn bằng cuộc đồng loạt nổi dậy khắp các tỉnh thành với
trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng. Dù sau 3 tuần
Quân giải phóng chính thức rút khỏi các đô thị, nhưng đòn tấn
công bất ngờ này đã gây chấn động lớn, khiến Bộ chỉ huy Mỹ –
ngụy hoang mang và tổn thất lớn về sinh lực, làm suy sụp tinh
thần địch. Sang Đợt 2 (5/5–15/6/1968), ta tiếp tục tập trung đánh
vào các căn cứ quân sự, đánh chiếm nhiều cứ điểm nhỏ và chống
phản kích. Đợt 3 (17/8–30/9/1968) là cuộc tổng tấn công đợt ba,
đánh gần như khắp miền Nam: 27 tỉnh thành, 100 thị trấn, 107
sân bay, 30 kho hậu cần và 6 bộ tư lệnh Mỹ – ngụ đều bị tấn công
đồng loạt, buộc địch phải đảo lộn thế chiến lược.
Về kết quả quân sự, cuộc Tổng tiến công Mậu Thân tuy gây cho
địch nhiều thương vong và thiệt hại về vật chất, nhưng chính ta
cũng chịu tổn thất đáng kể, và không phải nơi nào quần chúng
cũng dậy sóng giành chính quyền ngay như mong đợi. Dù vậy, về
chính trị và ý nghĩa lịch sử thì Mậu Thân là bước ngoặt quyết
định của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thắng lợi tuy không toàn
vẹn về mặt quân sự song đã “chứng minh ý chí và sức mạnh của
toàn dân tộc Việt Nam”. Nhất là sau Mậu Thân, thế giới và chính
Mỹ rõ ràng nhận thấy không thể tiếp tục cuộc chiến vô thời hạn ở
Việt Nam; Chính phủ Mỹ buộc phải giảm quy mô chiến tranh,
chuyển chiến lược sang Việt Nam hóa và cuối cùng rút quân. Sự
kiện này làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở đường cho thành
công của công cuộc giải phóng miền Nam về sau.
Tiếp đến Bạn tùng sẽ thuyết trình về phần Việt nam hoá chiến tranh