VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH HỒNG PHƢƠNG
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đặng Quang Phƣơng
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GI LUN VĂN
Trnh Hồng Phƣơng
MC LC
M ĐẦU……………………………………………………………………..3
Chƣơng 1. NHNG VẤN ĐỀ LUẬN QUY ĐỊNH CA PHÁP
LUT HÌNH S VIT NAM V TI LỪA ĐẢO CHIỂM ĐOẠT TÀI
SN…………………………………………………………………………...8
1.1. Nhng vấn đềlun v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản………………….8
1.2. Quy định ca pháp lut hình s Vit Nam v ti lừa đảo chiếm đoạt tài
sản…………………………………………………………………………….23
Chƣơng 2. THC TIN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CA PHÁP LUT
HÌNH S V TI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TNH BẮC GIANG………......……………………………………………30
2.1. Nhng yêu cu bảo đảm áp dng đúng pháp luật đối vi ti lừa đo chiếm
đot tài sn …………………………………………………………...............30
2.2. Thc tiễn định ti danh v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn ……………46
2.3. Thc tin quyết định hình pht v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn.........57
2.4. Nguyên nhân ca nhng vi phm, sai lm trong thc tin xét xử……….64
Chƣơng 3. CÁC YÊU CU VÀ GII PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CA PHÁP LUT HÌNH S V TI
LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SN………………………………........66
3.1. Các yêu cu nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy định ca pháp lut hình
s v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn………………………………………....66
3.2. Các gii pháp nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy đnh ca pháp lut
hình s v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản …………………………………...68
KT LUN…………………………………………………………………..75
DANH MC TÀI LIU THAM KHO……………………………...........78
DANH MC CH VIT TT
BCA B Công an
BLHS B lut hình s
BLTTHS B lut T tng hình s
BLDS B lut dân s
BTP B Tư pháp
CTTP Cu thành ti phm
PLHS Pháp lut hình s
TAND Tòa án nhân dân
TNHS Trách nhim hình s
UBTVQH Ủy ban thường v Quc hi
VKSND Vin kim sát nhân dân
XHCN Xã hi ch nghĩa
DANH MC CÁC BNG BIU
S hiu
bng, biu
Tên bng
Trang
2.1
S liu các v án, b cáo nói chung các v án,
b cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sn
46
2.2
Tng s v án s v án lừa đảo chiếm đoạt tài
sn đã xét xử
47
2.3
Tng b cáo b cáo phm ti lừa đảo chiếm
đot tài sản đã xét xử
47
2.4
Hình phạt được áp dụng đối vi ti lừa đo
chiếm đot tài sản trên đa bàn tnh Bc Giang t
năm 2011 đến 2015
58
1
M ĐẦU
1. Tính cp thiết ca đề tài
Tri qua 30 năm thực hin công cuộc đổi mi toàn din ca đất nước
được đ ra t Đại hội Đảng toàn quc ln th VI - 1986, đã làm thay đi mi
mt v đời sng kinh tế - xã hi của đất nước. S chuyển đổi t nn kinh tế tp
trung quan liêu bao cp, sang nn kinh tế th trường định hướng hi ch
nghĩa, s điu tiết của nhà nước đã hình thành nhiều thành phn kinh tế vi
các hình thc s hu khác nhau. Bên cnh nhng thành tu đã đạt được tn
dng tối đa thế mnh ca các thành phn kinh tếcác hình thc s hu, thúc
đẩy nn kinh tế phát trin nhanh, thì cũng bộc l nhiu tiêu cc trong đó s
ng ti phm v s hu đặc biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sn. Thi
gian gần đây, tình hình ti phm lừa đảo chiếm đot tài sn không ngừng tăng
nhanh din biến rt phc tp vi nhiu hình thc, th đon la di ngày
càng đa dạng, tinh vi và xo quyt, nhiu v án lừa đảo quy ln vi giá
tr tài sn b chiếm đoạt ngày càng cao. Trong mt s lĩnh vực ti phm la
đảo chiếm đot tài sn xy ra rt nghiêm trng, n tình hình lừa đảo chiếm
đot tin thuế giá tr gia tăng, lừa đảo người nhu cầu đi lao động c
ngoài, lừa đảo bán hàng đa cp... nhiu v án lừa đo chiếm đoạt tài sn có giá
tr đặc bit ln.th nói ti phm lừa đo chiếm đoạt tài sn đã đang gây
ảnh hưởng rt xấu đến hoạt động sn xuất và đời sng nhân dân, trt t an ninh
hi. Gần đây nht v án Hunh Th Huyền Như đồng phm lừa đo
chiếm đot tài sn hơn bn nghìn t đồng... Việc đấu tranh phòng chng
loi ti phm này gp nhiều khó khăn, bên cnh nguyên nhân khách quan do
điu kin kinh tế hội, môi trường, điu kin sng, thì chính sách pháp lut
hình s còn nhiu hn chế, vic xét x loi ti phm này trong thc tin còn
nhiu sai sót, trong định ti danh và quyết định hình pht, do chưa nhận thc
đúng đắn các quy đnh ca pháp lut, phân bit gia ti lm dng tín dng
2
chiếm đoạt tài sn vi các ti tính cht chiếm đoạt khác. Điu này nh
ng không nh đến công tác đấu tranh phòng, chng loi ti phm y trên
thc tế.
Trên địa bàn tnh Bắc Giang, điều tra, truy t, xét x các ti phm xâm
phạm đến s hu trong thc tin va qua cho thy, loi ti phm lừa đảo chiếm
đot tài sn, luôn chiếm mt s ợng đáng kể trong tng s các ti phm hàng
năm. Vic nghiên cu du hiu pháp ca ti phm lừa đo chiếm đoạt tài
sn nói chung và các biu hin c th ca nó ti tnh Bc Giang nói riêng, để t
đó đ ra nhng bin pháp hoàn thiện các quy định ca BLHS, cũng như nâng
cao hiu qu áp dụng các quy định ca BLHS v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
là rt cn thiết. Vì l đó tác giả đã chọn đ tài “Ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
theo pháp lut hình s Vit Nam t thc tin tnh Bắc Giang” làm luận văn
Thạc sĩ luật hc chính là xut phát t s cn thiết đó.
Cũng cn nói thêm rằng, vì đặt trng tâm nghiên cu ti lừa đảo chiếm
đot tài sn trên một địa bàn c th, nên tác gi không đi sâu nghiên cứu lch
s lp pháp Vit Nam, mà ch nêu mt cách khái quát lch s lp pháp ca loi
ti phm này.
2. Tình hình nghiên cu đề tài
Mc dù nhiu công trình nghiên cu chuyên sâu v ti xâm phm s
hữu nói chung cũng như tội lừa đảo chiếm đot tài sn nói riêng, th k ra
các công trình tiêu biểu đã được công b như: Lun án tiến s lut hc ca
Nguyn Ngọc Chí năm 2000 v “Trách nhiệm hình s đối vi các ti xâm
phm s hu”; Luận văn thạc s lut hc ca Trnh Th Phương Hiền năm
2007 v Ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn - nhng vấn đề lun thc tin”;
Giáo trình “Luật hình s Vit Nam - phn các ti phm” ca GS - TS
Khánh Vinh, ngoài ra còn rt nhiu công trình nghiên cu, bài viết đăng
trên các tp chí lut hc, Vin kim sát, Tòa án, Công an. Các công trình, đề tài
nghiên cu, bài viết nói trên đều đ cập đến mt khía cnh ca ti lừa đảo
3
chiếm đot tài sản nhưng góc độ, phạm vi, địa bàn khác nhau. Chưa có công
trình nghiên cu khoa hc chuyên sâu nào v Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang ới góc độ
thc tin xét x đang là nhu cầu cp thiết hin nay.
Lun văn tập trung nghiên cu: Các du hiu pháp ca ti lừa đảo
chiếm đot tài sn; so sánh s khác bit ca ti phm này vi các ti phm
khác có cùng tính cht; nghiên cu thc trng và kết qu xét x ti phm này
Bắc Giang. Trên cơ sở đó, đề xut các gii pháp nhm sửa đổi b sung B lut
hình s, đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao nhn thc hiu qu áp
dng pháp lut của các quan tiến hành t tng v ti lừa đo chiếm đot tài
sn, nhm gim bt nhng sai sót, thit hi xy ra, đem li nim tin s tin
ng ca mọi người dân nói chung và người dân tnh Bắc Giang nói riêng đối
vi pháp lut.
3. Mục đích và nhiệm v nghiên cu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên sở phân tích, làm nhng vấn đề lun các quy đnh ca
pháp lut v ti lừa đảo chiếm đot tài sn. Soi chiếu các quy định đó vào thực
tiễn định ti danh ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tnh Bc Giang, để
nhn din nhng hn chế, bt cp, t đó đề xuất hướng hoàn thin pháp lut
hình s nhm nâng cao hiu qu trong công tác đấu tranh phòng, chng ti
phạm trên địa bàn tnh Bc Giang nói riêng và loi ti phm này nói chung.
3.2. Nhim v nghiên cu
Để đạt được mục đích nêu trên luận văn cần tp trung thc hin nhng
nhim v sau:
+ Phân tích khái nim các du hiu pháp ca ti lừa đảo chiếm
đot tài sn.
+ Phân bit ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn vi mt s ti phm khác.
4
+ Đánh giá thực trng định ti danh quyết đnh hình phạt đối vi ti
lừa đảo chiếm đot tài sản trên địa bàn tnh Bc Giang, t đó đưa ra các gii
pháp, đề xut hoàn thiện các quy định ca pháp lut.
4. Đối tƣợng và phm vi nghiên cu
4.1. Đối tƣợng nghiên cu
Luận văn lấy các quan đim khoa hc pháp hình sự, các quy định ca
pháp lut hình s (PLHS), thc tiễn định ti danh quyết định hình phạt đối
vi ti lừa đo chiếm đot tài sản trên đa bàn tnh Bc Giang, để nghiên cu
các vấn đề thuc ni dung ca lun văn.
4.2. Phm vi nghiên cu
Đề tài nghiên cu ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ khoa hc
Lut hình s Lut t tng hình s, các s liu phc v nghiên cứu đề tài
đưc tác gi luận văn thu thập thống trên đa bàn tnh Bc Giang trong giai
đon t năm 2011 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cu dựa trên sở phương pháp lun ca ch nghĩa
Mác - Lê nin v ch nghĩa duy vật bin chng và ch nghĩa duy vật lch sử; Tư
ng H Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước v pháp lut.
Để đạt được mc tiêu, nhim v đã đt ra trong quá trình nghiên cu tác
gi s dng các phương pháp nghiên cứu như: Din gii, phân tích, gic, quy
np, thng kê, tng hp, so sánh, kho sát thc tin và ly s liu thc tế chng
minh đảm bo cho luật văn có đầy đủ lut c khoa hc và tính ng dng cao.
6. Ý nghĩa và thc tin ca luận văn
V mt lun: Luận văn công trình khoa học đu tiên nghiên cu
mt cách toàn din, h thống dưới góc độ Lut hình s v “Ti lừa đảo chiếm
đot tài sn trên địa bàn tnh Bc Giang. Luận văn rt hu ích trong vic làm
tài liu dùng trong hc tp và nghiên cu.
5
V mt thc tin: Những đề xut gii pháp nêu trong luận văn s góp
phn nâng cao hiu qu áp dụng các quy định ca B lut hình s Vit Nam v
ti phm nói chung và ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng. Ngoài ra, đề tài
th đưc s dng làm tài liu tham kho cho các lực lượng tham gia phòng,
chng loi ti phm này không nhng tnh Bc Giang, còn th áp
dụng trên địa bàn tnh, thành ph khác có điều kiện tương tự.
7. Cơ cấu ca luận văn
Ngoài phn m đầu, kết lun danh mc tài liu tham kho, ni dung
ca luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định ca pháp lut hình s Vit
Nam v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
Chương 2: Thực tin áp dụng quy định ca pháp lut hình s v ti la
đảo chiếm đoạt tài sn trên đa bàn tnh Bc Giang
Chương 3: Các yêu cầu và gii pháp nâng cao chất lượng áp dụng đúng
quy định ca pháp lut hình s v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
6
Chƣơng 1
NHNG VẤN Đ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CA PHÁP LUT
HÌNH S VIT NAM V TI LỪA ĐO CHIỂM ĐOẠT TÀI SN
1.1. Nhng vấn đề lý lun v ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
1.1.1. Khái nim ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
Để làm khái nim ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn, tác gi đã tiếp cn
i nhiều góc độ khác nhau. ới góc độ chung nht, theo T đin Bách
khoa toàn thư Việt Nam: “Lừa đảo dùng th đon gian dối đánh lừa người
khác để mưu li. Th đon gian di rất đa dạng, nhm giu giếm ni dung sai
s tht (ít, nhiu hoặc hoàn toàn) làm cho người khác tin, nhầm, tưởng gi
thật để chiếm đot tài sn, tin bc, thu li vt cht khác hoc che giu mt
vic làm xu. S lừa đảo được thc hiện trước hoc lin ngay với hành động
chiếm đoạt, th hiện dưới nhiu hình thc khác nhau: nói di, dùng giy t
gi mo, gi danh người có chc, có quyn.”[41].
T định nghĩa trên, lừa đảo có các đặc trưng như th đon gian di, đánh
lừa người khác để u lợi, lừa đảo được thc hiện trước hoc lin sau hành
động chiếm đoạt.
ới góc độ khoa hc pháp hình s, ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
mang các đặc trưng của ti phạm đó : Ti phm hành vi nguy him cho
hội được quy định trong B lut hình sự, do người có năng lực trách nhim
hình s thc hin mt cách c ý...” (Điu 8 BLHS 1999). Ti lừa đo chiếm
đot tài sản được xếp vào nhóm các ti phm xâm phm v s hu nên
còn mang những đặc điểm ca nhóm ti phm này:Các ti xâm phm s hu
nhng hành vi nguy him cho hội được quy định trong B lut hình s,
do người năng lc trách nhim hình s (TNHS) thc hin mt cách c ý
hoc ý, xâm phạm đến quan h s hu tài sn của Nhà nước, t chc và
nhân.”[11, tr4]
7
Lừa đảo chiếm đoạt tài sn tội độc lp ngoài những đặc trưng của
nhóm ti xâm phm s hữu còn có đặc điểm riêng bit:
Điu 139. Ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
1. Người nào bng th đon gian di chiếm đoạt tài sn của người khác
giá tr t hai triệu đồng đến ới năm mươi triệu đng hoặc dưới hai triu
đồng nhưng gây hậu qu nghiêm trng hoặc đã bị x pht hành chính v hành
vi chiếm đoạt hoc đã bị kết án v ti chiếm đoạt tài sản, chưa đưc xoá án
tích mà còn vi phm, thì b pht ci to không giam gi đến ba năm hoc pht
tù t sáu tháng đến ba năm.
T nhng phân tích trên, tác gi đưa ra khái nim ti lừa đảo chiếm đoạt
tài sản dưới góc độlun như sau: “Ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn là hành vi
nguy him cho xã hi, do người có năng lực trách nhim hình s c ý thc hin
bng các th đon gian di nhm chiếm đoạt tài sn của người khác, xâm
phm quan h s hu tài sản được pháp lut hình s bo v.”
1.1.2. Các du hiu pháp lý ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
1.1.2.1 Khách th ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
Khách th ca ti phm nhng quan h hội được lut hình s bo
v b ti phm xâm hi. Bt c ti phạm nào cũng đều xâm hi mt hoc
mt s quan h hi nhất định được lut hình s bo v, bng cách gây thit
hi hoặc đe dọa gây thit hi cho nhng quan h xã hội đó. Trong mối tương
quan vi ti phm nói chung, nhóm ti phm ti phm c th khách th
chung, khách th loi và khách th trc tiếp. Trong đó, khách thể chung ca ti
phạm được hiu là tng hp nhng quan h xã hội được Lut hình s bo v
có th b ti phm xâm hi. Khách th chung được quy đnh tại Điều 1 và Điều
8 BLHS 1999. Khách th loi ca ti phạm được hiu nhóm các quan h
hi cùng hoc gn tính chất được nhóm các quy phm pháp lut hình s bo v
b nhóm các ti phm xâm hi. Khách th loại được quy định tại chương
8
phn các ti phm, mỗi chương được xây dng da trên mt khách th loi.
Khách th trc tiếp ca ti phạm được hiu là quan h xã hi c th, đưc quy
phm pháp lut hình s c th bo v b ti phm c th xâm hi. Mt ti
phm th xâm hi nhiu quan h hi khác nhau, nhưng trong đó chỉ
mt hoc mt s quan h xã hi b xâm hi có tính cht ca khách th trc tiếp.
Khách th trc tiếp da vào cấu thành cơ bản ca mt ti c th.
Khách th ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn quan h s hu, đây vừa
khách th loi va là khách th trc tiếp ca loi ti phạm này. Đặc điểm
này được th hin trong cu thành ca ti lừa đo chiếm đoạt tài sn, nhà làm
luật không quy định thit hi v tính mng, sc khe tình tiết định khung
hình pht. vy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phm ti b
đui bt mà có hành vi chng tr để tu thoát, gây chết người hoặc gây thương
tích hoc gây tn hi cho sc khe của người khác thì tùy từng trường hp c
th người phm ti còn phi b truy cu trách nhim hình s v ti giết
ngưi hoc ti c ý gây thương tích hoặc gây tn hi cho sc khe cho người
khác đưc pháp luật quy định.
Khi nghiên cu khách th ca ti phm, không th không tìm hiểu đối
ợng tác động ca ti phm, mi ti phạm đều xâm phm ti khách th
nhất định thông qua việc tác động đến đối tượng c th. Các b phn cu thành
nên khách th b hành vi phm tội tác động nhm gây thit hi hoặc đe dọa gây
thit hi cho khách th bo v ca lut hình s gọi là đối tượng tác động ca ti
phạm. Đối vi ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn, hành vi phm ti hành vi
chiếm đoạt i sn của người khác bng th đon gian di. Vì vậy đối tượng tác
động ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn tài sản, nhưng không phi mi tài
sản đều th tr thành đối tượng tác động ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn,
để tr thành đối tượng ca ti lừa đo chiếm đot tài sn thì tài sản đó phải
những đặc điểm nhất định, trước hết, tài sản đó phải tài sn ca người khác,
đang s qun lý. Hành vi gian di chiếm đoạt tài sn ca mình, do mình
9
qun lý hoc tài sn không nm trong s qun ca ch tài sản như tài sn b
b quên, đánh rơi, tài sn vô ch hoc tài sn mà ch s hữu đã t b quyn s
hu thì không phi hành vi lừa đo chiếm đot tài sn th cu thành ti
khác như tội chiếm gi trái phép tài sn Điu 141 BLHS 1999.
Tài sản đối ng tác động ca ti lừa đảo chiếm đot tài sn, phải được
th hiện dưới dng vt cht c th th giá tr giá tr s dng. Theo
Điu 163 BLDS năm 2005 thì tài sn bao gm: Tài sn là vt, tin, giy t
giá trquyn tài sn”. Trong đó “Vật”, “tiền” đối tượng tác đng ch yếu
ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn.
Đối vi các tài sản đặc thù pháp luật có quy định riêng như: Tàu bay, tàu
thủy, khí quân dụng, phương tin k thut quân s không đối tượng
tác động ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn, mà nó s đối tượng tác động ca
ti phạm khác như: ti chiếm đot tàu bay, tàu thu Điu 221; ti chế to, tàng
tr, vn chuyn, s dng, mua bán trái phép hoc chiếm đoạt khí quân
dụng, phương tiện k thut quân s Điu 230 BLHS 1999.
Cần lưu ý đối vi tin ch gm tiền VNĐ tiền ngoi t, đối vi các
loại “tiền ảo” như Swisscoin, Bitcoin, Onecoin, Gem coin, IL coin… đưc s
dng trong thanh toán cho các giao dịch thương mại đin t giao dịch đin
t khác theo quy đnh ca Ngân hàng nhà nước Vit Nam các dạng “tiền ảo”
không phi tin t do đó không tài sản theo quy đnh ca pháp lut Vit
Nam, nên đối vi các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tin o, s không b coi
phm ti lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999.
Nghiên cứu đối tượng tác đng ca ti phm ý nghĩa rt quan trng,
trên thc tin ch ra rng, nguyên nhân dẫn đến vic x chưa đúng người
phm tội là do chưa xác định đúng đối tượng tác động ca ti phm.
1.1.2.2 Mt khách quan ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
Mt khách quan ca ti lừa đo chiếm đoạt tài sn biu hin ra bên
ngoài ca ti phm gm: hành vi (khách quan) nguy him cho hi, hu qu
10
nguy him cho xã hi, mi quan h nhân qu gia hành vi khách quan hu
qu nguy him, cũng như nhng biu hiện bên ngoài khác như: công c,
phương tiện, địa điểm, thi gian phm ti…
Biu hin th nht thuc v mt khách quan ca ti phm là hành vi
nguy him cho hi. Hành vi khách quan ca ti phm nhng biu hin
ca con người ra bên ngoài thế gii khách quan, đưc ý thc kim soát và ý
chí điều khin, tính cht nguy him cho xã hội được quy định trong
BLHS. Hành vi khách quan ca ti lừa đo chiếm đoạt tài sn là hành vi chiếm
đot tài sn bng th đon gian di.
Th đon gian dối cũng được th hin bng nhng hành vi c th nhm
đánh lừa ch s hu hoặc người qun lý tài sn, không có th đon thuc v
ởng suy nghĩ của người phm ti lại không được biu hin ra bên ngoài bng
hành vi, cũng chính thế mà lý lun khi phân tích các du hiu khách quan
cu thành ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn, mt s sách, báo viết ti lừa đảo
chiếm đoạt tài sản hai hành vi khách quan: “Hành vi gian di hành vi
chiếm đoạt”. Nói như thế cũng không phải không căn c. Tuy nhiên câu
t của điều luật quy định: “Người nào bng th đon gian di chiếm đot tài
sn của người khác”. Nên không th coi th đon phm ti mt hành vi
khách quan đưc th đoạn chính phương thức đ đạt mục đích biểu
hin th đon gian di li bao gm nhiu hành vi khác nhau, y thuc vào
hoàn cnh c th khác mà người phm ti thc hiện hành vi đó nhằm đánh lừa
ngưi khác. d: A nói di vi B m ca A b m phải đưa đi bnh vin
cp cu, B tin đưa xe máy cho A; nhưng trong một hoàn cnh khác, A
không nói di vi B m ca mình b bnh li nói di với B mượn xe tr
bn gái v rồi đem xe đi cắm ly tin tiêu vặt. Như vậy việc người phm ti có
hành vi c th nào để đánh lừa được người khác ph thuộc vào điều kin,
hoàn cnh c th do người phm ti la chn sao cho ch s hu hoc
ngưi qun lý tài sn tin mà giao tài sản cho người phm ti. Th đon la di
11
thưng gp: li nói di, giy t gi mo, gi danh người chc v, quyn
hn, gi danh các t chức đ kết hợp đồng không ngay thng hoc kết hp
tt c các cách làm nói trên....
Th đon gian di của người phm ti bao gi cũng có trước khi có vic
giao tài sn của người b hại cho người phm ti thì mi hành vi lừa đo
chiếm đot tài sn, nếu th đon gian di lại sau khi người phm ti nhn
đưc tài sn thì không phi hành vi lừa đảo chiếm đot tài sn tùy tng
trường hp c th th đon gian dối đó thể là hành vi che giu ti phm
hoc là hành vi phm tội khác như tội lm dng tín nhim chiếm đoạt tài sn.
Biu hin th hai thuc v mt khách quan ca ti lừa đảo chiếm đoạt
tài sn hu qu nguy him cho hi. Hu qu nguy him ca ti phm
nhng thit hi do hành vi phm ti gây ra cho nhng quan h hi khách
th bo v ca lut hình sự, được th hin thông qua s biến đổi tình trng bình
thưng của đối tượng tác động ca ti phm. Bt k ti phạm nào cũng thể
gây ra nhng hu qu nguy him cho hi, nhưng dấu hiu hu qu ca ti
phạm không đưc phn ánh trong tt c các cu thành ti phm ch đưc phn
ánh trong các ti có cu thành vt cht. Tính cht mức đ ca hu qu đưc
xác định bi tính cht và mc độ biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng
tác động ca ti phm.
Đối vi ti lừa đảo chiếm đot tài sn ti cu thành vt chất do đó
hu qu là yếu t bt buc trong mt khách quan ca ti phm, hu qu nguy
him cho hội được th hin thông qua s biến đổi tình trạng bình thường
ca tài sản đưc gi thit hi v tài sn c th, th hiện dưới dng giá tr tài
sn b chiếm đoạt. Theo quy định ti khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 thì tài sn
b chiếm đot phi giá tr t 2.000.000 đồng mi cu thành ti lừa đo
chiếm đoạt tài sn, còn nếu dưới 2.000.000 đồng phi kèm theo mt s điu
kin cần đủ như: gây hu qu nghiêm trng hoặc đã bị x pht hành chính
v hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án v ti chiếm đot tài sản, chưa được
12
xoá án tích còn vi phm. Da vào mc giá tr tài sn b chiếm đoạt điều
luật đã pn chia thành các khung hình pht ơng ng vi mức độ hu qu đó.
Biu hin th ba thuc mt khách quan ca ti phm mi quan h
nhân qu gia hành vi hu qu nguy him cho hi. Theo nguyên tc ca
Lut hình s Vit Nam: Một người ch phi chu TNHS v hu qu nguy him
cho xã hi do chính hành vi ca h gây ra, tc gia hành vi phm tihu
qu đó mi quan h nhân qu vi nhau. Lut hình s Vit Nam không quy
định thế nào mi quan h nhân quả, nhưng dựa vào cp phm trù nhân - qu
ca phép bin chng duy vt th xác định được mi quan h nhân qu đó là
hành vi nguy him cho hi phải trước, nguyên nhân gây nên hu qu
nguy him cho xã hội; đồng thi hu qu đó chính kết qu ca hành vi nguy
him cho hi. Hu qu xy ra phi b thit hi v tài sn (mt tài sn) đó
chính là kết qu ca hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sn.
1.1.2.3. Ch th ca ti lừa đảo chiếm đot tài sn
Lut hình s Vit Nam quy định ch những người li trong khi thc
hin hành vi nguy him cho hội người đó phải năng lực TNHS và đt
độ tui luật định mi tr thành ch th ca ti phm. Năng lc TNHS kh
năng nhận thức điều khin hành vi của mình theo đòi hỏi ca hội, người
có năng lực TNHS là người khi thc hin hành vi nguy him cho xã hi có kh
năng nhận thức được tính cht nguy him cho xã hi và có kh năng điều khin
được hành vi đó, do đó ch những người năng lc TNHS mi tr thành ch
th ca ti phm. Lut hình s Việt Nam không quy đnh thế nào người
năng lực trách nhim TNHS ch quy định tình trng không có năng lc
TNHS: “Người thc hin hành vi nguy him cho hội trong khi đang mắc
bnh tâm thn hoc mt bnh khác m mt kh năng nhn thc hoc kh
năng điều khin hành vi ca mình, thì không phi chu trách nhim hình s...
Điu 13 BLHS 1999. Như vy th hiểu người năng lực TNHS là người
đạt độ tui nhất định và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS.
13
Điu 12 BLHS 1999 quy định tui chu trách nhim hình s:
“1. Người t đủ 16 tui tr lên phi chu trách nhim hình s v mi ti
phm.
2. Người t đủ 14 tui tr lên, nhưng chưa đủ 16 tui phi chu trách
nhim hình s v ti phm rt nghiêm trng do c ý hoc ti phạm đặc bit
nghiêm trọng.”
Theo khoản 2 Điều 12 ngưi t đủ 14 tui, nhưng chưa đủ 16 tui ch
tr thành ch th ca ti phm, vi ti phm rt nghiêm trng do c ý hoc ti
phạm đặc bit nghiêm trọng. Căn cứ để xác định ti rt nghiêm trng và tội đặc
biệt nghiêm trong căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 “Ti phm ít nghiêm
trng ti phm gây nguy hi không ln cho hi mc cao nht ca
khung hình phạt đối vi ti ấy đến ba năm tù; tội phm nghiêm trng ti
phm gây nguy hi ln cho hi mc cao nht ca khung hình phạt đối
vi ti ấy đến bảy năm tù; tội phm rt nghiêm trng ti phm gây nguy
hi rt ln cho hi mc cao nht ca khung hình pht đối vi ti y
đến mười lăm năm tù; tội phm đặc bit nghiêm trng ti phm gây nguy
hại đặc bit ln cho hi mc cao nht ca khung hình phạt đối vi ti
ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoc tnh.
Theo đó chủ th ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn phi là người có năng
lc trách nhim hình s, c ý thc hin hành vi chiếm đoạt tài sn bng th
đon gian di và t đủ 16 tui tr lên đối với người thc hin hành vi theo quy
định ti khon 1, khon 2 Điều 139 BLHS 1999 và t đủ 14 tuổi đối với người
thc hiện hành vi theo quy định ti khon 3, khoản 4 Điều 139 BLHS 1999.
BLHS 2015 quy định ch th ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn có phm
vi hẹp hơn “… người năng lc trách nhim hình s, c ý thc hin hành
vi chiếm đoạt tài sn bng th đon gian di và t đủ 16 tui tr lên.
Ch th thc hin ti phm bao gm: công dân Việt Nam, người không
quc tịch, người nước ngoài. Đối với người nước ngoài phm ti trên lãnh th
14
c Cng hòa hi ch nghĩa Vit Nam thuộc đối tượng được hưởng các
quyn min tr ngoi giao hoc quyền ưu đãi và miễn tr v lãnh s theo pháp
lut Việt Nam, theo các điều ước quc tế nước Cng hòa hi ch nghĩa
Vit Nam kết hoc tham gia hoc theo tp quán quc tế, thì vấn đề trách
nhim hình s ca h đưc gii quyết bằng con đường ngoi giao”. (khon 2
Điu 5 BLHS 1999).
1.1.2.4. Mt ch quan ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn
Mt ch quan ca ti phm là nhng biu hin tâm bên trong ca ti
phm bao gm: li của người phm ti, mục đích phạm tội, động phạm ti;
trong đó lỗi là yếu t đưc phn ánh trong tt c cu thành ti phm.
Yếu t lỗi được quy đnh tại Điều 8 BLHS 1999 “Ti phm hành vi
nguy him cho hội được quy đnh trong B lut hình sự, do người năng
lc trách nhim hình s thc hin mt cách c ý hoặc ý…”. BLHS không
đưa ra khái niệm thế nào là li mà ch phân loi li c ý và li vô ý. Theo khoa
hc lut hình s Vit Nam li được hiểu thái độ tâm của người phm ti
đối vi hành vi và hu qu nguy him cho xã hi.
V mt hình thc, li gm hai yếu t cu thành đó là yếu t t(th
hin kh năng nhận thc ca ch th) yếu t ý chí (th hin kh năng điều
khin hành vi ca ch th). Căn cứ vào đặc điểm cu trúc tâm ca hai yếu t
đó người ta chia li thành hai loi li c ý li ý. Trong li c ý gm li
c ý trc tiếp “người phm ti nhn thc rõ hành vi ca mình là nguy him cho
hi, thấy trước hu qu của hành vi đó mong muốn hu qu xẩy ra”. Lỗi
c ý gián tiếp “người phm ti nhn thc hành vi ca mình nguy him
cho hi, thấy trước hu qu của hành vi đó thể xy ra, tuy không mong
muốn nhưng vẫn có ý thức để mc cho hu qu xảy ra”. Trong lỗi vô ý gm li
ý do cu th “người phm ti tuy thấy trước hành vi ca mình có th gây ra
hu qu nguy hi cho hội, nhưng cho rằng hu qu đó s không xy ra hoc
th ngăn ngừa được”. Lỗi ý do quá t tin “người phm ti không thy
15
trước hành vi ca mình có th gây ra hu qu nguy hi cho xã hi, mc dù phi
thấy trước và có th thấy trước hu qu đó” (Điu 9, Điu 10 BLHS 1999).
Đối vi ti lừa đảo chiếm đot tài sn, ngưi phm ti thc hin vi li
c ý trc tiếp nghĩa người phm ti nhn thc hành vi ca mình nguy
him cho hi, thấy trước hu qu của hành vi đó th xẩy ra, nhưng vn
có ý thức để mc cho hu qu xy ra.
Mục đích của người phm tội đối vi ti lừa đo chiếm đoạt tài sn
chiếm đoạt được tài sn. Mục đích chiếm đoạt tài sn bao gi cũng trước
khi thc hin th đon gian di. Nếu sau khi tài sn mt cách hp pháp,
ngưi phm ti mới ý định chiếm đoạt tài sn, thì không cu thành ti la
đảo chiếm đoạt tài sn mà tùy từng trường hp c th, người phm ti có th b
truy cu trách nhim hình s vi mt ti danh khác như tội lm dng tín nhim
chiếm đoạt tài sn.
Nghiên cu du hiu pháp ca ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn, ý
nghĩa quan trọng trong vic phân bit ti lừa đo chiếm đot tài sn vi các ti
phm khác cùng du hiu dùng th đon gian dối để phm ti các vi
phm dân s, kinh tế tránh “hình s hóa các mi quan h dân s, kinh tế” đảm
bo việc điều tra, truy t, xét x đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
1.1.3. Phân bit ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn vi mt s ti phm
khác
1.1.3.1. Phân bit ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn vi ti lm dng tín
nhim chiếm đoạt tài sn
Đim ging nhau gia hai ti
- Đều xâm phạm đến khách th là quan h s hu tài sn.
- Mt khách quan ca c hai tội được thc hin bng hành vi chiếm đoạt
tài sn bng th đon gian di. C hai tội được coi hoàn thành t khi chiếm
đoạt được tài sn.
16
- Mt ch quan đưc thc hin vi li c ý trc tiếp. Người phm ti
thấy trước hành vi la đảo hoc hành vi lm dng tín nhim chiếm đoạt tài sn
nguy him cho hi, hành vi ấy đều gây thit hi cho quyn s hu ca
ch tài sản, tuy nhiên ngưi phm tội đều mong mun chiếm đoạt được tài sn
của người khác vi mục đích vụ li.
- Ch th ca ti lừa đo chiếm đoạt tài sn ti lm dng tín nhim
chiếm đoạt tài sn đều bt k người nào, đủ độ tuổi đủ năng lực trách
nhim hình s.
Đim khác nhau gia hai ti
Th đon chiếm đot tài sn ca hai ti này hoàn toàn khác nhau.
Người lừa đảo chiếm đoạt tài sn s dng th đon gian dối gây lòng tin đi
vi ch tài sn, làm ch tài sản tin tưởng người phm ti trao tài sn cho
họ. Để chiếm đoạt được tài sản, người phm ti lừa đảo phi dùng th đon
gian dối trước. Chính th đon gian dối nguyên nhân làm người tài sn
tin tưởng trao tài sản. Người lm dng tín nhim chiếm đot tài sn bng
th đon khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sn, mc s chiếm đot tài
sn tính cht gian dối. Người lm dng tín nhim chiếm đoạt tài sn bng
cách vay, mượn, thuê, hợp đồng vi ch tài sản để ch tài sn giao tài sn cho
ngưi phm ti. H nhận được tài sn t ch tài sn mt cách hp pháp, ngay
thng. Sau khi nhận được tài sản người phm ti mi thc hin hành vi gian
di chiếm đot tài sn y. S gian di chiếm đoạt tài sn xy ra sau khi nhn
đưc tài sn nên lm dng tín nhim chiếm đoạt tài sn bi tín (phn bi
lòng tin) ca chi sn.
1.1.3.2. Phân bit ti lừa đảo chiếm đoạt tài sn vi ti la di khách
hàng
Đim ging nhau gia hai ti
- V mt khách quan, c hai tội đều thc hin hành vi phm ti bng th
đon gian dối để chiếm đoạt tài sn.

Preview text:

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRỊN H HỒNG PHƢƠNG
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60.38.01.04 LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đặng Quang Phƣơng HÀ NỘI, 2016 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trịnh Hồng Phƣơng MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..3
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIỂM ĐOẠT TÀI
SẢN…………………………………………………………………………...8
1.1. Những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản………………….8
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản…………………………………………………………………………….23
Chƣơng 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỂ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG………......……………………………………………30
2.1. Những yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật đối với tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản …………………………………………………………...............30
2.2. Thực tiễn định tội danh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ………………46
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản...…......57
2.4. Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm trong thực tiễn xét xử……….64
Chƣơng 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI
LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN………………………………........66
3.1. Các yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy định của pháp luật hình
sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản………………………………………....66
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng đúng quy định của pháp luật
hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản …………………………………...68
KẾT LUẬN…………………………………………………………………..75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………...........78
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BCA Bộ Công an BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự BLDS Bộ luật dân sự BTP Bộ Tư pháp CTTP Cấu thành tội phạm PLHS Pháp luật hình sự TAND Tòa án nhân dân TNHS Trách nhiệm hình sự
UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội
VKSND Viện kiểm sát nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Số hiệu Tên bảng Trang bảng, biểu
Số liệu các vụ án, bị cáo nói chung và các vụ án, 2.1 46
bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tổng số vụ án và số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài 2.2 47 sản đã xét xử
Tổng bị cáo và bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm 2.3 47
đoạt tài sản đã xét xử
Hình phạt được áp dụng đối với tội lừa đảo 2.4
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ 58 năm 2011 đến 2015 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
được đề ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - 1986, đã làm thay đổi mọi
mặt về đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với
các hình thức sở hữu khác nhau. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được là tận
dụng tối đa thế mạnh của các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, thì cũng bộc lộ nhiều tiêu cực trong đó số
lượng tội phạm về sở hữu đặc biệt là “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời
gian gần đây, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ngừng tăng
nhanh và diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức, thủ đoạn lừa dối ngày
càng đa dạng, tinh vi và xảo quyệt, nhiều vụ án lừa đảo có quy mô lớn với giá
trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng cao. Trong một số lĩnh vực tội phạm lừa
đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra rất nghiêm trọng, như tình hình lừa đảo chiếm
đoạt tiền thuế giá trị gia tăng, lừa đảo người có nhu cầu đi lao động ở nước
ngoài, lừa đảo bán hàng đa cấp... nhiều vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá
trị đặc biệt lớn. Có thể nói tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã và đang gây
ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân, trật tự an ninh
xã hội. Gần đây nhất là vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm lừa đảo
chiếm đoạt tài sản hơn bốn nghìn tỷ đồng... Việc đấu tranh phòng và chống
loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn, bên cạnh nguyên nhân khách quan do
điều kiện kinh tế xã hội, môi trường, điều kiện sống, thì chính sách pháp luật
hình sự còn nhiều hạn chế, việc xét xử loại tội phạm này trong thực tiễn còn
nhiều sai sót, trong định tội danh và quyết định hình phạt, do chưa nhận thức
đúng đắn các quy định của pháp luật, phân biệt giữa tội lạm dụng tín dụng 1
chiếm đoạt tài sản với các tội có tính chất chiếm đoạt khác. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên thực tế.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm xâm
phạm đến sở hữu trong thực tiễn vừa qua cho thấy, loại tội phạm lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, luôn chiếm một số lượng đáng kể trong tổng số các tội phạm hàng
năm. Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài
sản nói chung và các biểu hiện cụ thể của nó tại tỉnh Bắc Giang nói riêng, để từ
đó đề ra những biện pháp hoàn thiện các quy định của BLHS, cũng như nâng
cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
là rất cần thiết. Vì lẽ đó tác giả đã chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” làm luận văn
Thạc sĩ luật học chính là xuất phát từ sự cần thiết đó.
Cũng cần nói thêm rằng, vì đặt trọng tâm nghiên cứu tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trên một địa bàn cụ thể, nên tác giả không đi sâu nghiên cứu lịch
sử lập pháp Việt Nam, mà chỉ nêu một cách khái quát lịch sử lập pháp của loại tội phạm này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội xâm phạm sở
hữu nói chung cũng như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, có thể kể ra
các công trình tiêu biểu đã được công bố như: Luận án tiến sỹ luật học của
Nguyễn Ngọc Chí năm 2000 về “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm
phạm sở hữu”; Luận văn thạc sỹ luật học của Trịnh Thị Phương Hiền năm
2007 về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn”;
Giáo trình “Luật hình sự Việt Nam - phần các tội phạm” của GS - TS Võ
Khánh Vinh, … ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng
trên các tạp chí luật học, Viện kiểm sát, Tòa án, Công an. Các công trình, đề tài
nghiên cứu, bài viết nói trên đều đề cập đến một khía cạnh của tội lừa đảo 2
chiếm đoạt tài sản nhưng ở góc độ, phạm vi, địa bàn khác nhau. Chưa có công
trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” dưới góc độ
thực tiễn xét xử đang là nhu cầu cấp thiết hiện nay.
Luận văn tập trung nghiên cứu: Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản; so sánh sự khác biệt của tội phạm này với các tội phạm
khác có cùng tính chất; nghiên cứu thực trạng và kết quả xét xử tội phạm này ở
Bắc Giang. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi bổ sung Bộ luật
hình sự, đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả áp
dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, nhằm giảm bớt những sai sót, thiệt hại xảy ra, đem lại niềm tin và sự tin
tưởng của mọi người dân nói chung và người dân tỉnh Bắc Giang nói riêng đối với pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định của
pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Soi chiếu các quy định đó vào thực
tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, để
nhận diện những hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật
hình sự nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và loại tội phạm này nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên luận văn cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
+ Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác. 3
+ Đánh giá thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các giải
pháp, đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học pháp lý hình sự, các quy định của
pháp luật hình sự (PLHS), thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối
với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, để nghiên cứu
các vấn đề thuộc nội dung của luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ khoa học
Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, các số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài
được tác giả luận văn thu thập thống kê trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong giai
đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật.
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra trong quá trình nghiên cứu tác
giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Diễn giải, phân tích, lô gic, quy
nạp, thống kê, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn và lấy số liệu thực tế chứng
minh đảm bảo cho luật văn có đầy đủ luật cứ khoa học và tính ứng dụng cao.
6. Ý nghĩa và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu
một cách toàn diện, hệ thống dưới góc độ Luật hình sự về “Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Luận văn rất hữu ích trong việc làm
tài liệu dùng trong học tập và nghiên cứu. 4
Về mặt thực tiễn: Những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về
tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng. Ngoài ra, đề tài
có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lực lượng tham gia phòng,
chống loại tội phạm này không những ở tỉnh Bắc Giang, mà còn có thể áp
dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố khác có điều kiện tương tự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng đúng
quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5 Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIỂM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1. Những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.1.1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Để làm rõ khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tác giả đã tiếp cận
dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ chung nhất, theo Từ điển Bách
khoa toàn thư Việt Nam: “Lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người
khác để mưu lợi. Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, nhằm giấu giếm nội dung sai
sự thật (ít, nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người khác tin, nhầm, tưởng giả là
thật để chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất khác hoặc che giấu một
việc làm xấu. Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành động
chiếm đoạt, nó thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nói dối, dùng giấy tờ
giả mạo, giả danh người có chức, có quyền.”[41].
Từ định nghĩa trên, lừa đảo có các đặc trưng như thủ đoạn gian dối, đánh
lừa người khác để mưu lợi, lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền sau hành động chiếm đoạt.
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
mang các đặc trưng của tội phạm đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý...” (Điều 8 BLHS 1999). Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản được xếp vào nhóm các tội phạm “xâm phạm về sở hữu” nên nó
còn mang những đặc điểm của nhóm tội phạm này:“Các tội xâm phạm sở hữu
là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.”[11, tr4] 6
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội độc lập ngoài những đặc trưng của
nhóm tội xâm phạm sở hữu còn có đặc điểm riêng biệt:
Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác
có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu
đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án
tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản dưới góc độ lý luận như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện
bằng các thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm
phạm quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.”
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.1.2.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại. Bất cứ tội phạm nào cũng đều xâm hại một hoặc
một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ, bằng cách gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó. Trong mối tương
quan với tội phạm nói chung, nhóm tội phạm và tội phạm cụ thể có khách thể
chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong đó, khách thể chung của tội
phạm được hiểu là tổng hợp những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và
có thể bị tội phạm xâm hại. Khách thể chung được quy định tại Điều 1 và Điều
8 BLHS 1999. Khách thể loại của tội phạm được hiểu là nhóm các quan hệ xã
hội cùng hoặc gần tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ
và bị nhóm các tội phạm xâm hại. Khách thể loại được quy định tại chương 7
phần các tội phạm, mỗi chương được xây dựng dựa trên một khách thể loại.
Khách thể trực tiếp của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội cụ thể, được quy
phạm pháp luật hình sự cụ thể bảo vệ và bị tội phạm cụ thể xâm hại. Một tội
phạm có thể xâm hại nhiều quan hệ xã hội khác nhau, nhưng trong đó chỉ có
một hoặc một số quan hệ xã hội bị xâm hại có tính chất của khách thể trực tiếp.
Khách thể trực tiếp dựa vào cấu thành cơ bản của một tội cụ thể.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, đây vừa
là khách thể loại vừa là khách thể trực tiếp của loại tội phạm này. Đặc điểm
này được thể hiện trong cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm
luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung
hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị
đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ
thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết
người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người
khác được pháp luật quy định.
Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm, không thể không tìm hiểu đối
tượng tác động của tội phạm, vì mỗi tội phạm đều xâm phạm tới khách thể
nhất định thông qua việc tác động đến đối tượng cụ thể. Các bộ phận cấu thành
nên khách thể bị hành vi phạm tội tác động nhằm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho khách thể bảo vệ của luật hình sự gọi là đối tượng tác động của tội
phạm. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm tội là hành vi
chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Vì vậy đối tượng tác
động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản, nhưng không phải mọi tài
sản đều có thể trở thành đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
để trở thành đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tài sản đó phải có
những đặc điểm nhất định, trước hết, tài sản đó phải là tài sản của người khác,
đang có sự quản lý. Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của mình, do mình 8
quản lý hoặc tài sản không nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị
bỏ quên, đánh rơi, tài sản vô chủ hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở
hữu thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành tội
khác như tội chiếm giữ trái phép tài sản Điều 141 BLHS 1999.
Tài sản đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải được
thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể có thể có giá trị và giá trị sử dụng. Theo
Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có
giá trị và quyền tài sản”. Trong đó “Vật”, “tiền” là đối tượng tác động chủ yếu
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đối với các tài sản đặc thù pháp luật có quy định riêng như: Tàu bay, tàu
thủy, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự … không là đối tượng
tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà nó sẽ là đối tượng tác động của
tội phạm khác như: tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ Điều 221; tội chế tạo, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân
dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Điều 230 BLHS 1999.
Cần lưu ý là đối với tiền chỉ gồm tiền VNĐ và tiền ngoại tệ, đối với các
loại “tiền ảo” như Swisscoin, Bitcoin, Onecoin, Gem coin, IL coin… được sử
dụng trong thanh toán cho các giao dịch thương mại điện tử và giao dịch điện
tử khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam các dạng “tiền ảo”
không phải là tiền tệ do đó không là tài sản theo quy định của pháp luật Việt
Nam, nên đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền ảo, sẽ không bị coi là
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999.
Nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng,
vì trên thực tiễn chỉ ra rằng, nguyên nhân dẫn đến việc xử lý chưa đúng người
phạm tội là do chưa xác định đúng đối tượng tác động của tội phạm.
1.1.2.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là biểu hiện ra bên
ngoài của tội phạm gồm: hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội, hậu quả 9
nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu
quả nguy hiểm, cũng như những biểu hiện bên ngoài khác như: công cụ,
phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội…
Biểu hiện thứ nhất thuộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Hành vi khách quan của tội phạm là những biểu hiện
của con người ra bên ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát và ý
chí điều khiển, có tính chất nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong
BLHS. Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm
đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối.
Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm
đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư
tưởng suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng
hành vi, cũng chính vì thế mà lý luận khi phân tích các dấu hiệu khách quan
cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một số sách, báo viết tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan: “Hành vi gian dối và hành vi
chiếm đoạt”. Nói như thế cũng không phải là không có căn cứ. Tuy nhiên câu
từ của điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài
sản của người khác”. Nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi
khách quan được vì thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu
hiện thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa
người khác. Ví dụ: A nói dối với B là mẹ của A bị ốm phải đưa đi bệnh viện
cấp cứu, B tin và đưa xe máy cho A; nhưng trong một hoàn cảnh khác, A
không nói dối với B là mẹ của mình bị bệnh mà lại nói dối với B mượn xe trở
bạn gái về rồi đem xe đi cắm lấy tiền tiêu vặt. Như vậy việc người phạm tội có
hành vi cụ thể nào để đánh lừa được người khác là phụ thuộc vào điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể và do người phạm tội lựa chọn sao cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý tài sản tin mà giao tài sản cho người phạm tội. Thủ đoạn lừa dối 10
thường gặp: lời nói dối, giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức vụ, quyền
hạn, giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp
tất cả các cách làm nói trên....
Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi có việc
giao tài sản của người bị hại cho người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận
được tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng
trường hợp cụ thể thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm
hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Biểu hiện thứ hai thuộc về mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản là hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả nguy hiểm của tội phạm là
những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội là khách
thể bảo vệ của luật hình sự, được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình
thường của đối tượng tác động của tội phạm. Bất kỳ tội phạm nào cũng có thể
gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng dấu hiệu hậu quả của tội
phạm không được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm chỉ được phản
ánh trong các tội có cấu thành vật chất. Tính chất và mức độ của hậu quả được
xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng
tác động của tội phạm.
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất do đó
hậu quả là yếu tố bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm, hậu quả nguy
hiểm cho xã hội được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường
của tài sản được gọi là thiệt hại về tài sản cụ thể, thể hiện dưới dạng giá trị tài
sản bị chiếm đoạt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 thì tài sản
bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng mới cấu thành tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, còn nếu dưới 2.000.000 đồng phải kèm theo một số điều
kiện cần và đủ như: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được 11
xoá án tích mà còn vi phạm. Dựa vào mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt điều
luật đã phân chia thành các khung hình phạt tương ứng với mức độ hậu quả đó.
Biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tội phạm là mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Theo nguyên tắc của
Luật hình sự Việt Nam: Một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm
cho xã hội do chính hành vi của họ gây ra, tức là giữa hành vi phạm tội và hậu
quả đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Luật hình sự Việt Nam không quy
định thế nào là mối quan hệ nhân quả, nhưng dựa vào cặp phạm trù nhân - quả
của phép biện chứng duy vật có thể xác định được mối quan hệ nhân quả đó là
hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có trước, là nguyên nhân gây nên hậu quả
nguy hiểm cho xã hội; đồng thời hậu quả đó chính là kết quả của hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Hậu quả xẩy ra là phải bị thiệt hại về tài sản (mất tài sản) đó
chính là kết quả của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
1.1.2.3. Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Luật hình sự Việt Nam quy định chỉ những người có lỗi trong khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và người đó phải có năng lực TNHS và đạt
độ tuổi luật định mới trở thành chủ thể của tội phạm. Năng lực TNHS là khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình theo đòi hỏi của xã hội, người
có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả
năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội và có khả năng điều khiển
được hành vi đó, do đó chỉ những người có năng lực TNHS mới trở thành chủ
thể của tội phạm. Luật hình sự Việt Nam không quy định thế nào là người có
năng lực trách nhiệm TNHS mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực
TNHS: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự...”
Điều 13 BLHS 1999. Như vậy có thể hiểu người có năng lực TNHS là người
đạt độ tuổi nhất định và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS. 12
Điều 12 BLHS 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Theo khoản 2 Điều 12 người từ đủ 14 tuổi, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ
trở thành chủ thể của tội phạm, với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ để xác định tội rất nghiêm trọng và tội đặc
biệt nghiêm trong căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 “Tội phạm ít nghiêm
trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội
phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối
với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy
hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy
hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.
Theo đó chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là người có năng
lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ
đoạn gian dối và từ đủ 16 tuổi trở lên đối với người thực hiện hành vi theo quy
định tại khoản 1, khoản 2 Điều 139 BLHS 1999 và từ đủ 14 tuổi đối với người
thực hiện hành vi theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 139 BLHS 1999.
BLHS 2015 quy định chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có phạm
vi hẹp hơn “… là người có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối và từ đủ 16 tuổi trở lên”.
Chủ thể thực hiện tội phạm bao gồm: công dân Việt Nam, người không
quốc tịch, người nước ngoài. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ 13
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các
quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp
luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách
nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. (khoản 2 Điều 5 BLHS 1999).
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội
phạm bao gồm: lỗi của người phạm tội, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội;
trong đó lỗi là yếu tố được phản ánh trong tất cả cấu thành tội phạm.
Yếu tố lỗi được quy định tại Điều 8 BLHS 1999 “Tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”. BLHS không
đưa ra khái niệm thế nào là lỗi mà chỉ phân loại lỗi cố ý và lỗi vô ý. Theo khoa
học luật hình sự Việt Nam lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội
đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành đó là yếu tố lý trí (thể
hiện khả năng nhận thức của chủ thể) và yếu tố ý chí (thể hiện khả năng điều
khiển hành vi của chủ thể). Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý của hai yếu tố
đó người ta chia lỗi thành hai loại lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong lỗi cố ý gồm lỗi
cố ý trực tiếp “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra”. Lỗi
cố ý gián tiếp “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong
muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”. Trong lỗi vô ý gồm lỗi
vô ý do cẩu thả “người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc
có thể ngăn ngừa được”. Lỗi vô ý do quá tự tin “người phạm tội không thấy 14
trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải
thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó” (Điều 9, Điều 10 BLHS 1999).
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội thực hiện với lỗi
cố ý trực tiếp nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, nhưng vẫn
có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Mục đích của người phạm tội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản bao giờ cũng có trước
khi thực hiện thủ đoạn gian dối. Nếu sau khi có tài sản một cách hợp pháp,
người phạm tội mới có ý định chiếm đoạt tài sản, thì không cấu thành tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị
truy cứu trách nhiệm hình sự với một tội danh khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có ý
nghĩa quan trọng trong việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội
phạm khác cùng có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để phạm tội và các vi
phạm dân sự, kinh tế tránh “hình sự hóa các mối quan hệ dân sự, kinh tế” đảm
bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
1.1.3. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác
1.1.3.1. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điểm giống nhau giữa hai tội
- Đều xâm phạm đến khách thể là quan hệ sở hữu tài sản.
- Mặt khách quan của cả hai tội được thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt
tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Cả hai tội được coi là hoàn thành từ khi chiếm đoạt được tài sản. 15
- Mặt chủ quan được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội
thấy trước hành vi lừa đảo hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
là nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đều gây thiệt hại cho quyền sở hữu của
chủ tài sản, tuy nhiên người phạm tội đều mong muốn chiếm đoạt được tài sản
của người khác với mục đích vụ lợi.
- Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản đều là bất kỳ người nào, đủ độ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Điểm khác nhau giữa hai tội
Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của hai tội này hoàn toàn khác nhau.
Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối
với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho
họ. Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn
gian dối trước. Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm người có tài sản
tin tưởng mà trao tài sản. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng
thủ đoạn khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù sự chiếm đoạt tài
sản có tính chất gian dối. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng
cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản cho
người phạm tội. Họ nhận được tài sản từ chủ tài sản một cách hợp pháp, ngay
thẳng. Sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian
dối chiếm đoạt tài sản ấy. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản xảy ra sau khi nhận
được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín (phản bội
lòng tin) của chủ tài sản.
1.1.3.2. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng
Điểm giống nhau giữa hai tội
- Về mặt khách quan, cả hai tội đều thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ
đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. 16