



















Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG LUẬT HIẾN PHÁP NHÓM 1 NĂM 2024 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên Nhiệm vụ Hoàn thành 1 Trần Thu Hà
Nhóm trưởng – Nội dung so sánh – 100% Thuyết trình 2 Nguyễn Thị Huyền
Nội dung quyền con người – 100% Diệu Thuyết trình 3 Phạm Bạch Dương Powerpoint 100% 4 Vũ Thị Minh Hằng
Nội dung khái niệm – Thuyết trình 100% 5 Nghiêm Thùy Linh Powerpoint 100% 6 Nguyễn Hồng Ngọc
Nội dung chế định, so sánh 100% 7 Đinh Thanh Tâm
Nội dung khái niệm, so sánh 100% 8 Hồ Anh Thư
Nội dung chế định, khái niệm 100% 9 Lê Thanh Phương
Nội dung chế định – Thuyết trình 100% 10 Phạm Thị Thu Trang Powerpoint 100% MỤC LỤC
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT HIẾN PHÁP............................................................3
1.1. Khái niệm.............................................................................................................................3
1.2. Nguồn của Luật Hiến pháp................................................................................................3
2. CÁC CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT HIẾN PHÁP.......................................................4
2.1 Chế định chế độ chính trị....................................................................................................4
2.1.1. Định nghĩa.....................................................................................................................4
2.1.2. Nội dung cơ bản chế độ chính trị ( 8 nội dung )........................................................4
2.2. Chế định chế độ kinh tế......................................................................................................6
2.2.1. Định nghĩa.....................................................................................................................6
2.2.2. Nội dung cơ bản............................................................................................................6
2.3. Chế định văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ............................................................9
2.3.1 Chính sách phát triển nền văn hóa Việt Nam.............................................................9
2.3.2 Chính sách giáo dục và đào tạo..................................................................................11
2.3.3 Chính sách phát triển khoa học, công nghệ..............................................................14
2.4. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân..........................................15 2.4.1
Khái niệm...............................................................................................................15 2.4.2
Nội dung Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân..............16 2.5
Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN.....................................................24 2.5.1
Quốc hội..................................................................................................................25 2.5.2
Chủ tịch nước.........................................................................................................27 2.5.3
Chính phủ...............................................................................................................28
2.5.4 Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân............................................................30
2.5.5 Chính quyền địa phương............................................................................................31
2.5.6 Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước..................................................32
3. KẾT LUẬN...............................................................................................................................33
3.1. Kết luận chung..................................................................................................................33
3.2. So sánh Luật Hiến pháp qua các thời kỳ (1946 - 1959 - 1980 - 1992 - 2013)...............33
3.3 So sánh luật Hiến pháp VN với các nước khác...............................................................48 3
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT HIẾN PHÁP 1.1. Khái niệm
a,Đốitượngđiềuchỉnh.
- Luật Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhất,
gắn liền với chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và
công nghệ, địa vị pháp lý của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp được chia thành các nhóm sau:
Những quan hệ chủ yếu trong lĩnh vực chính trị.
Những quan hệ chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế.
Những quan hệ chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa – xã hội.
Những quan hệ chủ yếu giữa nhà nước và công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Những quan hệ chủ yếu trong quá trình hình thành và hoạt động của bộ máy nhà nước.
b,.PhươngphápđiềuchỉnhcủaLuậtHiếnpháp.
- Luật Hiến pháp tác động đến các quan hệ xã hội thuộc phạm vi đối tượng
điều chỉnh của ngành luật này bằng hai phương pháp.
Phương pháp định hướng: Luật Hiến pháp quy định những nguyên
tắc quan trọng nhằm định hướng cho xử sự của các chủ thể Luật Hiến pháp.
Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam - Điều 3 “Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước thống nhất, có chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng trời, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa" (Điều 3). Quy định này định hướng cho sự
phát triển của đất nước theo hướng thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam - Điều 11 “Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 11). Quy định này định hướng
cho sự phát triển kinh tế của đất nước theo hướng thị trường, nhưng
vẫn bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp mệnh lệnh: là phương pháp điều chỉnh của pháp luật mà
theo đó, quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của chủ thể có quyền lực
nhà nước cao nhất, thể hiện dưới dạng mệnh lệnh, buộc các chủ thể
khác có nghĩa vụ phải thực hiện.
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ
quan quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật. Điều khoản
này thể hiện ý chí của Nhà nước, buộc các công dân Việt Nam phải
thực hiện quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước.
Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người
khác nếu không được người đó đồng ý." Điều khoản này thể hiện ý
chí của Nhà nước, buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác.
c,ĐịnhluậtHiếnpháp
- Luật Hiến Pháp là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản 5
nhất, quan trọng nhất gắn liền với xác định chế độ chính trị, kinh tế, văn
hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, địa vị pháp lý của công dân, tổ
chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.2. Nguồn của Luật Hiến pháp
- Được chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
- Từ văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất như Hiến pháp đến các văn bản
pháp luật khác như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ,
Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân,...và
các văn bản dưới luật khác.
Toàn bộ văn bản pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật hiến
pháp được coi là nguồn của Luật Hiến pháp.
- Kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã
có 05 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013.
Hiến pháp năm 1946: Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày
2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày
03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã xác định việc xây dựng một bản hiến pháp dân chủ là một
trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ.Ngày 20/9/1945, Chính
phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập Ban dự thảo hiến pháp gồm 7
người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11/1945, Ban dự
thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố và lấy ý
kiến của nhân dân. Ngày 2/3/1946, trên cơ sở Ban dự thảo hiến pháp
của Chính phủ, Quốc hội khóa I đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp
gồm 11 người, đại diện cho nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do
Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến tham
gia đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa
ra Quốc hội xem xét, thông qua. Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ hai
Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với
240 phiếu thuận, 2 phiếu chống đã đánh dấu sự cáo chung của nền
thống trị ngoại bang, tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ Bắc đến
Nam, theo chế độ dân chủ nhân dân, quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai
cấp, tôn giáo; các quyền tự do dân chủ được đảm bảo…Tuy nhiên, do
hoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến
pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ) bản Hiến pháp năm 1946
không được chính thức công bố.
Hiến pháp năm 1959: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954,
miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu
tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hiến pháp
năm 1946 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, nhưng so với tình
hình và nhiệm vụ cách mạng mới cần được bổ sung, thay đổi. Vì vậy,
tại kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp
năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi bao gồm 28
thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Sau khi Bản
dự thảo Hiến pháp được hoàn thành đã được đưa ra thảo luận trong
đội ngũ cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan quân, dân,
chính, đảng và nhân dân, ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội
khóa I đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp sửa đổi. Ngày 1/1/1960,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh công bố Hiến pháp với 10
chương, 112 điều, Hiến pháp năm 1959 đã phát huy tinh thần của
Hiến pháp năm 1946, đồng thời phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của
chế độ ta do cuộc cách mạng phản đế, phản phong thắng lợi đã mang 7
lại, phản ánh đúng đắn con đường đang tiến lên của dân tộc. Là bản
Hiến pháp của một nước dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã
hội, Hiến pháp năm 1959 khẳng định nước Việt Nam là một nước
thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau, tổ chức theo chính thể Nhà nước
dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân, các quyền tự
do dân chủ được bảo đảm. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do Nhân dân bầu
ra. Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nước
khác thực hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ…
Hiến pháp năm 1980: Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh
mùa xuân năm 1975 đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc
ta. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đã hoàn thành trong phạm vi cả nước. Nước ta đã hoàn toàn
độc lập, tự do, là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền Nam -
Bắc, đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì lẽ đó, một bản
Hiến pháp mới phải được ra đời để phù hợp với hoàn cảnh đất nước
lúc bấy giờ. Ngày 24/6/1976, Quốc hội khóa VI tiến hành kỳ họp đầu
tiên. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến
pháp năm 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người
do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
làm Chủ tịch. Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã
nhất trí thông qua Hiến pháp. Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp
năm 1980 đã xác định bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước
chuyên chính vô sản, có sứ mệnh lịch sử là thực hiện quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Hiến pháp năm 1992: Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy
định của Hiến pháp năm 1980 tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện
kinh tế, xã hội của đất nước. Tình hình thực tiễn đòi hỏi phải có một
bản hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội,
xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Tiếp thu tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (12/1986), tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII đã ra
Nghị quyết sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980. Ngày
30/6/1989, tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa VIII lại ra Nghị quyết sửa
đổi 7 điều (57, 116, 118, 122, 123, 125) của Hiến pháp năm 1980 và
Quốc hội đã ra Nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để sửa
đổi Hiến pháp một cách cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu của tình
hình mới. Ủy ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập bao gồm 28
người, do Chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch.
Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những bổ sung, chỉnh lý nhất
định, ngày 15/4/1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp. Tuy
nhiên, sau một thập kỷ, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta đã
có những thay đổi nhất định, đòi hỏi Hiến pháp phải được bổ sung,
sửa đổi nhằm phát huy hơn nữa hiệu lực và hiệu quả của nó trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị,
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội khóa
X, kỳ họp thứ 9 đã ra Nghị quyết số 43/2001/QH10 ngày 29/6/2001
về việc thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp năm 1992. Sau một thời gian làm việc khẩn trương, với sự
bàn bạc, thảo luận dân chủ, công khai, ngày 25/12/2001, Quốc hội
khóa X, kỳ họp thứ 10 với đa số tuyệt đối đã nhất trí thông qua Nghị 9
quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Hiến pháp năm 2013: Tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có
những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp hơn. Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn
diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây
dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh. Vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã
quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Sau 4 kỳ họp, hoàn thành,
sửa đổi và bổ sung dự thảo Hiến pháp, ngày 28/11/2013 tại kỳ họp thứ
6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Là bản Hiến pháp được chuẩn bị công phu,
nghiêm túc, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng
của Nhân dân, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa
học, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, đảm bảo chính
trị, pháp lý vững chắc cho dân tộc ta, Nhân dân ta và Nhà nước ta
vượt qua những thách thức, khó khăn, vững bước tiến lên trong thời
kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Đây cũng là bản Hiến pháp
vừa kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946,
năm 1959, năm 1980 và năm 1992, vừa thể chế hóa các quan điểm,
phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011).
? Tại sao Hiến pháp là luật cơ bản nhát của mỗi quốc gia?
Thứ nhất, Hiến pháp quy định những nguyên tắc cơ bản nhất của nhà nước:
Chủ quyền quốc gia: Hiến pháp xác định ai là người nắm giữ chủ
quyền quốc gia, thường là nhân dân.
Hình thức nhà nước: Hiến pháp quy định nhà nước là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa hay nhà nước tư bản chủ nghĩa, v.v.
Cơ cấu tổ chức nhà nước: Hiến pháp quy định cơ quan nhà nước
nào nắm quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan nào có quyền lập
hiến, lập pháp, hành pháp, tư pháp, v.v.
Chế độ chính trị: Hiến pháp quy định thể chế chính trị của nhà
nước, ví dụ như một đảng hay đa đảng.
Mục tiêu và nhiệm vụ của nhà nước: Hiến pháp xác định mục tiêu
và nhiệm vụ mà nhà nước cần thực hiện để phục vụ nhân dân.
Thứ hai, Hiến pháp có giá trị pháp lý cao nhất:
Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp, nếu
trái với Hiến pháp thì vô hiệu.
Hiến pháp là thước đo để đánh giá tính hợp pháp của các văn bản pháp luật khác.
Khi có tranh chấp về pháp luật, Hiến pháp là căn cứ để giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, Hiến pháp thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân:
Hiến pháp được Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, ban hành.
Hiến pháp được thông qua bằng hình thức trưng cầu dân ý.
Hiến pháp bảo vệ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
2. CÁC CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT HIẾN PHÁP 11
2.1 Chế định chế độ chính trị 2.1.1. Định nghĩa
- Xét từ góc độ pháp luật nói chung, chế độ chính trị là tổng thể các nguyên
tắc, quy phạm của Luật hiến pháp (bao gồm các nguyên tắc, quy phạm thể
hiện trong các nguồn khác của Luật hiến pháp) để xác lập và điều chỉnh các
vấn đề về chính thể và chủ quyền quốc gia, về bản chất và mục đích của nhà
nước, về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân, về
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và chính sách đối nội, đối ngoại
của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.1.2. Nội dung cơ bản chế độ chính trị ( 8 nội dung )
1. Khẳng định quyền dân tộc cơ bản:
Ngay tại Điều 1 của Hiến pháp 2013 đã nêu rõ “Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời". Đây là quyền đặc biệt vì nó
là cơ sở phát sinh các quyền khác.
2. Khẳng định bản chất của Nhà nước:
"Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. (Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp 2013).
3. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản:
"Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. (Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp 2013)
Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,
chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết
định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
4. Khẳng định rõ ràng mục đích của Nhà nước:
Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo
đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
có điều kiện phát triển toàn diện". (Điều 3, Hiến pháp 2013).
5. Là Nhà nước thống nhất của nhiều dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam:
Trong đó các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; Ngôn ngữ quốc gia là tiếng
Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát
huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực
hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát
huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. (Điều 5, Hiến pháp 2013).
6. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
Thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc: phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. (Khoản1, Điều 7, HP 2013).
7. Khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của mặt trận
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh... là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
8. Khẳng định đường lối đối ngoại của Nhà nước ta
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị,
hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực 13
hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân
thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
2.2. Chế định chế độ kinh tế 2.2.1. Định nghĩa
Chế độ kinh tế được hiểu là hệ thống những nguyên tắc, những quy
định điều chỉnh những quan hệ trong lĩnh vực kinh tế nhằm thực hiện những
mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội nhất định; nó thể hiện trình độ phát triển
của một xã hội, bản chất của nhà nước, của chế độ xã hội.
2.2.2. Nội dung cơ bản
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (Điều 50 HP). a. Mục đích:
Phát triển kinh tế của nhà nước là phục vụ cho lợi ích của nhân dân
lao động, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng
tăng của cả xã hội, đồng thời làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân.
b. Các hình thức sở hữu (Điều 15)
- Sở hữu toàn dân là sở hữu của toàn thể nhân dân lao động về tư liệu sản
xuất chủ yếu và tài nguyên quan trọng của đất nước mà nhà nước là đại diện.
- Sở hữu tập thể là hình thức sở hữu của từng nhóm, từng tập thể người
lao động tự nguyện góp vốn, tài sản công sức để sản xuất, kinh doanh và cùng hưởng lợi.
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân, hộ cá thể đối với tài sản hợp pháp của mình.
c. Các thành phần kinh tế ở nước ta (Điều 15- Điều 16).
- Thành phần kinh tế nhà nước
Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất.
Thành phần kinh tế này được hình thành từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trải qua các thời kỳ phát triển, thành phần kinh tế này ngày càng tăng
trưởng cả về số lượng và chất lượng.
- Thành phần kinh tế tập thể
Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản
xuất, là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Thành phần kinh tế này được phát triển với nhiều hình thức đa dạng
từ thấp đến cao, từ tổ hợp tác đến các hợp tác xã trong các lĩnh vực
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ... theo nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.,
- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ
Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất mà hoạt động sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào sức lao động
và vốn của bản thân và gia đình.
Thành phần kinh tế này có vị trí quan trọng, tồn tại lâu dài trong nhiều
ngành nghề ở cả nông thôn và thành thị. 15
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tạo điều kiện và giúp đỡ kinh
tế cá thể, tiểu chủ phát triển, khuyến khích các hình thức hợp tác tự
nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp.
- Thành phần kinh kinh tế tư bản tư nhân
Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê.
Bước vào công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính
sách mới đối với thành phần phần kinh tế này. Xuất phát từ quan điểm
giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế, Nhà nước ta chủ trương khuyến khích tư bản tư
nhân bỏ vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh những ngành nghề mà
pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để kinh tế
tư bản tư nhân phát triển.
- Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Là thành phần kinh tế dựa trên sự đầu tư vốn của nước ngoài.
Chủ trương của nhà nước ta là tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo
thêm nhiều việc làm; cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
d. Các nguyên tắc quản lý nền kinh tế (Điều 26)
- Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách.
- Nhà nước phải phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các
ngành, các cấp một cách hợp lý
2.3. Chế định văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ
2.3.1 Chính sách phát triển nền văn hóa Việt Nam
Điều 60 Hiến pháp năm 2013 đã xác định mục đích phát triển nền văn hóa Việt
Nam là:“Nhànước,xãhộichămloxâydựngvàpháttriểnnềnvănhóaViệtNam
tiêntiến,đậmđàbảnsắcdântộc,tiếpthutinhhoavănhóanhânloại.
Nhànước,xãhộipháttriểnvănhọc,nghệthuậtnhằmđápứngnhucầutinh
thầnđadạngvàlànhmạnhcủaNhândân;pháttriểncácphươngtiệnthôngtin
đạichúngnhằmđápứngnhucầuthôngtincủaNhândân,phụcvụsựnghiệpxây
dựngvàbảovệTổquốc.
Nhànước,xãhộitạomôitrườngxâydựnggiađìnhViệtNamấmno,tiếnbộ,
hạnhphúc;xâydựngconngườiViệtNamcósứckhỏe,vănhóa,giàulòngyêu
nước,cótinhthầnđoànkết,ýthứclàmchủ,tráchnhiệmcôngdân”
Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là
sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chính vì thế, xây dựng và phát triển văn hóa VN giữ một vị trí quan trọng trong
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nhà nước, xã hội cần kế thừa, phát huy những giá trị, tinh hoa văn hóa tốt đẹp
của cộng đồng các dân tộc từ bao đời nay; đồng thời loại bỏ, triệt để tẩy trừ những
hủ tục, lạc hậu, không còn phù hợp và đúng đắn với cuộc sống ngày nay. Bên cạnh
đó, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóa thời đại để làm giàu văn hóa
Việt Nam. Tiếp thu toàn diện, bao gồm tất cả các mặt, các khía cạnh với tiêu chí là
tiếp thu cái hay, cái tốt. Tuy nhiên, cần phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc. Đây là
điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại, tạo nên một nền văn hóa vừa tiên
tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngày 24-11-2021 tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, đồng chí Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và 17
phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của
các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa
của thời đại”. Quán triệt chủ trương ấy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
gắn với phát triển kinh tế - xã hội là chủ trương lớn, xuyên suốt của tỉnh Phú Thọ.
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, có hệ thống di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể. Đây là tài sản vô giá, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, vì
vậy chính quyền và người dân tỉnh Phú Thọ đã có nhiều nỗ lực để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa.
Âm thực Việt Nam là một ví dụ rõ ràng nhất về việc tiếp thu tinh hóa văn hóa
nhân loại. Bên cạnh những món ăn truyền thống, mang nét đặc trưng riêng như
bánh chưng, bánh tét, bánh cuốn, phở, cốm,...; đã xuất hiện những món ăn đến từ
các nước trên thế giới như bánh mì, salad, súp, những món ăn Hàn và Nhật,...
Nói đến cùng mục tiêu cao nhất của chế độ XHCN là con người. Tất cả vì con
người, cho con người và phát triển con người toàn diện. Nhà nước, xã hội tạo mọi
điều kiện để đáp ứng những nhu cầu của người dân. Trong cuộc sống hiện đại ngày
nay, nhu cầu tinh thần của người dân ngày càng cao, đòi hỏi Nhà nước và xã hội
phải đáp ứng nhu cầu đó bằng cách phát triển các loại hình nghệ thuật, văn học,...
Ngoài ra còn có nhu cầu thông tin của người dân. Với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học và công nghệ, nhu cầu thông tin của con người ngày một lớn, đặt ra yêu
cầu cao hơn đối với các cơ quan cung cấp thông tin như trang thiết bị, trình độ đội
ngũ nhân viên, chất lượng phục vụ,... để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân
dân. Việc tiếp nhận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng được người
dân ưa chuộng nhất bởi tính đa dạng, tiện lợi, nhanh chóng của nó. Vì thế, Nhà
nước và xã hội mới có chính sách phát triển các phương tiện thông tin đại chúng.
Tiếp đến, xây dựng và phát triển con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức,
tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách, xây dựng thế giới quan khoa học, nhân
sinh quan XHCN, hướng con người tới chân - thiện - mỹ là một nội dung hết sức
quan trọng trong chính sách của Nhà nước và xã hội. Nhìn chung, các chính sách
đấy đều hướng đến con người.
Nhà nước tăng cường các nguồn lực đầu tư, huy động sức mạnh tổng hợp của
hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân thực hiện các chính sách xã hội; thực
hiện nhiều chính sách đối với người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em,
đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để người dân phát triển và phòng ngừa,
giảm thiểu và khắc phục rủi ro trong đời sống… như chính sách xóa đói, giảm
nghèo; chính sách lao động - việc làm; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ cấp xã hội;...
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia tiến nhanh nhất trên thế giới
về tăng chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người). Đây là bằng chứng và là sự ghi
nhận của cộng đồng quốc tế đối với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế gắn liền với sự quan tâm phát triển con người.
Để đảm bảo cho nền văn hóa phát triển đúng hướng, Hiến pháp nước ta quy định:
Phải thống nhất quản lý nền văn hóa: công tác quản lý và xây dựng văn hóa
phải được tiến hành một cách đồng bộ, nhất quán trong cộng đồng nhằm
đem lại hiệu quả cao nhất. Tất cả cùng hướng đến các giá trị và mục tiêu chung.
Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng văn hóa đồi trụy, phản hóa, bài trừ mê
tín, hủ tục, nghiêm cấm những hoạt động văn hóa - thông tin làm tổn hại
đến lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức, lối sống tốt đẹp của
người Việt: nghiêm cấm và phòng ngừa các vấn đề này nhằm ngăn chặn
những ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của người dân;
bảo vệ và duy trì những giá trị văn hóa truyền thống của người VN. 19
2.3.2 Chính sách giáo dục và đào tạo
Con người là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, vì thế Đảng ta đã
tìm mọi biện pháp để chăm lo và xây dựng con người, được thể hiện trong chính
sách giáo dục và đào tạo.
Điều 61 Hiến pháp 2013 gồm có ba nội dung:
Thứ nhất,“Pháttriểngiáodụclàquốcsáchhàngđầunhằmnângcaodântrí,
pháttriểnnguồnnhânlực,bồidưỡngnhântài.”
Giáo dục luôn được xem là vấn đề quan trọng, là quốc sách hàng đầu, quyết
định sự phát triển của một quốc gia. Vì:
Giáo dục đào tạo góp phần xây dựng và phát triển kinh tế. Để kinh tế phát
triển, yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất. Tất nhiên, để con người
đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế thì phải phát triển
giáo dục và đào tạo. Nó sẽ tạo ra nguồn nhân lực với trình độ cao cho mọi lĩnh vực.
Giáo dục nhằm truyền đạt kiến thức, nâng cao hiểu biết, trình độ; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất; phát triển kỹ năng xã hội và
giao tiếp cho con người. Vì thế, giáo dục, đào tạo để phát triển và bồi
dưỡng con người. Nó góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI)
- thước đo trình độ phát triển của một quốc gia.
Ngoài ra, giáo dục còn góp phần ổn định chính trị xã hội; giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa. Nó giúp duy trì một xã hội bền vững.
Thứ hai, “Nhànướcưutiênđầutưvàthuhútcácnguồnđầutưkhácchogiáo
dục;chămlogiáodụcmầmnon;bảođảmgiáodụctiểuhọclàbắtbuộc,Nhànước
khôngthuhọcphí;từngbướcphổcậpgiáodụctrunghọc;pháttriểngiáodụcđại
học,giáodụcnghềnghiệp;thựchiệnchínhsáchhọcbổng,họcphíhợplý.”
Giáo dục có vai trò quan trọng như thế, cho nên nhà nước ưu tiên đầu tư và
thu hút đầu tư để phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục được ưu tiên đi trước