lOMoARcPSD| 61256830
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
.....0O0.....
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI:
Lý luận của CN Mác Lênin về tiền công và tiền công trong lĩnh
vực ngân hàng tại Việt Nam.
Giảng viên:
Họ, tên sinh viên:
Mã SV:
Lớp: Kinh tế chính trị Mác – Lênin(124)_28
Số thứ tự:
Hà Nội – 2024
lOMoARcPSD| 61256830
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………1
I. Một số học thuyết theo trường phái Kinh tế chính trị học cổ điển Anh về tiền
công…………………………………………………………………………………….2
II. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tiền công………………………………..2
1. Bản chất kinh tế của tiền công…………..…………………………………………2
2. Các hình thức cơ bản của tiền công…………….…………………………………4
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế………………….…………………….4
4. Các yếu tố tác động đến tiền công thực tế…………….….……………………….5
III. Tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam…...………………….……….8
1. Một số nét về lĩnh vực ngân hàng trong thời gian
qua……………………………8
2. Thực trạng tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt
Nam………..…………10
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền công trong lĩnh vực ngân
hàng………..………13
4. Biện pháp đề
xuất……………………………..
…………………………………...14
KẾT
LUẬN…………………………………………………………………………...16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
17
lOMoARcPSD| 61256830
LỜI MỞ ĐẦU
Tiền công đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và đóng vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội. Từ thời kỳ cổ đại, tiền công đã được hình thành dưới dạng hàng
hóa hoặc dịch vđể đáp ứng nhu cầu sinh sống của người lao động. Sự phát triển của
nền kinh tế cách mạng công nghiệp đã dẫn đến việc tiền công chuyển hoá thành dạng
tiền tệ, phản ánh giá trị sức lao động một cách rõ ràng hơn.
Trong hội hiện đại, vấn đề thu nhập chi tiêu ngày càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về sự công bằng hiệu quả trong
phân phối thu nhập ngày càng được đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh này, tiền lương
(tiền công) nổi lên như một yếu tố thiết yếu, không chỉ để đáp ứng nhu cầu bản của
người lao động còn để đảm bảo sự công bằng khuyến khích sự cống hiến trong
công việc. Tiền công, với vai trò một phần không thể thiếu trong hệ thống kinh tế,
phản ánh giá trị của sức lao động và đóng góp trực tiếp vào sự ổn định và phát triển của
hội. Chính vậy, việc hiểu về sự xuất hiện sự cần thiết của tiền công điều
cần thiết đđánh giá và cải thiện các chính ch liên quan, nhằm nâng cao chất ợng
cuộc sống hiệu quả công việc. vậy, đại hội IX của Đảng khẳng định: Phải cải
cách bản chế độ tiền lương, nâng cao đời sống của người hưởng lương, chống đặc
quyền đặc lợi”. Cải cách tiền lương nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa, vậy phải đảm bảo không rời xa luận cách
mạng về tiền công (tiền lương), điểm mấu chốt tiền lương phải đảm bảo đầy đ
giá trị sức lao động.
Ngân ng, với vai trò trung tâm của hệ thống tài chính quốc gia, đang đóng
góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế. Sự phát triển của ngành ngân hàng không
chỉ đòi hỏi những chuyên gia trình độ cao còn đặt ra yêu cầu về việc xây dựng
chính sách tiền công hợp lý, công bằng và cạnh tranh. Chính vì vậy, việc áp dụng các lý
luận của chủ nghĩa c Lênin vào thực tiễn tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại
Việt Nam cần thiết để hiểu rõ hơn về những biến đổi trong mối quan hệ lao động, từ
đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả lao động
trong ngành này.
Hiểu rõ được vai trò của tiền công (tiền lương) và đặc biệt là vai trò đối với người
lao động Việt Nam xuất phát từ ý nghĩa luận, thực tiễn nêu trên nên em chọn đề
tài: “Lý luận của CN Mác Lênin về tiền công và liên hệ thực tiễn tiền công trong ngành
Marketing Việt Nam.” kính mong xem xét đánh giá. Do hiểu biết còn hạn chế
nên đề tài còn những thiếu t nhất định. Em rất mong nhận được sý kiến đóng góp
của cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
lOMoARcPSD| 61256830
I. Một số học thuyết theo trường phái Kinh tế chính trị học cổ điển Anh về tiền
công
- Học thuyết tiền công của William Petty: Lấy lý luận giá trị làm cơ sở cho lý luận
tiềncông. Ông xác định tiền công là khoản giá trị liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu cho
công nhân. Tiền công không thvượt quá những liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu.
Ông rút ra kết luận: tiền công tỉ lệ nghịch với giá cả lúa (giá cả tư liệu sinh hoạt).
Kết luận này hoàn toàn trái ngược với kết luận của K.Marx: tiền công tỉ lệ thuận với giá
trị sức lao động. Như vậy, mặc dù có sai lầm, song W.Petty đã nêu được cơ sở khoa học
của tiền công là giá trị của tư liệu sinh hoạt. [ Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế
- trang 44,45- NXBTĐHKTQD]
- Theo A. Smith, khi làm việc bằngliệu sản xuất và ruộng đất của mình, người
sảnxuất nhận được toàn bộ sản phẩm lao động của họ. Song khi sở hữu bản chủ nghĩa
xuất hiện, người công nhân trở thành lao động làm thuê, thì tiền công của họ không phải
là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa, chỉ một bộ phận giá
trị đó. Trong học thuyết tiền công của A. Smith cũng như các nhà kinh tế học trước đều
cho rằng, tiền công là giá cả của lao động. [ Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế -
trang 46,47- NXBTĐHKTQD]
- Học thuyết tiền công của D. Ricardo: Ông giải quyết việc xác định tiền công
theoquy luật giá trị. Nhưng vì ông vẫn theo quan điểm của A. Smith cho rằng tiền công
là giá cả của lao động, nên ông thấy xác định giá trị của lao động bằng lao động phi
lý. Do đó, ông không bàn đến giá lao động mà nói đến giá trị của tiền công, đến những
giá trị liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân. Một trong những công lao to lớn của
ông đã phân tích được tiền công thực tế xác định như một phạm trù kinh tế. [
Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - trang 49- NXBTĐHKTQD]
II. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tiền công
1. Bản chất kinh tế của tiền công
Người công nhân làm việc cho nhà bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một
lượng hàng hoá nào đó thì nhận được một số tiền trả công nhất định. Tiền trả công đó
gọi tiền lương hay tiền công. Hiện tượng này làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền
công là giá cả của lao động. Dựa trên học thuyết giá trị - lao động, Các Mác chỉ ra là, sự
thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động. Đó là bộ phận của giá trị
mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra. Lao động không
phải là hàng hoá và không thể là đối tượng mua bán. Sở dĩ như vậy là vì:
- Nếu lao động hàng hoá thì phải trước, phải được vật hoá trong
mộthình thức cụ thể nào đó. Tiền đề đcho người lao động thể “vật hoá” được
là phải có liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động liệu sản xuất thì họ
sẽ bán hàng hoá do nh sản xuất, chứ không bán “lao động”. Vì vậy, lao động
không phải là hàng hoá, nó không thể có trước khi người công nhân bán cho nhà
tư bản. Công nhân không thể bán cái mà anh ta không có.
lOMoARcPSD| 61256830
- Việc thừa nhận lao động hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về
líluận sau đây: Nếu lao động hàng hoá thì phải được trao đổi ngang giá.
Nhưng nếu được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá
trị thặng dư). Điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế quy luật giá trị thặng dư trong
chủ nghĩa tư bản.
Còn nếu hàng hoá lao động được trao đổi không ngang giá để giá trị thặng cho
nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá.
- Nếu lao động hàng hoá thì hàng hoá đó cũng phải giá trị. Nhưng
thướcđo nội tại của giá trị là lao động. Như vậy, giá trị của lao động lại được đo
bằng lao động là một điều luẩn quẩn, vô nghĩa.
thế, lao động không phải là hàng hoá. Chỉ có sức lao động mới là hàng hoá. Cái
mà công nhân bán cho nhà tư bản và cái mà nhà tư bản mua của người công nhân chính
sức lao động. Do đó, tiền công nhà bản trả cho công nhân giá cả của hàng
hoá sức lao động.
Từ đó, ông chỉ ra bản chất của tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả
của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động.
nhờ mua được sức lao động, nhà bản mới chiếm được một phần giá trị mới do
người công nhân tạo ra trong sản xuất tương ứng với phần giá trị thặng dư (bởi vì hàng
hoá sức lao động có giá trị sử dụng đặc biệt, đó là khi sử dụng nó thì nó lại tạo ra được
một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động). [Giáo trình Lịch sử các học thuyết
kinh tế - trang 72,73- NXBTĐHKTQD]
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa bản hình thức biểu hiện bằng
tiền của giá trị sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả của lao động.
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những thực tế sau đây:
- Thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động không bao giờ tách
khỏingười bán, chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người
mua, tức lao động cho nhà bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà bản trả giá
trị cho lao động.
- Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện
đểcó tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng ởng rằng mình bán lao
động. Còn đối với nhà bản bỏ tiền ra để lao động, nên cũng nghic rằng
cái mà họ mua là lao động.
- Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao độn hoặc số
lượngsản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công
là giá cả của lao động.
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời
gian lao động tất yếu thờ gian lao động thặng dư, thành lao động được trả ng
lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ
nghĩa tư bản.
2. Các hình thức cơ bản của tiền công
lOMoARcPSD| 61256830
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính
theo sản phẩm. Tiền lương theo thời gian làm cho người ta lầm tưởng rằng trả cho
toàn bộ thời gian lao động, tức giá cả lao động. Tiền lương theo sản phẩm càng che
giấu hơn nữa bản chất bóc lột của nhà bản, khiến cho người công nhân lầm tưởng
rằng càng làm nhiề thì hưởng nhiều càng làm ít thì hưởng ít.
- Tiền công tính theo thời gian hình thức tiền công số lượng của
íthay nhiều tuỳ theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay
ngắn. Trong đó trả theo giờ chính xác nhất. Tiền công theo thời gian thường
được trả cho những công việc không định lượng được một cách cụ thể. Tiền công
ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay là thấp, vì nó
còn tuỳ theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó muốn đánh giá chính xác mức
tiền công không chỉ n cứ vào tiền công ngày, phải căn cứ vào độ dài của
thời gian lao động cường độ lao động. Khi thời gian làm việc kéo dài, người
lao động có thể nhận được thu nhập cao hơn. Cường độ lao động cũng đóng vai
trò quan trọng, khi mức độ nỗ lực và năng lượng tiêu hao trong mỗi giờ làm việc
cao thì tiền công theo thời gian cũng xu hướng tăng. Tính chất công việc
một yếu tố khác, khi các công việc đòi hỏi trách nhiệm cao, áp lực lớn, hoặc điều
kiện làm việc khắc nghiệt thường có mức lương theo thời gian cao hơn. Trình độ
tay nghề kinh nghiệm của người lao động cũng yếu tố quan trọng, bởi những
người có kỹ năng kinh nghiệm phong phú thường được trả lương cao hơn do
khả năng hoàn thành công việc hiệu quả chất lượng hơn. Giá cả của một giờ
lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian.
- Tiền công tính theo sản phẩm hình thức tiền công số lượng của
phụthuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà
công nhân đã sản xuất ra hoặc số ợng công việc đã hoàn thành. Mỗi sản
phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Gọi đơn giá tiền công
được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một
ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một
ngày. Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản
xuất ra một sản phẩm. thế tiền công tính theo sản phẩm hình thức chuyển
hoá của tiền công tính theo thời gian.
Do đó, tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản
lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích thích công
nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao
hơn.
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
- Tiền công danh nghĩa số tiền người ng nhân nhận được theo định kỳ
dobán sức lao động của mình cho nhà bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất
sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.
lOMoARcPSD| 61256830
Tiền công danh nghĩa số tiền người lao động nhận được sau khi làm việc.
vậy đây giá cả thị trường của hàng hóa sức lao động phthuộc vào quan hệ
cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường, nên nó có thể tăng lên hay
giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên
thị trường.
Giả sử, nếu cung về sức lao động trên thị trường lớn hơn so với cầu về sức lao
động thì lúc này tiền công danh nghĩa sẽ nhỏ hơn so với giá trị hàng hóa sức lao động.
Đối với người sử dụng lao động, tiền công danh nghĩa được quy định cụ thể trên hợp
đồng lao động. Đối với người lao động, sở để tính toán số tiền nhận hàng tháng
của người lao động theo giao kết trên hợp đồng đã ký với người sử dụng lao động. Đây
là căn cứ để tính thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng
vàdịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
Tiền công thực tế phản ánh số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người lao động có
thể mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình, chẳng hạn như lương thực, thực
phẩm, các đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, hay hoạt động giải trí.
vậy, tiền công thực tế có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tiền công danh nghĩa và
tỷ lệ nghịch với giá cả của hàng hóa và dịch vụ khi các yếu tố khác không thay đổi. Các
yếu tố làm tăng giá trị sức lao động bao gồm việc nâng cao trình độ chuyên môn, tăng
cường độ lao động,sự gia tăng nhu cầu trong bối cảnh hội phát triển. Ngược lại,
sự gia tăng năng suất lao động làm giảm giá thành của liệu tiêu dùng, từ đó hạ thấp
giá trị sức lao động. Sự tương tác giữa các yếu tố này dẫn đến những biến đổi phức tạp
trong giá trị sức lao động, và do đó, tiền công thực tế cũng thay đổi theo.
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa thường có
xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng này nhiều khi không theo kịp với tốc độ tăng giá
của hàng hóa dịch vụ. Đồng thời, tình trạng thất nghiệp thường xuyên khiến cung lao
động vượt quá cầu, cho phép các nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị thực của nó,
dẫn đến xu hướng giảm của tiền công thực tế đối với giai cấp công nhân. Tuy nhiên, xu
hướng này không phải lúc nào cũng diễn ra, những yếu tố chống lại, chẳng hạn
như cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi tăng lương, tiến bộ khoa học công nghệ
làm tăng nhu cầu lao động chất lượng cao, buộc giai cấp sản phải cải thiện tổ chức
lao động và tạo động lực cho người lao động.
Đối với người sử dụng lao động, tiền công thực tế không được quy định trên hợp
đồng lao động. Đối với người lao động, là số tiền công danh nghĩa quy đổi ra hàng hóa,
dịch vụ mà người lao động có thể mua hoặc sử dụng.
4. Các yếu tố tác động đến tiền công (tiền lương) thực tế
Tiền lương là giá cả của sức lao động, nên một mặt dựa trên cơ sở giá trị sức lao
động, mặt khác, cũng tuân thủ theo các quy luật của thị trường sức lao động. Do đó, tiền
lương phụ thuộc vào các yếu tố như:
lOMoARcPSD| 61256830
- Quan hệ giữa cung cầu lao động. ơng quan cung cầu lao động không
đồngnhất giữa các ngành nghề. Nhìn chung, những ngành chủ yếu sử dụng lao động
phổ thông thường lượng cung lao động vượt trội so với cầu, dẫn đến tiền lương trong
các ngành này có xu hướng giảm dần. Ngược lại, các ngành đòi hỏi lao động trí tuệ
hoặc lao động có trình độ cao, cung lao động thường thấp hơn cầu, do đó tiền lương có
xu hướng gia tăng. Tương quan cung và cầu lao động cũng biến đổi theo từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế. dụ, khi kinh tế suy thoái, tiền ơng xu hướng giảm;
ngược lại, khi kinh tế phát triển mạnh, đầu tư mở rộng, cầu lao động tăng, tiền lương
cũng có xu hướng tăng lên. Sự chênh lệch về cung và cầu lao động cũng xuất hiện giữa
các vùng hoặc quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về
mức lương.
- Giá cả của hàng hóa dịch vụ đáp ng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường
mộtyếu tố quan trọng cần được xem xét khi bàn về tiền lương. Cần phải phân biệt
giữa tiền lương danh nghĩa tiền lương thực tế. Tiền ơng danh nghĩa số tiền mà
người lao động nhận được dưới dạng tiền mặt. Trong khi đó, tiền lương thực tế lượng
hàng a dịch vụ người lao động thể mua được bằng số tiền danh nghĩa sau
khi đã trừ đi các khoản thuế và các khoản trích nộp khác, dựa trên mức giá hiện tại của
thị trường. vậy, tiền lương thực tế mối quan hệ tỷ lệ nghịch với giá cả của hàng
hóa dịch vụ. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển ổn định, tỷ lệ lạm phát tự nhiên
thường duy trì ở mức một con số mỗi năm. Nếu tiền lương danh nghĩa không được điều
chỉnh tương ứng với mức lạm phát, thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ bị giảm
sút. Do đó, để bảo vệ mức sống thực tế của người lao động, việc điều chỉnh tiền lương
danh nghĩa theo tỷ lệ lạm phát là điều cần thiết. Với người lao động, mục tiêu chính của
việc làm không chỉ là nhận được tiền lương danh nghĩa mà là đảm bảo được tiền lương
thực tế, vì đây mới là thước đo chính xác về sức mua và mức sống của họ.
- Năng suất lao động thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả m việc của
người lao động cũng yếu tố quyết định đến tiền ng thực tế. Khi năng suất lao
động tăng, chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm, điều y cho phép doanh
nghiệp thể trả lương cao hơn cho người lao động không cần tăng giá bán sản
phẩm. Điều này không chỉ cải thiện thu nhập danh nghĩa của người lao động mà còn
thể góp phần giảm giá hàng hóa dịch vụ, tđó tăng tiền công thực tế. Sự gia tăng
năng suất lao động thể đến từ việc ng dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản
xuất, hoặc nâng cao kỹ năng trình độ của người lao động. Như vậy, việc đầu o
nâng cao năng suất không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn giúp cải thiện
mức sống của người lao động thông qua việc tăng tiền công thực tế.
- Công nghkhông ngừng phát triển ảnh ởng mạnh mẽ đến cấu trúc của
thịtrường lao động, từ đó tác động đến tiền công thực tế. Sự tiến bộ của công nghệ có
thể làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, điều này
giúp cải thiện mức sống của người lao động thông qua việc tăng tiền công thực tế. Tuy
nhiên, công nghệ cũng có thể thay đổi nhu cầu về kỹ năng lao động, làm giảm nhu cầu
đối với lao động thủ công hoặc những công việc ít kỹ năng, dẫn đến mất việc làm hoặc
giảm lương cho một số nhóm lao động. Do đó, để tối ưu hóa lợi ích từ sự phát triển công
lOMoARcPSD| 61256830
nghệ, người lao động cần phải liên tục nâng cao trình độ và kỹ năng của mình để thích
ứng với những thay đổi trong yêu cầu công việc, đảm bảo rằng tiền công thực tế không
bị ảnh hưởng tiêu cực.
- Các yếu tố chính trị - hội, chẳng hạn như sự can thiệp của nhà nước qua
cácchính sách tiền lương, hay vai trò của các tổ chức công đoàn đảng phái trong
doanh nghiệp, đều ảnh hưởng đáng kể đến tiền lương. Tiền lương không chỉ đơn
thuần là vấn đề kinh tế hay lợi ích cá nhân, mà còn một vấn đề hội quan trọng, gắn
liền với các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Thị trường lao động cần được điều
tiết một cách hợp thông qua các chính sách tiền lương do nhà nước ban hành, trong
đó việc quy định kiểm soát mức lương tối thiểu điều không thể thiếu. Việc luật hóa
mức ơng tối thiểu một hình thức can thiệp của nhà nước nhằm bảo vệ mức lương
thực tế cho người lao động, đặc biệt trong những hoàn cảnh thị trường lao động lượng
cung lớn hơn cầu hoặc khi tiền lương thực tế bị giảm sút do lạm phát cao.
- nhiều quan điểm khác nhau về mức ơng tối thiểu. Mức lương tối
thiểuthường được coi là mức giá của loại lao động phổ thông trong điều kiện làm việc
bình thường, dựa trên một mức chi phí sinh hoạt hợp lý. Tuy nhiên, quan điểm của kinh
tế học hiện đại về mức lương tối thiểu lại dựa trên quy luật cung - cầu trong thị trường
lao động, cũng như mối quan hệ giữa khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng lao động.
Theo quan điểm này, cơ chế thị trường là yếu tố chủ đạo quyết định điều chỉnh mức
lương. Tuy nhiên, khi cung lao động vượt quá cầu, khiến mức lương trên thị trường
giảm đến mức không đủ để đảm bảo tái sản xuất sức lao động, thì sự can thiệp của nhà
nước trở nên cần thiết. Trong trường hợp này, nhà nước cần thiết lập mức lương tối thiểu
cao hơn mức lương trên thị trường để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Hiện nay,
nhà nước ta cũng áp dụng quan điểm này để thiết lập mức lương tối thiểu trong khu vực
kinh tế tư nhân.
- Sự tăng ờng của nhu cầu cùng với sự phát triển của hội: Nhu cầu của
conngười ngày càng tăng theo sự phát triển của hội. Một công việc không đáp ứng
được nhu cầu về tiền lương cho người lao động sẽ dẫn đến tình trạng người lao động b
việc và tìm kiếm một công việc với mức lương cao hơn. Do đó, doanh nghiệp phải cạnh
tranh để thu hút và giữ chân người lao động bằng cách tăng lương và cải thiện điều kiện
làm việc. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ có thể dẫn đến sự tăng trưởng lương trong một
số ngành nghề nhất định.
- Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân yếu tố quan trọng để cải thiện tiền
lương.Thông qua việc thương ợng tập thể hoặc đình công, công nhân thể yêu cầu
tăng tiền công và cải thiện các chế độ phúc lợi. Trong hệ thống tư bản, chủ tư bản có xu
hướng giữ phần lớn giá trị thặng dư, nên việc tăng lương chỉ diễn ra khi sự áp lực
mạnh mẽ từ phía công nhân. Trong bối cảnh hiện đại, các công đoàn tổ chức lao động
đóng vai trò lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đàm phán để tăng
lương và đảm bảo môi trường làm việc tốt hơn.
III. Tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
1. Một số nét về lĩnh vực ngân hàng trong thời gian qua
lOMoARcPSD| 61256830
Ngành ngân hàng là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai t
cầu nối giữa việc huy động nguồn vốn cung ứng tín dụng cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đã những
bước chuyển mình mạnh mẽ trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và
quá trình hội nhập quốc tế. Không chỉ dừng lại việc cải thiện chất lượng dịch vụ, các
ngân hàng còn tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, mở rộng mạng lưới, và nâng
cao khả năng quản lý rủi ro. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng đối mặt với nhiều thách thức
như nợ xấu, cạnh tranh gia tăng, đòi hỏi phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế khắt
khe hơn.
Hình 1.1 Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại TCTD
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Tại thời điểm 31/12/2023, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,5% so với cuối năm
2022 (cùng thời điểm năm 2022 tăng 6,2%); trong đó huy động vốn của các tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng 13,2% (cùng thời điểm năm 2022 tăng
8,3%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 13,8% (cùng thời điểm năm 2022 tăng
14,2%).
Hình 1.2 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
lOMoARcPSD| 61256830
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất với
mức giảm từ 0,5%-2%/năm, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh trong
những tháng cuối năm. Tình trạng dư thừa vốn tại Ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn
tiếp diễn do cầu tín dụng của nền kinh tế mức thấp, dẫn đến việc giảm mạnh lãi suất
huy động cuối năm, ngược với xu hướng những năm trước do đây là thời điểm NHTM
sẽ phải tăng lãi suất huy động, triển khai chương trình khuyến mại để thu hút vốn, đáp
ứng nhu cầu tín dụng của người dân doanh nghiệp. Lãi suất cho vay bình quân của
NHTM trong nước đối với các khoản cho vay mới cũ còn nợ mức 8,3-
10,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực
ưu tiên khoảng 3,8%/năm.
Hình 1.3 Cán cân thanh toán quốc tế
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Tỷ giá trung tâm năm 2023 về cơ bản n định nhờ việc điều hành tỷ giá của ngân
hàng Nhà nước phù hợp, can thiệp ngoại tệ linh hoạt, hạn chế áp lực biến động bất
thường đối với tỷ giá thị trường, góp phần n định đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp
pháp. Tỷ giá trung tâm bình quân năm 2023 mức 23.797,4 VNĐ/USD, tăng 2,2% so
với bình quân năm 2022.
2. Thực trạng tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
Bên cạnh sự đóng góp của lĩnh vực ngân hàng vào tăng trưởng kinh tế, vấn đề tiền
công trong lĩnh vực ngân hàng cũng một chủ đề đáng quan tâm. Cụ thể trong giai
đoạn 2020-2023, mức lương của công nhân trong lĩnh vực tài chính ngân hàng luôn trên
9 triệu đồng/ tháng. Theo Tổng cục thống kê, mức thu nhập bình quân theo tháng của
lao động lĩnh vực ngân hàng năm 2020 là 9,588,000 đồng/tháng, năm 2023 ng lên
11,493,000 đồng/tháng, gấp 1,63 lần mức lương trung bình (7 triệu đồng).
Bảng 2.1 Tiền công theo tháng của người lao động làm việc trong ngành ngân
hàng tại Việt Nam
Đơn vị: USD/tháng
lOMoARcPSD| 61256830
Phòng ban
Cấp bậc
Hà Nội
Hồ Chí Minh
Tối thiểu
Tối đa
Tối thiểu
Dịch vụ
khách hàng
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
500
1200
500
Tởng phòng/Giám sát
1000
2000
1000
Tởng phòng
1500
4000
1500
Giám đốc/ Trưởng bộ
phận
3500
5000
4000
Dữ liệu
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
1000
2500
1000
Tởng phòng/Giám sát
1500
3000
2000
Tởng phòng
2500
5000
3000
Chuyên gia
3000
5000
3000
Giám đốc/trưởng bộ
phận
4000
25000
5000
Kế toán/
Tài chính
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
600
1500
800
Tởng phòng/Giám sát
1000
2000
1500
Tởng phòng
2000
5000
3000
Chuyên gia
2000
5000
3000
Giám đốc/trưởng bộ
phận
5000
20000
4000
Nhân sự
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
600
1000
1000
Tởng phòng/Giám sát
1000
2000
1500
Chuyên gia
1500
2500
2000
Tởng phòng
1500
4000
2500
Giám đốc/trưởng bộ
phận
3000
15000
4000
Kiểm toán
nội bộ
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
800
1500
1000
lOMoARcPSD| 61256830
Tởng phòng/Giám sát
1200
2000
1500
Tởng phòng
2000
3500
2500
Giám đốc/trưởng bộ
phận
3500
7000
3000
Pháp lý và
tuân thủ
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
700
2500
1000
Tởng nhóm/ Giám sát
1200
3500
1500
Tởng phòng
2000
5000
2500
Chuyên gia/ Cố vấn
2500
8000
3000
Giám đốc/ Trưởng bộ
phận
5000
15000
5000
Marketing
và truyền
thông
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
700
1500
800
Tởng nhóm/ Giám sát
1000
2000
1000
Tởng phòng
1500
5000
2000
Giám đốc/ Trưởng bộ
phận
4000
15000
3000
Vận hành
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
500
1000
800
Tởng nhóm/ Giám sát
800
2000
1000
Tởng phòng
2000
8000
3000
Chuyên gia/ Cố vấn
2000
5000
2000
Giám đốc/ Trưởng bộ
phận
4000
15000
4000
Sản phẩm
Có kinh nghiệm/ Chưa
là quản lý
1000
2000
1200
Tởng nhóm/ Giám sát
1500
2500
2000
Tởng phòng
2000
5000
2500
Giám đốc/ Trưởng bộ
phận
3500
12000
5000
lOMoARcPSD| 61256830
Nguồn Khảo sát lương năm 2023 thực hiện bởi Navigos Group
Theo khảo sát lương năm 2023 được thực hiện bởi Navigos Group Tập đoàn
cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự hàng đầu Việt Nam, sinh viên mới ra trường hoặc
ít hơn 2 năm kinh nghiệm cả hai thành phố lớn Nội thành phố Hồ Chí
Minh đều có thể tham gia làm việc tại các phòng ban khác nhau của doanh nghiệp trong
lĩnh vực ngân hàng với mức tiền công khởi điểm tương đối ổn định, dao động phổ biến
trong khoảng 200 400 USD/ tháng (tức khoảng 4,6 9,2 triệu VNĐ/tháng). Sau một
khoảng thời gian làm việc, mức tiền công có thể tăng lên thành 500 – 20000 USD/tháng
( tức khoảng 11,5 – 460 triệu VNĐ/tháng) tuỳ thuộc vào trình độ kinh nghiệm sinh
viên tích luỹ, học hỏi được trong quá trình làm việc.
Tiền công của người lao động trong lĩnh vực ngân hàng biến đổi dựa trên trình
độ chuyên môn ng làm việc. Với những công việc không đòi hỏi trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao như giao dịch viên, nhân viên dịch vụ khách hàng, nhân viên vận
hành, nhân viên nhân sự,… mức tiền công được trả cho người lao động không quá cao.
Theo trang Vietnamworks khảo sát 300 người dùng chỉ ra mức tiền công phổ biến cho
giao dịch viên từ 4,6 9,3 triệu đồng/tháng; mức tiền lương phổ biến cho nhân viên
dịch vụ khách hàng là từ 2,3 – 9,1 triệu đồng/tháng, nhân viên vận hành với mức lương
phổ biến từ 11,6-17,4 triệu đồng/tháng. Ngược lại, với các vị trí đòi hỏi bằng cấp
chuyên môn cao, có kiến thức chuyên ngành như kế toán, kiểm toán nội bộ, pháp lý và
tuân thủ, marketing truyền thông, dữ liệu,…tiền công lại cao hơn rất nhiều. Cụ thể,
vị trí kế toán, kiểm toán nội bộ mức lương dao động từ 2000 20000 USD (tức
khoảng 46 460 triệu đồng/tháng), với vị trí về dữ liệu mức lương phổ biến dao động
từ 2000 25000 USD (tức khoảng 46 575 triệu đồng/tháng), bộ phận Marketing và
truyền thông mức tiền công từ 1500 15000 USD (tức khoảng 34,5 345 triệu
đồng/tháng). Sự khác biệt lớn giữa các mức lương thể bắt nguồn từ sự phức tạp của
các nhiệm vụ giao dịch, xử lý, yêu cầu về kỹ năng, cũng như khối ợng công việc tại
từng công ty.
Trong lĩnh vực ngân hàng, mức lương nhìn chung khá hấp dẫn, đặc biệt ở các vị
trí cấp cao như giám đốc hoặc chuyên gia, với mức thu nhập thể lên đến hàng chục
nghìn USD mỗi tháng. Điều này phản ánh giá trị cao của sức lao động trong ngành, đòi
hỏi kiến thức chuyên môn kỹ ng quản lý phức tạp. Tuy nhiên, các vị trí không
yêu cầu chuyên môn sâu, mức lương lại thấp hơn, phù hợp với lý thuyết của Mác về sự
khác biệt trong giá trị sức lao động tùy theo trình độ yêu cầu công việc. Mức lương
trong ngân hàng vừa phản ánh tính cạnh tranh trong thị trường lao động, vừa khẳng định
rằng trong hệ thống kinh tế thị trường, giá trị lao động được đo lường qua năng lực, hiệu
quả làm việc, và vị thế công việc, đúng như quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự
phân hóa trong xã hội tư bản.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền công trong lĩnh vực ngân hàng
Tiền công trong ngành ngân hàng không chỉ đơn thuần phản ánh giá trị lao động
mà còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phức tạp từ môi trường kinh tế và đặc thù nghề
nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng sự phát triển mạnh mẽ của
ng nghệ số, nhu cầu về nhân lực đang thay đổi nhanh chóng, kéo theo sự biến động
lOMoARcPSD| 61256830
về mức lương. Tuy nhiên, để hiểu sự chênh lệch về tiền công giữa các vị trí trong
ngành, chúng ta cần xem xét sâu hơn các yếu tố cụ thể như cung và cầu lao động, trình
độ chuyên môn, kinh nghiệm, cả những yếu tố liên quan đến quy mô doanh nghiệp,
địa điểm làm việc. Những yếu tố này tác động mạnh mẽ đến mức lương tạo ra sự
khác biệt đáng kể giữa các cá nhân trong cùng một ngành nghề.
- Cung cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương trong ngành
ngânhàng. Nếu nhu cầu về nhân lực ngành ngân hàng tăng cao trong khi nguồn
cung nhân lực hạn chế, mức tiền ơng sẽ xu hướng tăng lên. Ngược lại,
nếu số lượng người tìm việc cao hơn nhu cầu, tiền lương có thể giảm. Với sự
phát triển của công nghệ tài chính (FinTech), nhu cầu về nhân sự kỹ năng
trong các lĩnh vực như phân tích dữ liệu, quản rủi ro tuân thủ quy định
ngày càng lớn, làm tăng mức lương cho các vị trí này.
- Trình độ chuyên môn kỹ năng nhân: Những nhân viên trình độ
chuyênmôn cao kỹ năng vượt trội trong lĩnh vực ngân hàng sẽ hội
nhận được mức lương cao hơn. Nhà tuyển dụng thường sẵn lòng trả lương cao
để thu hút và giữ chân nhân sự có năng lực tốt, đặc biệt là những người có kỹ
năng về phân tích tài chính, lập kế hoạch tài chính hoặc quản lý đầu tư. Các
chuyên viên ngân hàng chứng chỉ ACCA, CFA, CPA hoặc các kỹ năng
phân tích dữ liệu sẽ được ưu tiên và có mức thu nhập cao hơn.
- Kinh nghiệm làm việc: Kinh nghiệm làm việc giúp nhân viên hiểu rõ hơn
về thịtrường tài chính, khách hàng các chiến lược ngân hàng hiệu quả. Nhân
viên nhiều năm kinh nghiệm thường khả năng đảm nhận trách nhiệm
cao hơn thực hiện công việc hiệu quhơn, do đó tiền ơng của họ cũng
cao hơn. Một chuyên viên ngân hàng 5-10 năm kinh nghiệm sẽ mức
lương cao hơn đáng kể so với người mới vào nghề.
- Loại hình doanh nghiệp quy công ty: Các ngân hàng lớn, đặc biệt
cácngân hàng đa quốc gia, thường khả năng chi trả lương cao hơn nhờ
vào quy nguồn lực tài chính mạnh mẽ. Các ngân hàng nhỏ hoặc tổ chức
tín dụng phi ngân hàng, do ngân sách hạn chế, thường trả lương thấp hơn. Một
chuyên viên ngân hàng tại một ngân hàng lớn như Vietcombank hoặc BIDV
sẽ nhận được mức lương cao hơn so với một ngân hàng nhỏ hoặc tổ chức tài
chính khởi nghiệp.
- Địa điểm làm việc: Tiền lương trong ngành ngân hàng khác nhau theo
từng địaphương. Ở các thành phố lớn như Nội hay TP. Hồ Chí Minh, tiền
lương thường cao hơn do chi phí sinh hoạt đắt đỏ và nhu cầu tuyển dụng lớn.
Mức ơng của chuyên viên ngân hàng tại TP. Hồ Chí Minh cao hơn so với
các tỉnh thành nhỏ hơn như Nghệ An hay Bình Định.
- Mức độ phát triển của công nghệ: Ngành ngân hàng hiện nay ngày càng
phụ thuộc vào công nghệ. Những người kỹ năng về phân tích dữ liệu, quản
hệ thống ngân hàng điện tử, sử dụng công cụ công nghệ tiên tiến sẽ
mức lương cao hơn do họ có thể đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa số hóa của
lOMoARcPSD| 61256830
ngành ngân hàng. Những chuyên gia về quản rủi ro tài chính hoặc an ninh
mạng thường nhận mức lương cao nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các hệ
thống giao dịch trực tuyến và bảo mật thông tin.
- Hiệu suất kết quả công việc: Hiệu suất làm việc ảnh ởng lớn đến
tiềnlương, đặc biệt trong ngành ngân hàng, nơi thành công được đo lường qua
doanh thu, số lượng khách hàng hoặc sự phát triển của sản phẩm tài chính.
Nhân viên thành tích tốt đạt được các mục tiêu kinh doanh của ngân
hàng thường được thưởng hoặc tăng lương. Một chuyên viên ngânng tăng
trưởng doanh thu thông qua các chiến lược kinh doanh hiệu quả thường được
thưởng và có mức lương cao hơn so với những người có hiệu suất thấp.
Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến tiền công của từng nhân còn định
hình cách doanh nghiệp trả lương đánh giá giá trị của nhân sự trong ngành Marketing.
4. Biện pháp đề xuất
4.1 Đối với Người Lao Động
Người lao động trong lĩnh vực ngân hàng cần tích cực nâng cao trình độ chuyên
môn để tăng khả năng cạnh tranh thu nhập. Việc tham gia các khóa đào tạo, chứng
chỉ chuyên ngành, và chương trình phát triển kỹ năng sẽ giúp họ nâng cao năng lực bản
thân. Các chứng chỉ như CFA, CPA hay c chứng chỉ liên quan đến quản rủi ro không
chỉ giúp cải thiện kiến thức mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thương lượng
mức lương với nhà tuyển dụng. Hơn nữa, người lao động cũng nên chủ động trong việc
đàm phán lương, dựa trên thông tin thị trường để đưa ra các lập luận thuyết phục hơn.
Ngoài ra, việc tham gia vào các mạng lưới nghề nghiệp cũng rất quan trọng.
Tham gia vào các hiệp hội nghề nghiệp hoặc diễn đàn trực tuyến giúp người lao động
kết nối với những chuyên gia khác trong ngành, từ đó tìm hiểu về xu hướng ơng bổng
và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Điều này không chỉ giúp họ nâng cao nhận thức về thị
trường mà còn mở ra cơ hội học hỏi từ những người có kinh nghiệm.
4.2 Đối với Doanh Nghiệp
Các ngân hàng nên xây dựng một chính sách lương bổng minh bạch, thiết lập hệ
thống trả lương ng công khai các tiêu chí đánh giá nhân viên. Điều y giúp
nhân viên hiểu rõ cách thức tính lương và tạo động lực làm việc cho họ. Đồng thời, các
ngân hàng cần đầu vào các chương trình đào tạo để nâng cao kỹ năng trình độ
chuyên môn của nhân viên. Việc này không chỉ nâng cao năng lực của nhân viên còn
cải thiện chất lượng dịch vụ và lợi nhuận cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên khuyến khích thưởng theo hiệu suất làm việc.
Thiết lập các chương trình thưởng cho những nhân viên đạt được thành tích cao hoặc có
đóng góp lớn sẽ tạo động lực cho nhân viên phấn đấu. Đặc biệt, đảm bảo các phúc lợi
hấp dẫn như bảo hiểm sức khỏe, hỗ trợ học pcác chương trình phúc lợi khác s
giúp thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành ngân hàng.
4.3 Đối với Nhà Nước
lOMoARcPSD| 61256830
Nhà nước cũng cần các chính sách hợp lý để cải thiện tiền công trong lĩnh vực
ngân hàng. Việc thiết lập thực thi các chính sách về mức lương tối thiểu cho ngành
ngân hàng sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Chính phủ cũng nên khuyến khích
các ngân hàng đầu vào công nghệ mới thông qua các gói hỗ trợ tài chính ưu đãi
thuế, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành ngân hàng. Điều này không chỉ tạo ra nhiều
cơ hội việc làm mà còn có thể nâng cao mức lương cho người lao động.
Ngoài ra, nhà nước cần tăng cường quản lý và giám sát chính sách tiền lương
phúc lợi trong ngành ngân hàng, bảo đảm rằng các ngân hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
đối với người lao động. Cuối cùng, chính phủ thể triển khai các chương trình đào tạo
và nâng cao kỹ năng cho người lao động trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các
lĩnh vực công nghệ tài chính quản rủi ro, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của thị trường.
Việc cải thiện tiền công trong lĩnh vực ngân hàng nhiệm vụ quan trọng cần sự
hợp tác chặt chẽ giữa người lao động, doanh nghiệp và nhà nước. Thông qua những biện
pháp cụ thể từ mỗi bên, chúng ta thể tạo ra một môi trường làm việc công bằng
hấp dẫn hơn, từ đó thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.
KẾT LUẬN
Nhìn từ góc độ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền công không chỉ là phần thù
lao trực tiếp người lao động nhận được còn một phần phản ánh sự phân chia
giá trị thặng trong nền kinh tế bản chủ nghĩa. Trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt
Nam, lý luận này được áp dụng để phân tích hiểu hơn vsự phân phối giá trị lao
động tiền công của các vị trí trong ngành. Mặc sự gia tăng đáng kể về mức
lương trong ngành, nhưng sự không đồng đều trong phân phối tiền công vẫn tồn tại,
phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị sức lao động và thù lao thực nhận.
Việc áp dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích tiền công trong lĩnh
vực ngân hàng không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về sự phân phối giá trị trong nền
kinh tế mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự không đồng đều trong phân phối lợi ích
kinh tế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những cải cách về chính sách tiền công,
nhằm đảm bảo sự công bằng hợp hơn trong việc phân phối giá trị lao động giữa
các cá nhân và các nhóm ngành nghề khác nhau.
Tóm lại, sự liên hgiữa luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về tiền công thực
tiễn tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam phản ánh một bức tranh nét về sự
phát triển kinh tế và sự phân phối giá trị lao động. Những phân tích này không chỉ cung
cấp cái nhìn về sự vận hành của thị trường lao động còn chỉ ra ớng đi cho việc cải
cách chính sách tiền công, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và công bằng
hơn trong ngành ngân hàng cũng như trong nền kinh tế nói chung.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - Nhà xuất bản Trường Đại học Kinh tếquốc
dân
lOMoARcPSD| 61256830
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin – Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
3. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin – Nhà xuất bảnchính
trị quốc gia sự thật
4. Tổng cục thống kê (2023), Niên giám thống kê 2023, NXB Thống kê, Hà Nội
5. Ngân hàng Nhà nước (sbv.gov.vn)
6. https://www.vietnamworks.com/muc-luong
7. Khảo sát lương năm 2023, Navigos Group

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61256830
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN .....0O0..... BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN ĐỀ TÀI:
Lý luận của CN Mác Lênin về tiền công và tiền công trong lĩnh
vực ngân hàng tại Việt Nam. Giảng viên: Họ, tên sinh viên: Mã SV:
Lớp: Kinh tế chính trị Mác – Lênin(124)_28 Số thứ tự: Hà Nội – 2024 lOMoAR cPSD| 61256830 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………1
I. Một số học thuyết theo trường phái Kinh tế chính trị học cổ điển Anh về tiền
công…………………………………………………………………………………….2
II. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tiền công………………………………..2
1. Bản chất kinh tế của tiền công…………..…………………………………………2
2. Các hình thức cơ bản của tiền công…………….…………………………………4
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế………………….…………………….4
4. Các yếu tố tác động đến tiền công thực tế…………….….……………………….5
III. Tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam…...………………….……….8 1.
Một số nét về lĩnh vực ngân hàng trong thời gian
qua……………………………8
2.
Thực trạng tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt
Nam………..…………10
3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền công trong lĩnh vực ngân
hàng………..………13
4. Biện pháp đề
xuất……………………………..
…………………………………...14 KẾT
LUẬN…………………………………………………………………………...16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… 17 lOMoAR cPSD| 61256830 LỜI MỞ ĐẦU
Tiền công đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và đóng vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội. Từ thời kỳ cổ đại, tiền công đã được hình thành dưới dạng hàng
hóa hoặc dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh sống của người lao động. Sự phát triển của
nền kinh tế và cách mạng công nghiệp đã dẫn đến việc tiền công chuyển hoá thành dạng
tiền tệ, phản ánh giá trị sức lao động một cách rõ ràng hơn.
Trong xã hội hiện đại, vấn đề thu nhập và chi tiêu ngày càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về sự công bằng và hiệu quả trong
phân phối thu nhập ngày càng được đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh này, tiền lương
(tiền công) nổi lên như một yếu tố thiết yếu, không chỉ để đáp ứng nhu cầu cơ bản của
người lao động mà còn để đảm bảo sự công bằng và khuyến khích sự cống hiến trong
công việc. Tiền công, với vai trò là một phần không thể thiếu trong hệ thống kinh tế,
phản ánh giá trị của sức lao động và đóng góp trực tiếp vào sự ổn định và phát triển của
xã hội. Chính vì vậy, việc hiểu rõ về sự xuất hiện và sự cần thiết của tiền công là điều
cần thiết để đánh giá và cải thiện các chính sách liên quan, nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống và hiệu quả công việc. Vì vậy, đại hội IX của Đảng khẳng định: “Phải cải
cách cơ bản chế độ tiền lương, nâng cao đời sống của người hưởng lương, chống đặc
quyền đặc lợi”. Cải cách tiền lương ở nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải đảm bảo không rời xa lý luận cách
mạng về tiền công (tiền lương), mà điểm mấu chốt là tiền lương phải đảm bảo đầy đủ giá trị sức lao động.
Ngân hàng, với vai trò là trung tâm của hệ thống tài chính quốc gia, đang đóng
góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế. Sự phát triển của ngành ngân hàng không
chỉ đòi hỏi những chuyên gia có trình độ cao mà còn đặt ra yêu cầu về việc xây dựng
chính sách tiền công hợp lý, công bằng và cạnh tranh. Chính vì vậy, việc áp dụng các lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại
Việt Nam là cần thiết để hiểu rõ hơn về những biến đổi trong mối quan hệ lao động, từ
đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động trong ngành này.
Hiểu rõ được vai trò của tiền công (tiền lương) và đặc biệt là vai trò đối với người
lao động Việt Nam và xuất phát từ ý nghĩa lý luận, thực tiễn nêu trên nên em chọn đề
tài: “Lý luận của CN Mác Lênin về tiền công và liên hệ thực tiễn tiền công trong ngành
Marketing ở Việt Nam.”
kính mong cô xem xét và đánh giá. Do hiểu biết còn hạn chế
nên đề tài còn những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự ý kiến đóng góp
của cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! lOMoAR cPSD| 61256830
I. Một số học thuyết theo trường phái Kinh tế chính trị học cổ điển Anh về tiền công -
Học thuyết tiền công của William Petty: Lấy lý luận giá trị làm cơ sở cho lý luận
tiềncông. Ông xác định tiền công là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu cho
công nhân. Tiền công không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu.
Ông rút ra kết luận: tiền công tỉ lệ nghịch với giá cả lúa mì (giá cả tư liệu sinh hoạt).
Kết luận này hoàn toàn trái ngược với kết luận của K.Marx: tiền công tỉ lệ thuận với giá
trị sức lao động. Như vậy, mặc dù có sai lầm, song W.Petty đã nêu được cơ sở khoa học
của tiền công là giá trị của tư liệu sinh hoạt. [ Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - trang 44,45- NXBTĐHKTQD] -
Theo A. Smith, khi làm việc bằng tư liệu sản xuất và ruộng đất của mình, người
sảnxuất nhận được toàn bộ sản phẩm lao động của họ. Song khi sở hữu tư bản chủ nghĩa
xuất hiện, người công nhân trở thành lao động làm thuê, thì tiền công của họ không phải
là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa, mà chỉ là một bộ phận giá
trị đó. Trong học thuyết tiền công của A. Smith cũng như các nhà kinh tế học trước đều
cho rằng, tiền công là giá cả của lao động. [ Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - trang 46,47- NXBTĐHKTQD] -
Học thuyết tiền công của D. Ricardo: Ông giải quyết việc xác định tiền công
theoquy luật giá trị. Nhưng vì ông vẫn theo quan điểm của A. Smith cho rằng tiền công
là giá cả của lao động, nên ông thấy xác định giá trị của lao động bằng lao động là phi
lý. Do đó, ông không bàn đến giá lao động mà nói đến giá trị của tiền công, đến những
giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân. Một trong những công lao to lớn của
ông là đã phân tích được tiền công thực tế và xác định nó như một phạm trù kinh tế. [
Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - trang 49- NXBTĐHKTQD]
II. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tiền công
1. Bản chất kinh tế của tiền công
Người công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một
lượng hàng hoá nào đó thì nhận được một số tiền trả công nhất định. Tiền trả công đó
gọi là tiền lương hay tiền công. Hiện tượng này làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền
công là giá cả của lao động. Dựa trên học thuyết giá trị - lao động, Các Mác chỉ ra là, sự
thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động. Đó là bộ phận của giá trị
mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra. Lao động không
phải là hàng hoá và không thể là đối tượng mua bán. Sở dĩ như vậy là vì: -
Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá trong
mộthình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho người lao động có thể “vật hoá” được
là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ
sẽ bán hàng hoá do mình sản xuất, chứ không bán “lao động”. Vì vậy, lao động
không phải là hàng hoá, nó không thể có trước khi người công nhân bán cho nhà
tư bản. Công nhân không thể bán cái mà anh ta không có. lOMoAR cPSD| 61256830 -
Việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về
líluận sau đây: Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải được trao đổi ngang giá.
Nhưng nếu được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá
trị thặng dư). Điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.
Còn nếu hàng hoá lao động được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho
nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá. -
Nếu lao động là hàng hoá thì hàng hoá đó cũng phải có giá trị. Nhưng
thướcđo nội tại của giá trị là lao động. Như vậy, giá trị của lao động lại được đo
bằng lao động là một điều luẩn quẩn, vô nghĩa.
Vì thế, lao động không phải là hàng hoá. Chỉ có sức lao động mới là hàng hoá. Cái
mà công nhân bán cho nhà tư bản và cái mà nhà tư bản mua của người công nhân chính
là sức lao động. Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của hàng hoá sức lao động.
Từ đó, ông chỉ ra bản chất của tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả
của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động.
Và nhờ mua được sức lao động, nhà tư bản mới chiếm được một phần giá trị mới do
người công nhân tạo ra trong sản xuất tương ứng với phần giá trị thặng dư (bởi vì hàng
hoá sức lao động có giá trị sử dụng đặc biệt, đó là khi sử dụng nó thì nó lại tạo ra được
một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động). [Giáo trình Lịch sử các học thuyết
kinh tế - trang 72,73- NXBTĐHKTQD]
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng
tiền của giá trị sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả của lao động.
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những thực tế sau đây: -
Thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động là không bao giờ tách
khỏingười bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người
mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động. -
Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện
đểcó tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao
động. Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động, nên cũng nghic rằng
cái mà họ mua là lao động. -
Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao độn hoặc số
lượngsản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công
là giá cả của lao động.
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời
gian lao động tất yếu và thờ gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và
lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
2. Các hình thức cơ bản của tiền công lOMoAR cPSD| 61256830
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính
theo sản phẩm. Tiền lương theo thời gian làm cho người ta lầm tưởng rằng nó trả cho
toàn bộ thời gian lao động, tức là giá cả lao động. Tiền lương theo sản phẩm càng che
giấu hơn nữa bản chất bóc lột của nhà tư bản, khiến cho người công nhân lầm tưởng
rằng càng làm nhiề thì hưởng nhiều càng làm ít thì hưởng ít. -
Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó
íthay nhiều tuỳ theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay
ngắn. Trong đó trả theo giờ là chính xác nhất. Tiền công theo thời gian thường
được trả cho những công việc không định lượng được một cách cụ thể. Tiền công
ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay là thấp, vì nó
còn tuỳ theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó muốn đánh giá chính xác mức
tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày, mà phải căn cứ vào độ dài của
thời gian lao động và cường độ lao động. Khi thời gian làm việc kéo dài, người
lao động có thể nhận được thu nhập cao hơn. Cường độ lao động cũng đóng vai
trò quan trọng, khi mức độ nỗ lực và năng lượng tiêu hao trong mỗi giờ làm việc
cao thì tiền công theo thời gian cũng có xu hướng tăng. Tính chất công việc là
một yếu tố khác, khi các công việc đòi hỏi trách nhiệm cao, áp lực lớn, hoặc điều
kiện làm việc khắc nghiệt thường có mức lương theo thời gian cao hơn. Trình độ
tay nghề và kinh nghiệm của người lao động cũng là yếu tố quan trọng, bởi những
người có kỹ năng và kinh nghiệm phong phú thường được trả lương cao hơn do
khả năng hoàn thành công việc hiệu quả và chất lượng hơn. Giá cả của một giờ
lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian. -
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó
phụthuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà
công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành. Mỗi sản
phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Gọi là đơn giá tiền công và nó
được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một
ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một
ngày. Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản
xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển
hoá của tiền công tính theo thời gian.
Do đó, tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản
lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích thích công
nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn.
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế -
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được theo định kỳ
dobán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất
sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế. lOMoAR cPSD| 61256830
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người lao động nhận được sau khi làm việc.
Vì vậy đây là giá cả thị trường của hàng hóa sức lao động và phụ thuộc vào quan hệ
cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường, nên nó có thể tăng lên hay
giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường.
Giả sử, nếu cung về sức lao động trên thị trường lớn hơn so với cầu về sức lao
động thì lúc này tiền công danh nghĩa sẽ nhỏ hơn so với giá trị hàng hóa sức lao động.
Đối với người sử dụng lao động, tiền công danh nghĩa được quy định cụ thể trên hợp
đồng lao động. Đối với người lao động, là cơ sở để tính toán số tiền nhận hàng tháng
của người lao động theo giao kết trên hợp đồng đã ký với người sử dụng lao động. Đây
là căn cứ để tính thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. -
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng
vàdịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
Tiền công thực tế phản ánh số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người lao động có
thể mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình, chẳng hạn như lương thực, thực
phẩm, các đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, hay hoạt động giải trí.
Vì vậy, tiền công thực tế có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tiền công danh nghĩa và
tỷ lệ nghịch với giá cả của hàng hóa và dịch vụ khi các yếu tố khác không thay đổi. Các
yếu tố làm tăng giá trị sức lao động bao gồm việc nâng cao trình độ chuyên môn, tăng
cường độ lao động, và sự gia tăng nhu cầu trong bối cảnh xã hội phát triển. Ngược lại,
sự gia tăng năng suất lao động làm giảm giá thành của tư liệu tiêu dùng, từ đó hạ thấp
giá trị sức lao động. Sự tương tác giữa các yếu tố này dẫn đến những biến đổi phức tạp
trong giá trị sức lao động, và do đó, tiền công thực tế cũng thay đổi theo.
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa thường có
xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng này nhiều khi không theo kịp với tốc độ tăng giá
của hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời, tình trạng thất nghiệp thường xuyên khiến cung lao
động vượt quá cầu, cho phép các nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị thực của nó,
dẫn đến xu hướng giảm của tiền công thực tế đối với giai cấp công nhân. Tuy nhiên, xu
hướng này không phải lúc nào cũng diễn ra, vì có những yếu tố chống lại, chẳng hạn
như cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi tăng lương, tiến bộ khoa học công nghệ
làm tăng nhu cầu lao động chất lượng cao, buộc giai cấp tư sản phải cải thiện tổ chức
lao động và tạo động lực cho người lao động.
Đối với người sử dụng lao động, tiền công thực tế không được quy định trên hợp
đồng lao động. Đối với người lao động, là số tiền công danh nghĩa quy đổi ra hàng hóa,
dịch vụ mà người lao động có thể mua hoặc sử dụng.
4. Các yếu tố tác động đến tiền công (tiền lương) thực tế
Tiền lương là giá cả của sức lao động, nên một mặt nó dựa trên cơ sở giá trị sức lao
động, mặt khác, cũng tuân thủ theo các quy luật của thị trường sức lao động. Do đó, tiền
lương phụ thuộc vào các yếu tố như: lOMoAR cPSD| 61256830 -
Quan hệ giữa cung và cầu lao động. Tương quan cung và cầu lao động không
đồngnhất giữa các ngành nghề. Nhìn chung, những ngành chủ yếu sử dụng lao động
phổ thông thường có lượng cung lao động vượt trội so với cầu, dẫn đến tiền lương trong
các ngành này có xu hướng giảm dần. Ngược lại, ở các ngành đòi hỏi lao động trí tuệ
hoặc lao động có trình độ cao, cung lao động thường thấp hơn cầu, do đó tiền lương có
xu hướng gia tăng. Tương quan cung và cầu lao động cũng biến đổi theo từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế. Ví dụ, khi kinh tế suy thoái, tiền lương có xu hướng giảm;
ngược lại, khi kinh tế phát triển mạnh, đầu tư mở rộng, cầu lao động tăng, tiền lương
cũng có xu hướng tăng lên. Sự chênh lệch về cung và cầu lao động cũng xuất hiện giữa
các vùng hoặc quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về mức lương. -
Giá cả của hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường là
mộtyếu tố quan trọng cần được xem xét khi bàn về tiền lương. Cần phải phân biệt rõ
giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà
người lao động nhận được dưới dạng tiền mặt. Trong khi đó, tiền lương thực tế là lượng
hàng hóa và dịch vụ mà người lao động có thể mua được bằng số tiền danh nghĩa sau
khi đã trừ đi các khoản thuế và các khoản trích nộp khác, dựa trên mức giá hiện tại của
thị trường. Vì vậy, tiền lương thực tế có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với giá cả của hàng
hóa và dịch vụ. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển ổn định, tỷ lệ lạm phát tự nhiên
thường duy trì ở mức một con số mỗi năm. Nếu tiền lương danh nghĩa không được điều
chỉnh tương ứng với mức lạm phát, thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ bị giảm
sút. Do đó, để bảo vệ mức sống thực tế của người lao động, việc điều chỉnh tiền lương
danh nghĩa theo tỷ lệ lạm phát là điều cần thiết. Với người lao động, mục tiêu chính của
việc làm không chỉ là nhận được tiền lương danh nghĩa mà là đảm bảo được tiền lương
thực tế, vì đây mới là thước đo chính xác về sức mua và mức sống của họ. -
Năng suất lao động là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả làm việc của
người lao động và cũng là yếu tố quyết định đến tiền công thực tế. Khi năng suất lao
động tăng, chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm, điều này cho phép doanh
nghiệp có thể trả lương cao hơn cho người lao động mà không cần tăng giá bán sản
phẩm. Điều này không chỉ cải thiện thu nhập danh nghĩa của người lao động mà còn có
thể góp phần giảm giá hàng hóa và dịch vụ, từ đó tăng tiền công thực tế. Sự gia tăng
năng suất lao động có thể đến từ việc ứng dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản
xuất, hoặc nâng cao kỹ năng và trình độ của người lao động. Như vậy, việc đầu tư vào
nâng cao năng suất không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn giúp cải thiện
mức sống của người lao động thông qua việc tăng tiền công thực tế. -
Công nghệ không ngừng phát triển và ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu trúc của
thịtrường lao động, từ đó tác động đến tiền công thực tế. Sự tiến bộ của công nghệ có
thể làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, điều này
giúp cải thiện mức sống của người lao động thông qua việc tăng tiền công thực tế. Tuy
nhiên, công nghệ cũng có thể thay đổi nhu cầu về kỹ năng lao động, làm giảm nhu cầu
đối với lao động thủ công hoặc những công việc ít kỹ năng, dẫn đến mất việc làm hoặc
giảm lương cho một số nhóm lao động. Do đó, để tối ưu hóa lợi ích từ sự phát triển công lOMoAR cPSD| 61256830
nghệ, người lao động cần phải liên tục nâng cao trình độ và kỹ năng của mình để thích
ứng với những thay đổi trong yêu cầu công việc, đảm bảo rằng tiền công thực tế không
bị ảnh hưởng tiêu cực. -
Các yếu tố chính trị - xã hội, chẳng hạn như sự can thiệp của nhà nước qua
cácchính sách tiền lương, hay vai trò của các tổ chức công đoàn và đảng phái trong
doanh nghiệp, đều có ảnh hưởng đáng kể đến tiền lương. Tiền lương không chỉ đơn
thuần là vấn đề kinh tế hay lợi ích cá nhân, mà còn là một vấn đề xã hội quan trọng, gắn
liền với các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Thị trường lao động cần được điều
tiết một cách hợp lý thông qua các chính sách tiền lương do nhà nước ban hành, trong
đó việc quy định và kiểm soát mức lương tối thiểu là điều không thể thiếu. Việc luật hóa
mức lương tối thiểu là một hình thức can thiệp của nhà nước nhằm bảo vệ mức lương
thực tế cho người lao động, đặc biệt trong những hoàn cảnh thị trường lao động có lượng
cung lớn hơn cầu hoặc khi tiền lương thực tế bị giảm sút do lạm phát cao. -
Có nhiều quan điểm khác nhau về mức lương tối thiểu. Mức lương tối
thiểuthường được coi là mức giá của loại lao động phổ thông trong điều kiện làm việc
bình thường, dựa trên một mức chi phí sinh hoạt hợp lý. Tuy nhiên, quan điểm của kinh
tế học hiện đại về mức lương tối thiểu lại dựa trên quy luật cung - cầu trong thị trường
lao động, cũng như mối quan hệ giữa khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng lao động.
Theo quan điểm này, cơ chế thị trường là yếu tố chủ đạo quyết định và điều chỉnh mức
lương. Tuy nhiên, khi cung lao động vượt quá cầu, khiến mức lương trên thị trường
giảm đến mức không đủ để đảm bảo tái sản xuất sức lao động, thì sự can thiệp của nhà
nước trở nên cần thiết. Trong trường hợp này, nhà nước cần thiết lập mức lương tối thiểu
cao hơn mức lương trên thị trường để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Hiện nay,
nhà nước ta cũng áp dụng quan điểm này để thiết lập mức lương tối thiểu trong khu vực kinh tế tư nhân. -
Sự tăng cường của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội: Nhu cầu của
conngười ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội. Một công việc không đáp ứng
được nhu cầu về tiền lương cho người lao động sẽ dẫn đến tình trạng người lao động bỏ
việc và tìm kiếm một công việc với mức lương cao hơn. Do đó, doanh nghiệp phải cạnh
tranh để thu hút và giữ chân người lao động bằng cách tăng lương và cải thiện điều kiện
làm việc. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ có thể dẫn đến sự tăng trưởng lương trong một
số ngành nghề nhất định. -
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là yếu tố quan trọng để cải thiện tiền
lương.Thông qua việc thương lượng tập thể hoặc đình công, công nhân có thể yêu cầu
tăng tiền công và cải thiện các chế độ phúc lợi. Trong hệ thống tư bản, chủ tư bản có xu
hướng giữ phần lớn giá trị thặng dư, nên việc tăng lương chỉ diễn ra khi có sự áp lực
mạnh mẽ từ phía công nhân. Trong bối cảnh hiện đại, các công đoàn và tổ chức lao động
đóng vai trò lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đàm phán để tăng
lương và đảm bảo môi trường làm việc tốt hơn.
III. Tiền công trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
1. Một số nét về lĩnh vực ngân hàng trong thời gian qua lOMoAR cPSD| 61256830
Ngành ngân hàng là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò
cầu nối giữa việc huy động nguồn vốn và cung ứng tín dụng cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đã có những
bước chuyển mình mạnh mẽ trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và
quá trình hội nhập quốc tế. Không chỉ dừng lại ở việc cải thiện chất lượng dịch vụ, các
ngân hàng còn tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, mở rộng mạng lưới, và nâng
cao khả năng quản lý rủi ro. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng đối mặt với nhiều thách thức
như nợ xấu, cạnh tranh gia tăng, và đòi hỏi phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế khắt khe hơn.
Hình 1.1 Tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi của khách hàng tại TCTD
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Tại thời điểm 31/12/2023, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,5% so với cuối năm
2022 (cùng thời điểm năm 2022 tăng 6,2%); trong đó huy động vốn của các tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng 13,2% (cùng thời điểm năm 2022 tăng
8,3%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 13,8% (cùng thời điểm năm 2022 tăng 14,2%).
Hình 1.2 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế lOMoAR cPSD| 61256830
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất với
mức giảm từ 0,5%-2%/năm, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh trong
những tháng cuối năm. Tình trạng dư thừa vốn tại Ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn
tiếp diễn do cầu tín dụng của nền kinh tế ở mức thấp, dẫn đến việc giảm mạnh lãi suất
huy động cuối năm, ngược với xu hướng những năm trước do đây là thời điểm NHTM
sẽ phải tăng lãi suất huy động, triển khai chương trình khuyến mại để thu hút vốn, đáp
ứng nhu cầu tín dụng của người dân và doanh nghiệp. Lãi suất cho vay bình quân của
NHTM trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,3-
10,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm.
Hình 1.3 Cán cân thanh toán quốc tế
Nguồn Ngân hàng nhà nước (sbv.gov.vn)
Tỷ giá trung tâm năm 2023 về cơ bản ổn định nhờ việc điều hành tỷ giá của ngân
hàng Nhà nước phù hợp, can thiệp ngoại tệ linh hoạt, hạn chế áp lực biến động bất
thường đối với tỷ giá thị trường, góp phần ổn định và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp
pháp. Tỷ giá trung tâm bình quân năm 2023 ở mức 23.797,4 VNĐ/USD, tăng 2,2% so với bình quân năm 2022.
2. Thực trạng tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
Bên cạnh sự đóng góp của lĩnh vực ngân hàng vào tăng trưởng kinh tế, vấn đề tiền
công trong lĩnh vực ngân hàng cũng là một chủ đề đáng quan tâm. Cụ thể trong giai
đoạn 2020-2023, mức lương của công nhân trong lĩnh vực tài chính ngân hàng luôn trên
9 triệu đồng/ tháng. Theo Tổng cục thống kê, mức thu nhập bình quân theo tháng của
lao động lĩnh vực ngân hàng năm 2020 là 9,588,000 đồng/tháng, năm 2023 tăng lên
11,493,000 đồng/tháng, gấp 1,63 lần mức lương trung bình (7 triệu đồng).
Bảng 2.1 Tiền công theo tháng của người lao động làm việc trong ngành ngân hàng tại Việt Nam Đơn vị: USD/tháng lOMoAR cPSD| 61256830 Phòng ban Cấp bậc Hà Nội Hồ Chí Minh Tối thiểu Tối đa Tối thiểu Tối đa Dịch vụ Có kinh nghiệm/ Chưa 500 1200 500 1500 khách hàng là quản lý Trưởng phòng/Giám sát 1000 2000 1000 2000 Trưởng phòng 1500 4000 1500 3500 Giám đốc/ Trưởng bộ 3500 5000 4000 6000 phận Dữ liệu Có kinh nghiệm/ Chưa 1000 2500 1000 3000 là quản lý Trưởng phòng/Giám sát 1500 3000 2000 3000 Trưởng phòng 2500 5000 3000 5000 Chuyên gia 3000 5000 3000 6000 Giám đốc/trưởng bộ 4000 25000 5000 20000 phận Kế toán/ Có kinh nghiệm/ Chưa 600 1500 800 2000 Tài chính là quản lý Trưởng phòng/Giám sát 1000 2000 1500 2500 Trưởng phòng 2000 5000 3000 5000 Chuyên gia 2000 5000 3000 5000 Giám đốc/trưởng bộ 5000 20000 4000 20000 phận Nhân sự Có kinh nghiệm/ Chưa 600 1000 1000 2000 là quản lý Trưởng phòng/Giám sát 1000 2000 1500 2500 Chuyên gia 1500 2500 2000 3000 Trưởng phòng 1500 4000 2500 4000 Giám đốc/trưởng bộ 3000 15000 4000 15000 phận Kiểm toán Có kinh nghiệm/ Chưa 800 1500 1000 1500 nội bộ là quản lý lOMoAR cPSD| 61256830 Trưởng phòng/Giám sát 1200 2000 1500 2500 Trưởng phòng 2000 3500 2500 3500 Giám đốc/trưởng bộ 3500 7000 3000 10000 phận Pháp lý và Có kinh nghiệm/ Chưa 700 2500 1000 2000 tuân thủ là quản lý Trưởng nhóm/ Giám sát 1200 3500 1500 3000 Trưởng phòng 2000 5000 2500 5000 Chuyên gia/ Cố vấn 2500 8000 3000 10000 Giám đốc/ Trưởng bộ 5000 15000 5000 18000 phận Marketing Có kinh nghiệm/ Chưa 700 1500 800 1500 và truyền là quản lý thông Trưởng nhóm/ Giám sát 1000 2000 1000 1800 Trưởng phòng 1500 5000 2000 4000 Giám đốc/ Trưởng bộ 4000 15000 3000 15000 phận Vận hành Có kinh nghiệm/ Chưa 500 1000 800 1500 là quản lý Trưởng nhóm/ Giám sát 800 2000 1000 2000 Trưởng phòng 2000 8000 3000 6000 Chuyên gia/ Cố vấn 2000 5000 2000 5000 Giám đốc/ Trưởng bộ 4000 15000 4000 15000 phận Sản phẩm Có kinh nghiệm/ Chưa 1000 2000 1200 2000 là quản lý Trưởng nhóm/ Giám sát 1500 2500 2000 2500 Trưởng phòng 2000 5000 2500 5000 Giám đốc/ Trưởng bộ 3500 12000 5000 15000 phận lOMoAR cPSD| 61256830
Nguồn Khảo sát lương năm 2023 thực hiện bởi Navigos Group
Theo khảo sát lương năm 2023 được thực hiện bởi Navigos Group – Tập đoàn
cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự hàng đầu Việt Nam, sinh viên mới ra trường hoặc
có ít hơn 2 năm kinh nghiệm ở cả hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh đều có thể tham gia làm việc tại các phòng ban khác nhau của doanh nghiệp trong
lĩnh vực ngân hàng với mức tiền công khởi điểm tương đối ổn định, dao động phổ biến
trong khoảng 200 – 400 USD/ tháng (tức khoảng 4,6 – 9,2 triệu VNĐ/tháng). Sau một
khoảng thời gian làm việc, mức tiền công có thể tăng lên thành 500 – 20000 USD/tháng
( tức khoảng 11,5 – 460 triệu VNĐ/tháng) tuỳ thuộc vào trình độ kinh nghiệm mà sinh
viên tích luỹ, học hỏi được trong quá trình làm việc.
Tiền công của người lao động trong lĩnh vực ngân hàng biến đổi dựa trên trình
độ chuyên môn và kĩ năng làm việc. Với những công việc không đòi hỏi trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao như giao dịch viên, nhân viên dịch vụ khách hàng, nhân viên vận
hành, nhân viên nhân sự,… mức tiền công được trả cho người lao động không quá cao.
Theo trang Vietnamworks khảo sát 300 người dùng chỉ ra mức tiền công phổ biến cho
giao dịch viên là từ 4,6 – 9,3 triệu đồng/tháng; mức tiền lương phổ biến cho nhân viên
dịch vụ khách hàng là từ 2,3 – 9,1 triệu đồng/tháng, nhân viên vận hành với mức lương
phổ biến từ 11,6-17,4 triệu đồng/tháng. Ngược lại, với các vị trí đòi hỏi có bằng cấp
chuyên môn cao, có kiến thức chuyên ngành như kế toán, kiểm toán nội bộ, pháp lý và
tuân thủ, marketing và truyền thông, dữ liệu,…tiền công lại cao hơn rất nhiều. Cụ thể,
vị trí kế toán, kiểm toán nội bộ có mức lương dao động từ 2000 – 20000 USD (tức
khoảng 46 – 460 triệu đồng/tháng), với vị trí về dữ liệu mức lương phổ biến dao động
từ 2000 – 25000 USD (tức khoảng 46 – 575 triệu đồng/tháng), bộ phận Marketing và
truyền thông có mức tiền công từ 1500 – 15000 USD (tức khoảng 34,5 – 345 triệu
đồng/tháng). Sự khác biệt lớn giữa các mức lương có thể bắt nguồn từ sự phức tạp của
các nhiệm vụ giao dịch, xử lý, yêu cầu về kỹ năng, cũng như khối lượng công việc tại từng công ty.
Trong lĩnh vực ngân hàng, mức lương nhìn chung khá hấp dẫn, đặc biệt ở các vị
trí cấp cao như giám đốc hoặc chuyên gia, với mức thu nhập có thể lên đến hàng chục
nghìn USD mỗi tháng. Điều này phản ánh giá trị cao của sức lao động trong ngành, đòi
hỏi kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý phức tạp. Tuy nhiên, ở các vị trí không
yêu cầu chuyên môn sâu, mức lương lại thấp hơn, phù hợp với lý thuyết của Mác về sự
khác biệt trong giá trị sức lao động tùy theo trình độ và yêu cầu công việc. Mức lương
trong ngân hàng vừa phản ánh tính cạnh tranh trong thị trường lao động, vừa khẳng định
rằng trong hệ thống kinh tế thị trường, giá trị lao động được đo lường qua năng lực, hiệu
quả làm việc, và vị thế công việc, đúng như quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự
phân hóa trong xã hội tư bản.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền công trong lĩnh vực ngân hàng
Tiền công trong ngành ngân hàng không chỉ đơn thuần phản ánh giá trị lao động
mà còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phức tạp từ môi trường kinh tế và đặc thù nghề
nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng và sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ số, nhu cầu về nhân lực đang thay đổi nhanh chóng, kéo theo sự biến động lOMoAR cPSD| 61256830
về mức lương. Tuy nhiên, để hiểu rõ sự chênh lệch về tiền công giữa các vị trí trong
ngành, chúng ta cần xem xét sâu hơn các yếu tố cụ thể như cung và cầu lao động, trình
độ chuyên môn, kinh nghiệm, và cả những yếu tố liên quan đến quy mô doanh nghiệp,
địa điểm làm việc. Những yếu tố này tác động mạnh mẽ đến mức lương và tạo ra sự
khác biệt đáng kể giữa các cá nhân trong cùng một ngành nghề.
- Cung và cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương trong ngành
ngânhàng. Nếu nhu cầu về nhân lực ngành ngân hàng tăng cao trong khi nguồn
cung nhân lực hạn chế, mức tiền lương sẽ có xu hướng tăng lên. Ngược lại,
nếu số lượng người tìm việc cao hơn nhu cầu, tiền lương có thể giảm. Với sự
phát triển của công nghệ tài chính (FinTech), nhu cầu về nhân sự có kỹ năng
trong các lĩnh vực như phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro và tuân thủ quy định
ngày càng lớn, làm tăng mức lương cho các vị trí này.
- Trình độ chuyên môn và kỹ năng cá nhân: Những nhân viên có trình độ
chuyênmôn cao và kỹ năng vượt trội trong lĩnh vực ngân hàng sẽ có cơ hội
nhận được mức lương cao hơn. Nhà tuyển dụng thường sẵn lòng trả lương cao
để thu hút và giữ chân nhân sự có năng lực tốt, đặc biệt là những người có kỹ
năng về phân tích tài chính, lập kế hoạch tài chính hoặc quản lý đầu tư. Các
chuyên viên ngân hàng có chứng chỉ ACCA, CFA, CPA hoặc các kỹ năng
phân tích dữ liệu sẽ được ưu tiên và có mức thu nhập cao hơn.
- Kinh nghiệm làm việc: Kinh nghiệm làm việc giúp nhân viên hiểu rõ hơn
về thịtrường tài chính, khách hàng và các chiến lược ngân hàng hiệu quả. Nhân
viên có nhiều năm kinh nghiệm thường có khả năng đảm nhận trách nhiệm
cao hơn và thực hiện công việc hiệu quả hơn, do đó tiền lương của họ cũng
cao hơn. Một chuyên viên ngân hàng có 5-10 năm kinh nghiệm sẽ có mức
lương cao hơn đáng kể so với người mới vào nghề.
- Loại hình doanh nghiệp và quy mô công ty: Các ngân hàng lớn, đặc biệt
là cácngân hàng đa quốc gia, thường có khả năng chi trả lương cao hơn nhờ
vào quy mô và nguồn lực tài chính mạnh mẽ. Các ngân hàng nhỏ hoặc tổ chức
tín dụng phi ngân hàng, do ngân sách hạn chế, thường trả lương thấp hơn. Một
chuyên viên ngân hàng tại một ngân hàng lớn như Vietcombank hoặc BIDV
sẽ nhận được mức lương cao hơn so với một ngân hàng nhỏ hoặc tổ chức tài chính khởi nghiệp.
- Địa điểm làm việc: Tiền lương trong ngành ngân hàng khác nhau theo
từng địaphương. Ở các thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, tiền
lương thường cao hơn do chi phí sinh hoạt đắt đỏ và nhu cầu tuyển dụng lớn.
Mức lương của chuyên viên ngân hàng tại TP. Hồ Chí Minh cao hơn so với
các tỉnh thành nhỏ hơn như Nghệ An hay Bình Định.
- Mức độ phát triển của công nghệ: Ngành ngân hàng hiện nay ngày càng
phụ thuộc vào công nghệ. Những người có kỹ năng về phân tích dữ liệu, quản
lý hệ thống ngân hàng điện tử, và sử dụng công cụ công nghệ tiên tiến sẽ có
mức lương cao hơn do họ có thể đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa và số hóa của lOMoAR cPSD| 61256830
ngành ngân hàng. Những chuyên gia về quản lý rủi ro tài chính hoặc an ninh
mạng thường nhận mức lương cao nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các hệ
thống giao dịch trực tuyến và bảo mật thông tin.
- Hiệu suất và kết quả công việc: Hiệu suất làm việc ảnh hưởng lớn đến
tiềnlương, đặc biệt trong ngành ngân hàng, nơi thành công được đo lường qua
doanh thu, số lượng khách hàng hoặc sự phát triển của sản phẩm tài chính.
Nhân viên có thành tích tốt và đạt được các mục tiêu kinh doanh của ngân
hàng thường được thưởng hoặc tăng lương. Một chuyên viên ngân hàng tăng
trưởng doanh thu thông qua các chiến lược kinh doanh hiệu quả thường được
thưởng và có mức lương cao hơn so với những người có hiệu suất thấp.
Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến tiền công của từng cá nhân mà còn định
hình cách doanh nghiệp trả lương và đánh giá giá trị của nhân sự trong ngành Marketing.
4. Biện pháp đề xuất
4.1 Đối với Người Lao Động
Người lao động trong lĩnh vực ngân hàng cần tích cực nâng cao trình độ chuyên
môn để tăng khả năng cạnh tranh và thu nhập. Việc tham gia các khóa đào tạo, chứng
chỉ chuyên ngành, và chương trình phát triển kỹ năng sẽ giúp họ nâng cao năng lực bản
thân. Các chứng chỉ như CFA, CPA hay các chứng chỉ liên quan đến quản lý rủi ro không
chỉ giúp cải thiện kiến thức mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thương lượng
mức lương với nhà tuyển dụng. Hơn nữa, người lao động cũng nên chủ động trong việc
đàm phán lương, dựa trên thông tin thị trường để đưa ra các lập luận thuyết phục hơn.
Ngoài ra, việc tham gia vào các mạng lưới nghề nghiệp cũng rất quan trọng.
Tham gia vào các hiệp hội nghề nghiệp hoặc diễn đàn trực tuyến giúp người lao động
kết nối với những chuyên gia khác trong ngành, từ đó tìm hiểu về xu hướng lương bổng
và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Điều này không chỉ giúp họ nâng cao nhận thức về thị
trường mà còn mở ra cơ hội học hỏi từ những người có kinh nghiệm.
4.2 Đối với Doanh Nghiệp
Các ngân hàng nên xây dựng một chính sách lương bổng minh bạch, thiết lập hệ
thống trả lương rõ ràng và công khai các tiêu chí đánh giá nhân viên. Điều này giúp
nhân viên hiểu rõ cách thức tính lương và tạo động lực làm việc cho họ. Đồng thời, các
ngân hàng cần đầu tư vào các chương trình đào tạo để nâng cao kỹ năng và trình độ
chuyên môn của nhân viên. Việc này không chỉ nâng cao năng lực của nhân viên mà còn
cải thiện chất lượng dịch vụ và lợi nhuận cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên khuyến khích thưởng theo hiệu suất làm việc.
Thiết lập các chương trình thưởng cho những nhân viên đạt được thành tích cao hoặc có
đóng góp lớn sẽ tạo động lực cho nhân viên phấn đấu. Đặc biệt, đảm bảo các phúc lợi
hấp dẫn như bảo hiểm sức khỏe, hỗ trợ học phí và các chương trình phúc lợi khác sẽ
giúp thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành ngân hàng.
4.3 Đối với Nhà Nước lOMoAR cPSD| 61256830
Nhà nước cũng cần có các chính sách hợp lý để cải thiện tiền công trong lĩnh vực
ngân hàng. Việc thiết lập và thực thi các chính sách về mức lương tối thiểu cho ngành
ngân hàng sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Chính phủ cũng nên khuyến khích
các ngân hàng đầu tư vào công nghệ mới thông qua các gói hỗ trợ tài chính và ưu đãi
thuế, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành ngân hàng. Điều này không chỉ tạo ra nhiều
cơ hội việc làm mà còn có thể nâng cao mức lương cho người lao động.
Ngoài ra, nhà nước cần tăng cường quản lý và giám sát chính sách tiền lương và
phúc lợi trong ngành ngân hàng, bảo đảm rằng các ngân hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
đối với người lao động. Cuối cùng, chính phủ có thể triển khai các chương trình đào tạo
và nâng cao kỹ năng cho người lao động trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các
lĩnh vực công nghệ tài chính và quản lý rủi ro, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Việc cải thiện tiền công trong lĩnh vực ngân hàng là nhiệm vụ quan trọng cần có sự
hợp tác chặt chẽ giữa người lao động, doanh nghiệp và nhà nước. Thông qua những biện
pháp cụ thể từ mỗi bên, chúng ta có thể tạo ra một môi trường làm việc công bằng và
hấp dẫn hơn, từ đó thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành ngân hàng tại Việt Nam. KẾT LUẬN
Nhìn từ góc độ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền công không chỉ là phần thù
lao trực tiếp mà người lao động nhận được mà còn là một phần phản ánh sự phân chia
giá trị thặng dư trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt
Nam, lý luận này được áp dụng để phân tích và hiểu rõ hơn về sự phân phối giá trị lao
động và tiền công của các vị trí trong ngành. Mặc dù có sự gia tăng đáng kể về mức
lương trong ngành, nhưng sự không đồng đều trong phân phối tiền công vẫn tồn tại,
phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị sức lao động và thù lao thực nhận.
Việc áp dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích tiền công trong lĩnh
vực ngân hàng không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phân phối giá trị trong nền
kinh tế mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự không đồng đều trong phân phối lợi ích
kinh tế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những cải cách về chính sách tiền công,
nhằm đảm bảo sự công bằng và hợp lý hơn trong việc phân phối giá trị lao động giữa
các cá nhân và các nhóm ngành nghề khác nhau.
Tóm lại, sự liên hệ giữa lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về tiền công và thực
tiễn tiền công trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam phản ánh một bức tranh rõ nét về sự
phát triển kinh tế và sự phân phối giá trị lao động. Những phân tích này không chỉ cung
cấp cái nhìn về sự vận hành của thị trường lao động mà còn chỉ ra hướng đi cho việc cải
cách chính sách tiền công, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và công bằng
hơn trong ngành ngân hàng cũng như trong nền kinh tế nói chung.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế - Nhà xuất bản Trường Đại học Kinh tếquốc dân lOMoAR cPSD| 61256830
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin – Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
3. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin – Nhà xuất bảnchính trị quốc gia sự thật
4. Tổng cục thống kê (2023), Niên giám thống kê 2023, NXB Thống kê, Hà Nội
5. Ngân hàng Nhà nước (sbv.gov.vn)
6. https://www.vietnamworks.com/muc-luong
7. Khảo sát lương năm 2023, Navigos Group