











Preview text:
lOMoAR cPSD| 61236129
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN
MÔN: Kinh tế chính trị Mác-Lênin
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động.
Hãy nêu ngắn gọn một số hiểu biết của em về thực trạng thị trường
hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay.
Họ tên sinh viên: Nguyễn Ngọc Huyền
Lớp: POHE Truyền thông Marketing 64 Mã sinh viên: 11222920
Giảng viên HD: NGUYỄN THỊ HÀO HÀ NỘI – 2023 lOMoAR cPSD| 61236129 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 3
Chương 1: Lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động ........................... 4
1. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa sức lao động: ........................ 4
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động ..................................................... 4
Chương 2: Thực trạng và giải pháp cho thị trường hàng hóa sức lao động
ở Việt Nam hiện nay ...................................................................................... 6
1. Thực trạng về thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay ........................ 6
1.1 Nêu vấn đề ............................................................................................. 6
1.2. Khái niệm về thị trường hàng hóa sức lao động.................................. 6
1.3 Thực trạng thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam ................... 6
2. Một số giải pháp để khắc phục những hạn chế của thị trường hàng hóa sức
lao động của Việt Nam hiện nay ........................................................................ 9
KẾT LUẬN.................................................................................................. 12 lOMoAR cPSD| 61236129 LỜI MỞ ĐẦU
Trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác, xuất phát điểm đầu tiên đó là từ học
thuyết giá trị. Trên nền tảng học thuyết này, C.Mác đã xây dựng nên học thuyết
về giá trị thặng dư với một vị trí “hòn đá tảng” trong lí luận. Ở đây, ông đã nhìn
nhận ra rằng, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để có được giá trị thặng dư, nhà tư
bản phải tìm ra một loại hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có thuộc tính là
nguồn gốc sinh ra giá trị. Sức lao động của con người chính là hàng hóa mà nhà
tư bản đã tìm ra. Không chỉ ở các nước mà ở Việt Nam, khi nền kinh tế đang
trên con đường hội nhập, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu về
hàng hóa sức lao động là một việc làm có ý nghĩa trong việc xây dựng thị trường
lao động hiện nay. Xuất phát từ vấn đề trên, em xin chọn đề tài nghiên cứu về
“Lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động. Hãy nêu ngắn gọn một số hiểu
biết của em về thực trạng thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện
nay”. Để làm rõ hơn vai trò của lí luận đối với thực tiễn Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61236129
Chương 1: Lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động
1. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa sức lao động:
Sức lao động, theo C. Mác, “ Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ
những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người
đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị
sử dụng nào đó”. Trong mỗi xã hội, sức lao động luôn là yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất. Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ điều kiện nào thì sức lao động
cũng trở thành hàng hóa sức lao động.
Sức lao động có thể trở thành hàng hóa sức lao động chỉ khi nó có thể thỏa mãn hai điều kiện như sau:
- Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể. Điều này có thể lý
giải như sau, để được gọi là hàng hóa thì bản thân người lao động phải
có quyền sở hữu và sử dụng sức lao động của mình, người đó có quyền
tự quyết lao động cho ai và lao động như thế nào.
- Thứ hai, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự
kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ
phải bán sức lao động. Đây chính là điều kiện đủ để một sức lao động trở
thành hàng hóa sức lao động. Chúng ta biết rằng: sức lao động và tư liệu
sản xuất là 2 yếu tố căn bản của quá trình lao động sản xuất tạo ra sản
phẩm. Do đó những người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất thì
bắt buộc phải cung cấp và bán sức lao động của mình để duy trì cuộc
sống của bản thân và gia đình.
Có một điểm cần chú ý là người lao động có thể bán sức lao động, nhưng họ chỉ
bán sức lao động của mình trong một thời gian nhất định mà thôi. Nếu họ bán
hết cả ngày, thì tức là người lao động tự bán mình, từ chỗ người tự do và họ trở
thành 1 nô lệ. Do đó, bản chất của việc bán sức lao động là người lao động chỉ
bán quyền sử dụng sức lao động còn họ vẫn sở hữu sức lao động.
2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính như hàng hóa
thông thường. Đó là thuộc tính giá trị và thuộc tính giá trị sử dụng. lOMoAR cPSD| 61236129
- Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định.
Xét về cấu thành , do hàng hóa sức lao động tồn tại trong con người đang sống,
nên để sống và tái sản xuất sức lao động, người lao động phải tiêu dùng lượng
tư liệu sinh hoạt nhất định.
Do vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ
được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt mà người lao động tiêu dùng. Tức là, về cách tính, giá trị của hàng
hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu
sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động. Cho nên, cấu thành giá trị của hàng
hóa sức lao động sẽ bao gồm:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết về cả vật chất lẫn tinh thần để tái
sản xuất ra sức lao động.
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần chất ( vật chất và tinh thần ) nuôi
con của người lao động. Phải có tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống con cái
người công nhân vì con cái là nguồn lao động kế tiếp, duy trì sức lao động khi
người công nhân già yếu và mất đi.
Một đặc điểm cần chú ý: Nhu cầu tư liệu sinh hoạt của người công nhân thay
đổi không ngừng theo từng giai đoạn phát triển và từng khu vực.
Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của
hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng để thỏa mãn nhu cầu của người mua.
Khác với nhu cầu thông thường, khi sử dụng hàng hóa sức lao động, người mua
hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm.
Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và
lịch sử. Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt lOMoAR cPSD| 61236129
mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó,
không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn được tạo ra được lượng giá trị
lớn hơn. Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có.
C. Mác khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư do hao phí sức lao động mà có.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp cho thị trường hàng hóa sức lao động
ở Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng về thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay 1.1 Nêu vấn đề
Việc phát triển lý luận “hàng hoá sức lao động” của C.Mác là một nội dung quan
trọng trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà
nước, phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay. Thị trường sức lao
động là một trong những nội dung quan trọng của đổi mới kinh tế và làm thế
nào để phát triển thị trường sức lao động luôn được nhận được sự quan tâm của
các nhà khoa học, các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách. Bên cạnh đó,
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề lao động có vai trò quan trọng,
mang tính cấp thiết, lâu dài đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế. Do đó,
việc làm rõ thực trạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay và đưa ra những giải pháp khắc phục là một vấn đề cần thiết.
1.2. Khái niệm về thị trường hàng hóa sức lao động
Có rất nhiều quan điểm, cách hiểu, khái niệm về thị trường hàng hóa sức lao
động. Tuy nhiên, có thể hiểu đơn giản rằng thị trường hàng hóa sức lao động là
nơi cung cấp, trao đổi hàng hoá đặc biệt (sức lao động) giữa một bên là người
cần mua sức lao động (người sử dụng lao động) và một bên là người cần bán/
cung cấp dịch vụ lao động (người lao động). Có hai yếu tố cơ bản cấu thành thị
trường sức lao động là cung lao động và cầu lao động.
1.3 Thực trạng thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam
Trong năm 2023, dự báo thị trường sức lao động cũng sẽ chịu nhiều rủi ro và
thách thức. Do đó, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các địa phương phải
nắm bắt tình hình biến động của thị trường sức lao động; đặc biệt là tình hình
sản xuất, kinh doanh, lao động-việc làm của các doanh nghiệp trên địa bàn. Từ lOMoAR cPSD| 61236129
đó, kịp thời có những biện pháp kết nối cung-cầu lao động, hỗ trợ doanh nghiệp
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động.
1.3.1. Nỗ lực phục hồi thị trường lao động
Báo cáo của Cục Việc làm cho biết, trong năm 2022, với các chương trình, chính
sách hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội, thị trường lao động cơ bản đã phục hồi.
Cụ thể, lực lượng lao động tăng khá nhanh. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở
lên năm 2022 đạt 51,7 triệu người, tăng 1,1 triệu người. Tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động là 68,5%, tăng 0,8%.
Số lao động có việc làm tăng trở lại. Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm
năm 2022 là 50,6 triệu người, tăng 1,5 triệu người. Trong đó, số lao động có
việc làm ở khu vực thành thị là 18,6 triệu người, tăng 877,3 nghìn người; lao
động ở khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, tăng 627,2 nghìn người.
Trong năm ngoái, số lượng lao động và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm đều
giảm. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2022 là 2,32%, giảm 0,88%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2022 là 2,21%, giảm 0,89%.
Thu nhập của người lao động được cải thiện. Cụ thể, thu nhập bình quân của
người lao động năm 2022 là 6,7 triệu đồng/tháng, tăng 927 nghìn đồng so với
năm 2021, tăng 759 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2019.
Số lượng lao động và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm đều giảm. Tỷ lệ thất
nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2022 là 2,32%, giảm 0,88%. Tỷ lệ thiếu việc
làm của lao động trong độ tuổi năm 2022 là 2,21%, giảm 0,89%. Tỷ lệ thiếu
việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,7%
và 2,51%). Tổng số người được tư vấn, giới thiệu việc làm đạt hơn 2,2 triệu lượt
người, tăng 24,37% so với năm 2021. Số người được hỗ trợ học nghề là 21.825
người, tăng 18,82% so với năm 2021.
1.3.2. Điểm hạn chế trong năm 2022
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, Cục Việc làm cũng chỉ ra nhiều hạn
chế, tồn tại cần sớm tháo gỡ, khắc phục. Trong đó, trọng tâm là chất lượng cung
lao động chưa đáp ứng cho cầu lao động của một thị trường lao động hiện đại,
linh hoạt và đang trong quá trình hội nhập. lOMoAR cPSD| 61236129
Điều này thể hiện ở số lượng lao động có trình độ, kỹ năng nghề cao còn thấp
(năm 2022, tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ đạt 26,2%). Chất lượng nhân
lực có kỹ năng nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường
lao động; năng lực cạnh tranh quốc gia còn thấp, chưa tận dụng được hết cơ hội
của thời kỳ dân số vàng để thu hút nguồn lực đầu tư.
Điều này dẫn tới việc thị trường lao động vẫn có hiện tượng mất cân đối cungcầu
lao động cục bộ và có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, khu
vực, ngành nghề kinh tế; cơ chế kết nối cung-cầu và tự cân bằng của thị trường còn yếu.
Trong năm 2022, để góp phần phục hồi và phát triển thị trường lao động, Cục
Việc làm đã được giao và triển khai một số nhiệm vụ. Nổi bật nhất là đơn vị đã
tham mưu xây dựng Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 và triển
khai chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động góp phần đưa người lao
động nhanh chóng trở lại thị trường lao động, ngăn ngừa tình trạng đứt gãy
chuỗi cung ứng lao động do tác động của đại dịch Covid-19. Triển khai chính
sách này, đã có 5,3 triệu lượt lao động tại nhiều địa phương được hỗ trợ với kinh
phí gần 3.800 tỷ đồng.
Cục Việc làm cũng tham mưu cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội để trình
Chính phủ tổ chức thành công Hội nghị phát triển thị trường lao động linh hoạt,
hiện đại, bền vững và hội nhập. Đồng thời, tham mưu cho Bộ Lao động-Thương
binh và Xã hội trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 06/NQCP ngày
10/1/2023 về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền
vững và hội nhập nhằm phục hồi nhanh kinh tế-xã hội.
1.3.3. Nhiều rủi ro và thách thức trong năm 2023
Thứ trưởng Lê Văn Thanh nhận định, năm 2023, dự báo thị trường lao động
chắc chắn cũng sẽ chịu nhiều rủi ro và thách thức, nhất là trong bối cảnh dịch
Covid-19 vẫn còn và các nước ứng xử rất khác nhau nên việc sản xuất, kinh
doanh sẽ bị ảnh hưởng. Tình hình lạm phát ở các nước đang đẩy giá nguyên vật
liệu tăng cao, xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine cũng là nguyên nhân dẫn
đến đứt gãy chuỗi cung ứng trên toàn cầu, gây khó khăn cho việc sản xuất, nhất
là trong các ngành chế biến, chế tạo.
Do đó, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các địa phương phải nắm bắt tình
hình biến động của thị trường lao động; đặc biệt là tình hình sản xuất, kinh lOMoAR cPSD| 61236129
doanh, lao động, việc làm của các doanh nghiệp trên địa bàn để kịp thời có
những biện pháp kết nối cung cầu lao động, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động.
1.3.4. Một số chỉ tiêu đặt ra của năm 2023:
Tỷ lệ lao động qua đào tạo: khoảng 68%, trong đó:
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ: khoảng 27,5%
- Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị: dưới 4%
- Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội: khoảng 39-40 %
- Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp: khoảng 31,5-32%
(Nguồn: Kế hoạch hành động của ngành lao động-thương binh và xã hội thực
hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 6/1/2023 của Chính phủ)
2. Một số giải pháp để khắc phục những hạn chế của thị trường hàng hóa
sức lao động của Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về thị trường lao động, tuân thủ các quy luật của
kinh tế thị trường, coi lao động là hàng hóa đặc biệt để có cơ chế, chính sách
phù hợp. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật đồng bộ, thống nhất
để thị trường lao động phát triển theo hướng linh hoạt, hiện đại, đầy đủ, bền
vững, hiệu quả, hội nhập quốc tế, thúc đẩy tạo việc làm bền vững, có thu nhập
cao. Cùng với đó, tiếp tục nội luật hóa và quy định cụ thể các tiêu chuẩn lao
động phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam cam kết và phê chuẩn.
Thứ hai, nắm bắt nhu cầu, phát triển thị trường lao động đúng hướng, tập trung
vào các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm đang là ưu tiên hiện nay như chuyển đổi
số, chuyển đổi xanh, ứng phó biến đổi khí hậu… Đẩy mạnh đầu tư số hóa quản
trị lao động việc làm kết nối với số hóa quản lý dân cư.
Thứ ba, chú trọng đầu tư cả về cơ chế chính sách, nguồn lực để xây dựng hệ
thống thông tin và dự báo thị trường lao động đa tầng từ địa phương cấp tỉnh,
cấp vùng tới toàn quốc, đa lĩnh vực theo ngành nghề, có các cấp trình độ khác
nhau. Chính sách phải dựa trên cơ sở dữ liệu hiện tại và dự báo tương lai. “Nhiều lOMoAR cPSD| 61236129
chỉ số của thị trường lao động như tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, số việc làm
được tạo ra… là những chỉ số kinh tế vĩ mô rất quan trọng trong việc chỉ đạo,
điều hành kinh tế - xã hội” - Thủ tướng nói.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng chính sách việc làm trên nguyên tắc có tính dự báo,
tầm nhìn chiến lược, chủ động, phù hợp với cơ chế thị trường, xây dựng nhiêm
vụ phù hợp, khả thi, hiệu quả cả ngắn hạn và dài hạn, đa dạng hoá các nguồn
tín dụng để thúc đẩy tạo việc làm mới, việc làm sáng tạo, chất lượng cao, việc
làm bền vững, việc làm xanh, phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng,
ứng phó biến đổi khí hậu, việc làm cho đối tượng yếu thế, vùng sâu vùng xa.
Thứ năm, cần quan tâm tới việc dịch chuyển lao động, việc làm theo địa lý, địa
bàn, đảm bảo có cơ cấu phân bổ lao động việc làm hợp lý trên toàn quốc. Tạo
việc làm ở khu vực nông thôn, miền núi để người dân có thể làm việc tại quê
hương với mức thu nhập ổn định, để NLĐ hạn chế phải xa quê hương. Triển
khai chính sách hỗ trợ nhà ở cho công nhân, NLĐ ở khu công nghiệp và các
thành phố lớn. Về việc này, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị về nhà ở xã hội với
mục tiêu xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho công nhân, người thu
nhập thấp đến năm 2030.
Thứ sáu, đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo, giáo dục nghề nghiệp theo hướng
mở, linh hoạt, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, tận dụng thời cơ dân số vàng. Đẩy mạnh huy
động các nguồn lực đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Chú trọng đào tạo những
kỹ năng ngoại ngữ, tính kỷ luật, kỷ cương… để hội nhập với thị trường lao động thế giới.
Thứ bảy, thực hiện các văn bản, quy định liên quan tới thị trường lao động,
Quyết định số 522/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác hướng
nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp tổ chức giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên
cấp trung học phổ thông. “Hiện nay, chương trình phục hồi và phát triển đang
dành khoảng 2.000 tỉ đồng cho việc đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm và
dự kiến sẽ bố trí thêm, chủ trương của chúng ta là không tiếc kinh phí cho việc
này, nhưng sử dụng trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả” - Thủ tướng lưu ý. lOMoAR cPSD| 61236129
Thứ tám, rà soát, đánh giá sắp xếp tổ chức, đầu tư nâng cao năng lực của hệ
thống đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao; xây dựng, đề xuất mô hình liên kết vùng, xây dựng các trung tâm đào tạo
vùng, trung tâm đào tạo quốc gia theo vùng kinh tế trọng điểm.
Thứ chín, tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong kết nối giáo dục
nghề nghiệp với doanh nghiệp; xây dựng chính sách ưu đãi cho học tập, nâng
cao kỹ năng nghề nghiệp, đánh giá công nhận trình độ kỹ năng cho người lao
động. Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bổ sung, đào tạo tại doanh nghiệp
để thu hút hiệu quả lao động tại chỗ nhằm giải quyết triệt để vấn đề thiếu hụt
nhân lực cục bộ, vấn đề đứt gãy lao động phục vụ phục hồi nhanh, phát triển
bền vững kinh tế - xã hội. lOMoAR cPSD| 61236129 KẾT LUẬN
Có thể nói thị trường lao động là khá mới mẻ đối với Việt Nam bởi lẽ việc hình
thành các chợ lao động, trung tâm giới thiệu việc làm rất nhỏ lẻ. Có thể nói lao
động là một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm: lao
động, đất đai, vốn … Đối với nước ta hiện nay việc hình thành thị trường lao
động là hết sức cần thiết, nó giúp tháo gỡ những vướng mắc giữa người lao
động và người sử dụng lao động, giúp rút ngắn con đường tìm việc làm và tuyển
dụng lao động, giúp cho quá trình “người tìm việc, việc tìm người” diễn ra một
cách khoa học, dễ dàng, đảm bảo quyền lợi của người mua và người bán thông
qua hợp đồng lao động. Vì vậy, cần áp dụng triệt để lí luận của C.Mác vào thực
tiễn để có thể tạo ra được nguồn nhân lực đảm bảo cả về chất lẫn lượng, phục
vụ cho việc phát triển kinh tế của đất nước trên con đường hội nhập, đưa đất
nước tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.