













Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN ĐỀ TÀI
LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ THỰC TRẠNG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NĂM 20202022
Họ và tên SV: NGUYỄN ĐẶNG LAN PHƯƠNG Mã SV:11225233 Lớp: KTCT (123) – 25 STT: 34 Hà Nội, 10/2023 lOMoAR cPSD| 61256830 MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................................................................................... 2
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................................................. 3
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................................................................... 4
I. LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA ...................................................................................................... 4
1. Khái niệm : .............................................................................................................................. 4
2. Điều kiện ra đời : .................................................................................................................... 4
3. Đặc trưng : .............................................................................................................................. 5
4. Giai đoạn của sản xuất hàng hóa : ......................................................................................... 5
5. Ưu thế : ................................................................................................................................... 6
II. Thực trạng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam từ 2020 đến 2022 : .................................................... 7
1. Thực trạng kinh tế sản xuất hàng hóa ở Việt Nam từ 2020 đến 2022: ................................ 8
2. Đánh giá thực trạng ................................................................................................................ 9
III. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ..................... 11
1. Đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng ...................................... 12
2. Duy trì nền kinh tế ‘mở’ và nền kinh tế nhiều thành phần: ............................................... 12
3. Tập trung đào tạo lực lượng lao động có trình độ cao: ...................................................... 13
4. Kiểm soát lạm phát và giá cả: .............................................................................................. 13
5. Tăng cường hợp tác quốc tế : .............................................................................................. 13
PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................................................................... 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................................. 14 lOMoAR cPSD| 61256830 PHẦN MỞ ĐẦU
Chiến thắng trong các cuộc kháng chiến cứu quốc, tiếp đến là hàn gắn vết thương chiến
tranh và tìm cơ chế, mô hình phát triển, đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều dấu ấn quan
trọng trên hầu hết các lĩnh vực. Từ một quốc gia thuần nông, đại đa số người dân sống ở
nông thôn, trình độ phát triển thấp, Việt Nam đã chuyển mình trở thành một quốc gia có
mức thu nhập trung bình trên thế giới. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ
mô được duy trì, giúp cho nước ta chủ động hơn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước năm 1986, Việt Nam áp dụng nền kinh tế tự cung tự cấp. Với nền kinh tế này, một
phần nào đó nước ta cũng đã có những những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, sau đó
với tình hình định hướng chung của Việt Nam, nó đã không còn phù hợp và bộc lộ các mặt
yếu kém, kìm hãm sư phát triển đặc biệt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhận
thấy tình hình cấp thiết, tại đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định quan trọng
trong đổi mới nền kinh tế, thay thế nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bằng nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao. Ở đó mọi quan hệ
sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy
luật thị trường. Có thể thấy sản xuất hàng hóa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
nền kinh tế thị trường, những lý luận sản xuất hàng hóa của C. Mác đã cho ta thấy được
vai trò quan trọng đó của sản xuất hàng hóa. Chính vì thế, việc nghiên cứu về lý luận sản
xuất hàng hóa của C. Mác và tìm hiểu vai trò cũng như tác động của nó đến nền kinh tế,
đặc biệt là trong thời kì phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có ý nghĩa vô
cùng quan trọng và cần thiết. Chính vì điều đó, em quyết định chọn đề tài “Lý luận về sản
xuất hàng hóa và vận dụng trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” lOMoAR cPSD| 61256830 PHẦN NỘI DUNG I.
LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1. Khái niệm :
Kinh tế chính trị Mác Lê-nin đã giải thích và làm rõ khái niệm về sản xuất hàng hóa,
nó được xác định là một kiểu tổ chức hoạt động trong lĩnh vực kinh tế mà ở đó, con
người sản xuất ra các vật phẩm không để phục vụ cho bản thân, ngược lại , nhằm để
phục vụ cho người khác với mục đích mang về một lợi ích khác. Hay nói ngắn gọn,
những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán.
2. Điều kiện ra đời :
Ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã và phát triển mạnh mẽ trong chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Cho đến chủ nghĩa cộng sản thì sản xuất hàng hóa
biến mất. Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội
loài người. Nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển khi có các điều kiện :
Một là, phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành,
các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản
xuất thành những ngành, nghề khác nhau. Khi đ, mỗi người thực hiện sản xuất một
hoặc một số loại sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của họ lại yêu cầu nhiều loại
sản phẩm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu những người sản xuất
phải trao đổi sản phẩm với nhau.
Hai là, sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất.
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho những người sản xuất
độc lập với nhau có sự tách biệt về lợi ích. Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu
dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi mua bán, tức là phải trao đổi
dưới hình thức hàng hóa C. Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân
độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng lOMoAR cPSD| 61256830
hóa”. Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền
sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển.
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất hiện khách
quan dựa trên sự tách biệt về sở hữu. Xã hội loài người càng phát triển, sự tách biệt
về sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất ra càng phong phú.
Khi còn sự tồn tại của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ
quan mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa. Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa
sẽ làm cho xã hội đi tới chỗ khan hiếm và khủng hoảng. Với ý nghĩa đó, cần khẳng
định, nền sản xuất hàng hóa có ưu thế tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc. 3. Đặc trưng :
Sản xuất hàng hóa gồm có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi và mua bán, đây là kiểu tổ chức kinh tế
trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của người trực tiếp sản xuất ra. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác
thông qua việc trao đổi và mua bán.
- Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội.
Sở dĩ mang tính chất này là vì sản phẩm làm ra để đáp ứng nhu cầu của người khác
trong xã hội. Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế thì lao động của người sản
xuất hàng hóa vẫn mang tính chất tư nhân vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là
công việc riêng, mang tính độc lập.
- Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải giá trị sử dụng.
- Quá trình tái sản xuất bao gồm bốn khâu chính : sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.
4. Giai đoạn của sản xuất hàng hóa :
Sản xuất hàng hóa phát triển qua hai giai đoạn : lOMoAR cPSD| 61256830
- Giai đoạn thấp – Sản xuất hàng hóa giản đơn: là nền sản xuất hàng hóa dựa trên sở
hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất kết hợp sức lao động cá nhân của người lao
động. Đặc trưng của giai đoạn này là người lao động có tư liệu sản xuất do đó họ tự
tổ chức sản xuất và toàn bộ sản phẩm làm ra thuộc về họ. Quy mô sản xuất nhỏ,
phân tán. Công cụ lao động thủ công, lạc hậu, năng suất thấp. Nền sản xuất phát
triển chậm. Sản xuất hàng hóa giản đơn là đặc trưng trong xã hội nô lệ, phong kiến.
- Giai đoạn cao – Sản xuất hàng hóa phát triển: là nền sản xuất hàng hóa tập trung
quy mô lớn bằng máy móc năng suất cao; quy mô lớn, tập trung; nền sản xuất phát
triển mạnh; luôn vận động theo yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan của thị
trường do đó sản xuất hàng hóa phát triển còn gọi là nền kinh tế thị trường. Sản xuất
hàng hóa phát triển gắn với xã hội tư bản, chủ nghĩa xã hội. 5. Ưu thế :
Sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn so với sản xuất tự cung, tự cấp, biểu
hiện qua các khía cạnh sau:
- Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên
môn hóa sản xuất, do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ
thuật của từng người, từng cơ sở cũng như của từng vùng, từng địa phương. Khi sản
xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia thì nó còn khai thác được lợi thế của mỗi quốc gia.
- Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô, tính chất tổ chức sản xuất không bị
giới hạn mà nó được mở rộng, xã hội hóa ngày càng cao dựa trên cơ sở ngày càng
tăng nhu cầu và nguồn lực xã hội. Điều đó tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu
khoa học, công nghệ thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Thứ ba, trong nên sản xuất hàng hóa, sự tác động của những quy luật vốn có của sản
xuất và trao đổi hàng hóa như quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh,v.v.. buộc người
sản xuất phải năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. lOMoAR cPSD| 61256830 II.
Thực trạng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam từ 2020 đến 2022 :
Trải qua một quá trình lịch sử dài đầy biến cố cũng những biến đổi không ngừng về
mọi mặt của đất nước và con người, từ xa xưa nền cung cấp tự chủ sớm đã là cách
thức duy nhất được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về ăn uống và sinh hoạt của chúng
ta trong một khoảng thời gian không hề ngắn, điều mà khiến cho nền kinh tế của
Việt Nam phải bắt đầu ở một điểm xuất phát thấp trong khi nhiều quốc gia khác đã
tiếp cận và đang trên đà phát triển nền sản xuất hàng hóa đầy tiềm năng. Nền tảng
không được tốt từ lúc đầu đã gây rất nhiều trở ngại cho nền kinh tế nước nhà và bởi
lẽ đó Việt Nam được chỉ đang được xếp vào đội ngũ những nước ‘đang phát triển’.
Sự ra đời của việc sản xuất hàng hóa là một tiền đề lớn cho việc cải tạo và thúc đẩy
quá trình phát triển kinh tế toàn cầu. Không thể phủ nhận vai trò của việc sản xuất
ra hàng hóa khi nó tạo nên sự cạnh tranh giữa các bộ phận sản xuất, buộc họ phải
luôn ở trong tình trạng vận động để không ngừng phát triển và sáng tạo ra những
sản phẩm mới, chất lượng hơn và đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời mở
rộng giới hạn về năng suất lao động cùng cường độ lao động của các cá thể lên một
trình độ cao hơn, nhanh và hiệu quả hơn. So ng hành với sự phát triển kinh tế, là
một hệ thống về công nghệ, máy móc và thiết bị sản xuất vô cùng hiện đại - một
yếu tố được xem như là ‘chủ đạo’ mà đã góp phần không hề nhỏ trong quá trình đi lên đó. lOMoAR cPSD| 61256830
1. Thực trạng kinh tế sản xuất hàng hóa ở Việt Nam từ 2020 đến 2022:
Tăng trưởng GDP các quý trong năm giai đoạn 2020-2022 5 0 Quý IV -5 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
- Với mức tăng GDP của quý I là 3,68%, quý II tăng 0,39%, quý III tăng 2,69% và
quý IV tăng 4,48%, GDP cả năm 2020 tăng 2,91%. Tuy con số tăng trưởng còn thấp
so với những năm trước vì ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 nhưng sau sự giảm
sút của quý II, nhờ kịp thời kiểm soát dịch bệnh covid-19 và sự tác động của Hiệp
định thương mại tự do đã tạo động lực cho nền kinh tế, góp phần đưa GDP quý IV
tăng trưởng khởi sắc so với quý III.
- Ước tính GDP năm 2021 tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III
giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%) so với năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng
nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021 nhiều
địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng
chống dịch bệnh. Tuy nhiên cho tới quý IV, tốc độ tăng trưởng quay lại con số dương.
- Tính riêng quý IV/2022, GDP ước tăng 5,92% so với cùng kỳ năm 2021, tuy cao
hơn tốc độ tăng 4,7% và 5,17% của cùng kỳ năm 2020 và 2021 nhưng thấp hơn tốc
độ tăng của quý IV các năm 2011-2019. Ước tính GDP năm 2022 tăng 8,02% (quý
I tăng 5,05%; quý II tăng 7,83%; quý III tăng 13,71%; quý IV tăng 5,92%) lOMoAR cPSD| 61256830
Tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2020-2023 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
- Đây là thành công lớn của Việt Nam mặc dù mức tăng trưởng của cả năm 2020 là
mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2011 – 2020 tuy nhiên GDP năm 2020 lại thuộc
nhóm cao nhất thế giới, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hoành hành diễn biến
phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.
- Năm 2021, GDP của cả năm giảm nhẹ so với năm 2020. Tuy nhiên đến năm 2022,
ước tính GDP tăng 8,02% so với năm trước do nền kinh tế được khôi phục trở lại và
đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022.
2. Đánh giá thực trạng
a. Những kết quả đạt được :
- Trong 3 năm giai đoạn 2020-2022 vừa qua, mặc dù phải đối phó với những thách
thức lớn nhưng nền kinh tế sản xuất hàng hóa của Việt Nam vẫn nỗ lực phát triển,
tăng trưởng qua từng năm. Đối mặt với dịch bệnh COVID-19 gây cản trở các hoạt
động kinh tế trao đổi mua bán hàng hóa, gây thiệt hại nặng đến mức nền kinh tế sản
xuất hàng hóa gần như ‘đóng băng’, nhưng nhờ các chính sách hợp lí, kịp thời, đúng
đắn Việt Nam năm 2020 vẫn lọt top một trong những nước có tốc độ tăng trưởng lOMoAR cPSD| 61256830
kinh tế đứng đầu thế giới, phát triển sản xuất hàng hóa đạt mức tăng trưởng dương
và mang lại kì tích đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022.
- Một trong những lí do tạo nên những con số tăng trưởng dương trong giai đoạn trên
là lợi ích mang lại từ Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu
Âu (EU) giúp việc trao đổi mua bán hàng hóa giữa các nước trở nên dễ dàng, thuận
tiện và giảm về giá cả.
- Hàng hóa Việt Nam có xu hướng vươn tầm thế giới. Ngày càng nhiều loại sản phẩm
được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài với sự đa dạng hóa khi mà nhiều ngành
nghề mới xuất hiện theo nhu cầu của con người cũng như sự phát triển mạnh mẽ của
phân công lao động xã hội. Nền kinh tế hàng hóa theo cơ cấu ‘mở’ giữa nước ta với
các nước trên thế giới. Việt Nam đang dần hội nhập với nước ngoài trên mọi lĩnh
vực, kể cả trong nền kinh tế sản xuất, thường xuyên xuất-nhập khẩu hàng hóa để
phục vụ cho người dân, cũng như tạo tiếng vang cho hàng hóa của Việt Nam ở tầm thế giới.
- Nguồn lực tổng hợp to lớn của nền kinh tế nhiều thành phần đã hỗ trợ và góp phần
nâng tầm nền sản xuất hàng hóa lên một bước tiến mới, góp phần đưa nền kinh tế
Việt Nam vượt khỏi thực trạng yếu kém. Đặc biệt, cơ cấu ngành theo hướng phát
triển kinh tế dịch vụ đang dần chiếm ưu thế cao trong nền kinh tế hàng hóa thu hút
một số lượng lớn lao động.
b. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế -
Sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần:
Xét về mặt lịch sử, khi mà đất nước vẫn đang ở trong tình trạng kinh tế kém phát
triển và đột ngột chuyển sang thời kỳ quá độ của xã hội chủ nghĩa, những nguồn tài
nguyên từ những hình thức kinh tế trước đó sót lại và được tiếp thu, vẫn tồn tại, phát
triển theo dòng chảy của xã hội mới bởi nó còn có tác dụng cũng như tiềm năng để
được duy trì hỗ trợ cho nền kinh tế trong thời đại mới. Mặt khác, khai thác và đẩy
mạnh các thành phần kinh tế mới là rất cần thiết cho nền tảng của bước đầu phát
triển xã hội chủ nghĩa. Kết quả là, rất nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng lúc lOMoAR cPSD| 61256830
tồn tại trong nền kinh tế của nước ta đã từ trước kia và vẫn còn được tiếp tục đến
hiện tại, khả năng cả trong tương lai. Xét về mặt lý luận, quan hệ sản xuất phải hoàn
toàn phù hợp với trình độ của lực lượng lao động thì mới đáp ứng được việc phát
triển kinh tế một cách đồng đều và chất lượng. Nhưng thực tế cho thấy, Việt Nam
bước vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa với sự chuẩn bị chưa tốt về trình độ của lực
lượng lao động, phân công giữa các vùng và ngành rõ rệt đã kéo theo sự phân bố
không hề đồng đều giữa các ngành kinh tế, cũng như yêu cầu sự xuất hiện của nhiều
thành phần kinh tế khác nhau. Điều đó tạo ra sự hỗn hợp của rất nhiều thành phần
kinh tế cả cũ lẫn mới và cơ cấu nên nền kinh tế nhiều thành phần.
- Nền kinh tế hàng hóa theo cơ cấu kinh tế mở:
Trong khi nhiều nước đang tiếp cận với nền công nghệ, lao động chân tay vẫn là
hìnhthức chủ yếu trong quá trình sinh sống của chúng ta; và trong khi họ đang không
ngừng thúc đẩy, tìm tòi và nâng cao nền công nghệ hiện đại, Việt Nam mới bắt đầu
tiếp cận với cái ban sơ của nó, sự chênh lệch không hề nhỏ về trình độ và thời gian
đã trở thành một rào cản lớn giữa các nước với nhau.
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và công nghệ đang ở mức kém:
Từ điểm xuất phát thấp và lạc hậu của lich sử kinh tế nước nhà, việc không ngừng
chạy để bắt kịp nền kinh tế thế giới là không hề dễ, đây cũng là nguyên nhân chính
dẫn đến sự kém phát triển từ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất cho đến công nghệ sản
xuất, điều mà đã và đang gây cản trở không hề nhỏ cho tiềm năng phát triển nền sản
xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay. Việc chưa thể nâng cao chất lượng của cơ sở
hạ tầng ảnh hưởng đến không chỉ cuộc sống của con người mà còn tác động lớn đến
quá trình sản xuất, có quá nhiều bất lợi và sự cồng kềnh trong các hoạt động sản
xuất khi mà sự hỗ trợ từ bên ngoài chưa thực sự đáp ứng đúng và đủ yêu cầu của công việc. III.
Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Các giải pháp sau đây hướng tới mục tiêu phát triển nền sản xuất hàng hóa lên một
tầm cao mới, tuy nhiên không nên tập trung tăng sản lượng một cách ồ ạt mà vẫn lOMoAR cPSD| 61256830
phải kết hợp với việc cân bằng lượng sản xuất để tránh tình trạng dư thừa hoặc khan
hiếm xảy ra và tránh những ảnh hưởng đã được nêu trên.
1. Đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đa dạng hóa chuỗi cung ứng
Một là, thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị
thị trường giữa các thành phần kinh tế
Hai là, có chính sách ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các dự án
đầu tư có công nghệ cao, khuyến khích chuyển giao công nghệ và thúc đẩy lan toả
rộng rãi công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại.
Ba là, các chính sách nhà nước về khuyến khích và hỗ trợ chuyển đổi số, phát triển
công nghệ số cần trung tính không phân biệt thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho
mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều tiếp cận như nhau
với các chính sách của nhà nước; phát triển ưu tiên hạ tầng số, dữ liệu chủ trong các
cơ sở dữ liệu có độ chính xác cao làm dữ liệu gốc.
Bốn là, phân bổ hợp lý nguồn lực cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hiệu
quả, gắn với bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh; Nâng cao năng lực và tính chủ
động của các địa phương, tăng cường liên kết giữa các địa phương, các vùng; Hỗ
trợ nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, chuyển
đổi số trong doanh nghiệp công nghiệp hướng đến mô hình nhà máy thông minh;
tăng cường liên kết khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp
trong nước với khu vực FDI và thị trường toàn cầu.
2. Duy trì nền kinh tế ‘mở’ và nền kinh tế nhiều thành phần:
Đây là những ưu điểm lớn khi nhà nước đã sớm nhận ra và áp dụng hai giải pháp
này cho hướng khắc phục việc sản xuất hàng hóa. Việt Nam có những thế mạnh
riêng mà cực kỳ phù hợp cho quá trình mở rộng thị trường hàng hóa có thể kể đến
như vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương hay lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ.
Các yếu tố này vô cùng phù hợp cho định hướng xuất khẩu hàng hóa ra những thị trường lớn hơn. lOMoAR cPSD| 61256830
3. Tập trung đào tạo lực lượng lao động có trình độ cao:
Để phù hợp với tình hình phát triển mạnh của quốc tế và mục tiêu hướng ra những
thị trường lớn hơn, nhà nước ta nên có những chính sách tập trung vào việc đào tạo
các lĩnh vực lao động phức tạp thay vì lao động giản đơn, thậm chí phải chú trọng
hơn vào những ngành nghề, cấp bậc thuộc lao động phức tạp có trình độ cao, hạn
chế dồn công sức vào những thành phần đào tạo chất lượng kém.
4. Kiểm soát lạm phát và giá cả:
Thực trạng lạm phát đang diễn ra theo xu hướng ngày một phát triển ở nước ta với
tính hai mặt, nó có thể vừa thúc đẩy vừa kìm hãm nền kinh tế theo nhiều khía cạnh,
tất nhiên, cũng gây ra không ít ảnh hưởng đến đời sống nhân dân cùng nền sản xuất
hàng hóa. Cho nên, nhà nước ta cần kiểm soát và cân bằng mức độ lạm phát đến
một mức độ phù hợp nhất định sao cho vừa nâng cao nền sản xuất hàng hóa của
nước nhà, vừa đảm bảo ổn định cuộc sống nhân dân.
5. Tăng cường hợp tác quốc tế :
Thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Mở
rộng quan hệ theo hướng đa dạng hóa về hình thức, đa phương hóa về nguồn và hai
bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị. PHẦN KẾT LUẬN
Có thể thấy, việc xây dựng và phát triển nền sản xuất hàng hoá của nước ta là một
quá trình cấp bách và mang tính chiến lược lâu dài. Trong thời kỳ chuyển đổi nền
kinh tế của nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta cũng phải đối mặt
với nhiều thách thức, trở ngại. Khó khăn được đưa ra ở đây là nước tôi có thể thiết
lập nền kinh tế thị trường khi nền kinh tế còn nhiều bất cập và năng suất lao động
thấp. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta có thể chắc chắn lOMoAR cPSD| 61256830
rằng nền kinh tế thị trường của Việt Nam sẽ phát triển theo định hướng chủ nghĩa
xã hội. Tính đúng đắn của những thành tựu làm giàu cho dân và mạnh nước được
thể hiện ở phương hướng của xã hội. Không còn một hệ thống bóc lột người trong
xã hội. Nền kinh tế ngày càng dựa vào khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất
hiện đại, có sự phân công lao động hợp lý, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng có
kế hoạch phát triển lâu dài. Đường lối xã hội chủ nghĩa nêu trên không chỉ phản ánh
nguyện vọng, lý tưởng của đảng bộ, đất nước và nhân dân ta, mà còn phản ánh xu
thế phát triển khách quan của thời đại và quy luật tiến hóa lịch sử. Bắt kịp với xu
thế phát triển chung của thế giới và bắt kịp những thay đổi là một bước ngoặt lớn
trong phát triển kinh tế của đất nước tôi. Tuy nhiên, trên con đường phát triển này,
chúng ta vẫn cần nỗ lực để đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa. Chỉ có như
vậy nền kinh tế mới phát triển theo đúng nghĩa đổi mới. Trong cuộc chạy đua chuyển
mình của toàn cầu, để bắt kịp quốc tế và nắm băt kịp thời những cơ hội cho sự phát
triển của đất nước, thì việc giải quyết những vấn đề từ bên trong
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Sử dụng trongcác
trường đại học – Hệ không chuyên lý luận chính trị)
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Giáo trình trung cấp lý luận chính trịNội
dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà xuất bản Lý luận chính trị
3. Hồng Vinh (2022). Nhiều giải pháp thúc đẩy kinh tế Việt Nam phục hồi, phát triểnbền vững
4. Tổng cục thống kê (2022). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2022
5. Tổng cục thống kê (2021). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2021
6. Tổng cục thống kê (2020). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2020