Chương 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ TIẾN HÀNH
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Nội dung giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1981 có thể trình bày thành hai phần lớn:
Phần thứ nhất: Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Phần thứ hai: Đại hội IV của Đảng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ
quốc
I. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc (1975-1986)
1. Bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc (1975-1981)
*Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đã được giải phóng, tiến hành quá độ lên
CNXH. Việt Nam phải khắc phục hậu quả chiến tranh; có nhiều thuận lợi
cũng như gặp nhiều khókhăn trong quá trình quá độ lên CNXH
a. HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VỀ MẶT NHÀ NƯỚC (1975–1976)
- Yêu cầu bức thiết sau năm 1975
Tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy mùa Xuân, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tuy nhiên, thắng lợi này
mới chỉ thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ, chưa thống nhất về mặt nhà nước.
Thực tế lúc đó cho thấy:
Cả nước tồn tại hai chính phủ:
o Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thành lập năm 1945)
o Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (thành lập năm
1969)
Các tổ chức chính trị – xã hội cũng tồn tại song song ở hai miền
Vì vậy, thống nhất đất nước về mặt nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách, cơ bản và
có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam sau năm 1975.
- Chủ trương của Đảng về thống nhất đất nước
Để thực hiện yêu cầu đó:
Hội nghị Trung ương 24 (khóa III) họp tháng 8 năm 1975 xác định:
Thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp tháng 10 năm 1975 bàn biện pháp thống nhất nhà
nước.
Hai miền cử đại biểu tham gia Hội nghị hiệp thương chính trị, tổ chức tại Sài Gòn từ
ngày 15 đến 21/11/1975.
Hội nghị khẳng định:
Việt Nam là một quốc gia thống nhất
Cần sớm tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất
- Hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước
Tháng 4 năm 1976, cả nước tiến hành Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội thống nhất.
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI diễn ra từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 năm
1976, quyết định những vấn đề trọng đại:
Về quốc gia:
Quốc hiệu: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Quốc kỳ: Cờ đỏ sao vàng
Quốc ca: Tiến quân ca (Văn Cao)
Quốc huy: Hình tròn, bánh răng – bông lúa – cờ đỏ sao vàng năm cánh
Về bộ máy nhà nước:
Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng
Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng): Phạm Văn Đồng
Thành lập các cơ quan:
o Tòa án Nhân dân Tối cao
o Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
Việc thống nhất nhà nước tạo tiền đề để thống nhất toàn diện trên mọi lĩnh vực, củng cố
hệ thống chính trị trong cả nước.
b. ĐẠI HỘI IV VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976–
1981)
- Bối cảnh Đại hội IV (12/1976)
Đại hội IV được triệu tập trong bối cảnh:
Đất nước vừa thống nhất về mặt nhà nước
Có nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với khó khăn to lớn
Thuận lợi:
Hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên CNXH
Miền Bắc có 21 năm xây dựng CNXH, để lại nhiều kinh nghiệm
Nhân dân phấn khởi, tin tưởng
Uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao
Nhiều nước công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao
Khó khăn:
Xuất phát điểm thấp, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
Hậu quả chiến tranh sau hơn 30 năm kháng chiến vô cùng nặng nề
Hơn 3 triệu người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam
Các thế lực phản động trong và ngoài nước chống phá, đặc biệt là tổ chức FULRO ở Tây
Nguyên
- Nội dung cơ bản của Đại hội IV
- Tổng kết kháng chiến chống Mỹ
Đại hội khẳng định:
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những chiến công vĩ đại nhất
của thế kỷ XX, có ý nghĩa lịch sử và quốc tế to lớn.
- Ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam sau 1975
1. Từ nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua TBCN
2. Hòa bình, thống nhất nhưng còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh
3. Cách mạng diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” còn
gay gắt
- Đường lối kinh tế của Đại hội IV
Đại hội tiếp tục thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với các đặc
điểm:
Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính
Can thiệp sâu vào hoạt động doanh nghiệp
Quan hệ hiện vật là chủ yếu, coi nhẹ tiền tệ
Bộ máy cồng kềnh, nhiều trung gian
Cơ cấu đầu tư:
Ưu tiên công nghiệp nặng (điện, than, cơ khí, hóa chất)
Chưa quan tâm đúng mức đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Hạn chế lớn:
Không phù hợp điều kiện Việt Nam
Kìm hãm sản xuất
Không tạo động lực cho người lao động
Gây mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế
- Kết quả và hạn chế giai đoạn 1976–1981
Kế hoạch 5 năm lần thứ hai không hoàn thành
Kinh tế tăng trưởng rất thấp (bình quân chỉ 0,1%/năm)
Có năm tăng trưởng âm (1979, 1980)
Lạm phát ba con số
Đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn
Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng
5. Bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế
Chiến tranh biên giới Tây Nam chống tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ
Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 chống Trung Quốc
Việt Nam vừa bảo vệ chủ quyền, vừa làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia
Bị bao vây, cấm vận, cô lập kéo dài
KẾT LUẬN
Giai đoạn 1975–1981:
Việt Nam hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ
Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả
Tuy nhiên, do sai lầm trong tư duy kinh tế và mô hình phát triển, đất nước rơi vào khủng
hoảng nghiêm trọng
Chính thực tiễn đó đã đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, tạo tiền đề cho những bước đột phá
tiếp theo, mà đỉnh cao là Đại hội VI năm 1986.
BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 1982 – 1986
1. Bối cảnh và việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982)
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IV (1976–1981), đất nước ta lâm vào khủng hoảng
kinh tế – xã hội trầm trọng, nền kinh tế trì trệ kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó
khăn. Việt Nam bị bao vây, cô lập cả về kinh tế và chính trị, trong khi mô hình quản lý
kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng.
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được triệu tập vào
tháng 3 năm 1982, với chủ đề:
“Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”
Đại hội V đã tập trung thảo luận và quyết định bốn nội dung lớn:
1. Nhận định tình hình đất nước
2. Xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam
3. Bổ sung và phát triển lý luận về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
4. Đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (1982–1986)
Tại Đại hội, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
2. Nhận định tình hình và lý luận về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ
Đại hội V khẳng định rõ: Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm
trọng, cần sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng đó, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật
chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục thực hiện đường lối đã được đề ra từ Đại hội
III và Đại hội IV.
Một điểm mới quan trọng của Đại hội V là bổ sung và điều chỉnh nhận thức lý luận về
chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trước đó, Đảng ta từng có tư duy khá lạc quan, cho rằng sau khi đánh thắng đế quốc Mỹ, Việt
Nam có thể nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong vòng 10–15 năm. Tuy nhiên, thực
tiễn khủng hoảng kinh tế – xã hội buộc Đảng phải nhìn nhận lại.
Đại hội V chỉ rõ:
Chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là giai đoạn vô cùng khó khăn, diễn ra trên
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Nhiệm vụ trọng tâm của chặng đường này là:
o Ổn định tình hình kinh tế – xã hội
o Cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
o Xây dựng từng bước cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
3. Điều chỉnh nội dung công nghiệp hóa: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
Đại hội V bước đầu nhận thức được những hạn chế của mô hình công nghiệp hóa kiểu
, vốn quá coi trọng công nghiệp nặng, trong khi:
Nông nghiệp không được đầu tư đúng mức
Công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng bị xem nhẹ
→ Hậu quả là lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng khan hiếm nghiêm
trọng.
Từ thực tế đó, Đại hội khẳng định:
Phải tập trung phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Nội dung công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên phải bắt đầu từ nông nghiệp
Đây chính là điểm mới nổi bật của Đại hội V:
Đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng thiết yếu như: điện, than
Đầu tư cho các công trình trọng điểm:
o Thủy điện Hòa Bình
o Thủy điện Trị An
o Nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí
4. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam
Đại hội V tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược lâu dài của cách mạng Việt Nam:
1. y dựng thành công chủ nghĩa xã hội
2. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hai nhiệm vụ này xuyên suốt nhiều kỳ Đại hội, thể hiện rõ nhất tại Đại hội V, VII và VIII.
5. Đánh giá chủ trương của Đại hội V
Ưu điểm:
Nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của nông nghiệp
Bước đầu điều chỉnh lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Hạn chế:
Chủ trương đúng nhưng khâu tổ chức thực hiện yếu kém
Trên thực tế vẫn tiếp tục ưu tiên công nghiệp nặng
Không thực hiện được phân bổ vốn cho nông nghiệp
Chưa thừa nhận kinh tế nhiều thành phần
Chưa kết hợp được kế hoạch nhà nước với cơ chế thị trường
Tiếp tục duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp
6. Các bước đột phá tư duy kinh tế (1979–1986)
6.1. Bước đột phá thứ nhất
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (1979): chủ trương “làm cho sản xuất bung ra”
Chỉ thị 100 (1981): khoán sản phẩm trong nông nghiệp
Nghị quyết 25, 26: giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp công nghiệp
6.2. Bước đột phá thứ hai
Hội nghị Trung ương 8 khóa V (1985):
o Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
o Bỏ dần tem phiếu
o Điều chỉnh giá – lương – tiền
Cuộc cải cách giá – lương – tiền năm 1985 tuy có mục tiêu đúng nhưng thực hiện sai lầm,
dẫn đến:
Lạm phát tăng phi mã (1986: 774%)
Đồng tiền mất giá nghiêm trọng
Đời sống nhân dân thêm khó khăn
6.3. Bước đột phá thứ ba
Kết luận Bộ Chính trị khóa V (8/1986):
o Điều chỉnh cơ cấu sản xuất
o Thừa nhận kinh tế nhiều thành phần
o Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh
Đây là tiền đề trực tiếp dẫn tới đường lối Đổi mới tại Đại hội VI (1986).
7. Thành tựu và hạn chế giai đoạn 1975–1986
Thành tựu:
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
Gia nhập Liên Hợp Quốc (1977)
Thiết lập quan hệ ngoại giao với 106 quốc gia
Xây dựng các công trình trọng điểm: Hòa Bình, Trị An, dầu khí Vũng Tàu
Hạn chế:
Khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài
Lạm phát cao
Đời sống nhân dân khó khăn
ng tin xã hội giảm sút
Nguyên nhân:
Khách quan: xuất phát điểm thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề
Chủ quan: bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí, sai lầm trong hoạch định và thực hiện
chính sách
8. Kết luận
Giai đoạn 1979–1986 là quá trình tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉnh tư duy kinh tế của
Đảng. Ba bước đột phá tư duy kinh tế trong thời kỳ này đã chuẩn bị đầy đủ về lý luận và
thực tiễn cho công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội VI (1986).
II. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế (1986 – 2018)
Giai đoạn 1986 – 1996 là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển
của cách mạng Việt Nam. Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đưa Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh
tế – xã hội trầm trọng, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
sau này. Nội dung đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn này được thể hiện tập trung qua
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
(1991).
I. VÌ SAO PHẢI TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN ĐẤT NƯỚC
1. Đổi mới là xu thế khách quan của thời đại
Vào những năm cuối thập niên 1980, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc. Trật tự thế
giới hai cực Ianta dần tan rã, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ chạy đua vũ trang sang hợp
tác kinh tế. Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, trì trệ, mất ổn định, buộc
phải tìm kiếm con đường cải cách, đổi mới.
Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ từ năm 1987, tuy nhiên do sai lầm nghiêm trọng trong
nhận thức và chủ trương, đặc biệt là cải tổ cả về chính trị, chấp nhận đa nguyên đa đảng,
làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cộng với sự suy thoái về phẩm chất chính trị của
đội ngũ lãnh đạo cao cấp và sự chống phá của các thế lực thù địch, Liên Xô đã tan rã vào năm
1991.
Các nước Đông Âu cũng lần lượt sụp đổ vào năm 1989. Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa
từ năm 1978 và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song giai đoạn này cũng xảy ra biến
động chính trị lớn (sự kiện Thiên An Môn năm 1989). Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vẫn
trong tình trạng căng thẳng kéo dài.
Như vậy, đổi mới trở thành xu thế tất yếu của thời đại, là yêu cầu sống còn đối với các
quốc gia xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.
2. Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước
Sau 10 năm cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986), Việt Nam lâm vào khủng
hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng:
Kinh tế tăng trưởng thấp, thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm thấp nhất khu vực
Lạm phát ở mức rất cao, có năm lên tới ba con số
Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của nhân dân
Dân số tăng nhanh, đời sống nhân dân hết sức khó khăn
Việt Nam bị cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế, đặc biệt là từ Hoa Kỳ
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới
kinh tế, từ đó thúc đẩy đổi mới trên các lĩnh vực khác nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng
hoảng.
II. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI (1986)
ĐỀ XƯỚNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN
1. Hoàn cảnh và ý nghĩa Đại hội VI
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tháng 12 năm 1986 trong bối cảnh đất
nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng. Đại hội đã thẳng thắn nhìn nhận,
chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm trong giai đoạn 1975 – 1986, từ đó đề ra đường lối
đổi mới toàn diện đất nước.
Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư – Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi
mới. Quan điểm xuyên suốt của Đại hội VI là:
“Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật.”
2. Những sai lầm, khuyết điểm giai đoạn 1975 – 1986
Sai lầm trong chủ trương chính sách lớn, đặc biệt là công nghiệp hóa kiểu cũ
Duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
Chủ quan, duy ý chí, nóng vội, ham làm nhanh, làm lớn
Chỉ đạo thực hiện thiếu nhất quán, xa rời thực tiễn
Tư duy bảo thủ, chậm đổi mới trong đội ngũ cán bộ
3. Bốn bài học kinh nghiệm lớn
1. Lấy dân làm gốc
2. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tế khách quan
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
4. Chăm lo xây dựng Đảng đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới
4. Nội dung đổi mới toàn diện tại Đại hội VI
a. Đổi mới kinh tế (trọng tâm)
Mục tiêu tổng quát: ổn định tình hình kinh tế – xã hội
Mục tiêu cụ thể: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy
Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội
chủ nghĩa, vận dụng cơ chế thị trường
Thực hiện ba chương trình mục tiêu:
o Lương thực – thực phẩm
o Hàng tiêu dùng
o Hàng xuất khẩu
Công nhận nền kinh tế nhiều thành phần, coi đó là đặc trưng của thời kỳ quá đ
Mở rộng kinh tế đối ngoại, thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (1987)
b. Đổi mới trên các lĩnh vực khác
Chính trị: phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”
Xã hội: đổi mới chính sách xã hội theo hướng lâu dài, hiệu quả
Đối ngoại: mở rộng quan hệ với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị
5. Kết quả bước đầu (1986 – 1991)
Xóa bỏ bao cấp bằng hiện vật, tem phiếu
Kiềm chế và giảm dần lạm phát
Đảm bảo an ninh lương thực, lần đầu xuất khẩu gạo (1989)
Rút quân tình nguyện khỏi Campuchia (1989)
Tạo nền tảng cho hội nhập quốc tế
III. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII (1991)
CƯƠNG LĨNH 1991 VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN 10 NĂM
1. Hoàn cảnh Đại hội VII
Sau gần 5 năm đổi mới, tình hình trong nước cơ bản ổn định nhưng vẫn chưa thoát khỏi khủng
hoảng. Quốc tế biến động mạnh với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và
Liên Xô.
Đại hội VII họp tháng 6 năm 1991 với chủ đề:
“Trí tuệ – Đổi mới – Dân chủ – Kỷ cương – Đoàn kết.”
2. Nội dung cơ bản Đại hội VII
a. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (1991)
Rút ra 5 bài học lớn từ hơn 60 năm lãnh đạo cách mạng
Xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
Đề ra 7 phương hướng xây dựng CNXH
Lần đầu tiên chính thức khái quát và khẳng định Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng của Đảng
b. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (1991 – 2000)
Mục tiêu: đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm
3. Kết quả thực hiện (1991 – 1996)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhiều năm đạt trên 7%
Lạm phát giảm mạnh
Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), Hoa Kỳ (1995)
Gia nhập ASEAN (1995)
Mở rộng quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Giai đoạn 1986 – 1996 đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Đường lối
đổi mới toàn diện do Đảng đề xướng và lãnh đạo đã:
Đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng
Tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Từ năm 1996, Việt Nam chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, sau 10 năm đổi mới (1986–1996).
Quá trình này gắn liền với:
o Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
o Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
Giai đoạn này được thể hiện qua 6 kỳ Đại hội Đảng: VIII, IX, X, XI, XII, XIII.
II. ĐẠI HỘI VIII (1996) – MỞ ĐẦU THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH–HĐH
1. Bối cảnh
Sau 10 năm đổi mới, Việt Nam:
o Ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
o Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh có chuyển biến tích
cực
Tuy nhiên, thành tựu chưa vững chắc, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.
2. Chủ đề Đại hội VIII
“Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh; vững bước đi lên chủ nghĩa xã
hội.”
3. Nhận định và ý nghĩa
Khẳng định:
o Việt Nam cơ bản ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
o Nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độ đã hoàn thành
→ Cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH–HĐH
4. Sáu quan điểm công nghiệp hóa – hiện đại hóa (rất hay ra thi)
1. Giữ vững độc lập, tự chủ, gắn với mở rộng đối ngoại
o Nội lực là quyết định
o Ngoại lực là quan trọng
2. CNH–HĐH là sự nghiệp của toàn dân, mọi thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
3. Con người là trung tâm, yếu tố cơ bản cho phát triển bền vững
4. Khoa học – công nghệ là động lực
o Kết hợp công nghệ truyền thống và hiện đại
5. Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn
6. Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng – an ninh
5. Giáo dục – khoa học – văn hóa
Giáo dục – đào tạo: quốc sách hàng đầu
Khoa học – công nghệ: then chốt
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
👉 Ý nghĩa Đại hội VIII:
Đánh dấu bước ngoặt lịch sử, chính thức bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH–HĐH.
III. ĐẠI HỘI IX (2001) – LÀM RÕ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
1. Bối cảnh
15 năm đổi mới
Bước sang thế kỷ XXI, thời cơ và thách thức đan xen
Chuẩn bị hội nhập sâu vào kinh tế thế giới
2. Chủ đề
“Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH–HĐH, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.”
3. Những điểm mới rất quan trọng
Làm rõ con đường đi lên CNXH:
o Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
o Không bỏ qua thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại
Khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN
Lần đầu làm rõ khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đối ngoại:
o Việt Nam “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy”
Đề ra Chiến lược phát triển KT–XH 10 năm (2001–2010)
👉 Ý nghĩa:
Đặt nền móng lý luận vững chắc cho CNH–HĐH gắn với hội nhập quốc tế.
IV. ĐẠI HỘI X (2006) – GẮN CNH–HĐH VỚI KINH TẾ TRI THỨC
1. Bối cảnh
20 năm đổi mới
Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO
2. Chủ đề
“Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.”
3. Điểm mới nổi bật
Lần đầu tiên đưa ra khái niệm kinh tế tri thức
o CNH–HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
Cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân
Gia nhập WTO năm 2006
Đề ra Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
👉 Ý nghĩa:
CNH–HĐH bước sang trình độ cao hơn, gắn với tri thức, hội nhập toàn cầu.
V. ĐẠI HỘI XI (2011) – PHÁT TRIỂN NHANH GẮN VỚI BỀN VỮNG
1. Chủ đề
“Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH–HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN.”
2. Nội dung nổi bật
Bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991
Xác định:
o Phát triển nhanh gắn với bền vững
o Ba đột phá chiến lược:
1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
2. Nguồn nhân lực (nhất là chất lượng cao)
3. Kết cấu hạ tầng
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện
VI. TỪ ĐẠI HỘI XII – XIII (KHÁI QUÁT NGẮN GỌN)
Tiếp tục:
o CNH–HĐH gắn với chuyển đổi số
o Phát triển kinh tế xanh, kinh tế số
o Hội nhập quốc tế chủ động – tích cực – toàn diện
Mục tiêu:
o Đến 2030–2045: Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao
VII. KẾT LUẬN NGẮN GỌN (DÙNG ĐỂ CHỐT BÀI)
Từ năm 1996 đến nay, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt
Nam là một quá trình liên tục, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Qua
các kỳ Đại hội VIII đến XIII, Đảng từng bước hoàn thiện tư duy lý luận, xác định đúng con
đường phát triển, đưa Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển trở thành quốc gia đang
phát triển năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Preview text:

Chương 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Nội dung giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1981 có thể trình bày thành hai phần lớn:

  • Phần thứ nhất: Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
  • Phần thứ hai: Đại hội IV của Đảng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc

I. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986)

1. Bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc (1975-1981)

*Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đã được giải phóng, tiến hành quá độ lên CNXH. Việt Nam phải khắc phục hậu quả chiến tranh; có nhiều thuận lợi cũng như gặp nhiều khókhăn trong quá trình quá độ lên CNXH

a. HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VỀ MẶT NHÀ NƯỚC (1975–1976)

- Yêu cầu bức thiết sau năm 1975

Tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tuy nhiên, thắng lợi này mới chỉ thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ, chưa thống nhất về mặt nhà nước.

Thực tế lúc đó cho thấy:

  • Cả nước tồn tại hai chính phủ:
    • Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thành lập năm 1945)
    • Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (thành lập năm 1969)
  • Các tổ chức chính trị – xã hội cũng tồn tại song song ở hai miền

Vì vậy, thống nhất đất nước về mặt nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách, cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam sau năm 1975.

- Chủ trương của Đảng về thống nhất đất nước

Để thực hiện yêu cầu đó:

  • Hội nghị Trung ương 24 (khóa III) họp tháng 8 năm 1975 xác định:

Thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp tháng 10 năm 1975 bàn biện pháp thống nhất nhà nước.
  • Hai miền cử đại biểu tham gia Hội nghị hiệp thương chính trị, tổ chức tại Sài Gòn từ ngày 15 đến 21/11/1975.

Hội nghị khẳng định:

  • Việt Nam là một quốc gia thống nhất
  • Cần sớm tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất

- Hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước

  • Tháng 4 năm 1976, cả nước tiến hành Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội thống nhất.
  • Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI diễn ra từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1976, quyết định những vấn đề trọng đại:

Về quốc gia:

  • Quốc hiệu: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
  • Quốc kỳ: Cờ đỏ sao vàng
  • Quốc ca: Tiến quân ca (Văn Cao)
  • Quốc huy: Hình tròn, bánh răng – bông lúa – cờ đỏ sao vàng năm cánh

Về bộ máy nhà nước:

  • Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng
  • Chủ tịch Quốc hội: Trường Chinh
  • Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng): Phạm Văn Đồng
  • Thành lập các cơ quan:
    • Tòa án Nhân dân Tối cao
    • Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao

Việc thống nhất nhà nước tạo tiền đề để thống nhất toàn diện trên mọi lĩnh vực, củng cố hệ thống chính trị trong cả nước.

b. ĐẠI HỘI IV VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976–1981)

- Bối cảnh Đại hội IV (12/1976)

Đại hội IV được triệu tập trong bối cảnh:

  • Đất nước vừa thống nhất về mặt nhà nước
  • Có nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với khó khăn to lớn

Thuận lợi:

  • Hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên CNXH
  • Miền Bắc có 21 năm xây dựng CNXH, để lại nhiều kinh nghiệm
  • Nhân dân phấn khởi, tin tưởng
  • Uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao
  • Nhiều nước công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao

Khó khăn:

  • Xuất phát điểm thấp, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
  • Hậu quả chiến tranh sau hơn 30 năm kháng chiến vô cùng nặng nề
  • Hơn 3 triệu người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam
  • Các thế lực phản động trong và ngoài nước chống phá, đặc biệt là tổ chức FULRO ở Tây Nguyên

- Nội dung cơ bản của Đại hội IV

- Tổng kết kháng chiến chống Mỹ

Đại hội khẳng định:

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, có ý nghĩa lịch sử và quốc tế to lớn.

- Ba đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam sau 1975

  1. Từ nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua TBCN
  2. Hòa bình, thống nhất nhưng còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh
  3. Cách mạng diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” còn gay gắt

- Đường lối kinh tế của Đại hội IV

Đại hội tiếp tục thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với các đặc điểm:

  • Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính
  • Can thiệp sâu vào hoạt động doanh nghiệp
  • Quan hệ hiện vật là chủ yếu, coi nhẹ tiền tệ
  • Bộ máy cồng kềnh, nhiều trung gian

Cơ cấu đầu tư:

  • Ưu tiên công nghiệp nặng (điện, than, cơ khí, hóa chất)
  • Chưa quan tâm đúng mức đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Hạn chế lớn:

  • Không phù hợp điều kiện Việt Nam
  • Kìm hãm sản xuất
  • Không tạo động lực cho người lao động
  • Gây mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế

- Kết quả và hạn chế giai đoạn 1976–1981

  • Kế hoạch 5 năm lần thứ hai không hoàn thành
  • Kinh tế tăng trưởng rất thấp (bình quân chỉ 0,1%/năm)
  • Có năm tăng trưởng âm (1979, 1980)
  • Lạm phát ba con số
  • Đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn
  • Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng

5. Bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế

  • Chiến tranh biên giới Tây Nam chống tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ
  • Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 chống Trung Quốc
  • Việt Nam vừa bảo vệ chủ quyền, vừa làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia
  • Bị bao vây, cấm vận, cô lập kéo dài

KẾT LUẬN

Giai đoạn 1975–1981:

  • Việt Nam hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
  • Bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ
  • Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả
  • Tuy nhiên, do sai lầm trong tư duy kinh tế và mô hình phát triển, đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng

Chính thực tiễn đó đã đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, tạo tiền đề cho những bước đột phá tiếp theo, mà đỉnh cao là Đại hội VI năm 1986.

BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ

GIAI ĐOẠN 1982 – 1986

1. Bối cảnh và việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982)

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IV (1976–1981), đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, nền kinh tế trì trệ kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Việt Nam bị bao vây, cô lập cả về kinh tế và chính trị, trong khi mô hình quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng.

Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được triệu tập vào tháng 3 năm 1982, với chủ đề:

“Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Đại hội V đã tập trung thảo luận và quyết định bốn nội dung lớn:

  1. Nhận định tình hình đất nước
  2. Xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam
  3. Bổ sung và phát triển lý luận về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
  4. Đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (1982–1986)

Tại Đại hội, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

2. Nhận định tình hình và lý luận về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ

Đại hội V khẳng định rõ: Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, cần sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng đó, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục thực hiện đường lối đã được đề ra từ Đại hội III và Đại hội IV.

Một điểm mới quan trọng của Đại hội V là bổ sung và điều chỉnh nhận thức lý luận về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trước đó, Đảng ta từng có tư duy khá lạc quan, cho rằng sau khi đánh thắng đế quốc Mỹ, Việt Nam có thể nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong vòng 10–15 năm. Tuy nhiên, thực tiễn khủng hoảng kinh tế – xã hội buộc Đảng phải nhìn nhận lại.

Đại hội V chỉ rõ:

  • Chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là giai đoạn vô cùng khó khăn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
  • Nhiệm vụ trọng tâm của chặng đường này là:
    • Ổn định tình hình kinh tế – xã hội
    • Cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
    • Xây dựng từng bước cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

3. Điều chỉnh nội dung công nghiệp hóa: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu

Đại hội V bước đầu nhận thức được những hạn chế của mô hình công nghiệp hóa kiểu cũ, vốn quá coi trọng công nghiệp nặng, trong khi:

  • Nông nghiệp không được đầu tư đúng mức
  • Công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng bị xem nhẹ
    → Hậu quả là lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng khan hiếm nghiêm trọng.

Từ thực tế đó, Đại hội khẳng định:

  • Phải tập trung phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
  • Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
  • Nội dung công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên phải bắt đầu từ nông nghiệp

Đây chính là điểm mới nổi bật của Đại hội V:

  • Đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
  • Tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng thiết yếu như: điện, than
  • Đầu tư cho các công trình trọng điểm:
    • Thủy điện Hòa Bình
    • Thủy điện Trị An
    • Nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí

4. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam

Đại hội V tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược lâu dài của cách mạng Việt Nam:

  1. Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
  2. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hai nhiệm vụ này xuyên suốt nhiều kỳ Đại hội, thể hiện rõ nhất tại Đại hội V, VII và VIII.

5. Đánh giá chủ trương của Đại hội V

Ưu điểm:

  • Nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của nông nghiệp
  • Bước đầu điều chỉnh lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Hạn chế:

  • Chủ trương đúng nhưng khâu tổ chức thực hiện yếu kém
  • Trên thực tế vẫn tiếp tục ưu tiên công nghiệp nặng
  • Không thực hiện được phân bổ vốn cho nông nghiệp
  • Chưa thừa nhận kinh tế nhiều thành phần
  • Chưa kết hợp được kế hoạch nhà nước với cơ chế thị trường
  • Tiếp tục duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp

6. Các bước đột phá tư duy kinh tế (1979–1986)

6.1. Bước đột phá thứ nhất

  • Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (1979): chủ trương “làm cho sản xuất bung ra”
  • Chỉ thị 100 (1981): khoán sản phẩm trong nông nghiệp
  • Nghị quyết 25, 26: giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp công nghiệp

6.2. Bước đột phá thứ hai

  • Hội nghị Trung ương 8 khóa V (1985):
    • Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
    • Bỏ dần tem phiếu
    • Điều chỉnh giá – lương – tiền

Cuộc cải cách giá – lương – tiền năm 1985 tuy có mục tiêu đúng nhưng thực hiện sai lầm, dẫn đến:

  • Lạm phát tăng phi mã (1986: 774%)
  • Đồng tiền mất giá nghiêm trọng
  • Đời sống nhân dân thêm khó khăn

6.3. Bước đột phá thứ ba

  • Kết luận Bộ Chính trị khóa V (8/1986):
    • Điều chỉnh cơ cấu sản xuất
    • Thừa nhận kinh tế nhiều thành phần
    • Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh

Đây là tiền đề trực tiếp dẫn tới đường lối Đổi mới tại Đại hội VI (1986).

7. Thành tựu và hạn chế giai đoạn 1975–1986

Thành tựu:

  • Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
  • Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
  • Gia nhập Liên Hợp Quốc (1977)
  • Thiết lập quan hệ ngoại giao với 106 quốc gia
  • Xây dựng các công trình trọng điểm: Hòa Bình, Trị An, dầu khí Vũng Tàu

Hạn chế:

  • Khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài
  • Lạm phát cao
  • Đời sống nhân dân khó khăn
  • Lòng tin xã hội giảm sút

Nguyên nhân:

  • Khách quan: xuất phát điểm thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề
  • Chủ quan: bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí, sai lầm trong hoạch định và thực hiện chính sách

8. Kết luận

Giai đoạn 1979–1986 là quá trình tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉnh tư duy kinh tế của Đảng. Ba bước đột phá tư duy kinh tế trong thời kỳ này đã chuẩn bị đầy đủ về lý luận và thực tiễn cho công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội VI (1986).

II. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1986 – 2018)

Giai đoạn 1986 – 1996 là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đưa Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sau này. Nội dung đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn này được thể hiện tập trung qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991).

I. VÌ SAO PHẢI TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN ĐẤT NƯỚC

1. Đổi mới là xu thế khách quan của thời đại

Vào những năm cuối thập niên 1980, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc. Trật tự thế giới hai cực Ianta dần tan rã, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ chạy đua vũ trang sang hợp tác kinh tế. Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, trì trệ, mất ổn định, buộc phải tìm kiếm con đường cải cách, đổi mới.

Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ từ năm 1987, tuy nhiên do sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức và chủ trương, đặc biệt là cải tổ cả về chính trị, chấp nhận đa nguyên đa đảng, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cộng với sự suy thoái về phẩm chất chính trị của đội ngũ lãnh đạo cao cấp và sự chống phá của các thế lực thù địch, Liên Xô đã tan rã vào năm 1991.

Các nước Đông Âu cũng lần lượt sụp đổ vào năm 1989. Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa từ năm 1978 và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song giai đoạn này cũng xảy ra biến động chính trị lớn (sự kiện Thiên An Môn năm 1989). Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vẫn trong tình trạng căng thẳng kéo dài.

Như vậy, đổi mới trở thành xu thế tất yếu của thời đại, là yêu cầu sống còn đối với các quốc gia xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.

2. Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước

Sau 10 năm cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986), Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng:

  • Kinh tế tăng trưởng thấp, thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm thấp nhất khu vực
  • Lạm phát ở mức rất cao, có năm lên tới ba con số
  • Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của nhân dân
  • Dân số tăng nhanh, đời sống nhân dân hết sức khó khăn
  • Việt Nam bị cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế, đặc biệt là từ Hoa Kỳ

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế, từ đó thúc đẩy đổi mới trên các lĩnh vực khác nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng.

II. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI (1986)

ĐỀ XƯỚNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN

1. Hoàn cảnh và ý nghĩa Đại hội VI

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tháng 12 năm 1986 trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng. Đại hội đã thẳng thắn nhìn nhận, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm trong giai đoạn 1975 – 1986, từ đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư – Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Quan điểm xuyên suốt của Đại hội VI là:
“Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật.”

2. Những sai lầm, khuyết điểm giai đoạn 1975 – 1986

  • Sai lầm trong chủ trương chính sách lớn, đặc biệt là công nghiệp hóa kiểu cũ
  • Duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
  • Chủ quan, duy ý chí, nóng vội, ham làm nhanh, làm lớn
  • Chỉ đạo thực hiện thiếu nhất quán, xa rời thực tiễn
  • Tư duy bảo thủ, chậm đổi mới trong đội ngũ cán bộ

3. Bốn bài học kinh nghiệm lớn

  1. Lấy dân làm gốc
  2. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tế khách quan
  3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
  4. Chăm lo xây dựng Đảng đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới

4. Nội dung đổi mới toàn diện tại Đại hội VI

a. Đổi mới kinh tế (trọng tâm)

  • Mục tiêu tổng quát: ổn định tình hình kinh tế – xã hội
  • Mục tiêu cụ thể: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy
  • Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng cơ chế thị trường
  • Thực hiện ba chương trình mục tiêu:
    • Lương thực – thực phẩm
    • Hàng tiêu dùng
    • Hàng xuất khẩu
  • Công nhận nền kinh tế nhiều thành phần, coi đó là đặc trưng của thời kỳ quá độ
  • Mở rộng kinh tế đối ngoại, thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (1987)

b. Đổi mới trên các lĩnh vực khác

  • Chính trị: phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
  • Xã hội: đổi mới chính sách xã hội theo hướng lâu dài, hiệu quả
  • Đối ngoại: mở rộng quan hệ với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị

5. Kết quả bước đầu (1986 – 1991)

  • Xóa bỏ bao cấp bằng hiện vật, tem phiếu
  • Kiềm chế và giảm dần lạm phát
  • Đảm bảo an ninh lương thực, lần đầu xuất khẩu gạo (1989)
  • Rút quân tình nguyện khỏi Campuchia (1989)
  • Tạo nền tảng cho hội nhập quốc tế

III. ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII (1991)

CƯƠNG LĨNH 1991 VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN 10 NĂM

1. Hoàn cảnh Đại hội VII

Sau gần 5 năm đổi mới, tình hình trong nước cơ bản ổn định nhưng vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng. Quốc tế biến động mạnh với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.

Đại hội VII họp tháng 6 năm 1991 với chủ đề:
“Trí tuệ – Đổi mới – Dân chủ – Kỷ cương – Đoàn kết.”

2. Nội dung cơ bản Đại hội VII

a. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (1991)

  • Rút ra 5 bài học lớn từ hơn 60 năm lãnh đạo cách mạng
  • Xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
  • Đề ra 7 phương hướng xây dựng CNXH
  • Lần đầu tiên chính thức khái quát và khẳng định Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng

b. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (1991 – 2000)

  • Mục tiêu: đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
  • Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
  • Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm

3. Kết quả thực hiện (1991 – 1996)

  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhiều năm đạt trên 7%
  • Lạm phát giảm mạnh
  • Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
  • Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), Hoa Kỳ (1995)
  • Gia nhập ASEAN (1995)
  • Mở rộng quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Giai đoạn 1986 – 1996 đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Đường lối đổi mới toàn diện do Đảng đề xướng và lãnh đạo đã:

  • Đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
  • Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng
  • Tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY

I. KHÁI QUÁT CHUNG

  • Từ năm 1996, Việt Nam chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sau 10 năm đổi mới (1986–1996).
  • Quá trình này gắn liền với:
    • Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
    • Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
  • Giai đoạn này được thể hiện qua 6 kỳ Đại hội Đảng: VIII, IX, X, XI, XII, XIII.

II. ĐẠI HỘI VIII (1996) – MỞ ĐẦU THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH–HĐH

1. Bối cảnh

  • Sau 10 năm đổi mới, Việt Nam:
    • Ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
    • Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh có chuyển biến tích cực
  • Tuy nhiên, thành tựu chưa vững chắc, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

2. Chủ đề Đại hội VIII

“Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh; vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.”

3. Nhận định và ý nghĩa

  • Khẳng định:
    • Việt Nam cơ bản ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
    • Nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độ đã hoàn thành
  • → Cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH–HĐH

4. Sáu quan điểm công nghiệp hóa – hiện đại hóa (rất hay ra thi)

  1. Giữ vững độc lập, tự chủ, gắn với mở rộng đối ngoại
    • Nội lực là quyết định
    • Ngoại lực là quan trọng
  2. CNH–HĐH là sự nghiệp của toàn dân, mọi thành phần kinh tế
    Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
  3. Con người là trung tâm, yếu tố cơ bản cho phát triển bền vững
  4. Khoa học – công nghệ là động lực
    • Kết hợp công nghệ truyền thống và hiện đại
  5. Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn
  6. Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng – an ninh

5. Giáo dục – khoa học – văn hóa

  • Giáo dục – đào tạo: quốc sách hàng đầu
  • Khoa học – công nghệ: then chốt
  • Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

👉 Ý nghĩa Đại hội VIII:
Đánh dấu bước ngoặt lịch sử, chính thức bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH–HĐH.

III. ĐẠI HỘI IX (2001) – LÀM RÕ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN

1. Bối cảnh

  • 15 năm đổi mới
  • Bước sang thế kỷ XXI, thời cơ và thách thức đan xen
  • Chuẩn bị hội nhập sâu vào kinh tế thế giới

2. Chủ đề

“Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH–HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.”

3. Những điểm mới rất quan trọng

  • Làm rõ con đường đi lên CNXH:
    • Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
    • Không bỏ qua thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại
  • Khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN
  • Lần đầu làm rõ khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
  • Đối ngoại:
    • Việt Nam “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy”
  • Đề ra Chiến lược phát triển KT–XH 10 năm (2001–2010)

👉 Ý nghĩa:
Đặt nền móng lý luận vững chắc cho CNH–HĐH gắn với hội nhập quốc tế.

IV. ĐẠI HỘI X (2006) – GẮN CNH–HĐH VỚI KINH TẾ TRI THỨC

1. Bối cảnh

  • 20 năm đổi mới
  • Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO

2. Chủ đề

“Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.”

3. Điểm mới nổi bật

  • Lần đầu tiên đưa ra khái niệm kinh tế tri thức
    • CNH–HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
  • Cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân
  • Gia nhập WTO năm 2006
  • Đề ra Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

👉 Ý nghĩa:
CNH–HĐH bước sang trình độ cao hơn, gắn với tri thức, hội nhập toàn cầu.

V. ĐẠI HỘI XI (2011) – PHÁT TRIỂN NHANH GẮN VỚI BỀN VỮNG

1. Chủ đề

“Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH–HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.”

2. Nội dung nổi bật

  • Bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991
  • Xác định:
    • Phát triển nhanh gắn với bền vững
    • Ba đột phá chiến lược:
      1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
      2. Nguồn nhân lực (nhất là chất lượng cao)
      3. Kết cấu hạ tầng
  • Đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện

VI. TỪ ĐẠI HỘI XII – XIII (KHÁI QUÁT NGẮN GỌN)

  • Tiếp tục:
    • CNH–HĐH gắn với chuyển đổi số
    • Phát triển kinh tế xanh, kinh tế số
    • Hội nhập quốc tế chủ động – tích cực – toàn diện
  • Mục tiêu:
    • Đến 2030–2045: Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao

VII. KẾT LUẬN NGẮN GỌN (DÙNG ĐỂ CHỐT BÀI)

Từ năm 1996 đến nay, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam là một quá trình liên tục, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Qua các kỳ Đại hội VIII đến XIII, Đảng từng bước hoàn thiện tư duy lý luận, xác định đúng con đường phát triển, đưa Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển trở thành quốc gia đang phát triển năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.