



















Preview text:
Nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trên cơ sở quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 về việc tòa án
thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân nên Điều 4 BLTTDS năm 2015 tiếp tục quy định nguyên tắc này nhưng với
nội dung đầy đủ và hoàn thiện hơn. Theo đó, Điều 4 BLTTDS năm 2015 bổ
sung quy định: “tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do
chưa có điều luật để áp dụng”. Việc bổ sung quy định này nhằm đảm bảo tòa
án phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân
sự đồng thời cũng thống nhất, đồng bộ với quy định Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nguyên tắc này có các nội dung sau:
Xác định các chủ thể theo quy định của BLTTDS năm 2015 có quyền yêu
cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người
khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng. Cụ thể:
+ Các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
hoặc tranh chấp có quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. + Cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có
quyền yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là
căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu
cầu tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động.
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện VADS, yêu cầu giải
quyết VDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Đó là, người
đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên trừ người từ đủ mười lăm
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động
hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình; người mất năng lực hành
vi dân sự; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong
nhận thức và làm chủ hành vi của mình có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết
vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên,
người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong
nhận thức và làm chủ hành vi. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan
quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện, yêu cầu vụ việc về hôn nhân và
gia đình Cơ quan lao động, thương binh và xã hội, hội liên hiệp phụ nữ có quyền
yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Điều 26 Luật Nuôi con nuôi. Tổ chức
đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp
cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động. Tổ chức xã
hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu
dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Ví dụ 4: Anh A và chị B tranh chấp với nhau về việc xác định A có phải là
cha của C (chưa thành niên). Anh A không thừa nhận C là con của mình. Những
chủ thể nào có quyền khởi kiện ra tòa án yêu cầu xác định anh A là cha của C.
Theo quy định tại Điều 4, Điều 187 BLTTDS năm 2015, khoản 3 Điều 102 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì chị B, Cơ quan quản lý nhà nước về gia
đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam có
quyền khởi kiện ra tòa án yêu cầu xác định anh A là cha của C.
+ Cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công
cộng. Những cơ quan, tổ chức được có quyền khởi kiện trong trường hợp này
phải được Nhà nước trao quyền quản lý trong phạm vi lĩnh vực nhất định. Ví
dụ: cơ quan Tài nguyên và Môi trường có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu
cầu tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường
phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường.
Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có
điều luật để áp dụng.
+ Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc
phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó
phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.
+ Việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để
áp dụng được thực hiện theo nguyên tắc do Bộ luật Dân sự năm 2015 và
BLTTDS năm 2015 quy đinh. Theo đó, thẩm quyển của tòa án thụ lý, giải quyết
vụ án dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện
theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của BLTTDS năm 2015. Trình
tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp chưa có điều luật
để áp dụng theo thủ tục chung. Khi giải quyết tòa án căn cứ theo thứ tự sau đây
để áp dụng: tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân
sự, án lệ, lẽ công bằng.
Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Nguyên tắc này có nguồn gốc từ bản chất của quan hệ pháp luật nội dung
(quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và
lao động). Các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có quyền tự do tự
nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ phục vụ cho lợi
ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Trong trường hợp có tranh
chấp hoặc vi phạm xảy ra thì họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp
để giải quyết tranh chấp cũng như tự quyết định quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Do đó, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự được quy
định là một nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và được quy định tại
Điều 5 BLTTDS năm 2015. Nguyên tắc này có các nội dung sau:
+ Đương sự có quyền tự quyết định việc có tham gia tố tụng dân sự, tự
quyết định quyền và lợi ích của họ theo quy định của pháp luật. Điều này có
nghĩa, đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án giải
quyết vụ việc dân sự, quyền rút yêu cầu, thay đổi, bổ sung yêu cầu, thỏa thuận
với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự, có quyền quyết định việc kháng cáo
hay không kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
+ Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác;
Ví dụ: Trong vụ án dân sự này, ông A cho ông B mượn 300m vuông đất
để làm xưởng sản xuất, nhưng ông B đã gian dối để được UBND huyện N cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đứng tên mình. Khi phát
hiện sự việc, ông A khởi kiện yêu cầu ông B trả lại diện tích đất nêu trên nhưng
không yêu cầu tòa án hủy GCNQSDĐ mà UBND huyện N đã cấp cho ông B.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 34 BLTTDS năm 2015, để giải quyết triệt để
việc đòi lại đất cho ông A, Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp
luật (GCNQSDĐ) xâm phạm quyền lợi của đương sự mà không cần đương sự
phải có yêu cầu cụ thể. Do việc xem xét hủy GCNQSDĐ của UBND huyện cấp
sẽ dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết, nên Tòa án nhân dân huyện N đang
thụ lý phải chuyển vụ án lên cho Tòa án nhân dân tỉnh M giải quyết theo đúng
quy định về thẩm quyền tương ứng của Luật Tố tụng hành chính.
+ Mọi hành vi định đoạt của đương sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện
và không được vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Ví dụ
như việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tại phiên tòa sơ thẩm chỉ
được chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá
phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Hoặc
các đương sự chỉ được kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với những nội
dung đã được giải quyết ở tòa án cấp sơ thẩm và không được kháng cáo, kháng
nghị về những vấn đề chưa được giải quyết ở sơ thẩm..
Ví dụ: Trong một vụ việc dân sự về hôn nhân gia đình, anh A đã kết hôn
với chị B (năm 1990) nhưng sau đó lại tiếp tục đăng ký kết hôn trái pháp luật
với chị C (năm 1999). Khi chị B khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn giữa A và
C, chị C mới nhận ra mình bị lừa dối và chủ động chuyển đi nơi khác để không
làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của A và B. Thấy vậy, chị B tự nguyện rút đơn
yêu cầu. Theo quy định pháp luật, Tòa án phải chấp nhận việc rút đơn này vì
đó là quyền tự nguyện và không vi phạm điều cấm. Tuy nhiên, do cuộc hôn
nhân giữa A và C là trái pháp luật và vẫn tồn tại trên giấy tờ, nên căn cứ theo
Điều 186, 187 BLTTDS 2015 và Điều 10 LHNGD 2014, việc hủy bỏ cuộc hôn
nhân này vẫn cần được thực hiện. Các chủ thể khác như chính chị C, người
thân của các bên hoặc các cơ quan tổ chức xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, cơ
quan quản lý nhà nước về gia đình.. ) vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
hủy việc kết hôn trái pháp luật đó để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản trong tố tụng dân sự, mang tính
chất quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự, làm cơ sở cho tòa án giải
quyết vụ việc dân sự được chính xác và đúng pháp luật. Chứng minh trong tố
tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa đối với tòa án trong việc giải quyết vụ việc
dân sự mà còn có ý nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2015 thì nguyên
tắc này có các nội dung sau đây:
+ Đương sự đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của người khác đối
với mình có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho tòa
án và chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà
nước có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
+ Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa
ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì tòa án giải quyết vụ việc
dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc (khoản
4 Điều 91 BLTTDS năm 2015). Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp
không đẩy đủ tài liệu, chứng cứ do tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng
thì tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và tòa án đã
thu thập theo quy định tại Điều 97 BLTTDS năm 2015 để giải quyết vụ việc dân
sự (khoản 1 Điều 96 BLTTDS năm 2015).
+ Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trường
hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc
tòa án có thể tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như lấy lời
khai của đương sự (khoản 1 Điều 98); lấy lời khai người làm chứng (khoản 1
Điều 99); Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng (khoản 1 Điều 100); Xem xét, thẩm định tại chỗ (khoản 1 Điều 101);
Trưng cầu giám định (khoản 2 Điều 102); Định giá tài sản (điểm b, c khoản 3
Điều 104); Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ (Điều 105); Yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ (khoản 3 Điều 106).
Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân,
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Để đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng
minh của mình cũng như để tòa án xác định được sự thật khách quan của vụ
việc dân sự thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan phải có trách nhiệm
trong việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự. Vì vậy,
BLTTDS quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền là một trong các nguyên tắc của tố tụng dân sự và được
quy định tại Điều 7 BLTTDS năm 2015. Nguyên tắc này có các nội dung cơ bản sau đây:
+ Các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan đang lưu giữ, quản lý các
chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự phải cung cấp cho đương sự,
cho tòa án theo yêu cầu của họ, cho viện kiểm sát để họ thực hiện việc kháng
nghị. Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản
cho đương sự, viện kiểm sát, tòa án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.
+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách
nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu đương sự,
viện kiểm sát, tòa án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của viện kiểm sát,
tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có
thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn
nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho viện kiểm sát, tòa án.
Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự
Hòa giải là một trong các nội dung của quyền tự định đoạt của đương sự,
theo đó các đương sự có quyền thỏa thuận, thương lượng với nhau về việc giải
quyết vụ án dân sự. Do đó, trách nhiệm hòa giải của tòa án trong tố tụng dân
sự được quy định là một nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và được
quy định tại Điều 10 BLTTDS năm 2015. Nguyên tắc này có các nội dung cơ bản sau đây:
+ Tòa án có trách nhiệm hòa giải để giúp các đương sự thoả thuận với
nhau về giải quyết các vấn đề của vụ việc dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy
định không hòa giải được, không được hòa giải hoặc vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
+ Việc hòa giải được tiến hành theo quy định của pháp luật và trên cơ sở
sự tự nguyện của đương sự, không bên nào được ép buộc bên nào, tòa án
cũng không được áp đặt ý chí của mình cho đương sự buộc họ phải thoả thuận
với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự.
+ Hòa giải là một hoạt động bắt buộc của tòa án được tiến hành trước
khi xét xử sơ thẩm. Còn ở các giai đoạn sau của quá trình tố tụng như tại phiên
tòa sơ thẩm, giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, tòa án không có
trách nhiệm phải hòa giải. Tuy nhiên, nếu các đương sự thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án dân sự thì tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự.
+ Trường hợp đương sự thoả thuận được việc giải quyết vụ việc và sự
thoả thuận đó không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì
tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định
này có hiệu lực pháp luật ngay, nó không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm mà chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn
cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc vi phạm
điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự đúng
pháp luật và nhanh chóng. Vì vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật được coi
là một nguyên tắc của tố tụng dân sự, được quy định tại khoản 1 Điều 107 Hiến
pháp 2013, Điều 21 BLTTDS năm 2015. Nguyên tắc này có các nội dung sau đây:
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ việc dân sự
của tòa án như kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án, hòa giải, xét xử, việc ra các
bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự;
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và
những người có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; + Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự
theo quy định của pháp luật;
Khi Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát các hoạt động trên thì Viện kiểm
sát được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
+ Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự;
phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ
hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng
đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015.
+ Viện kiểm sát tham gia tất cả phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
+ Thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo qui định của
pháp luật như yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ,
tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; Yêu cầu tòa án cùng cấp, cấp
dưới chuyển hồ sơ để nghiên cứu; kiến nghị với Chánh án tòa án đang giải
quyết vụ án về ra quyết định hoặc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời là mảnh
+ Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Chứng minh, chứng cứ
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những thông tin, sự kiện, tình tiết có
thật, liên quan đến vụ việc dân sự, được rút ra từ nguồn và được cung cấp, thu
thập, nghiên cứu, đánh giá theo trình tự do pháp luật tố tụng dân sự quy định
và được tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
Khi giải quyết một vụ việc dân sự, tòa án phải xem xét, đánh giá tất cả
các sự kiện, tình tiết của vụ việc thông qua các thông tin về vụ việc dân sự được
chứa đựng trong các tài liệu, bằng chứng mà các bên đương sự cung cấp hoặc
được tòa án thu thập. Tuy nhiên, chỉ những thông tin, sự kiện, tình tiết được
tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết yêu cầu của các đương sự mới được coi
là chứng cứ. Các thông tin được coi là chứng cứ khi thỏa mãn ba thuộc tính
(đặc điểm): khách quan, liên quan và hợp pháp.
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là những
gì có thật, tồn tại một cách khách quan ngoài ý muốn chủ quan của con người.
Những gì có thật ở đây được hiểu là các thông tin về vụ việc dân sự chứ không
phải là các tài liệu chứa đựng các thông tin đó. Những thông tin giả mạo thì sẽ
không được tòa án sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, vì chúng
không phải là chứng cứ, chứ không phải thông tin giả mạo là căn cứ để tòa án
bác bỏ yêu cầu của đương sự.
Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ nó phải có ý nghĩa để xác
định một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ việc dân sự, dựa vào chứng cứ tòa án
có căn cứ để chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hay toàn bộ yêu cầu của các
đương sự. Tính liên quan của chứng cứ với vụ việc dân sự có thể là trực tiếp
hoặc gián tiếp. Sự liên quan trực tiếp của chứng cứ thể hiện ở chỗ dựa vào các
thông tin, sự kiện, tình tiết đó tòa án có thể khẳng định được ngay có hay không
có một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ việc dân sự.
Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải được rút ra
từ nguồn của chứng cứ và được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và
sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự, các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh phải tuân thủ đúng
các quy định của pháp luật về cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá, sử
dụng chứng cứ. Đối với những gì không được rút ra từ các nguồn chứng cứ do
pháp luật quy định hoặc không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng
theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được
tòa án sử dụng giải quyết vụ việc dân sự.
Như vậy, thông tin, sự kiện, tình tiết về vụ việc dân sự thỏa mãn đồng
thời ba thuộc tính: khách quan, liên quan, hợp pháp và được tòa án sử dụng
trong việc chứng minh tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu của đương
sự được gọi là chứng cứ.
Điều kiện khởi kiện
Thứ nhất, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và có NLHVTTDS
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp
luật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Các chủ thể này bao
gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định.
Đối với trường hợp cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình thì họ phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự đồng thời phải
có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Một cá nhân được
coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì họ phải thuộc một trong hai trường
hợp sau: thứ nhất, đủ 18 tuổi, có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi; thứ
hai, thuộc quy định tại khoản 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015.
Đối với trường hợp cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác thì phải nằm trong diện được quy định tại Điều 187
BLTTDS năm 2015. Việc xác định cụ thể quyền khởi kiện trong trường hợp này
phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật DS 2015; Luật HNGD; BLLD.
Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình thì họ phải có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc
tranh chấp, đồng thời phải có tư cách pháp nhân. Đối với cơ quan, tổ chức
không có tư cách pháp nhân thì không thể trở thành đương sự trong vụ án dân sự.
Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác thì cơ quan, tổ chức đó cũng phải nằm trong diện
được quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015. Việc xác định cụ thể quyền
khởi kiện trong trường hợp này phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2015; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2019..
Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích nhà
nước, lợi ích công cộng thì phạm vi quyền hạn của họ được pháp luật quy định
theo từng lĩnh vực phụ trách. Như vậy, không phải bất kì cơ quan, tổ chức nào
cũng có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng. Bên
cạnh đó, theo pháp luật Việt Nam, chủ thể là cá nhân cũng không có quyền khởi
kiện để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng.
Thứ hai, vụ án phải được khởi kiện đúng thẩm quyền của tòa án theo loại việc
Để giải quyết tốt các vụ án dân sự, tòa án có trách nhiệm hướng dẫn và
giúp đỡ cho các chủ thể khởi kiện thực hiện hành vi khởi kiện vụ án đúng quy
định của pháp luật. Yêu cầu pháp luật đặt ra là việc khởi kiện phải đúng thẩm
quyền xét xử về dân sự của tòa án, cụ thể là vụ án mà họ khởi kiện thuộc phạm
vi thẩm quyền giải quyết của tòa án quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS năm 2015.
Thứ ba, sự việc chưa được giảt quyết bằng một bản án hay quyết định
của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu
lực phúp luật, trù trường hợp có quy định khác của pháp luật
Những bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật thì phải được tôn trọng thi hành.
Tránh việc các đương sự khởi kiện nhiều lần không có căn cứ về cùng một
quan hệ pháp luật thì điều kiện khởi kiện này được đặt ra là rất cần thiết. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp sau đây, đương sự có quyền khởi kiện lại: điểm c K1 Đ192
Thứ tư, các trường hợp khác mà pháp luật có quy định
Đây là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự hoặc pháp luật khác có quy
định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu tòa án
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước phải thực hiện
trước khi khởi kiện (còn gọi là các điều kiện tiền tố tụng). Ví dụ:
Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất phải hoà giải tại Ủy ban
nhân dân nơi có đất trước khi khởi kiện (Điều 202 Luật Đất đai năm 2013); Một
số tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải hoa giải tại hoà giải viên lao động
trước khi khởi kiện theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019.. ; Đối với
trường hợp bồi thường thiệt hại của Nhà nước thì trước khi khởi kiện ra tòa án
theo thủ tục tố tụng dân sự các bên phải thực hiện thủ tục thương lượng theo
Điều 47 và Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Đối
với tranh chấp về hợp đồng vay, hợp đồng thuê không xác định thời hạn thì
trước khi thực hiện việc khởi kiện để đòi lại tiền vay hoặc đòi nhà thì bên cho
vay hoặc bên cho vay phải báo trước với bên vay, bên thuê một khoảng thời
hạn hợp lý theo quy định của pháp luật dân sự.
So sánh hòa giải thành và tự thỏa thuận trong tòa án cấp sơ thẩm
Giống nhau: đều xuất phát từ quyền tự định đoạt, nếu diễn ra ở giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm đều do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án
giải quyết; việc thoả thuận phải hình thành trên cơ sở tự nguyên, không vi phạm
điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội
Khác nhau: Khái niệm: Là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm
giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS/ Là hoạt động do
các đương sự tự thực hiện để thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS
Cơ sở pháp lý: Điều 10, Điều 205 BLTTDS/ Điều 5 BLTTDS
Vai trò: Tòa án giữ vai trò là trung gian, chủ động xác định thời gian, địa
điểm, thành phần nội dung hòa giải, giải thích PL và nội dung tranh chấp để các
đương sự đi đến thỏa thuận/ Không có vai trò của Tòa án, các đương sự tự
thực hiện quyền tự định đoạt của mình.
Thời điểm: hòa giải được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử trước
khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi hai bên thỏa thuận được với
nhau thì đó được coi là việc hòa giải thành. Việc hòa giải chỉ tiến hành trong
phạm vi những vấn đề liên quan đến giải quyết vụ án./ Tự thỏa thuận: các bên
có thể thỏa thuận bất cứ thời điểm nào trước quá trình xét xử hay trong quá
trình xét xử. Các bên có thể thỏa thuận rộng hơn so với hòa giải. Theo đó nội
dung thỏa thuận có thể là nơi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, về việc giải
quyết vụ án hay về án phí.
Trình tự, thủ tục: Triệu tập kiểm tra sự có mặt của người tham gia phiên
hòa giải; Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, phổ biến giải thích; Thẩm phán xử
lý kết quả hòa giải (Vụ án hòa giải thành, Điều 206, 207 thì quyết định đưa
VADS ra xét xử) / Các bên tự thỏa thuận và sẽ quyết định Rút đơn - Không rút
đơn (trong các giai đoạn CBXXST; tại phiên tòa ST; trong giai đoạn CBXXST;
tại phiên tòa phúc thẩm)
Phạm vi nội dung: Khoản 1 Điều 205, Điều 206, 207, điểm b Khoản 2
Điều 205/ Nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
So sánh đình chỉ giải quyết vụ án và tạm đình chỉ giải quyết vụ án
tại toà án cấp sơ thẩm?
Giống nhau: thẩm quyền giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thuộc
về thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, tại phiên toà sơ thẩm thuộc về
hội đồng xét xử; đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
hoặc bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Khái niệm: Đình chỉ giải quyết VADS là việc tòa án quyết định ngừng việc
giải quyết VADS khi có những căn cứ do pháp luật quy định./ Tạm đình chỉ giải
quyết VADS là việc tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết VADS khi có
những căn cứ do pháp luật quy định
Căn cứ: Điều 217/ Điều 214
Hậu quả: Điều 218/ Điều 215, 216 Thẩm quyền: Điều 219
So sánh trả lại đơn khởi kiện và chuyển đơn khởi kiện?
Giống nhau: thời điểm giải quyết đều là trước khi thụ lý vụ án, thẩm quyền
giải quyết thuộc về thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện Khác nhau:
Khái niệm: Là việc TA từ chối thụ lý vụ án, trả lại đơn và tài liệu, chứng
cứ cho người khởi kiện do không đủ điều kiện theo luật định/ Là việc TA xác
định mình không có thẩm quyền giải quyết vụ snd và chuyển đơn cùng tài liệu,
chứng cứ cho TA có thẩm quyền.
CSPL: điểm d Khoản 3 Điều 191; điểm đ Khoản 1 Điều 192/ điểm c Khoản 3 Điều 191
Căn cứ: Sai TQ loại việc; Người KK có k có quyền KK; Chưa đủ Đk khởi
kiện; Sự việc đc giải quyết bằng bản án; quyết định Ng KK ko nộp biên lai;
Ko sửa đổi bổ sung đơn KK; Rút đơn
Trình tự thủ tục: K2 Đ192 / điểm c K3 Đ191
Hậu quả pháp lý: Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại nếu
đáp ứng đủ điều kiện theo khoản 3 Điều 192, Điều 194/ VVDS tiếp tục ở TA có TQ
So sánh chuyển đơn khởi kiện và chuyển vụ án dân sự?
Giống nhau: Việc chuyển đơn khởi kiện và chuyển VVDS giống nhau là
khi thấy rằng vụ án này do TA có TQ giải quyết, tức là đúng về thẩm quyền giải
quyết theo vụ việc của tòa án, mặc dù thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
nhưng tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện lại xét thấy rằng đã sai về thẩm quyền
giải quyết theo cấp hoặc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ.
Khác nhau: CSPL: điểm c khoản 3 Điều 191/ Điều 41
Thời điểm: trước khi thụ lý vụ án/ sau khi thụ lý vụ án, tòa án sau khi tiếp
nhận đơn khởi kiện và đã thụ lý vụ án thì xét thấy không thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án đó mà thuộc thẩm quyền của tòa án khác
Thẩm quyền: chủ thể có thẩm quyền là thẩm phán được phân công xem
xét đơn khởi kiện ra quyết định chuyển đơn khởi kiện, chứng cứ kèm theo cho
tòa án có thẩm quyền (được ghi chủ vào sổ nhận đơn) khi người khởi kiện có
đủ điều kiện khởi kiện nhưng tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của
tòa án khác (theo cấp, theo lãnh thổ)/ chủ thể có thẩm quyền là tòa án đã thụ lý
ra quyết định chuyển hồ sơ vvds cho tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.
Trình tự thủ tục: Việc chuyển đơn khởi kiện sẽ được thông báo cho người
khởi kiện. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan,
tổ chức có liên quan biết việc chuyển hồ sơ khởi kiện của họ đến tòa án khác
có thẩm quyền giải quyết/ Đối với quyết định chuyển vụ án thì phải được gửi
ngay cho VKS cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và
xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.
Hậu quả pháp lý: chuyển đơn khởi kiện không làm mất quyền của đương
sự, đơn kk được chuyển đến tòa đúng thẩm quyền để thụ lý và giải quyết/
chuyển vụ việc dân sự được chuyển đến tòa án có thẩm quyền và tiếp tục giải
quyết theo các trình tự tố tụng dân sự tiếp theo, CQ, TC, CN có quyền khiếu
nại, VKS có quyền kiến nghị.
So sánh phương pháp điều chỉnh TTDS- TTHS
TTDS: Phương pháp mệnh lệnh; Phương pháp tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
TTHS: Phương pháp quyền uy; Phương pháp phối hợp chế ước
Phân biệt nghĩa vụ chứng minh trong TTDS - TTHS
Chủ thể: Đương sự/ CQTHTT (CQĐT, VKS, TA)
Mục đích: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp/ Điều tra, truy tố, xét xử
Hậu quả của việc không đưa ra chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ: TA GQVVDS dựa trên những chứng cứ mà đương sự cung cấp/ CQTHTT
không thể buộc tội bị can, bị cáo
Phân biệt người đại diện theo UQ – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Khái niệm: Là người đại diện (thay mặt đương sự) tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sựt heo sự ủy quyền của đương sự/
Là người tham gia tố tụng có đủ các điều kiện do PL quy định được đương sự
yêu cầu (nhờ) tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. CSPL: Điều 85/ Điều 75
Hình thức pháp lý: Văn bản ủy quyền được công chứng hoặc chứng
thực/ Văn bản nhưng không bắt buộc phải có công chứng hoặc chứng thực
Mục đích tham gia tố tụng: Đại diện, thay mặt => ĐS không nhất thiết
phải có mặt tham gia tố tụng/ Hỗ trợ đương sự về mặt pháp lý => Đương sự
vẫn phải cùng người bảo vệ tham gia tố tụng.
Phạm vi loại việc: Trừ việc ly hôn/ Không có hạn chế
Phạm vi chủ thể: Cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của BLDS năm
2015 -Các TG loại trừ/ Chỉ có thể là những cá nhân được quy định tại K1 Đ75.
Quyền và nghĩa vụ: Đ86 => Quyền tố tụng của đương sự/ Đ76
Phân biệt người có QLVNVLQ có yêu cầu độc lập – không có y/c độc lập
Khái niệm: Là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của chính mình, có thể chống lại cả NĐ và BĐ/ Là người tham gia tố tụng
để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn hoặc hoàn trả, phụ thuộc vào NĐ hoặc BĐ
Quyền và nghĩa vụ: Có quyền và nghĩa vụ như NĐ (K2 Đ73)/ Có quyền
và nghĩa vụ như NĐ hoặc BĐ ( K3,4 Đ73)
Thủ tục đưa ra y/c: Như thủ tục khởi kiện của NĐ (Đ202 BLTTDS)/ Không bắt buộc
Phân biệt đại diện theo PL – theo UQ
Cơ sở: Do PL Quy định/ Theo ý chí của ĐS hoặc người ĐD theo PL của ĐS
Xác định người ĐD: Đ136, 137 BLDS K2,3 Đ85 BLTTDS K2 Đ51
LHN&GĐ/ Theo văn bản ủy quyền
Phạm vi tham gia: Tất cả các vụ việc mà ĐS tham gia theo PL/ Tất cả các
vụ việc, trừ việc ly hôn
Quyền và nghĩa vụ: Toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ĐS, trừ
quyền hòa giải trong vụ án ly hôn/ Các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ĐS theo văn bản ủy quyền
Các TH hạn chế: K1 Đ87/ K1, 3 Đ87
Phân biệt chứng cứ - bắng chứng
Khái niệm: Điều 93/ Sự việc, sự kiện, hiện tượng, tài liệu có thật được cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thu thập để phục vụ cho việc chứng minh
một sự việc cụ thể nhằm bảo đảm tính khách quan của sự việc đó.
Tính chất pháp lý: có đủ 3 thuộc tính, bắt buộc tuân thủ trình tự tố tụng, phải
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng qđ/ Mang tính phổ quát, tự nhiên.
Là sự việc, hiện tượng, tài liệu có thật được thu thập nhưng không yêu cầu khắt khe về
trình tự tố tụng của Tòa án
Chủ thể tiếp nhận và sử dụng: Gắn liền với Tòa án. Phải được giao nộp/xuất trình
cho Tòa án và được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc./ Rộng hơn. Được cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thu thập (có thể sử dụng nội bộ, trong hành chính,
hoặc đời sống, không nhất thiết là Tòa án).
Đối tượng cấu thành: Những gì có thật. Mang tính khách quan, liên quan và hợp
pháp/ "Sự việc, sự kiện, hiện tượng, tài liệu có thật".
Mục đích sử dụng: Giải quyết vụ án. Dùng để xác định tình tiết khách quan của
vụ án; xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ hay không./ Chứng
minh sự thật. Dùng để chứng minh một sự việc cụ thể nhằm bảo đảm tính khách quan
của sự việc đó (có thể nằm ngoài phạm vi vụ án).
Phân biệt nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh
Khái niệm: Là nơi chứa đựng dấu vết, tài liệu, hình ảnh, đặc điểm có liên quan
đến hồ sơ vụ án để từ đó rút ra được chứng cứ mà mang giá trị chứng minh/ Là những
công cụ do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình
tiết, sự kiện của vụ việc
Tính chất: Nguồn chứng cứ mang tính "Chứa đựng". Là nơi chứa đựng chứng
cứ, là nơi ẩn chứa các thông tin, tư liệu về vụ việc, là hình thức biểu hiện bên ngoài,
trong nhiều trường hợp cũng có thể được hiểu là công cụ được sử dụng để xác định các
tình tiết của vvds/ Mang tính "Sử dụng/Công cụ". Là cách thức chủ thể sau khi đã xem
xét, đánh giá nguồn chứng cứ thì đưa chúng vào hoạt động tố tụng để xác định các tình
tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, góp phần giải quyết vụ việc.
Mục đích: Là nơi chứa đựng chứng cứ, là nơi lưu giữ, bảo quản các thông tin, sự
kiện, tình tiết của vụ việc (không để chúng bị mất đi hoặc trôi qua theo thời gian). Là cơ
sở để từ đó các chủ thể có thể khai thác, rút ra được các chứng cứ phục vụ cho quá trình
giải quyết vụ án./ Dùng để chứng minh, sử dụng các nguồn chứng cứ như một công cụ
để làm rõ sự thật khách quan. Dùng để tác động vào nhận thức của Thẩm phán/Hội
đồng xét xử, giúp họ xác định được sự việc nào là có thật, sự việc nào là không có thật,
từ đó giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự
Vai trò, chức năng: Lưu giữ và bảo quản các dấu vết, thông tin của vụ việc để
chúng không bị mất đi/ Truyền tải và xác thực thông tin. Dùng để khẳng định hoặc phủ
định một tình tiết khách quan của vụ án
Phạm vi xác định: Điều 94/ Linh hoạt dựa trên việc sử dụng các nguồn trên. Bất
kỳ nguồn nào được sử dụng hợp pháp để làm rõ tình tiết đều đóng vai trò là phương tiện chứng minh.
Phân biệt định giá – thẩm định giá
Khái niệm: Là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ. (khoản 5 Điều 4 Luật Giá 2012)/
Là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các
loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm,
thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá.
(khoản 15 Điều 4 Luật Giá 2012)
Bản chất: Là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước (quyết định hành chính).
Nhà nước áp đặt mức giá cho hàng hóa/dịch vụ cụ thể./ Là hoạt động dịch vụ tư vấn
(dân sự/thương mại). Do các đơn vị chuyên môn thực hiện theo yêu cầu của khách hàng
Chủ thể: Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Chính phủ, Bộ Tài chính, các Bộ
ngành, UBND cấp tỉnh...)/ Doanh nghiệp thẩm định giá (có đủ điều kiện hoạt động) và
các Thẩm định viên về giá.
Đối tượng: Các hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà
nước định giá (ví dụ: điện, nước sạch, đất đai theo khung giá nhà nước, xăng dầu...)./
Đa dạng các loại tài sản theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân (bất động sản, máy móc,
doanh nghiệp, tài sản vô hình...) được phép giao dịch dân sự.
Mục đích: Để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về giá, bình ổn thị trường,
thực hiện chính sách an sinh xã hội./ Để tư vấn cho khách hàng sử dụng vào các mục
đích: mua bán, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, cổ phần hóa, thanh lý tài sản...
Hình thức: Ban hành dưới dạng các Văn bản quy phạm pháp luật hoặc Quyết
định hành chính (Quyết định giá, Biểu giá, Khung giá...)./ Ban hành dưới dạng Chứng
thư thẩm định giá và Báo cáo kết quả thẩm định giá
Giá trị pháp lý: Có tính bắt buộc thi hành. Các tổ chức, cá nhân liên quan phải
mua/bán theo mức giá Nhà nước quy định./ Có giá trị tư vấn, tham khảo. Là cơ sở để
các bên thương lượng, ra quyết định (trừ một số trường hợp luật định bắt buộc phải qua thẩm định giá).
Phân biệt tạm ngưng - hoãn phiên tòa sơ thẩm
Khái niệm: Là việc dừng phiên tòa, phiên tòa không thể tiếp tục trong thời gian
ngắn khi có căn cứ pháp luật quy định/ Hoàn PT là việc chuyển thời điểm tiến hành
phiên tòa DS đã định sang thời điểm khác muộn hơn khi có căn cứ pháp luật. CSPL: Điều 259/ Điều 233 Căn cứ: K1 Đ259/ K1 Đ233
Thời điểm: Tại phiên tòa hoặc trong cả hoạt động tranh tụng/ Hoãn phiên tòa
phát sinh vào thời điểm trước khi bát đầu PTST hoặc phúc thẩm
Thời hạn: không quá 1 tháng/ không quá 1 tháng; không quá 15 ngày đối với
phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
Trình tự thủ tục: Phải thông báo = vb (K2 Đ259)/ K3 Đ233
Hậu quả pháp lý: Hết thời hạn tạm ngừng, … (K2 Đ259)/ K4 Đ233 => QĐ về
mặt hình thức -> không thể bị kháng cáo, kháng nghị
Phân biệt rút đơn khởi kiện trước khi thụ lý – trong giai đoạn chuẩn bị
XXST (sau khi thụ lý)
Thời điểm: Khi Tòa chưa ra quyết định thụ lý/ Khi tòa đã có quyết định thụ lý
vụ án dân sự và trước khi mở phiên tòa ST
CSPL: điểm g Khoản 1 Điều 192/ điểm c, g Khoản 1 Điều 217
Thẩm quyền giải quyết: Thẩm phán được phân công xem xét đơn/ Thẩm phán
được phân công giải quyết VADS
Trình tự thủ tục: Thẩm phán được phân công xem xét đơn trả lại đơn KK trong
trường hợp xét thấy yêu cầu rút đơn của những người KK theo điểm g, Khoản 1 Điều
192; TP phải có văn bản nêu rõ lí do trả lại đơn KK, gửi cho VKS cùng cấp. Sao chụp
và lưu lại tại tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị/ Việc người kk rút toàn
bộ đơn kk sẽ được thẩm phán được phân công giải quyết VA ra quyết định đình chỉ VA
dựa theo điểm c khoản 1 Điều 217/ Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo
cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để
làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
Hậu quả pháp lý: Trả lại đơn kk/ Nếu nguyên đơn rút hết yêu cầu và VA không
còn yêu cầu của ĐS khác → Ra quyết định đình chi giải quyết VA (trừ khoản 4 Điều
217); Nếu NĐ rút hết yêu cầu nhưng VA còn yêu cầu của ĐS khác → 1. Đình chỉ phần
yêu cầu mà NĐ rút; 2. Thay đổi địa vị tố tụng; 3. Tiếp tục xét xử yêu cầu còn lại
So sánh người không đủ điều kiện KK – chưa đủ điều kiện KK
Giống nhau: Thẩm quyền giải quyết đều thuộc về Thẩm phán được phân công
xem xét đơn khởi kiện theo Khoản 2 Điều 191; Hậu quả pháp lý: Cả hai trường hợp này
đều bị Thẩm phán trả lại đơn KK theo quy định tại Điều 192. Khi trả lại đơn KK và tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho người KK, thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại
đơn KK, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Đơn KK và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán
trả lại cho người KK phải được sao chụp và lưu tại TA để làm cơ sở giải quyết khiếu
nại, kiến nghị khi có yêu cầu; Khị bị trả lại đơn KK, người KK có thể thực hiện thủ tục khiếu nại theo Điều 194
Khác nhau: Khái niệm: Là TH người KK không có quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm hoặc không phải chủ thể theo quy định của pháp luật có thể khởi kiện thay
chủ thể khác hoặc là người không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự/ Là trường hợp
pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện
đến TA khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.
CSPL: điểm a khoản 1 điều 192/ điểm b khoản 1 điều 192; khoản 1 Điều 3 NQ 04/2017/NQ- HĐTP
Các trường hợp: - Người KK không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
mà mình là người đại diện hợp pháp - Người KK không thuộc trường hợp theo quy
định của PL có quyền KK để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích
công cộng và lợi ích của NN; - Yêu cầu KK của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần
xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và
lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ; - Người KK là cá nhân chưa đủ
18t hoặc đã đủ 18t nhưng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi (trừ khoản
6 Điều 69)/ - Chưa hoà giải tiền tố tụng (đối với TC ai là người có quyền SDĐ, TC lao
động); - Bị hạn chế quyền KK (quyền KK ly hôn, phân chia di sản theo Điều 661 BLDS); - Điều kiện khác
Ví dụ: A và B là vợ chồng hợp pháp. Sau mỗi lần say rượu, anh A thường có
hành vi đánh đập, xúc phạm nặng nề đến chị B. Chị X là hàng xóm của A, B và đang
công tác tại Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Z. Do cảm thông với hoàn cảnh của chị B nên chị
X đã làm đơn KK yêu cầu TA giải quyết cho anh A và chị B ly hôn Trong trường hợp
này, chị X không có quyền KK vụ án lý hôn theo quy định của LHNGĐ/ Công ty X là
người sử dụng lao động ký hợp đồng với anh P, trong hợp đồng ghi rõ anh P sẽ được
công ty cho đi học nghề 1 năm, đồng thời anh P có nghĩa vụ làm việc tại công ty ít nhất
là 5 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong, anh P chỉ làm việc ở
công ty X 2 năm. Công ty X KK anh P ra TA buộc anh P phải hoàn trả chi phí đào tạo
học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hoa giải của hoa giải viên lao động. Trường hợp
này theo quy định của Bô luật lao động 2019 và khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 thì
Công ty X chưa đủ điều kiện KK VA
So sánh trả lại đơn KK và đình chỉ GQVA
Giống nhau: căn cứ để trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án trong
trường hợp này đều là việc người khởi kiện đã khởi kiện sai thẩm của của tòa án theo
loại việc (nghĩa là quan hệ pháp luật được yêu cầu giải quyết không thuộc thẩm quyền
giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự).
Khác nhau: CSPL: Điểm đ K1 Đ192/ Điểm g K1 Đ217
Thời điểm: Trước khi thụ lý VA/ sau khi thụ lý VA
Trình tự thủ tục: K2 Đ192/ K3 Đ217
Thẩm quyền: TP được phân công thụ lý VA/ Trc phiên tòa là TP có thẩm quyền
giải quyết; Tại phiên tòa HDXX
Hậu quả pháp lý: Điều 194 khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị
về việc trả lại đơn KK/ Đương sự được trả lại tiền tạm ứng án phí theo K3 Đ218
Phân biệt rút đơn khởi kiện - rút kháng cáo tại TA phúc thẩm CSPL: Đ299/ Đ289
Chủ thể: Nguyên đơn/ Người có kháng cáo, có thể là NĐ, BĐ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trình tự thủ tục: Phải thông báo bằng văn bản cho BĐ biết và yêu cầu BĐ phải
trả lời cho Tòa án ST về việc họ có đồng ý hay không đồng ý trong thời hạn năm
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án (Khoản 2 Điều 18 NQ06)/
- Người KC rút toàn bộ KC, VKS rút toàn bộ KN trc khi Tòa phúc thẩm ra qđịnh xét
xử thì Thẩm phán đc phân công làm chủ tọa phiên tòa ra QĐ đình chỉ xét xử phúc
thẩm - Người KC rút toàn bộ KC, VKS rút toàn bộ KN thì sau khi Tòa PT ra quyết định
xét xử thì HDXXPT ra quyết định đình chỉ XXPT; -Người KS rút một phần KS hoặc
VKS rút 1 phần kháng nghị thì HDXX quyết định đình chỉ phần KC, KN đó trong bản án PT
Hậu quả pháp lý: Nếu BĐ ko agree => tiếp tục xem xét KC, KN, BAST ko có
HLPL, Nếu BĐ agree => BAST có HLPL/ Nếu rút hết KC, KN => Đối tượng XXPT
ko còn => Đình chỉ XXPT => BAST có hiệu lực PL; Nếu chỉ rút 1 phần: + Phần rút độc
lập, ko liên quan đến KC, KN khác thì theo K3 Đ289 => Đình chỉ xét xử với phần rút
=> phần đó có HLPL; + Phần rút có liên quan tới KC; KN khác thì TA chỉ chấp nhận cho rút.
Nguyên đơn rút đơn KK tại TA cấp sơ thẩm và nguyên đơn rút đơn KK tại TA cấp phúc thẩm
Thời điểm: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; Tại phiên tòa sơ thẩm/
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; Tại phiên tòa phúc thẩm CSPL: Đ217; 244; 245/ Đ299
Trình tự thủ tục: * Trong giai đoạn CBXXST: - Nếu NĐ, ng có yêu cầu nhưng
chỉ rút 1 phần ycau -> Ra QĐ đình chỉ phần đã rút (NQ 05/2012); - Nếu NĐ rút hết yêu
cầu và VA ko còn ycau của của đương sự khác -> Ra quyết định đình chỉ giải quyết VA
(trừ K4 Điều 217); - Nếu QĐ đình chỉ nhưng VA vẫn còn yêu câu của đương sự khác
thì có 3 bước B1: Đình chỉ phần ycau mà nguyên đơn đã rút B2: Thay đổi địa vị tố tụng
B3: Tiếp tục xét xử ycau còn lại - TQ thuộc về thẩm phán đc phân công giải quyết vụ
án; Tại PTST: Giống nt khác CSPL Điều 244, 245 TQ giải quyết là HĐXX/ * Trong
giai đoạn CBXXPT Phải mở phiên tòa phúc thẩm -> Hỏi ý kiến bị đơn + Nếu BĐ ko
đồng ý -> Tiếp tục xem xét KC, KN cho rút; + Nếu BĐ agree => hủy BAST và đình
chỉ GQVA => BAST không có HLPL.
Hậu quả pháp lý: Đình chỉ phần đã rút; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ phần
ycau mà NĐ rút; Thay đổi địa vị tố tụng; Tiếp tục xét xử ycau còn lại/ Tiếp tục xem KC,
KN cho rút; Hủy BAST; Đình chỉ giải quyết vụ án; BAST k có HLPL
Phân biệt đình chỉ XXPT – Đình chỉ GQVA
Khái niệm: Là quyết định của toà án làm chấm dứt hoạt động tố tụng giải quyết
vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm và kết quả của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở
giai đoạn sơ thẩm sẽ được công nhận, theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên được ấn
định trong bản án, quyết định sơ thẩm sẽ được tôn trọng và có hiệu lực thi hành./ là quyết
định của toà án làm chấm dứt toàn bộ hoạt động tố tụng giải quyết vụ án dân sự và kết
quả của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm sẽ không được công nhận
Căn cứ: Đ312; K2 Đ289; K3 Đ296; 295/ Đ311; 299
Thẩm quyền: Tại giai đoạn CBXXPT: TP được phân công phụ trách thực hiện; Tại PT: HĐXXPT/ HĐXXPT
Hậu quả pháp lý: Bản án sơ thẩm có HLPL/ Hủy BAST; BAST không có HLPL
Thời điểm: Xuất hiện tại giai đoạn XXPT/ xuất hiện từ giai đoạn XXST
Phân biệt tạm đình chỉ XXPT - Đình chỉ XXPT
Căn cứ: Đ288; 295/ Đ289; 312
Thẩm quyền: CBXX: Trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án
ra XXPT: Thẩm phán ra QĐ; Tại phiên tòa: Trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết
định đưa vụ án ra XXPT: HĐXX ra QĐ/ CBXX: Trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra
quyết định đưa vụ án ra XXPT: Thẩm phán ra QĐ; Tại phiên tòa: Trước khi Tòa án cấp
phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra XXPT: HĐXX ra QĐ
Hậu quả pháp lý: K1; Đ288; K1, 4 Đ215; K2 Đ215/ Đ312; K3 Đ289
Hiệu lực: K2 Đ288/ K4 Đ 289