










Preview text:
10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
. Hiến chương Liệp quốc là hiến pháp của cộng đồng quốc tế
Sai, vì bản chất của Luật quốc tế là sự thỏa thuận vì vậy Hiến chương Liên hiệp quốc
chỉ ràng buộc với những quốc gia thành viên của nó mà thôi, không ràng buộc những
quốc gia không tham gia. Vì vậy, không thể coi là hiến pháp của cộng đồng.
2.Những cơ quan sau đây cơ quan nào thực hiện biện pháp cưỡng chế của Luật
quốc tế? Tạisao?
Tòa án quốc tế, WTO , Tòa án quốc tế về luật biển, Tòa án quốc tế về nhân quyền, Hội
đồng bảoan Liên hiệp quốc. Chỉ có Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc là cơ quan thực hiện
cưỡng chế của Liên hiệp quốc vì xét theo nội dung của các điều 39, 40, 41, 42 thì nếu xét
thấy có sự đe dọa hòa bình, có sự phá hoại hòa bình hoặc có một hành vi xâm lược thì
Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc có quyền quyết định những biện pháp dùng vũ lực hay
không dùng vũ lực để giải quyết các vấn đề trên bất cứ lúc nào nếu xét thấy cần thiết
nhằm để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế.
2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại là cơ sở cho sự hình thành và
phát triển củaLuật quốc tế
Sai, vì những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại được ghi nhận trong Hiến
chương Liên hiệp quốc 1945 mà nguồn gốc của luật quốc tế được hình thành từ trong
thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Do đó, những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại chỉ
làm cơ sở cho sự phát triển của luật quốc tế hiện đại chứ không thể là cơ sở cho sự hình
thành của luật quốc tế.
3. Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là quy pham pháp luật quốc tế
Sai, vì nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng quan điểm chính trị pháp
lí là cơ sở cho việc xây dựng & hòan thiện pháp luật quốc tế còn qui phạm pháp luật quốc
tế là các qui tắc xử sự trong quan hệ quốc tế
4. Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có thể bị thay thế bởi một nguyên tắc mới
được cộng đồngquốc tế thừa nhận.
Đúng. vì bản chất của luật quốc tế là sự thỏa thuận; do đó các quốc gia thỏa thuận với
nhau thay thế một nguyên tắc mới này cho một nguyên tắc đã lỗi thời thì được cộng đồng thừa nhận.
5. Quốc gia là chủ thể cơ bản & chủ yếu của luật quốc tế
Đúng, bởi vì quốc gia là chủ thể đầu tiên, chủ thể trước hết xây dựng pháp luật quốc
tế. Quốc gia cũng là chủ thể đầu tiên cho việc thi hành pháp luật quốc tế, quốc gia là chủ
thể cơ bản chủ yếu trong việc thi hành áp dụng biện pháp cưỡng chế để tuân thủ áp dụng 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
pháp luật quốc tế quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền tạo lập ra chủ thể mới của luật quốc tế.
6. Thể nhân – pháp nhân có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?
Thể nhân – pháp nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế mà chỉ là chủ thể của luật
quốc gia mà thôi, vì chỉ có quốc gia mới sánh vai với các quốc gia khác, và chỉ có quốc
gia mới xếp ngang hàng với các quốc gia. Chủ thể của luật quốc tế gồm: các quốc gia có
chủ quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, tổ chức quốc tế liên chính
phủ, và các thực thể khác (các thực thể này có quy chế pháp lý đặc biệt)
9. Mọi điều ước quốc tế đều là nguồn của luật quốc tế hiện đại
Sai, bởi vì trong quan hệ quốc tế đã chứng minh rằng bằng nhiều thủ đọan đe dọa
dùng vũ lực giữa các quốc gia lớn đối với các quốc gia nhỏ từ đó ra đời những điều ước
quốc tế để điều chỉnhcác quan hệ quốc tế nhưng không phải là nguồn của luật quốc tế
hiện đại mà chỉ có những điều ước quốc tế đáp ứng đủ các điều kiện sau thì mới trở thành
nguồn của luật quốc tế hiện đại: Điềuước được ký đúng năng lực của bean ký kết; Điều
ước quốc tế phải được ký kết phù hợp với pháp luật quốc gia của các bên ký kết về thẩm
quyền & thủ tục ký kết. Phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng. Cam kết đưa
ra phải phù hợp về mặt hình thức; Phải phù hợp với nội dung của những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế BÀI TẬP
Hundu và Renda đều là hai quốc gia thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc
tế. Tháng 4/ 2011, Chính phủ Hundu nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về
việc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Renda của tên trùm khủng bố ( bị truy nã toàn
cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động
máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda,
vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên này.
Phát hiện ra hành vi của Hundu, Renda đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ. phía Renda cho
rằng hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, Hundu cho
rằng hành vi của quốc gia này là nhằm thưc hiện nghĩa vụ thành viên của Công ước về
chống khủng bố. Hơn nữa, Tổng thống Hundu đã thực hiện cuộc điện đàm chính thức với
Tổng thống Renda và ông này hứa sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống
khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Hãy cho biết:
– Tính hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao? Trả lời: 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
Hành vi của Hundu là không hợp pháp. Vì:
Hành vi của Hundu đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia của
luật quốc tế. Chính phủ Hundu khi nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc
phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Randa của tên Trùm khủng bố ( bị truy nã toàn cầu)
mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy
bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt
biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời
tiêu diệt tên này đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của
nền độc lập dân tộc và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ
chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia chống lại mọi hình thức ngoại xâm. Tuyên bố về
những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc
gia phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1970 cũng đã quy định rõ nội dung
nguyên tắc này. Như vậy, trong tình huống này thì Hundu đã xâm phạm chủ quyền quốc
gia Renda vì hành động bí mật điều động máy quân sự tiến vào Renda.
Bên cạnh đó còn vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong
quan hệ quốc tế, nguyên tắc này được quy định trong Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp
quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các
quốc gia. Hành vi Hundu bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát
khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Renda có
thể bị coi là một hành vi sử dụng vũ lực với quốc gia Renda cho dù có mục đích chỉ là bắt
tên khủng bố, nhưng nó làm ảnh hưởng tới nền an ninh của Renda khi có quốc gia dùng
lực lượng quân sự tiến vào lãnh thổ mình bí mật như vậy. Tuy luật quốc tế không quy
định rõ về định nghĩ thế nào là “ Vũ lực” nhưng theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì
vũ lực được hiểu là sức mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao mà quốc gia
này sử dụng bất hợp pháp đối với quốc gia khác. Hundu và Renda đều là thành viên của
Công ước về chống khủng bố quốc tế nên khi tên khủng bố này đang ẩn náu trên lãnh thổ
Renda thì Renda phải có nghĩa vụ cùng hợp tác với Hundu để bắt tên trùm khủng bố này
chứ Hundu không được bí mật điều động máy bay quân sự tiến vào Renda để tiêu diệt tên
khủng bố. Điều này vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa
dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ảnh hưởng tới nền an ninh quốc gia của Renda.
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN LQT
*Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế:
Thứ nhất, Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Thứ hai, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Thứ ba, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình. 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
Thứ tư, nguyên tắc không can thiệp nội bộ các quốc gia khác.
Thứ năm, nguyên tắc quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác và giúp đỡ nhau.
Thứ sáu, nguyên tắc các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết.
Thứ bảy, nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế (pacta sunt Servanda).
Tình huống 1. Vụ việc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 giữa Iraq và liên quân 30
quốcgia thuộc Liên Hợp quốc.Ngày 2/8/1990, Iraq tiến hành chiến tranh xâm chiếm
Kuwait sau khi Iraq cho rằngKuwait đã “khoan khiêng” giếng dầu của họ vào biên giới
Iraq. Tuy nhiên, Iraq khôngđưa ra được những căn cứ chứng minh cụ thể hành vi của
Kuwait. Năm 1991, chiếntranh Vùng Vịnh với sự tham gia của Hoa Kì với tư cách là
thành viên Hội Đồng BảoAn Liên Hợp Quốc đã cùng với gần 30 quốc gia tham chiến giải
phóng Kuwait.Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq phải rút quân về nước và ngay lập tức
bị LHQ ápđặt trừng phạt kinh tế.
1. Hành vi của Iraq có vi phạm LQT hay không? Nếu vi phạm, Iraq đã vi
phạmnhững quy định pháp luật quốc tế nào?
2. Việc Kuwait và các nước phe đồng minh thuộc LHQ sử dụng các biện pháp
vũtrang và phi vũ trang có hợp pháp hay không? Vì sao?
-Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã “khoan nghiêng” giếng dầu
của họ vào biên giới Iraq.
-Ngày 2/8/1990 Iraq xâm chiếm Kuwait.-Liên minh gần 30 quốc gia do Hoa Kì lãnh đạo
và được LHQ phê chuẩn để giảiphóng Kuwait.
-Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị LHQ áp đặt trừng phạt kinh tế.Theo
Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ và tuyên bố 1970, LHQ được xây dựng trên
nguyêntắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên. Tất cả các quốc gia
đều có quyềnnhư nhau, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập. Chủ quyền quốc
gia phải được đảmbảo 1 cách toàn vẹn trong mọi trường hợp.
-Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ và Tuyên bố năm 1970, tất cả các quốc
giathành viên LHQ từ bỏ đe doạ bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc
tếnhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất
kìquốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ.
-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương LHQ và Tuyên bố năm 1970, tất cảcác
thành viên LHQ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình, sao cho
không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý
Hành vi xâm chiếm của Iraq là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của LQT.Đó
là hành vi vi phạm những nguyên tắc sau đây: nguyên tắc bình đẳng chủ quyềngiữa các 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
quốc gia; nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; nguyên tắchoà bình giải
quyết tranh chấp quốc tế.
-Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ và Tuyên bố 1970, hành vi xâm chiếm lãnhthổ
Kuwait của Iraq đã xâm phạm về chủ quyền, về sự toàn vẹn lãnh thổ của Kuwait.
-Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ và Tuyên bố 1970, hành vi sử dụng vũ trangcủa
Iraq xâm chiếm Kuwait là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cấm dùng vũ lựchoặc đe doạ dùng vũ lực.
-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970,việc sử
dụng vũ lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyếttranh chấp là
hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.
-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970,việc sử
dụng vũ lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyếttranh chấp là
hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.
Việc Kuwait sử dụng biện pháp vũ trang đáp trả hành vi xâm chiếm của Iraq là phùhợp
với các nguyên tắc cơ bản. Đó là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sửdụng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực, tức là hành vi tự vệ quốc gia khi bị quốc giakhác sử dụng các
biện pháp vũ trang xâm chiếm lãnh thổ quốc gia mình.
-Theo Chương VII (từ Điều 39 đến 51) Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố1970,
việc Liên Hợp quốc can thiệp vào cuộc chiến là hoàn toàn hợp pháp. Xét vềpháp lý, hành
vi can thiệp vào cuộc chiến phù hợp với quy định về thẩm quyền, mụcđích của Hiến
chương Liên Hợp quốc. Mục đích của Liên hợp quốc là duy trì hoàbình và an ninh quốc
tế, và để đạt được mục đích đó, thị hành những biện pháp tập thểcó hiệu quả để phòng
ngừa và loại trừ các mối đe dọa hoà bình, cấm mọi hành vi xâmlược và phá hoại hoà bình
khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặcnhững tình thế có tính chất quốc
tế có thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng phươngpháp hoà bình theo đúng nguyên tắc
của công lý và pháp luật quốc tế. Do đó, đứngtrước tình hình cuộc chiến làm mất hòa
bình, an ninh khu vực và thế giới, Liên Hợpquốc cần can thiệp vào và giải quyết tranh
chấp. Và việc Liên Hợp quốc sử dụng cácbiện pháp phi vũ trang (trừng phạt kinh tế) và
các biện pháp vũ trang là cấp thiết vàhợp pháp.
Tình huống 1.
Tòa án công lý quốc tế đưa ra phán quyết công nhận Kosovo là quốc giađộc lập".Ngày 17
tháng 2 năm 2008, Nghị viện Kosovo tuyên bố độc lập, và từ đó giành đượccông nhận
ngoại giao là quốc gia có chủ quyền từ 110 quốc gia thành viên Liên Hiệpquốc (tính đến
tháng 12/2016). Trong đó có 69 nước, bao gồm Mỹ và 22 nước EU, đãcông nhận tính độc
lập của Kosovo, trong khi để Kosovo trở thành thành viên của LiênHợp quốc, cần đa số
(ít nhất 97 nước) thừa nhận.Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới vẫn phản đối hoặc 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
không thừa nhận tuyên bố độclập của Kosovo vì hai lý do chính: một là, Nghị quyết 1244
của Hội đồng Bảo an LiênHợp quốc năm 1999 khẳng định sự toàn vẹn lãnh thổ của Cộng
hoà liên bang Nam Tư,mà sau này là của Serbia; hai là, lúc khởi điểm, Kosovo không
phải là một nước Cộnghoà thuộc Liên bang Nam Tư mà chỉ là một tỉnh tự trị, nên việc
công nhận độc lập choKosovo sẽ tạo tiền lệ nguy hiểm, khiến nhiều khu vực tự trị khác
trên thế giới có thể đòiquyền độc lập.Ngày 22 tháng 7 năm 2010, Tòa án Công lý quốc tế
(ICJ) của Liên Hợp quốc tại TheHague, Hà Lan đã chính thức tuyên bố việc tuyên bố độc
lập của Kosovo là không viphạm pháp luật quốc tế vì pháp luật quốc tế không cấm
“tuyên bố độc lập”.
1. Hãy chứng minh luận điểm Kosovo có đầy đủ các dấu hiệu trở thành một
quốc giađộc lập và luận điểm Kosovo không phải là một quốc gia độc lập?
Điều 1 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933 ghi nhận
“mộtquốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về:
dân cư ổnđịnh, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ
quốc tế”.Điều 6 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933
quy định việccông nhận của một quốc gia chỉ có nghĩa là quốc gia công nhận nó chấp
nhận tư cách củaquốc gia khác với tất cả các quyền và nghĩa vụ được xác định bởi
luật pháp quốc tế. Côngnhận là vô điều kiện và không thể thu hồi
2. Việc công nhận và không công nhận của các chủ thể Luật Quốc tế khác có
quyết địnhtư cách chủ thể của Kosovo hay không? Vì sao? Ý nghĩa của việc
công nhận Kosovo làquốc gia độc lập?
quốc gia vẫn có thể trở thành thành viên của một điều ước quốc tế đa phương dù
họ khôngthể hoặc không muốn thực hiện một hoặc một số quy định cụ thể.Tình
huống 3.Năm 1999, quốc gia Alpha gửi cho quốc gia Bêta một văn kiện ngoại
giao trong đó đưara đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của Alpha với
vùng lãnh thổ Grama màBêta đang giữ vai trò đại diện trong quan hệ quốc tế
(Grama là thuộc địa của Bêta).Trong văn kiện đó, Alpha nêu rõ nguyên tắc, cách
thức hoạch định và có bản đồ hoạchđịnh đính kèm. Trong văn kiện trả lời, Bêta
bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị củaAlpha. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp
báo để thông báo chính thức về nội dung thỏathuận. Năm 2002, Grama tách ra
khỏi Bêta và tuyên bố trở thành một quốc gia độc lập,có chủ quyền. Grama cho
rằng thỏa thuận qua các văn kiện ngoại giao giữa Alpha vàBêta không phải là
điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, nếuthỏa thuận năm
1999 là điều ước quốc tế thì với tư cách là quốc gia mới giành được độclập,
Grama không phải thực hiện các điều ước quốc tế mà Bêta đã đại diện ký kết
trướcđó. Hãy cho biết: – Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu
trên có phải là điều ước quốc tếhay không? Vì sao? – Sau khi trở thành một quốc
gia độc lập, có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏathuận mà Bêta đã ký với 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu
Alpha hay không? Vì sao? 1. Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống
nêu trên có phải là điều ước quốc tếhay không? Vì sao?
Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì
“thuật ngữ“điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản
giữa các quốc gia vàđược pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một
văn kiện duy nhất hoặc tronghai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên
gọi riêng của nó là gì”. Đồng thời, điều 11 Công ước Viên 1969 cũng quy định: “Việc
một quốc gia đồng ý chịu sựràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký,
trao đổi các văn kiện của điều ướcphê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập
hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận”. Để xác định thỏa thuận giữa quốc gia
Alpha và quốc gia Bêta có phải là điều ước hay không,ta có thể xét đến đặc trưng về
mặt hình thức của điều ước quốc tế. Ta có thể khẳng định rằng,điều ước quốc tế tồn
tại chủ yếu dưới hình thức văn bản, nhưng bên cạnh đó còn có điều ướcquân tử tồn tại
dưới dạng bất thành văn. Như vậy, theo như điều ước quân tử thì điều ướcquốc tế
không nhất thiết phải tồn tại dưới dạng văn bản. Cũng theo định nghĩa về thuật
ngữ“điều ước” quy định tại điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước viên 1969 thì điều ước
quốc tếkhông phụ thuộc vào tên gọi của văn bản thỏa thuận này. Hơn nữa, vùng lãnh
thổ Grama đã được quốc gia Alpha khai thác và đại diện trong quan hệquốc tế, ta có
thể hiểu là từ trước năm 1999, Grama đã và đang là “thuộc địa” của quốc giaAlpha và
Alpha là quốc gia “bảo hộ”, vì vậy vùng lãnh thổ Grama phải tuân thủ theo nhữngcam
kết mà Alpha đã ký. Như vậy, thỏa thuận giữa quốc gia Alpha với quốc gia Bêta về
việchoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia Bêta với vùng lãnh thổ Grama mà
quốc giaAlpha đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế hoàn toàn có thể là điều ước quốc tế 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu 10:27, 06/01/2026
CPQT - Lý thuyết và Thực tiễn Luật Quốc Tế - Studocu