












Preview text:
lOMoAR cPSD| 61431571
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài:
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ
Ý THỨC XÃ HỘI VÀ HIỆN TẠI CỦA NÓ Ở VIỆT NAM
Họ và tên: Tạ Quỳnh Anh Mã số sinh viên: 08 Lớp TC: LLNL1105(123)_30
GV hướng dẫn: TS. Lê Thị Hồng
Hà Nội, tháng 12 năm 2023 lOMoAR cPSD| 61431571 MỞ ĐẦU
Những thành tựu và phát triển trong công cuộc đổi mới của nước ta
trong thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài để
chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho sự
phát triển mang đặc trưng của dân tộc đã được tạo ra, để giới thiệu và quảng
bá cho các dân tộc khác trên thế giới. Và do đó mối quan hệ của nước ta với
các nước khác trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết. Khả năng giữ
vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Cùng với
sự phát triển nhanh của cách mạng khoa học và công nghệ với trình độ ngày
càng cao thì sự phát triển về nhận thức sẽ làm cho nước ta không bị tụt hậu
so vơí thế giới bên ngoài. Và điều đó khiến cho chúng ta có cơ hội phát triển
hơn. Tuy nhiên không thể phủ nhận tụt hậu của các nước chậm phát triển so
với các nước phát triển, mà nguyên nhân sâu xa của nó chính là ý thức xã
hội của dân tộc đó. Điều đó dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn với kinh tế so
với nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất
phát của chúng ta quá thấp, lại đi lên trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và
Nhà nước ta cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới và toàn
diện đất nước, trong đó đổi mới xã hội chính trị đóng vai trò then chốt và
chủ đạo mang tính cấp bách bởi đất nước phát triển thì cần phải có một nền
chính trị và xã hội ổn định thì công cuộc đó mới có khả năng thành công.
Nhưng để đổi mới xã hội thì việc quan trọng là phải nâng cao tầng nhận thức
của người dân. Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội sẽ cho phép ta vận dụng vào thực tiễn của xã hội đất nước ta để
cho công cuộc đổi mới của đất nước ta thành công. Với nghĩa đó sau một
thời gian nghiên cứu và học tập cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của các
thầy cô giáo em đã quyết định chọn đề tài: " Mối quan hệ biện chứng giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội.” lOMoAR cPSD| 61431571
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT I. TỒN TẠI XÃ HỘI I.1. Khái niệm
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh
hoạt vật chất của xã hội. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã
hội khách quan, là một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật
chất được ý thức xã hội phản ánh. Trong các quan hệ xã hội vật chất
ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con
người với con người là những quan hệ cơ bản nhất.
I.2. Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là: phương thức sản xuất vật
chất, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số
v.v…; trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.
Tồn tại xã hội không chỉ quyết định sự hình thành của ý thức xã hội
mà còn quyết định cả nội dung và hình thức biểu hiện của nó. Mỗi yếu
tố của tồn tại xã hội có thể được các hình thái ý thức xã hội khác nhau
theo những cách thức khác nhau. Tuy nhiên, đến lượt mình, các hình
thái ý thức này cũng sẽ tác động, ảnh hưởng ngược trở lại tồn
tại xã hội. Đó chính là tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. II. Ý THỨC XÃ HỘI II.1. Khái niệm
Ý thức xã hội là xã hội tự nhận thức về mình, về sự tồn tại xã hội của
mình và về hiện thực xung quanh mình. Là mặt tinh thần của đời sống
xã hội, là bộ phận hợp thành của văn hóa tinh thần của xã hội. II.2.
Kết cấu của ý thức xã hội
Ý thức xã hội gồm những hiện tượng tinh thần, những bộ phận, những
hình thái khác nhau phản ánh tồn tại xã hội bằng phương thức khác
nhau. Chúng ta có thể phân ý thức xã hội thành các dạng:
- Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận
• Ý thức xã hội thông thường hay ý thức thường ngày lànhững
tri thức, những quan niệm của con người hình thành một cách
trực tiếp trong các hoạt động trực tiếp hằng ngày nhưng chưa
được hệ thống hóa, chưa được tổng hợp và khái quát hóa.
• Ý thức lý luận hay ý thức khoa học là những tư tưởng,
nhữngquan điểm được tổng hợp, được hệ thống hóa và khái lOMoAR cPSD| 61431571
quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới dạng các khái niệm,
các phạm trù và các quy luật.
- Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội
• Tâm lý xã hội là ý thức xã hội thể hiện trong ý thức cá nhân.
Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tư tưởng, tình cảm, tâm trạng,
thói quen, nếp sống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, ước muốn,
v.v... của một người, một tập đoàn người, một bộ phận xã hội
hay của toàn thể xã hội hình thành dưới tác động trực tiếp của
cuộc sống hằng ngày của họ và phản ánh cuộc sống.
• Hệ tư tưởng là giai đoạn phát triển cao hơn của ý thức xã hội, là
sự nhận thức lý luận về tồn tại xã hội. Hệ tư tưởng có khả năng
đi sâu vào bản chất của mọi mối quan hệ xã hội; là kết quả của
sự tổng kết, sự khái quát hóa các kinh nghiệm xã hội để hình
thành nên những quan điểm, những tư tưởng về chính trị, pháp luật, triết học, vv… II.3. Tính giai cấp
- Trong xã hội có giai cấp, do các giai cấp có những điều kiện sinh
hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội
mỗi giai cấp quy định, nên ý thức xã hội của các giai cấp có nội
dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.
- Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội, cũng
như ở hệ tư tưởng xã hội.
• Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, thói
quenriêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hay tập đoàn xã hội khác.
• Ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu
hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao
giờ cũng có những tư tưởng hoặc hệ tư tưởng đối lập nhau: Tư
tưởng của giai cấp bóc lột và bị bóc lột, của giai cấp thống trị và bị thống trị.
II.4. Các hình thái ý thức xã hội - Ý thức chính trị - Ý thức pháp quyền - Ý thức đạo đức - Ý thức thẩm mỹ - Ý thức tôn giáo - Ý thức khoa học lOMoAR cPSD| 61431571 - Ý thức triết học
III. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
III.1. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội Tồn tại xã
hội quyết định đến sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội,
tồn tạixã hội có trước rồi ý thức xã hội có sau. Tồn tại xã hội phát
triển theo chiều hướng như thế nào thì ý thức xã hội sẽ phát triển
theo chiều hướng như thế. C.Mác và Ăngghen đã chứng minh rằng
đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở
của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc tư tưởng, tâm lý xã
hội trong chính bản thân nó.
III.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
III.2.1. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội Lịch sử xã
hội loài người cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi, thậm chí đã
mất rất lâu, nhưng ý thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn tồn tại dai
dẳng. Điều này biểu hiện đặc biệt rõ trong lĩnh vực tâm lý xã hội
(trong truyền thống, tập quán, thói quen….).
Nguyên nhân làm cho ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội
• Tồn tại xã hội thường biến đổi nhanh
• Sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống, tính bảo thủ
của hình thái ý thức xh và những điều kiện tồn tại xã hội mới
chưa đủ để làm cho thói quen, tập quán, truyền thống cũ mất đi.
• Ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của giai cấp nào đó trong xã hội
V.I Lênin cho rằng: “Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng
chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”
Ví dụ: Truy cập internet và thông tin
Internet và thông tin trở thành nguồn kiến thức lớn và cơ hội tiếp
cận vô tận cho mọi người. Tuy nhiên, có thể có những khu vực hay nhóm
người không có khả năng truy cập internet hoặc không có kiến thức để sử
dụng internet hiệu quả để tận dụng các cơ hội học tập và phát triển. lOMoAR cPSD| 61431571 III.2.2.
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với
tồn tại xã hội, triết học Mác – Lênin đồng thời thừa nhận rằng,
trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người, đặc
biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát
triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ
chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt
động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển
chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra.
Sở dĩ ý thức xã hội có khả năng đó do nó phản ánh đúng những
mối liên hệ logic, khách quan, tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội
Ví dụ: Nhận thức về bảo vệ môi trường
Ý thức xã hội: Một số cộng đồng, nhóm người hoặc tổ chức có thể đã
nhận thức sâu sắc về tác động tiêu cực của hoạt động con người đối với môi
trường. Họ có thể tổ chức các chiến dịch, hoạt động tình nguyện hoặc chia sẻ
thông tin để nâng cao ý thức cộng đồng về vấn đề này.
Tồn tại xã hội: Trong khi đó, chính sách và hành động bảo vệ môi
trường từ phía chính quyền hoặc ngành công nghiệp có thể vẫn chưa đủ linh
hoạt hoặc không đáp ứng kịp thời với những thách thức môi trường thực tế. III.2.3.
Ý thức xã hội có tính kế thừa
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những
quan điểm lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất
trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận
của các thời đại trước.
Ví dụ: Bảo tồn văn hóa và truyền thống
Ý thức xã hội: Một số cộng đồng hoặc nhóm người có ý thức về việc
bảo tồn và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm các lễ hội, nghệ
thuật dân gian, trang phục truyền thống, hoặc phong tục tập quán.
Kế thừa xã hội: Các thế hệ trẻ được dạy dỗ và hướng dẫn để tôn trọng
và giữ gìn những giá trị văn hóa, truyền thống từ các thế hệ trước. Họ thường
tham gia vào các hoạt động truyền thống và học hỏi từ người lớn tuổi để duy trì sự kế thừa này. lOMoAR cPSD| 61431571
III.2.4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội Lịch sử
phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời
đại, tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái
ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác.
Ví dụ: Quá trình tiến hóa của quan điểm về vai trò giới tính trong xã hội.
Truyền thống và ý thức xã hội trước đây: Trong quá khứ, nhiều xã hội có
những quan điểm cứng nhắc về vai trò giới tính, quy định rõ ràng vai trò của
nam và nữ trong gia đình và xã hội. Điều này có thể dẫn đến sự phân biệt đối
xử và ràng buộc về những gì mà mỗi giới tính có thể làm.
Sự thay đổi trong ý thức xã hội: Quan điểm về vai trò giới tính đã
trải qua sự thay đổi đáng kể. Nhìn chung, xã hội hiện đại đang chứng kiến sự
chuyển đổi từ quan điểm cổ truyền sang quan điểm linh hoạt hơn về vai trò
giới tính. Có sự công nhận rộng rãi về đa dạng giới tính và việc mở rộng quan
điểm về vai trò xã hội của nam và nữ. III.2.5.
Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy
tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội mà chủ nghĩa duy vật
lịch sử còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường khi phủ nhận
tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ
thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể và cũng căn cứ vào tính chất
của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vào
vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng và vào mức
độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng
Ví dụ: Thay đổi suy nghĩ về sức khỏe tinh thần và cách xã hội đối phó với vấn đề này
Ý thức xã hội: Trước đây, trong một số xã hội, sức khỏe tinh thần có
thể không được coi trọng bằng sức khỏe thể chất. Có thể tồn tại những định
kiến về việc nói về vấn đề sức khỏe tinh thần, làm cho người ta cảm thấy
ngại ngần hoặc không thoải mái khi thảo luận về nó.
Tác động trở lại đến tồn tại xã hội: Sự thay đổi trong ý thức xã hội
về sức khỏe tinh thần đã tạo ra tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Đã có
những chuyển đổi trong quan điểm xã hội về vấn đề này, giúp mọi người lOMoAR cPSD| 61431571
nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của sức khỏe tinh thần và mở ra
cuộc trò chuyện mở cửa hơn về vấn đề này.
3.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
Để nhận thức đúng các hiện tượng thuộc đời sống ý thức xã hội một
mặt, cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó, mặt
khác cũng cần phải giải thích các hiện tượng đó từ những phương
diện khác nhau thuộc nội dung tích độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cần phải được
tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội
B. SỰ VẬN DỤNG CỦA MỐI QUAN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VA Ý THỨC
XÃ HỘI TRONG VIỆC CẢI THIỆN HỆ THỐNG
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I.
VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm các cấp học từ mầm non,
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và giáo dục đại học
cũng như các hình thức giáo dục nghề nghiệp và đào tạo sau đại học. 1. Cấp học:
• Mầm non và Tiểu học: Mầm non là giai đoạn tiền tiểu học và
Tiểu học bắt đầu từ lớp 1 đến lớp 5. Mầm non tập trung vào
việc nuôi dưỡng, phát triển toàn diện cho trẻ nhỏ, trong khi
Tiểu học đặt nền tảng cho kiến thức cơ bản.
• Trung học cơ sở và Trung học phổ thông: Trung học cơ sở (từ
lớp 6 đến lớp 9) và Trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12)
là giai đoạn quan trọng, cung cấp kiến thức nền tảng và chuẩn
bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT (Trung học phổ thông).
• Giáo dục đại học và sau đại học: Hệ thống giáo dục đại học ở
Việt Nam bao gồm nhiều trường đại học, cao đẳng và trung cấp
chuyên nghiệp. Ngoài ra, có các chương trình đào tạo sau đại
học, bao gồm thạc sĩ, tiến sĩ và các khóa đào tạo chuyên sâu khác. lOMoAR cPSD| 61431571 2. Cấu trúc giáo dục:
• Kiến thức chung và kiến thức chuyên nghiệp: Chương trình học
ở Việt Nam chia thành hai phần: kiến thức chung (được học ở
các cấp học cơ bản) và kiến thức chuyên nghiệp (học tại các
trường đại học, cao đẳng và các khối ngành đào tạo chuyên sâu).
• Học lực và kỳ thi quan trọng: Học lực được đánh giá thông qua
các kỳ thi quan trọng như kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi
đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
3. Đổi mới và phát triển:
• Đổi mới trong chương trình học: Có những nỗ lực đổi mới
chương trình học, tăng cường sự linh hoạt, đáp ứng nhu cầu
thực tế của xã hội và thế giới công nghệ hiện đại.
• Cải thiện chất lượng giáo dục: Các chương trình, phương pháp
giảng dạy và cơ sở vật chất được nâng cấp, cải thiện để nâng
cao chất lượng giáo dục.
4. Thách thức và cơ hội:
• Thách thức về chất lượng: Vẫn còn đối diện với thách thức về
chất lượng giáo dục, đặc biệt là sự khép kín giữa kiến thức học
thuật và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.
• Cơ hội về hợp tác quốc tế: Việc hợp tác với các quốc gia khác
trong lĩnh vực giáo dục đang mở ra cơ hội để cải thiện chất
lượng giáo dục và trao đổi kiến thức, phương pháp mới. Ví dụ:
Cơ hội về hợp tác và trao đổi kiến thức: Một số trường đại học tại
Việt Nam hợp tác với các trường đại học ở nước ngoài để cung cấp chương
trình học hoặc khóa học đào tạo bằng tiếng Anh. Điều này mở ra cơ hội cho
sinh viên tiếp cận với kiến thức và phương pháp giảng dạy mới từ các quốc
gia phát triển giáo dục.
Thách thức về chêch lệch giáo dục giữa các vùng: Các trường học
ở khu vực nông thôn thường gặp khó khăn về cơ sở vật chất và động lực giáo
viên. Nhiều trường không đủ tài nguyên để cung cấp chất lượng giáo dục
tương đương với các trường ở thành phố lớn. lOMoAR cPSD| 61431571 II.
VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN
TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC CẢI
THIỆN HỆ THỐNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tại Việt Nam, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hình
thành ý thức xã hội của các thế hệ trẻ. Cải thiện chất lượng giáo dục không
chỉ bao gồm việc truyền đạt kiến thức mà còn tạo ra cơ hội và môi trường
giáo dục thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho học sinh.
II.1. Giáo dục công dân và đạo đức
Giáo dục công dân và đạo đức đang được coi trọng và tích cực đưa vào
chương trình giáo dục ở mọi cấp độ, từ tiểu học đến trung học và cao đẳng,
để hình thành ý thức xã hội và đạo đức cho học sinh.
- Giảng dạy về quyền và trách nhiệm công dân: Trong cáclớp học,
giáo viên giảng dạy về quyền và trách nhiệm của công dân. Học
sinh được học về quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình đối
với xã hội, quốc gia và cộng đồng. Bên cạnh đó, nhiều trường học
thúc đẩy học sinh tham gia vào các hoạt động cộng đồng như dọn
vệ sinh môi trường, tham gia vào các chiến dịch từ thiện, hoặc
tham gia vào các hoạt động tình nguyện.
- Giảng dạy về đạo đức và giá trị: Trong các lớp học, giáoviên
thường giảng dạy về đạo đức và giá trị nhân văn, khuyến khích
học sinh hiểu và áp dụng những nguyên tắc đạo đức trong cuộc sống hàng ngày,
- Xây dựng phẩm chất và tư duy đạo đức: Giáo dục đạo đứckhông
chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn giúp học sinh xây
dựng phẩm chất, tư duy và hành vi đạo đức trong môi trường học tập và cuộc sống.
II.2. Phát triển kĩ năng mềm
Phát triển kỹ năng mềm đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho học
sinh và sinh viên không chỉ để thành công trong công việc mà còn để thích
ứng và vượt qua thách thức trong cuộc sống cá nhân. Những kỹ năng này
không phải là kiến thức chuyên ngành mà thường là các kỹ năng mềm tinh
thần và xã hội. Nó mang lại vai trò không nhỏ trong quá trình học tập cũng
như làm nền tảng sau này, ví dụ như giúp học sinh thích ứng với môi trường
học tập linh hoạt, tăng cường hiệu suất học tập và giải quyết vấn đề, xây
dựng mối quan hệ tương tác xã hội,… lOMoAR cPSD| 61431571
- Kỹ năng giao tiếp: Trong lớp học, giáo viên tạo điều kiện cho học
sinh thể hiện ý kiến, tham gia thảo luận, trình bày bài giảng hoặc
thuyết trình để phát triển kỹ năng giao tiếp. Các hoạt động ngoại
khóa như câu lạc bộ diễn xuất, câu lạc bộ thuyết trình, hay các buổi
thi hát, văn nghệ cũng tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp.
- Kỹ năng làm việc nhóm: Các dự án, bài tập nhóm trong khóa học
tạo cơ hội cho học sinh học cách làm việc cùng nhau, phân chia
công việc và giải quyết xung đột. Tham gia các hoạt động như bóng
đá, bóng rổ hoặc các hoạt động nhóm như câu lạc bộ nhảy, dã ngoại
cũng giúp học sinh học cách làm việc nhóm.
- Kỹ năng quản lý thời gian: Các trường học khuyến khích học sinh
tự quản lý thời gian bằng cách tự xây dựng lịch trình học tập, thực
hiện dự án và chuẩn bị cho các kỳ thi.
II.3. Khuyến khích học hỏi xuyên suốt đời
Khuyến khích học hỏi xuyên suốt đời là việc thúc đẩy sự phát triển liên tục
của kiến thức, kỹ năng và nhận thức qua quá trình học tập không ngừng,
không chỉ ở trong môi trường học đường mà còn trong cuộc sống hàng ngày.
- Tạo môi trường học tập thuận lợi để học sinh có thể tiếp cậnkiến
thức, từ sách vở đến tài liệu trực tuyến và khóa học, khuyến khích
sử dụng công nghệ để cung cấp các nguồn tài nguyên học tập trực
tuyến, giúp học sinh có thể học tập theo lịch trình cá nhân.
- Học tập từ cộng đồng: khuyến khích học sinh và giáo viêntìm kiếm
cơ hội học hỏi từ các nguồn kiến thức khác nhau, không chỉ trong
lớp học mà còn từ cộng đồng và thế giới xung quanh.
II.4. Cải thiện chất lượng giáo viên và môi trường học tập
Cải thiện chất lượng giáo viên và môi trường học tập không chỉ là việc
nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo cơ hội phát triển toàn diện cho
học sinh, giúp họ chuẩn bị tốt hơn cho tương lai và thích ứng với một thế
giới đang thay đổi nhanh chóng.
- Đào tạo và phát triển năng lực cho giáo viên: Cần có chươngtrình
đào tạo giáo viên có chất lượng cao, hướng tới việc nâng cao kiến
thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy.
- Khuyến khích sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy: Đảmbảo
giáo viên có truy cập đầy đủ vào các tài liệu, công cụ giảng dạy và
công nghệ mới và tạo điều kiện để giáo viên áp dụng phương pháp lOMoAR cPSD| 61431571
giảng dạy sáng tạo, khuyến khích học sinh tham gia tích cực và tạo
ra môi trường học tập tích cực.
- Nâng cấp cơ sở vật chất: Đầu tư vào cơ sở vật chất như thưviện,
phòng thí nghiệm, phòng học, để tạo điều kiện tốt nhất cho việc học
tập và nghiên cứu, dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học
tập nhằm tạo ra môi trường học tập hiện đại và thú vị
- Học liên kết thực tế và cộng đồng: Kết hợp giáo dục lý thuyếtvới
thực tiễn, liên kết với doanh nghiệp và cộng đồng để học sinh có thể
áp dụng kiến thức vào thực tế, bên cạnh đó cần hợp tác với cộng
đồng để tạo ra cơ hội học tập ngoại khoá và trải nghiệm thực tế cho học sinh.
Đảm bảo chất lượng giáo dục là một khâu trong quản lý chất lượng giáo dục,
là cơ sở để thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục của mỗi nhà trường cũng như mỗi quốc gia.
Để quản lý được chất lượng lượng giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục,
cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý chất lượng bên trong của
mỗi nhà trường một cách đồng bộ từ xác định chuẩn đầu ra, quản lý chuẩn
đầu vào, quản lý quá trình thực hiện giáo dục và điều chỉnh môi trường giáo
dục phù hợp với chuẩn của chương trình giáo dục và phù hợp với bối cảnh,
điều kiện thực tiễn của mỗi nhà trường. lOMoAR cPSD| 61431571 KẾT LUẬN
Tóm lại, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là mối quan
hệ biện chứng. Ý thức xã hội do tồn tại xã hội, do điều kiện sinh hoạt vật
chất đẻ ra nhưng nó có tính độc lập tương đối nếu chỉ thấy tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội một cách đơn giản, máy móc sẽ rơi vào chủ nghĩa
duy vật tầm thường, còn nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức xã hội không
thấy vai trò quyết định của tồn taij xã hội đối với ý thức xã hội sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
Chính vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
sẽ giúp ta nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và
ý thức xã hội. Điều đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. lOMoAR cPSD| 61431571
Danh mục tài liệu tham khảo
https://daivietsaigon.edu.vn/dao-tao/bai-viet/mot-so-giai-phap-dam-
baochat-luong-giao-duc-trong-giai-doan-hien-nay-7158.html
Giáo trình triết học Mác-Lênin
