
LỊCH SỬ ÂM NHẠC PHƯƠNG TÂY
MỞ ĐẦU
- Âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh và nhịp điệu để diễn tả tư tưởng & tình
cảm của con người. Đây là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất cùng với lịch sử phát
triển loài người.
- Trong quá trình phát triển của lịch sử âm nhạc thì dùng 2 phương tiện để truyền tải:
o Âm nhạc có lời (thanh nhạc)
o Âm nhạc không lời (nhạc đàn or khí nhạc)
- Trong quá trình phát triển có hai dòng chính:
o Âm nhạc dân gian *nguồn cội của âm nhạc hiện đại (nhân dân lao động sáng tạo
truyền qua nhiều thế hệ)
o Âm nhạc chuyên nghiệp (do các nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn)
- Âm nhạc là loại hình nghệ thuật gắn liền với âm thanh & thời gian vì vậy việc nghiên cứu
lịch sử âm nhạc với các bộ môn khác gặp nhiều khó khăn bởi vì nó không để lại nhiều
bằng chứng cụ thể. Vì vậy mà phải dựa vào các di tích khảo cổ, các bức tranh trên hang
động, trống đồng, bia đá,…các án văn thơ cổ.
Ta biết được những hình dáng nhạc cụ thô sơ từ xa xưa ta phỏng đoán khả năng
diễn tấn của chúng
Ta biết được lời lẽ của bài ca, lề lối âm nhạc và vau trò của âm nhạc trong thời kì
bấy giờ
- Lịch sử âm nhạc gắn liền với lịch sử phát triển loài người qua các thời kì: Nguyên thuỷ -
cổ đại – cận đại – hiện đại.
- Tuy nhiên lịch sử âm nhạc nói riêng và lịch sử nghệ thuật nói chung không giống với lịch
sử bình thường. Mà lịch sử điểm nối các đỉnh cao nghệ thuật các bước ngoặc sự kiện.
Âm nhạc trong thời kì nguyên thuỷ
I. Nguồn gốc âm nhạc
- Do con người sáng tạo nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần trong quá trình tồn tại và phát
triển của mình. Các yếu tố nguồn gốc của âm nhạc:
Lao động – âm điệu & tiếng nói – nhịp sinh lý của con người - lễ nghi & ma thuật.
II. Âm nhạc thời kì nguyên thuỷ
- Thời kì này là giai đoạn hình thành và phát triển đầu tiên đồng thời cũng là giai đoạn dài
nhất trong lịch sử loài người
- Âm nhạc nguyên thuỷ là âm nhạc tự biên tự diễn mang tính chất cộng đồng
- Âm nhạc nguyên thuỷ mang tính chất tổ hợp gắn chặt với lao động sản xuất khoa học,
hoạt cảnh nhảy múa,…
- Các bài ca cổ được biểu diễn tập thể & biểu hiện tình cảm chung của tập thể. Có cấu trúc
đơn giản, sau này xuất hiện đơn ca ngoài đồng & xuất hiện âm nhạc nhiều bè.
- Nhạc cụ thô sơ & mang đậm tiết tấu.
- Ta phỏng đoán âm nạhc trong thời kì này có 2 hình thức chính là âm nhạc có lời và âm
nhạc không lời.
- Trong giai đoạn này có hai hình thức chính là:
o Âm nhạc thế tục của đời sống bình thường.

o Âm nhạc thiêng của các tín ngưỡng tâm linh
Âm nhạc trong thời kì cổ đại
- Đây là thời kì chiến hữu nô lệ & thời kì phân chia giai cấp,tuy nhiên trong thời kì này đã
xuất hiện nhiều nền văn minh lớn của nhân loại như: Ai Cập (Đông Bắc Phi); Lưỡng Hà
(Tây Á); Trung Hoa ( Đông Á); Ấn Độ (Nam Á); Hy – La (Nam châu Âu)
- Nhìn chung âm nhạc trong giai đoạn này khá phát triển, bên cạnh bắt đầu hình thành
những ngừoi làm nhạc bắt đầu chuyên nghiệp trong cung đình , một số tôn giáo lần lượt
xuất hiện đi cùng với nó là âm nhạc phục vụ cho nghi lễ, tín ngưỡng.
- Các dòng âm nhạc thời kì cổ đại: Âm nhạc dân giang – âm nhạc thế tục – âm nạhc cung
đình – âm nhạc tôn giáo.
1. Sơ lược
- Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm của
loài người. Từ thời cổ đại họ đã có văn tự bằng tượng hình, có văn chương truyền miệng,
văn viết, thơ ca. Nghệ thuật điêu khắc kiến trúc đạt đến trình độ tuyệt mỹ đặt biệt là quần
thể kim tự tháp
- Về tôn giáo tín ngưỡng họ rất sùng bái tự nhiên, tin vào linh hồn bất tử.
- Về khoa học cực kì phát triển, đặt biệt là y học với nghệ thuật ướp xác.
2. Về âm nhạc
- Từ thiên niên kỉ thứ 4 TCN họ đã có hệ thống nhạc cụ hình cung như đàn Harp & được
coi là khí thiêng, các óng tiêu, đàn luth,…Bộ gõ họ có sênh phách, có sáo hình cây, trống
có gắn lục lạc, hình thùng rượu.
- Ngoài âm nhạc dân gian còn có âm nhạc chuyên nghiệp đó là việc thờ cúng liên quan đến
lễ nghi tín ngưỡng. Âm nhạc cung đình có các bài ca & chính ca có cả dàn nhạc và đồng
dao.
Âm nhạc Hy Lạp cổ đại
1. Sơ lược
- Hy Lạp cổ đại là nền văn minh phát triển vô cùng rực rỡ phong phú toàn diện, là đỉnh cao
của nền văn minh cổ đại, là mẫu mực cho nhiều nền văn hoá cho các thời kì sau này
- Họ đã có hệ thống chữ viết mẫu tự Hy Lạp đạt đến trình độ cao là nguồn gốc hệ thống
chữ viết, thơ ca rất phổ biến đặt biệt là 2 tập thơ Iliade & Odyssee của Homer
2. Về âm nhạc
- Giai đoạn này các nhạc cụ được hoàn thiện và phong phú hình thành những dàn nhạc lớn
và phòng hoà nhạc đồ sộ. Đàn organ nước (Hydraulis) là nhạc cụ mới đc sử dụng. Là
nhạc cụ phím đầu tiên biết đến (khoảng 250 TCN)
- Có thể loại mới là kịch câm, hát đồng ca và đệm đàn bằng aulos, sáo,…
- Nhạc cụ người Hy Lạp thường dùng là Harp, lyre, kithara,…
- Các nhà học giả Hy Lạp hoàn thiện hệ thống 4 âm (Tétracorde)
o Dori (từ nốt mi)
o Phrygi (từ nốt rê)
o Lidi (từ nốt đô)

- Những điệu thức cơ bản, mang tên các chuỗi 4 âm hình thành từ 2 chuỗi 4 âm đi xuồn kế
tiếp. Từ các điệu thức cơ bản ấy, nên bổ sung chuỗi 4 âm kế tiếp ở 2 biến hạ. (Thấp hơn
điệu thức cơ bản 1 quãng năm)
- Điệu thức Dori: dạng thức quãng = cung + cung +1/2 cung
- Kết hợp 2 hệ thống 4 âm , ta có 1 hoà âm (điệu thức). Hy Lạp cổ đại có 3 loại hoà âm căn
bản: Dorian (mi, điệu thức dân tộc Hy Lạp), frigien (rê, du nhập từ phương Đông), lidien
(đô, du nhập từ phương đông).
- Ngoài ra có các dạng biến hạ (thấp hơn hòa âm cơ bản 1 quãng 5), biến thượng (cao hơn
hòa âm cơ bản 1 quãng 5) từ những hòa âm cơ bản. Đó là những hòa âm nguyên
(diatonos).
- Từ cuối tk V TCN xuất hiện kiểu ly điệu từ hòa âm nguyên sang hòa âm hóa (chroma sử
dụng 1/2 cung) và hòa âm đẳng (enharmonia, sử dụng 1/4 cung)
- Việc sử dụng kết hợp nguyên và hóa gọi là nguyên mềm, kết hợp hóa và đẳng gọi là hóa
mềm.
o Căn cứ và kết quả đo lường âm học, người Hy Lạp cổ đại định nghĩa sự thuận
nghịch. Quãng 4, 5, 8 là quãng thuận Quãng 3 và 6 là nghịch.
- Pythagoras, nhà toán học Hy Lạp là người có có trách nhiệm liên quan đến các nốt nhạc
với phương trình toán học. Ông đã nghiên cứu chặt chẽ sự tiến triển của các nốt nhạc
trong một quãng 8 và sau đó đưa ra phương và tỷ lệ khác nhau có liên quan đến nốt nhạc.
Ông nhấn mạnh rằng âm nhạc có thể ảnh hưởng đến cả linh hồn và tâm trí, một khái niệm
còn tồn tại trong triết học về âm nhạc đến tận ngày nay.
- Người Hy Lạp dùng chữ cái để ghi nhạc, tuy nhiên còn đơn giản và không đầy đủ được
ký hiệu trên bản nhạc. Tính tác động thị giác không cao.
- Ngành sư phạm âm nhạc đạt đến trình độ cao.
Âm nhạc Trung Hoa cổ đại
1. Sơ lược
- Trung Hoa là một nền văn minh lớn của phương Đông và thế giới.

- Ngay từ thời cổ đại Trung Hoa đã phát triển khá toàn diện vầ chế độ xã hội, kinh tế, khoa
học, tư tưởng triết học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật.
- Ngay từ thời kỳ này họ đã có hệ thống chữ viết.
- Nền văn học thơ ca như kim thi sỡ từ
- Về tư tưởng triết học đã có thuyết về át quái, ngũ hành, âm dương. Họ đã có những nhà
tư tưởng triết học lớn là Lão tử và Khổng tư hình thành nên các học thuyết của Nho giáo
và Đạo giáo.
- Về khoa học họ hết sức phát triển về lịch pháp, thiên văn, hình học, toán học, y học. Họ
có nền giáo dục cho đại chúng và cấp cao.
- Nền văn minh Trung Hoa trải qua các đời: Hạ - Thương- Xuân Chu - Tây Chu - Chiến
quốc.
2. Về âm nhạc
- Cách đây 8000 - 9000 năm họ đã có óng sao bằng xương chân chim Hạc, có sáo bằng đất
nung, chuông bằng gốm.
- Nhạc và máu đi liền với nhau.
- Đến thời nhà Chu lễ và nhạc phải kết hợp chặt chẽ với nhau
- Nhạc cụ chính của họ là Chuông và Khánh bằng đá, trống cổ
- Sang đời nhà Chu họ đã định ra lễ và nhạc. Nhã nahjc chính thức ra đời (ý nghĩa nhã
nhạc là loại hình tao nhã, lịch sự dùng trong các nghi lễ triều đình. Đây là dòng âm nhạc
mang tính chất chuyên nghiệp)
- Nhã nhà trong thời nhà chu có tấu nhạc, vũ đại và ca hát. Cũng trong thời nhà Chu nahjc
và múa trửo thành một môn học ca ngợi các vị anh hùng dân tộc, số lượng nhạc công lên
đến 1400 người.
- Thời Xuân Chu lễ nhạc tan rã và âm nhạc dân gian dần dần được phục hưng sống động,
đa dạng và rất đẹp đẽ.
- Sang thời Chiến quốc các nước đánh nhậu liên miền chương nên ẩm nhạc hội tên của
nước Sở.
- Thời Tây Chủ đến thời Chiến Quốc các chúng loại âm nhạc khả phong phú và bắt đầu
phần loại theo hệ thống "bát âm" Tí - Trúc - Mộc - Thạch - Kim - Thổ - Bào - Cách
- Đây là 8 chất liệu tạo nên những màu sắc khác nhau cho các nhạc khí,
- Trong thời Chiến Quốc có những nghệ sĩ nổi tiếng chỉ và sử sách như Hàn Nga.
- Dưới thời Tây Hán xuất biện 1 loại hình âm nhạc gần với sân khấu gọi là “Hí Khúc”. Về
mặt lý thuyết họ đã tìm ra hệ thống 12 Âm gọi là Luật Lữ. Thay 5 tìm (E.G.A.C.D) làm
cơ sở cho điệu thức ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Chũy, Vũ).
Ví dụ: Hò, Xử, Xăng, Xế, Công, Lìu
Đô, Rẻ, Fa, Sol, La, Đô
Cung, Thương, Giốc, Chũy, Vũ
- - Họ cũng đã có phương thức ghi nhạc. Bản nhạc có nhất soạn cho đàn 5 dãy (Ngũ
huyện) ra đời năm 1522 trong đời La Hán
Âm Nhạc Thời Kỳ Trung Cổ
I. Sơ lược
- Trung cổ còn được gọi là trung đại, lịch sử trung cố là lịch sử của chế độ phòng kiến và
nhà thở. Kéo dài 10 thể ký từ thế kỷ V đến thể kỳ XV. Đây là thời kỷ gần liền với phông
kiến, lãnh địa và uy lực của nhà thờ.

- Người ta gọi 1000 năm trung cổ là "Đêm trường trung cổ", còn đổi với nghệ thuật gọi là
"Giấc ngủ ngàn năm nghệ thuật".
- Về âm nhạc có phát triển với mức độ hết sức chậm chạp. Tuy nhiên nó cũng có những
bước tiến đáng kể trong việc mở rộng chủ đề, chất liệu và hình thức, Hình thành một số
dông âm nhạc chuyên nghiệp, âm nhạc nhà thờ có bước phát triển. Đặc biệt và là phát
kiến cách ghi và đọc nhạc.
II. Các dòng nhạc
1. Âm nhạc dân gian
- Âm nhạc dân gian tồn tại là phát triển trong quần chúng nhân dân. Dòng nhạc này phong
phú về nội dung, đa dạng về thể loại, hấp dẫn về âm điệu , điệu thức, tiết tấu,.. luôn được
bổ sung những yếu tố mới từ nền nghệ thuật dân gian của các tộc người khác nhau , nên
luôn có sức sống mãnh liệt.
- Những người xuất sắc nổi lên trong quần chúng còn dùng âm nahjc như một nghề sinh
nhai. Đó là những người hát rong - những người tạo nên âm nhạc chuyên nghiệp bình
dân.
o Âm nhạc nói lên tâm tư tình cảm quần chíng nhân dân và vạch trần sự tàn ác của
giai cấp thống trị. Vì vậy, chính quyền phong kiến và nhà thờ đã truy đuổi và bóp
chết họ bằng các luật lệ cực kì dã man và hà khắc.
o Lúc đầu, âm nhạc dân gian có vị trí lớn trong khác nhà thờ Thiên Chúa Giáo.
o Ca sĩ hát rong đã sưt dụng những nhạc cụ dân gian đa dạng từ các nơi mà họ đã
qua. Đó là các nhạc cụ đây ko có vĩ và sau có cả nhạc cụ hơi và các nhạc cụ gõ.
o Đến cuối thế kỷ XI những ca sĩ hát rong dần sống ổn định trong các lâu đài của
vua chúa vì sau này ở các thành phố
- Trong thười kì cực thịnh của chế độ phong kiến nổi lên phong trào “Thập tự chinh”, từ
đây xuất hiện một tầng lớp mới gọi là hiệp sĩ, học có nền văn hóa riêng và âm nhạc của
họ thành âm nhạc hiệp sĩ. Bao gồm âm nhạc dân gian và âm nhạc chuyên nghiệp bình
dân. Điểm nổi bật là bố cục âm nhạc có 2 loại “cân phương khúc chiết - ngân nga
phóng túng”.
- Họ sử dụng triệt để nguyên tác biến tâú, bè đệm rất phong phú. Họ sắp xếp nhiều bài hát
thành một câu chuyện gọi là diễn trò. (mầm móng cho sự ra đời của Opera)
- Về mặt lí thuyết họ đã chép nhạc bằng các ký hiện hình vuông, biết cao độ nhưng chưa
ghi được tiết tấu.
2. Âm nhạc nhà thờ
- Nhà thờ là một thế lực quan trọng bên cạnh giai cấp phong kiến, vì vậy nhà thờ đã vận
dụng triết để các hình thức nghệ thuật nói chung và âm nahjc nói riêng để phục vụ cho
mục đích tôn giáo.
- Đây là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai dòng âm nhạc là âm nhạc chính
thống của nhà thờ và âm nhạc dân gian và bình dân chuyên nghiệp.
- Lúc đầu nhà thờ dựa vào âm nhạc dân gian, về sau họ đã hình thành nên âm nhạc riêng
của mình và bắt đầu xuất hiện nhiều hình thức ca hát để phục vụ cho ngày lễ và mỗi hình
thức ca hát đều có tên gọi lối hát riêng như đồng ca Grigoie, Hymne, Messo, Sequetine,...
- Đồng ca Grigorie là nghệ thuật tôn giáo nghiêm khắc, chỉ biểu diễn trong nhà thờ. Đó là
loại hát một bè của đồng ca và đơn ca trên nội dung Phúc âm và kinh nguyện tôn
giáo.chúng không phải là thơ và đc viết bằng tiếng La tinh.

o Psalmodie được sử dụng trước hết trong kinh cầu nguyện, là ách đọc của những
văn bản tôn giáo, được ngân nha trên một âm, hoặc đưa giọng xuống thấp hay lên
cao như trong cách nói hùng biện diễn thuyết.
o Jubilatio là những phần giai điệu của đồng ca đc phát triển hơn, biểu hiện niềm
vui, sự hân hoan và trang nghiêm Jubilatio có tính ngẫu hứng, điêu luyện, giai
điệu có tính trang sức nên thể hiện khsó hơn. Cũng như Psamodie, Jubilatioko có
tổ chức tiết tấu. Tiết tấu của chúng đc khẳng định từ cách nhấn của lời
o Hymne là những phần giai điệu và cấu trúc hoàn thiện trong đồng ca. Chúng
được biểu diễn trên những lời thơ, có đặc điểm ca xướng và nổi bật bằng sự rõ
ràng về tiết tấu. Những bài Hymne là trữ tình, khác với tính khô khan nghiêm
khắc của Psalmodie vè sự phức tạp về nghệ thuật Jubilatio, chúng vang lên một
cách tự nhiên, giống nhưu các bài dân ca, bưởi những bài Hymne được hình thành
từ dân ca.
- Sequentia xuất hiện trong thế kỉ IX - X và phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIII. Người
sangs tạo ra loại này là tu sĩ - nhà thơ - nhạc công Notke. Do việc biểu diễn khó khăn và
phức tạp của của Jubilatio, tu sĩ Notke đã đặt lời cho mỗi âm liên quan đến một vần. Lúc
đầu, lời được dùng từ nội dung tôn giáo, những sau này đã sử dụng tự do, cả những lời
với nội dung thể tục của thổ ngữ dân gian. Cùng với lời ca, giai điệu với tính chất dân
gian cũng được đưa vào lối hát này. Các đoạn như vậy, với tiết tấu, giai điệu và lời ca
mới được hình thành trong đồng ca, tương tự loại bài hát có cấu trúc đoạn nhạc trong giai
điệu, hình thức phiên khúc, tiết tấu rõ ràng, trên cơ sở của điệu thức trường – thứ.
- 4 - Tropi được hình thành từ tiếng van xin Kyrie eleison (Chủa rủ lòng thương). Đó là
những mở đầu và kết tự do, do nhân dân thực hiện, đôi khi bằng thổ ngữ địa phương,
Tropi được phát triển thành những biển khúc điển hình, hướng đến giai điệu đồng ca
-
- 5- Dramma liturgia hát tích Thánh, là loại hát trong nhà thờ có sự xâm nhập, ảnh hưởng
từ nhạc thế tục ở mức cao nhất. Đó là phần đầu của việc cúng tế trong thời gian những
ngày hội lớn, trong đó có các đoạn từ Phúc âm được dựng kịch, lời được phân chia giữa
các linh mục trong dạng Tropi đối thoại. Ngôn ngữ là tiếng la tình, còn giai điệu là đồng
ca Grigrorie. Hát tích Thánh là một trong những thể nghiệm đầu tiên để sáng tạo nên
những hoạt động sân khấu kịch với âm nhạc, là cơ sở cho sự hình thành
- Oratorio (Thanh xướng kịch) và Opera (Nhạc kịch) sau này ở thế kỷ XVII
Thành tựu của âm nhạc Tây Âu
1. Lối ghi và đọc nhạc.
1.1. Lối ghi Neuma (nơm)
- Xuất hiện vào khoảng thế kỷ IX.
- Lối ghi phỏng theo những dấu chỉ trọng âm mạnh, vừa và nhẹ kết hợp với dấu gợi hình
động tác của người chỉ huy để tạo nên làn điệu trầm bổng dùng nhiều trong đồng ca
Grigorie.
- Tuy có cải tiến nhưng ko ấn định đcđộ cao thấp giai điệu bị hạn chế.
1.2. Lối ghi đọc nhạc Guido d Arezzo (955-1050) (solmi)
- Để đặt tên cac scao độ, ông lấy 6 âm đầu của một bài Hymne để đặt tên cho 6 note nhạc
đc phổ bằng các âm thanh âm sau cao hơn âm trước 1 cung, riêng âm thứ 4 cao hơn âm
thứ 3 1/2 cung.
- Út rê mi fa sol la

- Ông dùng 4 đường kẻ ngang để tạo mốt tương quan quảng 3 giữa chung vè 4 đường kẻ
này có màu sắc khác nahu để ko lẫn lộn.
- Màu đỏ - phà
- Màu đen giữa - âm là
- Màu vàng - âm út
- Về ưu điểm: có tên 6 âm, số dòng kẻ ko quá nhiều và ko quá ít.
- Về nhược điểm: âm út khso đọc bà thiếu âm si
- Có ý điến cho rằng nên thay ccs âm bằng “bô, bô, ve, đi, ga, ma, mi” nhưng ko thành
công.
- Thế kỉ X khôi phục lại lối ghi âm bằng chữ cái của Hy Lạp cổ đại
- Thế kỷ 12 hình thành khóa sol, kháo fa, và khóa đô
- Thế kỷ 16 quy định ra độ ngân vang cho vác âm từ 4 phách đến 1/4 phách. Bắt đầu có
note vuông, tròn, móc. Đặt ra gạch phách nhịp xác định tiết luật.
- Cuối thế kỷ thứ 16 âm si xuất hiện là từ ghép của Sancta Ioanes
- Năm 1673 âm út khso đọc đc thay bằng âm đô
- Đến thế kỷ thứ 17 bộ ghi đọc nhạc của ông có bộ mặt gần giống ngày nay.
2. Điệu thức
- Điệu thức âm nhạc Tây Âu thời Trung cổ gồm tám điệu thức nguyên thể diatonic: 4 điệu
thức và bốn điệu thức biến tương ứng. Các điệu thức này cũng có tên gọi như các điệu
thức cổ đại: Dorien,phrygien, Lydien, Mixolydien, nhưng chúng khác hoàn toàn về bản
chất.
- Cũng nhưu các điệu thức cổ đại, các điệu thức Trung cổ chứa đựng cảm cúc riêng biệt
như điệu Dorien có tính chất trang trọng, sáng sủa, điệu Lydien - sắc nhọn, cứng cỏi,
v.v..Trong tám điệu thức Trung cổ này thiếu điệu trưởng, thứ, mà âm nhạc dân gian bà
thế tục đã dùng, đồng thời còn được đem vào cả những bài Hymne của nhà thờ.
- Mỗi điệu thức chỉ được dùng sau bậc nhưu trên đã đề cập, lối cấu trúc sau bậc, trong đó
hòa trộn toàn bộ giai điệu của thời này mà Guido đã khẳng định có ba dạng: tự nhiên, với
1/2 cung ở giữa bậc III - IV; mềm moll, với âm si mềm; còn cứng - durum với âm si tự
nhiên.
- Đặt biệt quãng fa - si, quãng 4 tăng
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.
Preview text:
LỊCH SỬ ÂM NHẠC PHƯƠNG TÂY
MỞ ĐẦU
- Âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh và nhịp điệu để diễn tả tư tưởng & tình cảm của con người. Đây là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất cùng với lịch sử phát triển loài người.
- Trong quá trình phát triển của lịch sử âm nhạc thì dùng 2 phương tiện để truyền tải:
- Âm nhạc có lời (thanh nhạc)
- Âm nhạc không lời (nhạc đàn or khí nhạc)
- Trong quá trình phát triển có hai dòng chính:
- Âm nhạc dân gian *nguồn cội của âm nhạc hiện đại (nhân dân lao động sáng tạo truyền qua nhiều thế hệ)
- Âm nhạc chuyên nghiệp (do các nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn)
- Âm nhạc là loại hình nghệ thuật gắn liền với âm thanh & thời gian vì vậy việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc với các bộ môn khác gặp nhiều khó khăn bởi vì nó không để lại nhiều bằng chứng cụ thể. Vì vậy mà phải dựa vào các di tích khảo cổ, các bức tranh trên hang động, trống đồng, bia đá,…các án văn thơ cổ.
- Ta biết được những hình dáng nhạc cụ thô sơ từ xa xưa ta phỏng đoán khả năng diễn tấn của chúng
- Ta biết được lời lẽ của bài ca, lề lối âm nhạc và vau trò của âm nhạc trong thời kì bấy giờ
- Lịch sử âm nhạc gắn liền với lịch sử phát triển loài người qua các thời kì: Nguyên thuỷ - cổ đại – cận đại – hiện đại.
- Tuy nhiên lịch sử âm nhạc nói riêng và lịch sử nghệ thuật nói chung không giống với lịch sử bình thường. Mà lịch sử điểm nối các đỉnh cao nghệ thuật các bước ngoặc sự kiện.
Âm nhạc trong thời kì nguyên thuỷ
- Nguồn gốc âm nhạc
- Do con người sáng tạo nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Các yếu tố nguồn gốc của âm nhạc:
Lao động – âm điệu & tiếng nói – nhịp sinh lý của con người - lễ nghi & ma thuật.
- Âm nhạc thời kì nguyên thuỷ
- Thời kì này là giai đoạn hình thành và phát triển đầu tiên đồng thời cũng là giai đoạn dài nhất trong lịch sử loài người
- Âm nhạc nguyên thuỷ là âm nhạc tự biên tự diễn mang tính chất cộng đồng
- Âm nhạc nguyên thuỷ mang tính chất tổ hợp gắn chặt với lao động sản xuất khoa học, hoạt cảnh nhảy múa,…
- Các bài ca cổ được biểu diễn tập thể & biểu hiện tình cảm chung của tập thể. Có cấu trúc đơn giản, sau này xuất hiện đơn ca ngoài đồng & xuất hiện âm nhạc nhiều bè.
- Nhạc cụ thô sơ & mang đậm tiết tấu.
- Ta phỏng đoán âm nạhc trong thời kì này có 2 hình thức chính là âm nhạc có lời và âm nhạc không lời.
- Trong giai đoạn này có hai hình thức chính là:
- Âm nhạc thế tục của đời sống bình thường.
- Âm nhạc thiêng của các tín ngưỡng tâm linh
Âm nhạc trong thời kì cổ đại
- Đây là thời kì chiến hữu nô lệ & thời kì phân chia giai cấp,tuy nhiên trong thời kì này đã xuất hiện nhiều nền văn minh lớn của nhân loại như: Ai Cập (Đông Bắc Phi); Lưỡng Hà (Tây Á); Trung Hoa ( Đông Á); Ấn Độ (Nam Á); Hy – La (Nam châu Âu)
- Nhìn chung âm nhạc trong giai đoạn này khá phát triển, bên cạnh bắt đầu hình thành những ngừoi làm nhạc bắt đầu chuyên nghiệp trong cung đình , một số tôn giáo lần lượt xuất hiện đi cùng với nó là âm nhạc phục vụ cho nghi lễ, tín ngưỡng.
- Các dòng âm nhạc thời kì cổ đại: Âm nhạc dân giang – âm nhạc thế tục – âm nạhc cung đình – âm nhạc tôn giáo.
- Sơ lược
- Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm của loài người. Từ thời cổ đại họ đã có văn tự bằng tượng hình, có văn chương truyền miệng, văn viết, thơ ca. Nghệ thuật điêu khắc kiến trúc đạt đến trình độ tuyệt mỹ đặt biệt là quần thể kim tự tháp
- Về tôn giáo tín ngưỡng họ rất sùng bái tự nhiên, tin vào linh hồn bất tử.
- Về khoa học cực kì phát triển, đặt biệt là y học với nghệ thuật ướp xác.
- Về âm nhạc
- Từ thiên niên kỉ thứ 4 TCN họ đã có hệ thống nhạc cụ hình cung như đàn Harp & được coi là khí thiêng, các óng tiêu, đàn luth,…Bộ gõ họ có sênh phách, có sáo hình cây, trống có gắn lục lạc, hình thùng rượu.
- Ngoài âm nhạc dân gian còn có âm nhạc chuyên nghiệp đó là việc thờ cúng liên quan đến lễ nghi tín ngưỡng. Âm nhạc cung đình có các bài ca & chính ca có cả dàn nhạc và đồng dao.
Âm nhạc Hy Lạp cổ đại
- Sơ lược
- Hy Lạp cổ đại là nền văn minh phát triển vô cùng rực rỡ phong phú toàn diện, là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại, là mẫu mực cho nhiều nền văn hoá cho các thời kì sau này
- Họ đã có hệ thống chữ viết mẫu tự Hy Lạp đạt đến trình độ cao là nguồn gốc hệ thống chữ viết, thơ ca rất phổ biến đặt biệt là 2 tập thơ Iliade & Odyssee của Homer
- Về âm nhạc
- Giai đoạn này các nhạc cụ được hoàn thiện và phong phú hình thành những dàn nhạc lớn và phòng hoà nhạc đồ sộ. Đàn organ nước (Hydraulis) là nhạc cụ mới đc sử dụng. Là nhạc cụ phím đầu tiên biết đến (khoảng 250 TCN)
- Có thể loại mới là kịch câm, hát đồng ca và đệm đàn bằng aulos, sáo,…
- Nhạc cụ người Hy Lạp thường dùng là Harp, lyre, kithara,…
- Các nhà học giả Hy Lạp hoàn thiện hệ thống 4 âm (Tétracorde)
- Dori (từ nốt mi)
- Phrygi (từ nốt rê)
- Lidi (từ nốt đô)

- Những điệu thức cơ bản, mang tên các chuỗi 4 âm hình thành từ 2 chuỗi 4 âm đi xuồn kế tiếp. Từ các điệu thức cơ bản ấy, nên bổ sung chuỗi 4 âm kế tiếp ở 2 biến hạ. (Thấp hơn điệu thức cơ bản 1 quãng năm)
- Điệu thức Dori: dạng thức quãng = cung + cung +1/2 cung

- Kết hợp 2 hệ thống 4 âm , ta có 1 hoà âm (điệu thức). Hy Lạp cổ đại có 3 loại hoà âm căn bản: Dorian (mi, điệu thức dân tộc Hy Lạp), frigien (rê, du nhập từ phương Đông), lidien (đô, du nhập từ phương đông).
- Ngoài ra có các dạng biến hạ (thấp hơn hòa âm cơ bản 1 quãng 5), biến thượng (cao hơn hòa âm cơ bản 1 quãng 5) từ những hòa âm cơ bản. Đó là những hòa âm nguyên (diatonos).
- Từ cuối tk V TCN xuất hiện kiểu ly điệu từ hòa âm nguyên sang hòa âm hóa (chroma sử dụng 1/2 cung) và hòa âm đẳng (enharmonia, sử dụng 1/4 cung)

- Việc sử dụng kết hợp nguyên và hóa gọi là nguyên mềm, kết hợp hóa và đẳng gọi là hóa mềm.
- Căn cứ và kết quả đo lường âm học, người Hy Lạp cổ đại định nghĩa sự thuận nghịch. Quãng 4, 5, 8 là quãng thuận Quãng 3 và 6 là nghịch.
- Pythagoras, nhà toán học Hy Lạp là người có có trách nhiệm liên quan đến các nốt nhạc với phương trình toán học. Ông đã nghiên cứu chặt chẽ sự tiến triển của các nốt nhạc trong một quãng 8 và sau đó đưa ra phương và tỷ lệ khác nhau có liên quan đến nốt nhạc. Ông nhấn mạnh rằng âm nhạc có thể ảnh hưởng đến cả linh hồn và tâm trí, một khái niệm còn tồn tại trong triết học về âm nhạc đến tận ngày nay.
- Người Hy Lạp dùng chữ cái để ghi nhạc, tuy nhiên còn đơn giản và không đầy đủ được ký hiệu trên bản nhạc. Tính tác động thị giác không cao.
- Ngành sư phạm âm nhạc đạt đến trình độ cao.
Âm nhạc Trung Hoa cổ đại
- Sơ lược
- Trung Hoa là một nền văn minh lớn của phương Đông và thế giới.
- Ngay từ thời cổ đại Trung Hoa đã phát triển khá toàn diện vầ chế độ xã hội, kinh tế, khoa học, tư tưởng triết học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật.
- Ngay từ thời kỳ này họ đã có hệ thống chữ viết.
- Nền văn học thơ ca như kim thi sỡ từ
- Về tư tưởng triết học đã có thuyết về át quái, ngũ hành, âm dương. Họ đã có những nhà tư tưởng triết học lớn là Lão tử và Khổng tư hình thành nên các học thuyết của Nho giáo và Đạo giáo.
- Về khoa học họ hết sức phát triển về lịch pháp, thiên văn, hình học, toán học, y học. Họ có nền giáo dục cho đại chúng và cấp cao.
- Nền văn minh Trung Hoa trải qua các đời: Hạ - Thương- Xuân Chu - Tây Chu - Chiến quốc.
- Về âm nhạc
- Cách đây 8000 - 9000 năm họ đã có óng sao bằng xương chân chim Hạc, có sáo bằng đất nung, chuông bằng gốm.
- Nhạc và máu đi liền với nhau.
- Đến thời nhà Chu lễ và nhạc phải kết hợp chặt chẽ với nhau
- Nhạc cụ chính của họ là Chuông và Khánh bằng đá, trống cổ
- Sang đời nhà Chu họ đã định ra lễ và nhạc. Nhã nahjc chính thức ra đời (ý nghĩa nhã nhạc là loại hình tao nhã, lịch sự dùng trong các nghi lễ triều đình. Đây là dòng âm nhạc mang tính chất chuyên nghiệp)
- Nhã nhà trong thời nhà chu có tấu nhạc, vũ đại và ca hát. Cũng trong thời nhà Chu nahjc và múa trửo thành một môn học ca ngợi các vị anh hùng dân tộc, số lượng nhạc công lên đến 1400 người.
- Thời Xuân Chu lễ nhạc tan rã và âm nhạc dân gian dần dần được phục hưng sống động, đa dạng và rất đẹp đẽ.
- Sang thời Chiến quốc các nước đánh nhậu liên miền chương nên ẩm nhạc hội tên của nước Sở.
- Thời Tây Chủ đến thời Chiến Quốc các chúng loại âm nhạc khả phong phú và bắt đầu phần loại theo hệ thống "bát âm" Tí - Trúc - Mộc - Thạch - Kim - Thổ - Bào - Cách
- Đây là 8 chất liệu tạo nên những màu sắc khác nhau cho các nhạc khí,
- Trong thời Chiến Quốc có những nghệ sĩ nổi tiếng chỉ và sử sách như Hàn Nga.
- Dưới thời Tây Hán xuất biện 1 loại hình âm nhạc gần với sân khấu gọi là “Hí Khúc”. Về mặt lý thuyết họ đã tìm ra hệ thống 12 Âm gọi là Luật Lữ. Thay 5 tìm (E.G.A.C.D) làm cơ sở cho điệu thức ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Chũy, Vũ).
Ví dụ: Hò, Xử, Xăng, Xế, Công, Lìu
Đô, Rẻ, Fa, Sol, La, Đô
Cung, Thương, Giốc, Chũy, Vũ
- - Họ cũng đã có phương thức ghi nhạc. Bản nhạc có nhất soạn cho đàn 5 dãy (Ngũ huyện) ra đời năm 1522 trong đời La Hán
Âm Nhạc Thời Kỳ Trung Cổ
- Sơ lược
- Trung cổ còn được gọi là trung đại, lịch sử trung cố là lịch sử của chế độ phòng kiến và nhà thở. Kéo dài 10 thể ký từ thế kỷ V đến thể kỳ XV. Đây là thời kỷ gần liền với phông kiến, lãnh địa và uy lực của nhà thờ.
- Người ta gọi 1000 năm trung cổ là "Đêm trường trung cổ", còn đổi với nghệ thuật gọi là "Giấc ngủ ngàn năm nghệ thuật".
- Về âm nhạc có phát triển với mức độ hết sức chậm chạp. Tuy nhiên nó cũng có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng chủ đề, chất liệu và hình thức, Hình thành một số dông âm nhạc chuyên nghiệp, âm nhạc nhà thờ có bước phát triển. Đặc biệt và là phát kiến cách ghi và đọc nhạc.
- Các dòng nhạc
- Âm nhạc dân gian
- Âm nhạc dân gian tồn tại là phát triển trong quần chúng nhân dân. Dòng nhạc này phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại, hấp dẫn về âm điệu , điệu thức, tiết tấu,.. luôn được bổ sung những yếu tố mới từ nền nghệ thuật dân gian của các tộc người khác nhau , nên luôn có sức sống mãnh liệt.
- Những người xuất sắc nổi lên trong quần chúng còn dùng âm nahjc như một nghề sinh nhai. Đó là những người hát rong - những người tạo nên âm nhạc chuyên nghiệp bình dân.
- Âm nhạc nói lên tâm tư tình cảm quần chíng nhân dân và vạch trần sự tàn ác của giai cấp thống trị. Vì vậy, chính quyền phong kiến và nhà thờ đã truy đuổi và bóp chết họ bằng các luật lệ cực kì dã man và hà khắc.
- Lúc đầu, âm nhạc dân gian có vị trí lớn trong khác nhà thờ Thiên Chúa Giáo.
- Ca sĩ hát rong đã sưt dụng những nhạc cụ dân gian đa dạng từ các nơi mà họ đã qua. Đó là các nhạc cụ đây ko có vĩ và sau có cả nhạc cụ hơi và các nhạc cụ gõ.
- Đến cuối thế kỷ XI những ca sĩ hát rong dần sống ổn định trong các lâu đài của vua chúa vì sau này ở các thành phố
- Trong thười kì cực thịnh của chế độ phong kiến nổi lên phong trào “Thập tự chinh”, từ đây xuất hiện một tầng lớp mới gọi là hiệp sĩ, học có nền văn hóa riêng và âm nhạc của họ thành âm nhạc hiệp sĩ. Bao gồm âm nhạc dân gian và âm nhạc chuyên nghiệp bình dân. Điểm nổi bật là bố cục âm nhạc có 2 loại “cân phương khúc chiết - ngân nga phóng túng”.
- Họ sử dụng triệt để nguyên tác biến tâú, bè đệm rất phong phú. Họ sắp xếp nhiều bài hát thành một câu chuyện gọi là diễn trò. (mầm móng cho sự ra đời của Opera)
- Về mặt lí thuyết họ đã chép nhạc bằng các ký hiện hình vuông, biết cao độ nhưng chưa ghi được tiết tấu.
- Âm nhạc nhà thờ
- Nhà thờ là một thế lực quan trọng bên cạnh giai cấp phong kiến, vì vậy nhà thờ đã vận dụng triết để các hình thức nghệ thuật nói chung và âm nahjc nói riêng để phục vụ cho mục đích tôn giáo.
- Đây là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai dòng âm nhạc là âm nhạc chính thống của nhà thờ và âm nhạc dân gian và bình dân chuyên nghiệp.
- Lúc đầu nhà thờ dựa vào âm nhạc dân gian, về sau họ đã hình thành nên âm nhạc riêng của mình và bắt đầu xuất hiện nhiều hình thức ca hát để phục vụ cho ngày lễ và mỗi hình thức ca hát đều có tên gọi lối hát riêng như đồng ca Grigoie, Hymne, Messo, Sequetine,...
- Đồng ca Grigorie là nghệ thuật tôn giáo nghiêm khắc, chỉ biểu diễn trong nhà thờ. Đó là loại hát một bè của đồng ca và đơn ca trên nội dung Phúc âm và kinh nguyện tôn giáo.chúng không phải là thơ và đc viết bằng tiếng La tinh.
- Psalmodie được sử dụng trước hết trong kinh cầu nguyện, là ách đọc của những văn bản tôn giáo, được ngân nha trên một âm, hoặc đưa giọng xuống thấp hay lên cao như trong cách nói hùng biện diễn thuyết.
- Jubilatio là những phần giai điệu của đồng ca đc phát triển hơn, biểu hiện niềm vui, sự hân hoan và trang nghiêm Jubilatio có tính ngẫu hứng, điêu luyện, giai điệu có tính trang sức nên thể hiện khsó hơn. Cũng như Psamodie, Jubilatioko có tổ chức tiết tấu. Tiết tấu của chúng đc khẳng định từ cách nhấn của lời
- Hymne là những phần giai điệu và cấu trúc hoàn thiện trong đồng ca. Chúng được biểu diễn trên những lời thơ, có đặc điểm ca xướng và nổi bật bằng sự rõ ràng về tiết tấu. Những bài Hymne là trữ tình, khác với tính khô khan nghiêm khắc của Psalmodie vè sự phức tạp về nghệ thuật Jubilatio, chúng vang lên một cách tự nhiên, giống nhưu các bài dân ca, bưởi những bài Hymne được hình thành từ dân ca.
- Sequentia xuất hiện trong thế kỉ IX - X và phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIII. Người sangs tạo ra loại này là tu sĩ - nhà thơ - nhạc công Notke. Do việc biểu diễn khó khăn và phức tạp của của Jubilatio, tu sĩ Notke đã đặt lời cho mỗi âm liên quan đến một vần. Lúc đầu, lời được dùng từ nội dung tôn giáo, những sau này đã sử dụng tự do, cả những lời với nội dung thể tục của thổ ngữ dân gian. Cùng với lời ca, giai điệu với tính chất dân gian cũng được đưa vào lối hát này. Các đoạn như vậy, với tiết tấu, giai điệu và lời ca mới được hình thành trong đồng ca, tương tự loại bài hát có cấu trúc đoạn nhạc trong giai điệu, hình thức phiên khúc, tiết tấu rõ ràng, trên cơ sở của điệu thức trường – thứ.
- 4 - Tropi được hình thành từ tiếng van xin Kyrie eleison (Chủa rủ lòng thương). Đó là những mở đầu và kết tự do, do nhân dân thực hiện, đôi khi bằng thổ ngữ địa phương, Tropi được phát triển thành những biển khúc điển hình, hướng đến giai điệu đồng ca
- 5- Dramma liturgia hát tích Thánh, là loại hát trong nhà thờ có sự xâm nhập, ảnh hưởng từ nhạc thế tục ở mức cao nhất. Đó là phần đầu của việc cúng tế trong thời gian những ngày hội lớn, trong đó có các đoạn từ Phúc âm được dựng kịch, lời được phân chia giữa các linh mục trong dạng Tropi đối thoại. Ngôn ngữ là tiếng la tình, còn giai điệu là đồng ca Grigrorie. Hát tích Thánh là một trong những thể nghiệm đầu tiên để sáng tạo nên những hoạt động sân khấu kịch với âm nhạc, là cơ sở cho sự hình thành
- Oratorio (Thanh xướng kịch) và Opera (Nhạc kịch) sau này ở thế kỷ XVII
Thành tựu của âm nhạc Tây Âu
- Lối ghi và đọc nhạc.
- Lối ghi Neuma (nơm)
- Xuất hiện vào khoảng thế kỷ IX.
- Lối ghi phỏng theo những dấu chỉ trọng âm mạnh, vừa và nhẹ kết hợp với dấu gợi hình động tác của người chỉ huy để tạo nên làn điệu trầm bổng dùng nhiều trong đồng ca Grigorie.
- Tuy có cải tiến nhưng ko ấn định đcđộ cao thấp giai điệu bị hạn chế.
- Lối ghi đọc nhạc Guido d Arezzo (955-1050) (solmi)
- Để đặt tên cac scao độ, ông lấy 6 âm đầu của một bài Hymne để đặt tên cho 6 note nhạc đc phổ bằng các âm thanh âm sau cao hơn âm trước 1 cung, riêng âm thứ 4 cao hơn âm thứ 3 1/2 cung.
- Út rê mi fa sol la
- Ông dùng 4 đường kẻ ngang để tạo mốt tương quan quảng 3 giữa chung vè 4 đường kẻ này có màu sắc khác nahu để ko lẫn lộn.
- Màu đỏ - phà
- Màu đen giữa - âm là
- Màu vàng - âm út
- Về ưu điểm: có tên 6 âm, số dòng kẻ ko quá nhiều và ko quá ít.
- Về nhược điểm: âm út khso đọc bà thiếu âm si
- Có ý điến cho rằng nên thay ccs âm bằng “bô, bô, ve, đi, ga, ma, mi” nhưng ko thành công.
- Thế kỉ X khôi phục lại lối ghi âm bằng chữ cái của Hy Lạp cổ đại
- Thế kỷ 12 hình thành khóa sol, kháo fa, và khóa đô
- Thế kỷ 16 quy định ra độ ngân vang cho vác âm từ 4 phách đến 1/4 phách. Bắt đầu có note vuông, tròn, móc. Đặt ra gạch phách nhịp xác định tiết luật.
- Cuối thế kỷ thứ 16 âm si xuất hiện là từ ghép của Sancta Ioanes
- Năm 1673 âm út khso đọc đc thay bằng âm đô
- Đến thế kỷ thứ 17 bộ ghi đọc nhạc của ông có bộ mặt gần giống ngày nay.
- Điệu thức
- Điệu thức âm nhạc Tây Âu thời Trung cổ gồm tám điệu thức nguyên thể diatonic: 4 điệu thức và bốn điệu thức biến tương ứng. Các điệu thức này cũng có tên gọi như các điệu thức cổ đại: Dorien,phrygien, Lydien, Mixolydien, nhưng chúng khác hoàn toàn về bản chất.
- Cũng nhưu các điệu thức cổ đại, các điệu thức Trung cổ chứa đựng cảm cúc riêng biệt như điệu Dorien có tính chất trang trọng, sáng sủa, điệu Lydien - sắc nhọn, cứng cỏi, v.v..Trong tám điệu thức Trung cổ này thiếu điệu trưởng, thứ, mà âm nhạc dân gian bà thế tục đã dùng, đồng thời còn được đem vào cả những bài Hymne của nhà thờ.
- Mỗi điệu thức chỉ được dùng sau bậc nhưu trên đã đề cập, lối cấu trúc sau bậc, trong đó hòa trộn toàn bộ giai điệu của thời này mà Guido đã khẳng định có ba dạng: tự nhiên, với 1/2 cung ở giữa bậc III - IV; mềm moll, với âm si mềm; còn cứng - durum với âm si tự nhiên.
- Đặt biệt quãng fa - si, quãng 4 tăng