Âm nhạc thời kỳ Phục Hưng
I. Sơ lược/ phức điệu nhà thờ(nghiêm khắc)
- Phục Hưng là tái sinh phong trào văn hóa xuất hiện dưới thời kỳ trung cổ, từ
thế kỉ 14 đến 16. Trong điều lịchsử là chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện.
- Phong trào văn hóa Phục Hưng có tính chất tộng rãi nhiều mặt, trong đó có ý
thức hệ tư bản chiếm vị trí chi phối.
- Phong trào Phục Hưng xuất hiện đầu tiên ở Ý sau đó lan sang các nước như
Anh, Pháp, Thụy Điển,...
- Ta chia phục hưng làm 3 giai đoạn: tiền phục hưng (tk14) - Phục Hưng (tk15)
- hậu phục hưng (tk 16)
- Có thể nói phục hưng là thời kỳ đặt biệt trong lịch sử cuat châu âu và nhân
loại. Với nhiều phát minh khoa học, kỹ thuật, địa lý,... Các cuộc cải cách tôn
giáo. Đặt biệt trong văn học nghệ thuật đây là thời kỳ rực rõ và huy hoàng của
kiến trúc, điêu khắc, hội họa và âm nhạc.
II. Âm nhạc
- Âm nhạc Phục Hưng bắt nguồn từ Pháp và phát triển mạnh mẽ ở Ý và các
nước Tây Âu.
- Âm nhạc dân gian vẫn tiếp tục phát triển có đời sống vững vàng trong các
nước Châu Âu. Tiếp thu những thành tựu, thủ pháp của âm nhạc nhà thờ, âm
nhạc thế tục. Âm nhạc dân gian và âm nhạc nhà thờ xích lại gần nhau.
- Phức điệu nghiêm khắc là phức điệu nhà thờ và phức điệu tự do là phức điệu
phá bỏ phức điệu nhà thờ
- Từ nên tăng phức điệu, thế kỷ 12-14 xuất hiện phức điệu nghiêm khắc mà
trung tâm là trường phải Rome tác giả tiêu biểu và đặt nền móng là Palestrina
(1525 - 1594)
- Đến thế kỷ 17 hình thành một nhánh mới là phức điệu tự do. Frescobaldi
(1583 - 1643) là người đặt nền móng
- Thể kỷ 15 đã định hình hình thức Ballade (là loại hát múa, viết cho đơn ca,
hợp xướng và có nhạc cụ đệm).
- Hình thức Rondo ra đời (vòng quanh) (chủ để được nhắc lại và xen giữa là các
đoạn chen theo hình thức A-B-A-C-A-D-A ... )
- Fuga cũng ra đời trong giai đoạn này (hình thức âm nhạc kết hợp nhiều bẻ,
mỗi bè đều có ý nghĩa bình đẳng và diễn cảm). Fuga của Frescobaldi thường
có cấu trúc ba phần. Phần thứ nhất - phần trình bày, thường có tương quan hoà
âm T - D(âm chủ - âm át) giữa các lần trình bày chủ đề (khởi đầu, chủ đề xuất
hiện ở giọng chủ, sau đó đáp đề xuất hiện giọng mô phóng). Phần giữa còn
chưa có tính phát triển nhiều.
- Cuối thể ký 17 đầu 18 xuất hiện Variation (biên tân)
- Các loại tổ khúc Suite phát triển
- Từ Fuga hình thành lên Sonate
- 1675 thể loại Concerto ni đời (1 liên khúc sonate 3 chương viết cho 1 nhạc cụ
độc tầu và cổ dân nhạc đêm)
- Thế kỷ 16-17 xuất hiện Opera Ballet (Ca vũ kịch). Phát triển khởi đầu ở Pháp
do nhạc sĩ J.Lully (1632 - 1687) sáng tạo sau đồ làn ra và phát triển mạnh mẽ
ở Ý
- Xuất hiện hợp ăm Napoli hợp ăm 6 bác II giảm (Scarlatti hay sử dụng)
- Opera trở thành một thành tựu quản trọng của ăm nhục Ý với nhiều trường
phái tác giả tác phẩm và hình thành nên một nên kỹ thuật thanh nhạc mẫu mực
cho thế giới. Năm 1598 được xem là năm ra đời của Opera
- Opera hình thành nên hài thế loại nhạc kịch tiêu biểu
o Opera Seria (Nghiêm trang) (Scarlatti (1659 - 1725)
o Opera beffa (Phong tục, hài hước) (Pergolese (nhạc sỹ Y 1710-1786)
đã sáng tác vở "Cô sen trở thành bà chủ")
- Nhạc kịch nghiêm chỉnh với phong cách hát bóng bẩy (bel canto), những aria
tuyệt vời, những khúc song ca, tam ca và hợp xướng hài hòa, biểu hiện những
nội dung thần thoại lịch sử, tự dành cho mình một chổ đứng rất cao trong nền
nghệ thuật âm nhạc từ thế kỉ XVII.
- Ở Ý đông góp sự ra đời của Omtorio (Thanh xướng kịch)
- Ngoài ra còn đóng góp Cantata (Đại hợp xướng) có tính chất anh hùng và trữ
tình. Trong đó có cả đơn ca và dàn nhạc.
Lý thuyết âm nhạc thời kỳ Phục Hưng
- Các nhà lý thuyết âm nahjc với quan điểm nhân văn trong thười kỳ Phục Hưng
đã phê phán tư tưởng, lý thuyết thời trung cổ. Khoa học âm nhạc dần được giải
phóng khỏi tính kinh viện, giáo điều. Âm nhạc đã khái quát những kinh
nghiệm và dựa trên thực hành âm nhạc để rút ra những cái mới và chân thực
nhất. Những vấn đề quan trọng nhất của khoa học âm nhạc phục hưng là học
thuyết về quãng và điệu thức, âm nhạc mensura, phức điệu và phong các đơn
điệu.
- Từ thế kỉ XIV đến XVI, nhà lý luận của nghệ thuật mới Philippe de Vitry đã
bảo vệ việc dùng biến âm tuyên bố quãng ba và quãng sáu là quãng thuận ,
hợp thức hóa sự cân bằng của nhịp hai và nhịp ba.
- Vitry đã đưa vào phức điệu bè dẫn dắt tự do hơn, như cuốn theo quãng tám và
quãng năm song hành. Là nhà soạn nhạc, có sự nhạy cảm tinh tế về sự thay đổi
trong thực hành âm nhạc, đã tạo nên sự chuyển động rộng rãi hơn của giai
điệu, là nhà luận lớn của Pháp đã bổ sung cho lối ghi nhạc mensura có các độ
dài nhỏ hơn.
- Lý thuyết âm nhạc đã làm sáng tỏ hai vấn đề lớn là điệu thức và hòa âm, phản
ánh trong sự phát triển của tư duy điệu thức trưởng - thứ và phong cách hòa
âm chủ điệ. Nhà lý luận Đức H. Loritus Glareanus (H.L/ Gia-rê-an: 1488-
1563) đã nêu ra trong công trình âm nhạc của mình điệu thức phải có 12 bậc
như trong thực hành âm nhạc đã tồn tại. Glareanus còn củng cố hệ thống
điệu thức trưởng thứ

Preview text:

Âm nhạc thời kỳ Phục Hưng

  1. Sơ lược/ phức điệu nhà thờ(nghiêm khắc)
  • Phục Hưng là tái sinh phong trào văn hóa xuất hiện dưới thời kỳ trung cổ, từ thế kỉ 14 đến 16. Trong điều lịchsử là chủ nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện.
  • Phong trào văn hóa Phục Hưng có tính chất tộng rãi nhiều mặt, trong đó có ý thức hệ tư bản chiếm vị trí chi phối.
  • Phong trào Phục Hưng xuất hiện đầu tiên ở Ý sau đó lan sang các nước như Anh, Pháp, Thụy Điển,...
  • Ta chia phục hưng làm 3 giai đoạn: tiền phục hưng (tk14) - Phục Hưng (tk15) - hậu phục hưng (tk 16)
  • Có thể nói phục hưng là thời kỳ đặt biệt trong lịch sử cuat châu âu và nhân loại. Với nhiều phát minh khoa học, kỹ thuật, địa lý,... Các cuộc cải cách tôn giáo. Đặt biệt trong văn học nghệ thuật đây là thời kỳ rực rõ và huy hoàng của kiến trúc, điêu khắc, hội họa và âm nhạc.
  1. Âm nhạc
  • Âm nhạc Phục Hưng bắt nguồn từ Pháp và phát triển mạnh mẽ ở Ý và các nước Tây Âu.
  • Âm nhạc dân gian vẫn tiếp tục phát triển có đời sống vững vàng trong các nước Châu Âu. Tiếp thu những thành tựu, thủ pháp của âm nhạc nhà thờ, âm nhạc thế tục. Âm nhạc dân gian và âm nhạc nhà thờ xích lại gần nhau.
  • Phức điệu nghiêm khắc là phức điệu nhà thờ và phức điệu tự do là phức điệu phá bỏ phức điệu nhà thờ
  • Từ nên tăng phức điệu, thế kỷ 12-14 xuất hiện phức điệu nghiêm khắc mà trung tâm là trường phải Rome tác giả tiêu biểu và đặt nền móng là Palestrina (1525 - 1594)
  • Đến thế kỷ 17 hình thành một nhánh mới là phức điệu tự do. Frescobaldi (1583 - 1643) là người đặt nền móng
  • Thể kỷ 15 đã định hình hình thức Ballade (là loại hát múa, viết cho đơn ca, hợp xướng và có nhạc cụ đệm).
  • Hình thức Rondo ra đời (vòng quanh) (chủ để được nhắc lại và xen giữa là các đoạn chen theo hình thức A-B-A-C-A-D-A ... )
  • Fuga cũng ra đời trong giai đoạn này (hình thức âm nhạc kết hợp nhiều bẻ, mỗi bè đều có ý nghĩa bình đẳng và diễn cảm). Fuga của Frescobaldi thường có cấu trúc ba phần. Phần thứ nhất - phần trình bày, thường có tương quan hoà âm T - D(âm chủ - âm át) giữa các lần trình bày chủ đề (khởi đầu, chủ đề xuất hiện ở giọng chủ, sau đó đáp đề xuất hiện giọng mô phóng). Phần giữa còn chưa có tính phát triển nhiều.
  • Cuối thể ký 17 đầu 18 xuất hiện Variation (biên tân)
  • Các loại tổ khúc Suite phát triển
  • Từ Fuga hình thành lên Sonate
  • 1675 thể loại Concerto ni đời (1 liên khúc sonate 3 chương viết cho 1 nhạc cụ độc tầu và cổ dân nhạc đêm)
  • Thế kỷ 16-17 xuất hiện Opera Ballet (Ca vũ kịch). Phát triển khởi đầu ở Pháp do nhạc sĩ J.Lully (1632 - 1687) sáng tạo sau đồ làn ra và phát triển mạnh mẽ ở Ý
  • Xuất hiện hợp ăm Napoli hợp ăm 6 bác II giảm (Scarlatti hay sử dụng)
  • Opera trở thành một thành tựu quản trọng của ăm nhục Ý với nhiều trường phái tác giả tác phẩm và hình thành nên một nên kỹ thuật thanh nhạc mẫu mực cho thế giới. Năm 1598 được xem là năm ra đời của Opera
  • Opera hình thành nên hài thế loại nhạc kịch tiêu biểu
  • Opera Seria (Nghiêm trang) (Scarlatti (1659 - 1725)
  • Opera beffa (Phong tục, hài hước) (Pergolese (nhạc sỹ Y 1710-1786) đã sáng tác vở "Cô sen trở thành bà chủ")
  • Nhạc kịch nghiêm chỉnh với phong cách hát bóng bẩy (bel canto), những aria tuyệt vời, những khúc song ca, tam ca và hợp xướng hài hòa, biểu hiện những nội dung thần thoại lịch sử, tự dành cho mình một chổ đứng rất cao trong nền nghệ thuật âm nhạc từ thế kỉ XVII.
  • Ở Ý đông góp sự ra đời của Omtorio (Thanh xướng kịch)
  • Ngoài ra còn đóng góp Cantata (Đại hợp xướng) có tính chất anh hùng và trữ tình. Trong đó có cả đơn ca và dàn nhạc.

Lý thuyết âm nhạc thời kỳ Phục Hưng

  • Các nhà lý thuyết âm nahjc với quan điểm nhân văn trong thười kỳ Phục Hưng đã phê phán tư tưởng, lý thuyết thời trung cổ. Khoa học âm nhạc dần được giải phóng khỏi tính kinh viện, giáo điều. Âm nhạc đã khái quát những kinh nghiệm và dựa trên thực hành âm nhạc để rút ra những cái mới và chân thực nhất. Những vấn đề quan trọng nhất của khoa học âm nhạc phục hưng là học thuyết về quãng và điệu thức, âm nhạc mensura, phức điệu và phong các đơn điệu.
  • Từ thế kỉ XIV đến XVI, nhà lý luận của nghệ thuật mới Philippe de Vitry đã bảo vệ việc dùng biến âm tuyên bố quãng ba và quãng sáu là quãng thuận , hợp thức hóa sự cân bằng của nhịp hai và nhịp ba.
  • Vitry đã đưa vào phức điệu bè dẫn dắt tự do hơn, như cuốn theo quãng tám và quãng năm song hành. Là nhà soạn nhạc, có sự nhạy cảm tinh tế về sự thay đổi trong thực hành âm nhạc, đã tạo nên sự chuyển động rộng rãi hơn của giai điệu, là nhà luận lớn của Pháp đã bổ sung cho lối ghi nhạc mensura có các độ dài nhỏ hơn.
  • Lý thuyết âm nhạc đã làm sáng tỏ hai vấn đề lớn là điệu thức và hòa âm, phản ánh trong sự phát triển của tư duy điệu thức trưởng - thứ và phong cách hòa âm chủ điệ. Nhà lý luận Đức H. Loritus Glareanus (H.L/ Gia-rê-an: 1488-1563) đã nêu ra trong công trình âm nhạc của mình điệu thức phải có 12 bậc như trong thực hành âm nhạc đã tồn tại. Glareanus còn củng cố hệ thống điệu thức trưởng thứ