



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC CUNG
TIỀN VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC CUNG TIỀN ĐẾN TỔNG
CẦU. PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN CỦA VIỆT
NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ CHO BIẾT SỰ THAY
ĐỔI ĐÓ ẢNH HƯỚNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM. Bộ môn : Kinh tế vĩ mô Mã lớp HP : 241_MAEC0111_06 Nhóm : 04
Giảng viên giảng dạy
: Ts. Nguyễn Thị Thu Hiền
Hà Nội, tháng 10 năm 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT Họ và tên Nhiệm vụ Mức độ hoàn thành Ghi chú Hoàn thành 1 Nguyễn Khánh Linh Nội dung 2.3.1 nhiệm vụ Nhóm trưởng được giao Hoàn thành 2 Nguyễn Ngọc Linh Nội dung 1.1 + 1.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 3 Phạm Ngọc Linh
Nội dung 2.1 + Thuyết trình nhiệm vụ được giao Hoàn thành 4 Vũ Phương Linh
Mở đầu + kết luận + Word nhiệm vụ được giao Hoàn thành 5 Đỗ Thị Xuân Mai Nội dung 2.2.4 + PPT nhiệm vụ được giao Hoàn thành 6 Phạm Ban Mai Nội dung 2.2.3 + PPT nhiệm vụ được giao Hoàn thành 7 Vũ Thiện Minh Nội dung 2.3.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 8 Phạm Đỗ Hoàng Nam Nội dung 2.2.2 nhiệm vụ được giao Hoàn thành 9 Pham Thanh Ngân Nội dung 2.2.1 + Thuyết nhiệm vụ trình được giao Hoàn thành 10 Bùi Hưng Nguyên Nội dung 1.3 nhiệm vụ được giao 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP ( Lần 1)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06 Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 1 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
-Tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra hướng giải quyết cho đề tài thảo luận, lập đề cương cho đề tài.
-Nhóm trưởng phân chia công việc.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp: Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình
thảo luận và nhiệm vụ do nhóm trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 1 tháng 10 năm 2024 Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Khánh Linh 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP ( Lần 2)
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hiền
Lớp HP: 241_MAEC0111_06 Nhóm: 04
I. Thời gian và địa điểm Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 8h30 ngày 15 tháng 10 năm 2024
II. Số thành viên tham gia: 10/10
III. Nội dung thảo luận:
Họp để tổng hợp nội dung, các thành viên đưa ra nhận xét, thống nhất và chỉnh sửa.
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên đều nhiệt tình trong quá trình thảo luận và nhiệm vụ do nhóm trưởng giao.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 10 năm 2024 Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Khánh Linh 4 MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU............................................................................................................................6
B – NỘI DUNG........................................................................................................................7
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT.........................................................................................7 1.1
Khái niệm và đo lường lượng cung tiền..........................................................................7 1.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền....................................................................7 1.3
Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế...................8
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư....................................................................8
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng...............................................................8
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng..................................................................9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY
ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ........................................................................10
2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2021 –
2023...................................................................................................................................10
2.1.1. Cung tiền....................................................................................................10
2.1.2. Chính sách tiền tệ......................................................................................13
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.......27
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP.......................................................27
2.2.2. Tác động đến lạm phát...............................................................................28
2.2.3 Tác động đến thị trường tiền tệ lãi suất.....................................................29
2.2.4. Tác động đến tỷ giá và thị trường ngoại hối.............................................30
2.3. Một số nhận xét và đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam........................32
2.3.1. Những thành tựu nổi bật trong điều hành CSTT.....................................32
2.3.2. Một số tồn tại, khó khăn............................................................................35
C - KẾT LUẬN......................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................38 5 A - MỞ ĐẦU
Việt Nam trong những năm gần đây đã chứng kiến những biến động đáng kể về
mức cung tiền. Cung tiền được xem là một trong những công cụ quan trọng nhất của
chính sách tiền tệ. Mức cung tiền tệ và sự biến động của nó là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng tài chính của một quốc gia, tác động mạnh đến
hoạt động sản xuất, tiêu dùng, thương mại và đầu tư. Mức cung tiền tệ ảnh hưởng đến
mức độ lạm phát, sức mua, xuất khẩu, nhập khẩu, giá trị tiền tệ cũng như lãi suất, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế..Sự điều chỉnh hợp lý mức cung tiền không
chỉ ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất mà còn tác động trực tiếp đến tổng cầu và tăng
trưởng kinh tế. Trong thời gian làm bài thảo luận nhóm 4 chúng em còn nhiêu thiếu
sót, mong cô giúp đỡ và góp ý cho chúng em ạ. 6 B – NỘI DUNG
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm và đo lường lượng cung tiền
Khái niệm: là tổng lượng tiền trong lưu thông trong nền kinh tế, bao gồm: tiền
trong dân giữ, tiền trong hệ thống ngân hàng và tiền của cơ quan doanh nghiệp. Những
hình thức tiền này được quy định và được phép lưu thông trên thị trường theo quy định của Nhà nước.
Để đo lường lượng cung tiền, các nhà kinh tế học đã chia nó ra làm 3 khối:
Khối tiền M0 bao gồm toàn bộ tiền mặt và tiền xu được lưu thông trong quốc
gia hoặc vùng lãnh thổ mà nó trực thuộc. M0 không bao gồm lượng tiền được
gửi trong các hệ thống ngân hàng. Do M0 có thể thay đổi dễ dàng thông qua
việc gửi hoặc rút tiền mặt khỏi ngân hàng, nên nó ít được sử dụng để tính toán
nguồn cung tiền trong hệ thống tài chính.
Khối tiền M1 bao gồm tiền mặt được lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tài
khoản ngân hàng, séc. Đặc điểm chung của những loại tiền này là chúng có thể
sử dụng dễ dàng để thanh toán và dễ dàng quy đổi thành tiền mặt khi cần thiết.
Khối tiền M2 bao gồm M1 cùng với các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng,
chứng chỉ tiền gửi và một số loại hình gần tiền mặt khác. M2 có tính thanh
khoản thấp hơn M0 và M1.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức cung tiền
Có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới mức cung tiền:
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc
kiểm soát cung tiền thông qua các công cụ chính sách tiền tệ như hoạt động thị trườn
mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn.
Nghiệp vụ thị trường mở: là các hoạt động mua bán tài sản tài chính như cổ
phiếu, trái phiếu, tiền tệ và hàng hóa trên các sàn giao dịch. Những hoạt động này có
thể ảnh hưởng đến cung tiền thông qua các tác động lên lượng tiền mặt, tạo ra hoặc
phá hủy tài sản tài chính, từ đó làm tăng hoặc giảm cung tiền.
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng tính khi mua
lại hoặc chiết khấu một tài khoản công nợ hoặc giấy nợ từ một bên thứ ba trước khi nó
đáo hạn. Lãi suất chiết khấu có thể ảnh hưởng đến cung tiền như quyết định vay và
cho vay, hoạt động tài chính của doanh nghiệp, lưu thông tiền tệ, đầu tư và tiêu dùng. 7
1.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi mức cung tiền đến tổng cầu trong nền kinh tế.
1.3.1. Ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
Lãi suất: Khi ngân hàng trung ương tăng cung tiền, lãi suất thường giảm. Lãi
suất thấp hơn làm giảm chi phí vay mượn cho các doanh nghiệp. Điều này khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc, và công nghệ mới, từ đó
tăng cường năng lực sản xuất. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, lãi suất có thể tăng, làm
cho việc vay vốn trở nên đắt đỏ hơn. Doanh nghiệp có thể trì hoãn hoặc giảm quy mô
đầu tư, dẫn đến giảm tổng cầu.
Tâm lý thị trường: Mức cung tiền cao có thể tạo ra tâm lý lạc quan trong thị
trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, tâm lý tiêu cực có thể dẫn đến việc doanh nghiệp trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư.
Tín dụng và khả năng tiếp cận vốn: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng có nhiều
vốn hơn để cho vay, dẫn đến việc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tín dụng cho các
doanh nghiệp. Điều này có thể thúc đẩy đầu tư. Nếu cung tiền giảm, khả năng tiếp cận
tín dụng có thể bị hạn chế, làm giảm chi tiêu đầu tư.
1.3.2. Ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng
Thu nhập khả dụng: Khi cung tiền tăng, người tiêu dùng có thể nhận được
nhiều tiền hơn thông qua tăng lương, thưởng, hoặc tín dụng dễ dàng hơn. Điều này làm
tăng thu nhập khả dụng và khuyến khích chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền
giảm, thu nhập khả dụng có thể giảm, dẫn đến việc người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu.
Tâm lý tiêu dùng: Mức cung tiền cao có thể tạo ra cảm giác an toàn tài chính
cho người tiêu dùng, khuyến khích họ chi tiêu nhiều hơn. Họ có thể cảm thấy tự tin
hơn trong việc mua sắm lớn, như nhà cửa, xe cộ, và các sản phẩm tiêu dùng khác.
Nếu cung tiền giảm, người tiêu dùng có thể trở nên thận trọng hơn, dẫn đến việc giảm
chi tiêu và tiết kiệm nhiều hơn.
Tín dụng tiêu dùng: Khi cung tiền tăng, các ngân hàng có thể dễ dàng cung cấp
tín dụng tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng vay tiền để mua sắm. Điều này có thể
làm tăng chi tiêu tiêu dùng. Ngược lại, nếu cung tiền giảm, tín dụng tiêu dùng có thể bị
hạn chế, làm giảm khả năng chi tiêu của người tiêu dùng.
Thị trường cổ phiếu: Các quyết định của ngân hàng trung ương về việc điều
chỉnh cung tiền như giảm lãi suất sẽ tác động trực tiếp đến thị trường cổ phiếu. Thông
thường các chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ thúc đẩy thị trường cổ phiếu.
Khi mức cung tiền tăng giúp các nhà đầu tư có nhiều tiền hơn, có khả năng họ
sẽ tìm kiếm lợi nhuận từ những tài sản rủi ro, bao gồm cổ phiếu. Điều này có thể dẫn
đến sự gia tăng của giá cổ phiếu và ngược lại. 8
1.3.3. Ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng
Tỷ giá hối đoái: Khi cung tiền tăng, có thể dẫn đến việc đồng nội tệ giảm giá so
với các đồng tiền khác. Điều này làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn đối với
các nước khác, từ đó có thể làm tăng xuất khẩu.
Ngược lại, nếu cung tiền giảm, đồng nội tệ có thể tăng giá, làm giảm khả năng cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Nhu cầu toàn cầu: Sự thay đổi trong cung tiền cũng có thể ảnh hưởng đến nhu
cầu toàn cầu. Nếu nền kinh tế trong nước phát triển nhờ vào mức cung tiền cao, điều
này có thể dẫn đến việc tăng nhu cầu nhập khẩu, ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng. Chính sách thương mại:
Sự thay đổi mức cung tiền có thể ảnh hưởng đến chính sách thương mại của một quốc
gia. Nếu cung tiền tăng và nền kinh tế phát triển, chính phủ có thể có khả năng đầu tư
vào các chính sách thương mại thuận lợi, từ đó thúc đẩy xuất khẩu. 9
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CUNG TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA SỰ THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ.
2.1. Khái quát về cung tiền và chính sách và chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023.
2.1.1. Cung tiền
Cung tiền (M2) tại Việt Nam đã có những biến động đáng kể trong giai đoạn 2021-
2023, phản ánh sự điều chỉnh chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) trong bối cảnh kinh tế chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, phục hồi
kinh tế, và các yếu tố toàn cầu như lạm phát và căng thẳng địa chính trị.
Phân tích chi tiết theo từng giai đoạn
Năm 2021: Cung tiền M2 có mức tăng trưởng ổn định trong nửa đầu năm. Tuy
nhiên, sang nửa cuối năm, tốc độ tăng trưởng có phần chững lại. Mức cung tiền (M2)
tăng khoảng 10.7% do NHNN hạ lãi suất, bơm tiền vào nền kinh tế nhằm duy trì thanh khoản và kích cầu. Đơn vị Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Chỉ tiêu tính 1/2021 2/2021 3/2021 4/2021 5/2021 6/2021 7/2021 8/2021
9/2021 10/2021 11/2021 12/2021 Cung Tỷ
12,202, 12,228, 12,349, 12,465,0 12,558, 12,647, 12,692, 12,757, 12,879, 12,907, 13,040, 13,402, 10 tiền M2 VNĐ 217 211 750 12
573 703 256 648 090 567 842 097 (MoM) Tăng % 0.76 0.97 1.97 2.92 3.7 4.43 4.8 5.34 6.34 6.58 7.68 10.66 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2021: Tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, dao động trong khoảng
0.76% - 1.97%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2021: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
4.43% vào tháng 7. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2021: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức cao, cho
thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền. Điều này có thể là do các chính
sách hỗ trợ kinh tế sau đại dịch COVID-19, cũng như sự phục hồi của các
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định và mạnh mẽ của cung tiền M2 trong năm 2021 cho
thấy một số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ nới lỏng: Ngân hàng Nhà nước có thể đã áp dụng các chính
sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, dẫn đến việc tăng cung tiền.
Nhu cầu vốn tăng cao: Sự phục hồi của nền kinh tế và các hoạt động sản xuất
kinh doanh đã dẫn đến nhu cầu vốn tăng cao, kéo theo sự tăng trưởng của cung tiền.
Lạm phát: Việc tăng cung tiền quá nhanh có thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2021 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2022: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 có sự biến động khá lớn,
mức tăng trưởng cung tiền chỉ tăng vỏn vẹn 6.2%. Đây là một mức tăng trưởng
thấp hơn so với những năm trước đó, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
thận trọng hơn trong việc mở rộng cung tiền nhằm kiểm soát lạm phát trong bối
cảnh áp lực tăng giá toàn cầu và phục hồi kinh tế sau đại dịch . Việc tăng trưởng
cung tiền thấp hơn cũng là kết quả của chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, với các biện 11
pháp điều chỉnh lãi suất và kiểm soát tín dụng để duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiểm soát giá cả. Đơn vị
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Chỉ tiêu tính
1/2022 2/2022 3/2022 4/2022 5/2022 6/2022 7/2022 8/2022 9/2022 10/2022 11/2022 12/2022 Cung Tỷ
13,748, 13,644, 13,864, 13,871, 13,848, 13,908, 13,828, 13,761, 13,832, 13,815, 13,878, 14,226, tiền M2 VNĐ 740 750 061 751 264 338 044 019 397 145 503 792 (MoM) Tăng % 2.59 1.81 3.45 3.5 3.33 3.78 3.18 2.68 3.21 03.08 3.55 6.15 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2022: Tốc độ tăng trưởng khá ổn định, dao động từ 2.59% đến 3.45%.
Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2022: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng nhẹ, đạt mức cao nhất là
3.78% vào tháng 7. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc nhu
cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2022: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức khá cao, cho
thấy sự mở rộng của cung tiền. Điều này có thể là do các chính sách hỗ trợ kinh
tế, cũng như sự phục hồi của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhận định: Sự tăng trưởng ổn định của cung tiền M2 trong năm 2022 cho thấy một số điểm đáng chú ý:
Chính sách tiền tệ vẫn được duy trì nới lỏng: Mặc dù có sự điều chỉnh, nhưng
nhìn chung chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục hướng tới hỗ trợ phục hồi kinh tế và tạo
điều kiện cho tăng trưởng tín dụng.
Nhu cầu vốn ổn định: Nền kinh tế đã có những dấu hiệu phục hồi sau đại dịch,
dẫn đến nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và hộ gia đình vẫn ở mức cao.
Áp lực lạm phát: Việc tăng cung tiền liên tục có thể gây áp lực lên lạm phát. Tuy
nhiên, mức độ lạm phát thực tế trong năm 2022 cần được theo dõi chặt chẽ để
đánh giá tác động của việc tăng cung tiền.
Năm 2023: Tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 có xu hướng tăng trở lại gần
mức 12.5%. Đặc biệt, cung tiền ở Việt Nam đã tăng vọt trong những tháng cuối năm
cùng với chính sách thúc đẩy tín dụng của NHNN. Số liệu cho thấy, chỉ trong quí cuối 12
năm 2023, cung tiền tăng hơn 800.000 tỉ đồng, gần bằng cả chín tháng đầu năm cộng
lại, tăng 15% so với đầu năm 2023. Đơn Chỉ vị
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng tiêu
tính 1/2023 2/2023 3/2023 4/2023 5/2023 6/2023 7/2023
8/2023 9/2023 10/2023 11/2023 12/2023 Cung Tỷ
14,339, 14,272 14,415, 14,470, 14,517,8 14,754, 14,640, 14,801, 15,026, 15,074, 15,354, 15,998, tiền M2 VNĐ 502 ,184 021 593 32 221 943 154 012 263 119 956 (MoM) Tăng % 0.79 0.32 1.32 1.71 02.05 3.71 2.91 04.04 5.62 5.96 7.92 12.46 trưởng Cung tiền M2 (YoY)
-Quý I/2023: Tốc độ tăng trưởng khá ổn định, dao động từ 0.79% đến
1.71%. Điều này cho thấy nền kinh tế đang duy trì một mức độ ổn định nhất định.
-Quý II/2023: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng lên, đạt mức cao nhất là
3.71% vào tháng 6. Điều này có thể là do các yếu tố kích thích kinh tế hoặc
nhu cầu vốn tăng cao trong giai đoạn này.
-Quý III và IV/2023: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức khá cao, đặc
biệt là trong quý IV, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao nhất trong năm là
12.46%. Điều này cho thấy sự mở rộng mạnh mẽ của cung tiền trong giai đoạn cuối năm.
Kết luận: Dựa trên biểu đồ, chúng ta có thể thấy rõ rằng cung tiền M2 ở Việt
Nam liên tục tăng trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến 2023. Điều này cho thấy
lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế ngày càng tăng. Mặc dù có xu hướng tăng
chung, nhưng tốc độ tăng trưởng của cung tiền M2 lại không đồng đều qua các tháng.
Có những thời điểm tăng trưởng mạnh, nhưng cũng có những thời điểm tăng trưởng
chậm lại hoặc thậm chí có sự điều chỉnh giảm nhẹ.
2.1.2. Chính sách tiền tệ 2.1.2.1. Năm 2021
Làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư trong năm 2021 với biến thể Delta đã ảnh
hưởng nặng nề đến kinh tế trong nước. Trước bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã kịp
thời chỉ đạo ban hành các quyết sách hỗ trợ, đảm bảo an sinh xã hội. Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (NHNN) linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) và chỉ đạo hệ
thống ngân hàng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, duy trì vốn cho sản
xuất, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn 13
định kinh tế vĩ mô. Lãi suất cho vay nền kinh tế giảm đáng kể, nhu cầu tín dụng của
nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Khách hàng gặp khó khăn tiếp tục được hỗ
trợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay; người lao động phải ngừng việc do
dịch bệnh đã được trả lương từ chương trình cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH)… Việc phổ quát vắc-xin giúp tái mở cửa,
nhưng quá trình phục hồi kinh tế còn nhiều bất trắc trước biến thể Omicron mới và áp
lực lạm phát. NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo hệ thống ngân hàng hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn
cho doanh nghiệp, người dân, đồng thời chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách
tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát. Bối cảnh năm 2021:
Năm 2021, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến nguy hiểm và phức tạp với biến
chủng Delta, khiến tiến trình phục hồi kinh tế phân hóa rõ rệt giữa các nước phát triển
đã phổ quát vắc-xin với các nước đang, kém phát triển có tỷ lệ tiêm vắc-xin mức thấp.
Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (10/2021) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021
đạt 5,9%, được dẫn dắt bởi các nền kinh tế phát triển như Mỹ, châu Âu. Tình trạng đứt
gãy chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục là lực cản, đẩy giá hàng hóa cơ bản (lương thực,
thực phẩm, năng lượng) và chi phí sản xuất tăng cao. Lạm phát tăng cao kỷ lục tại
nhiều nước trong nhiều thập kỷ trở lại đây, trong khi phục hồi kinh tế còn chưa vững
chắc. Xu hướng thu hẹp nới lỏng CSTT, tăng lãi suất trở thành chủ đạo để ứng phó với
nguy cơ lạm phát và rủi ro bất ổn tài chính. Tính đến cuối tháng 12/2021, đã có tổng
cộng 113 lượt tăng lãi suất trên toàn cầu.
Trong nước, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư tác động nghiêm trọng đến
mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội; giãn cách xã hội, chuỗi cung ứng đứt gãy, tỷ lệ thất
nghiệp gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp thiếu hụt lao động… đã bào mòn sức
chống chịu của doanh nghiệp, người dân, tạo gánh nặng lớn lên hệ thống an sinh xã
hội. Trong bối cảnh đó, mục tiêu bảo vệ sức khỏe Nhân dân được Đảng và Nhà nước
ưu tiên trước hết và trên hết; với sự phối hợp nhịp nhàng của các chính sách kinh tế vĩ
mô và an sinh xã hội kịp thời, đồng bộ nên mặc dù bị tác động nghiêm trọng từ đại
dịch Covid-19 nhưng tăng trưởng kinh tế năm 2021 vẫn đạt 2,58%, lạm phát được
kiểm soát ở mức 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016.
CSTT và hoạt động ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua đại dịch Covid-19
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngay từ đầu năm, NHNN đã chủ
động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu
quả các giải pháp điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK) 14
và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng
thời triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh
nghiệp và người dân; phù hợp với đặc thù và tính chất cấp bách của tình hình trong nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện
để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp ứng đầy
đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa tiền
đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời, hàng ngày
NHNN chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ
thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên ngân hàng giảm xuống và
duy trì ở mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo
điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định hướng để
mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất
điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm, là một trong những ngân hàng trung ương
(NHTW) giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực. Trong năm 2021, NHNN duy trì
các mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền
tệ. Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình quân
của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm và 0,81%/năm so với cuối năm 2020
sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay bình quân đối với
các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ là 4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu sản xuất,
kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với
các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng trên cơ sở chỉ tiêu định hướng từ đầu
năm, và linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phức tạp, khó lường của dịch
Covid-19. Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài
chính, quản trị điều hành, có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp
thời hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn,
hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt
chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với tín dụng 15
tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng
ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen.
Trên cơ sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn năm 2020, kịp thời
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với
cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng
11,85% so với cuối năm 2019 và tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019). Cơ cấu tín
dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; 4/5 lĩnh
vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 20201, hỗ trợ
tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ
trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng
dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động
sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ. NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát
cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT. Trong khi xu hướng
rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong
khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm 9,7%, Ringgit Malaysia giảm
2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định.
Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm
2020. Thanh khoản ngoại tệ trên thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp
của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
Thứ năm, triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh
hưởng bởi dịch Covid-19.
Bên cạnh việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, NHNN chỉ đạo TCTD
đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân, triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ
khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh; liên tục rà soát, chỉnh sửa để các biện pháp,
chính sách hỗ trợ ngày càng thiết thực hơn, dễ tiếp cận và đi vào đời sống hơn, cụ thể:
- Kịp thời sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 cho
phép TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ
nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (Thông tư số
03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021 và Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày
07/9/2021) qua đó mở rộng quy mô, phạm vi đối tượng áp dụng các biện pháp
hỗ trợ, kéo dài thời gian hỗ trợ đến tháng 6/2022. Đến ngày 20/12/2021, hệ
thống TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 775.000 16
khách hàng, lũy kế giá trị nợ được cơ cấu từ ngày 23/01/2020 khoảng 607.000
tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho 2 triệu khách hàng với dư nợ 3,87 triệu tỷ
đồng; cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước đại dịch Covid-19 với doanh
số lũy kế từ ngày 23/01/2020 đạt trên 7,4 triệu tỷ đồng cho hơn 1,3 triệu khách hàng.
- Hỗ trợ người sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người lao động.
NHNN cho vay tái cấp vốn với lãi suất 0%/năm, không tài sản bảo đảm đối với
NHCSXH để cho vay người sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người
lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, hàng nghìn lượt người lao
động đã được hỗ trợ trả lương trong thời gian ngừng việc từ các chương trình
cho vay này, theo đó đợt hỗ trợ thứ nhất (kết thúc vào ngày 31/01/2021) có 245
người sử dụng lao động vay để trả lương ngừng việc cho 11.276 người lao
động; đợt hỗ trợ thứ hai được tích cực triển khai kể từ tháng 7/2021, đến
27/12/2021 có 2.311 đơn vị sử dụng lao động vay để trả lương cho 527.309 lượt người lao động.
- Tháo gỡ khó khăn cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines -
VNA) theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: NHNN
đã ban hành các quyết định tái cấp vốn tối đa 4.000 tỷ đồng cho 03 TCTD sau
khi các TCTD này cho VNA vay; đến ngày 27/12/2021, NHNN đã giải ngân tái
cấp vốn 3.862,6 tỷ đồng đối với 03 TCTD này.
- Tiếp tục thực hiện các chương trình miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho
người dân, doanh nghiệp với tổng số phí dịch vụ thanh toán mà NHNN và
Napas giảm để hỗ trợ nền kinh tế trong năm 2021 khoảng 1.557 tỷ đồng. Nhờ
đó, TCTD tiếp tục giảm, miễn phí dịch vụ thanh toán cho khách hàng; tăng
cường các ứng dụng chuyển đổi số, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt,
theo đó, bên cạnh các phương thức thanh toán qua POS, ATM, chuyển khoản,
Internet, mã QR thì từ năm 2021, NHNN tiếp tục cho phép các ngân hàng mở
tài khoản trực tuyến thông qua công nghệ eKYC, triển khai thí điểm dùng tài
khoản viễn thông thanh toán hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money)...
Kết quả điều hành CSTT cùng với các động thái hỗ trợ chủ động, kịp thời trên
đây thể hiện sự đồng hành, sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối
cảnh khó khăn chung của đại dịch Covid-19, khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng
phải đối mặt với nhiều rủi ro do đại dịch gây ra như khả năng trả nợ của doanh nghiệp, 17
cá nhân và hộ gia đình suy giảm, tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, chi phí trích lập dự
phòng rủi ro gia tăng. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng vừa
đảm bảo cung cấp vốn đủ và kịp thời phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế, vừa đảm bảo
hoạt động của chính hệ thống ngân hàng an toàn, ổn định, bền vững. 2.1.2.2. Năm 2022
Trong bối cảnh thế giới năm 2022 đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, kinh tế
Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục
được củng cố; lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu 4%, tăng trưởng kinh tế cả năm
dự kiến ở mức khoảng 8%.
Ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ đã góp phần cải thiện xếp hạng
tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, giúp Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của
dòng vốn đầu tư quốc tế. Đáng chú ý, bất chấp môi trường toàn cầu và trong nước đầy
thách thức, Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong
khu vực. Điều này là nhờ những nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đến nay đã điều hành linh hoạt các chính sách tiền
tệ và tỷ giá để vượt qua các “cơn gió ngược” bên ngoài và trong nước.
Bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu
Có thể thấy, 2022 là một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế toàn cầu; là năm
mà kinh tế thế giới và trong nước khó khăn hơn rất nhiều so với đánh giá, dự báo trước
đó. Diễn biến của đại dịch Covid-19 phức tạp, xung đột Nga - Ukraine và những hệ
quả như gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, giá cả các hàng hóa nguyên vật liệu tăng
cao, làm tăng áp lực lạm phát toàn cầu. Để kiềm chế lạm phát và bảo vệ sự ổn định tài
chính, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng tốc thắt chặt chính sách tiền tệ
thông qua tăng lãi suất, nhất là việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Fed) tăng lãi suất
mạnh đã dẫn đến sự tăng giá mạnh của đồng USD so với nhiều loại tiền tệ khác.
Điều này đã tạo ra những áp lực lớn lên tỷ giá, lãi suất các đồng tiền, nhất là các
nền kinh tế nhỏ có độ mở lớn như Việt Nam. Đồng thời, cũng đặt Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam vào thế khó, vừa phải cố gắng hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, vừa
buộc phải giải quyết lạm phát chi phí đẩy do các sự kiện và cú sốc bên ngoài gây ra...
Trong bối cảnh đó, việc điều hành “room” tín dụng, thắt chặt chính sách tiền tệ, và nới
rộng biên độ giao dịch tỷ giá hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được
đánh giá là rất kịp thời, góp phần làm giảm lạm phát, duy trì ổn định và phục hồi kinh tế. 18
Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát năm
2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế và trong nước
ghi nhận, là điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, là việc nới biên độ tỷ giá đã phần nào
tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài và người
dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên cơ sở cung cầu thị trường. Đến thời điểm
gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.
Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã tăng hơn 7%, và tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 9%. Sự chênh
lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các
doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái
này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng tiền trên thế giới so với USD và
thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ và ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm giá của VND.
Từ đầu năm đến nay, VND vẫn là đồng tiền có hiệu suất cao nhất so với các
đồng tiền khác trong khu vực. Điều này đã góp phần làm giảm lạm phát nhập khẩu và
là một trong những yếu tố giúp lạm phát ở Việt Nam được kiểm soát tốt cho đến nay”,
Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, Chủ tịch Nhóm Công tác
Ngân hàng (BWG - thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam VBF) - bà Michelle Wee
đã nhận định về công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như vậy.
Cùng với tỷ giá, chính sách lãi suất, tín dụng linh hoạt trong bối cảnh nhiều
thách thức cũng là kết quả đáng ghi nhận. Việc tăng lãi suất đã góp phần kiểm soát lạm
phát, ổn định nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ ổn định tỷ giá.
Hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế
Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho
những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, yêu cầu các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn hoạt
động. Bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho người dân, doanh nghiệp, nhất là đối
với các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ. Đáng chú ý, sau một thời gian dài
kiên định với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, thời điểm khi chỉ còn ba tuần nữa sẽ
kết thúc năm 2022, khi nhận thấy tác động của tình hình thế giới đối với Việt Nam dịu
bớt, nhiều chỉ tiêu vĩ mô đã cho thấy những dấu hiệu rất tích cực,... Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã quyết định nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thêm từ 1,5 - 2% cho
toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều này đã tạo dư địa khá lớn để các ngân hàng thương mại có khả năng mở
rộng tín dụng cho những doanh nghiệp, đối tượng, lĩnh vực cần thiết trong nền kinh tế. 19
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thường xuyên chỉ đạo hệ thống các tổ
chức tín dụng tích cực tham gia vào các chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ,
nhất là gói hỗ trợ lãi suất thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội,
chuyển đổi số ngành ngân hàng, tài trợ chống biến đổi khí hậu,... 2.1.2.3. Năm 2023
Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một
mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với
lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên
bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao và kéo dài đến hết năm 2023. Vì vậy, độ trễ
của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt Nam còn lớn, nên điều hành chính sách
tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
Để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thì tín
dụng, lãi suất, tỷ giá, các giải pháp, công cụ chính sách tiền tệ khác sẽ được Ngân hàng
Nhà nước điều hành rất đồng bộ, linh hoạt nhưng không xa rời mục tiêu kiểm soát lạm
phát, trên tinh thần thấm nhuần quan điểm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Mục tiêu quan trọng nhất của điều hành chính sách tiền tệ năm 2023 là ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, còn cách thức, công cụ điều hành thì rất linh hoạt,
tùy từng thời điểm thị trường để tùy cơ ứng biến. Điều hành chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước trong năm 2023, một mặt tiếp tục hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng
kinh tế, nhưng mặt khác không chủ quan với lạm phát trong bối cảnh áp lực lạm phát
toàn cầu, mức lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) còn tiếp tục neo cao và
kéo dài đến hết năm 2023. Vì vậy, độ trễ của tác động lạm phát nhập khẩu đối với Việt
Nam còn lớn, nên điều hành chính sách tiền tệ không thể chủ quan với các rủi ro này.
2.2. Đánh giá tác động của sự thay đổi cung tiền đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
2.2.1 Tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP
Dựa vào biểu đồ cung tiền ta có thể thấy :
Năm 2021: Chính phủ và NHNN đã áp dụng biện pháp nới lỏng tiền tệ để hỗ
trợ nền kinh tế trong bối cảnh các hoạt động kinh doanh ngừng trệ. Bao gồm việc giảm
lãi suất và tăng cung tiền. Q1-Q2/2021: Cung tiền tăng mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp
và người dân bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Tuy nhiên, GDP vẫn tăng trưởng chậm do
các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt cụ thể GDP tăng 4,48%. Tuy nhiên, tăng trưởng
vẫn còn thấp so với tiềm năng do ảnh hưởng của dịch bệnh kéo dài. Đặc biệt là trong
quý III/2021 nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp giãn cách xã hội, tăng
trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 2,58%, thấp nhất trong nhiều năm. Q4/2021: Sau
khi tình hình dịch bệnh dần được kiểm soát và các biện pháp phong tỏa được nới lỏng, 20