TRƯỜNG ĐẠ ỌC THƯƠNG MI H I
KHOA KINH DOANH QU C T
THO LUN
HC PHN: LCH S NG C NG S N VI T NAM ĐẢ
ĐỀ TÀI: TÌM HIU V NẠN ĐÓI NĂM 1945 CHỦ TRƯƠNG
CỦA ĐẢ ĐÔNG DƯƠNG VỀNG CNG SN GII QUYT NN
ĐÓI NĂM 1945. LIÊN HỆ THC TI N CÔNG TÁC H TR
ĐỒNG BÀO GẶP KHÓ KHĂN DO THIÊN TAI, DỊ ỆNH,… ỞCH B
MỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA
Lp hc phn: 241_HCMI0131_11
Nhóm: 2
GVHD: TS. Hoàng Th Th m
Hà N i 10/2024
2
BNG PHÂN CÔNG NHIM V NHÓM 2 VÀ ĐÁNH GIÁ
STT H và tên Nhim v Điểm
16 Dương Ngọc Bích 2.2
22 Vũ Thị Phương Dung 3.2
23 Đỗ Phương Duy 2.3
24 Cao Th Thùy Dương Thuyết trình
25 Ch Th Ánh Dương 3.1
26 Lê B ạch Dương
(Nhóm trưởng)
Tng h p Word + M u + K t lu n đầ ế
27 Nguyễn Thùy Dương 3.2
28 Nguyễn Tùng Dương 3.1
29 Vũ Tùng Dương 3.2
30 Nguyễn Văn Được 3.1
32 Hà Th Hương Giang 2.1
33 Lê Hương Giang 1.3
34 Nguyễn Hương Giang 2.3
35 Vũ Thị Hương Giang Powerpoint
95 Nguyn Th Thu Uyên Thuyết trình
96 Đàm Hồng Vân 1.1,1.2
3
MC L C
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................................... 4
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 ............................................... 6
1.1. B i c nh l ch s .................................................................................................... 6
1.1.1 B i c nh l ch s th gi ế i ................................................................................. 6
1.1.2. B i c nh l ch s Vi t Nam ............................................................................ 6
1.2. Nguyên nhân d n nn đế n đói năm 1945 ............................................................ 7
1.2.1. Nguyên nhân tr c ti ếp .................................................................................. 7
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp .................................................................................. 8
1.3 Th c tr ng và h u qu c a n ạn đói năm 1945 .................................................... 9
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GIẢI
QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945 .................................................................................... 12
2.1. Ch trương của Đả n Đông Dương về ạn đói năm 1945ng Cng s gii quyết n
................................................................................................................................... 12
2.1.1. Ch trương trước mt ................................................................................ 12
2.1.2. Ch trương lâu dài ..................................................................................... 13
2.2 Quá trình tri n khai Ch trương của Đả ản Đông Dương vềng Cng s gii
quyết nạn đói năm 1945............................................................................................ 14
2.2.1 Ch trương cứu đói trước mt .................................................................... 14
2.2.2 Ch trương lâu dài ...................................................................................... 16
2.3 Đánh giá v trương của Đả ủa Đả ản Đông Dương về Ch ng c ng Cng s gii
quyết nạn đói năm 1945............................................................................................ 18
2.3.1 Thành công................................................................................................... 18
2.3.2 H n ch ế......................................................................................................... 19
2.3.3 Bài hc .......................................................................................................... 20
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN......................................................................... 23
3.1 Công tác h tr t t lũ l ỉnh Hà Tĩnh năm 2020 .................................................. 23
3.2 Công tác h tr quét, sạt l đất ti tnh Hà Giang ........................................ 33
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 45
4
DANH M C T VI T T T
Ký hi u T
NXB Nhà Xu t B n
UBND y Ban Nhân Dân
LHPN Liên Hi p Ph N
HĐND Hội Đồng Nhân Dân
5
LI M ĐẦU
Đã 80 năm đã trôi qua, nhưng nạ đói nămn t Du (1945) vn là mt ký c kinh hoàng
trong m trí ngườ ọa này đã cướp đi sinh mại dân Vit Nam. Thm h ng c u a hơn 2 triệ
người, tương đương 1/10 dân số lúc b y gi ờ, để li nỗi đau không dễ nguôi ngoai. Nguyên
nhân không ch do thiên tai, mà còn do chính sách cai tr tàn b o c a th c dân Pháp và phát
xít Nh t, d n s suy ki t nghiêm tr ng v c tình c ng C ng ẫn đế lương thực. Trướ ảnh đó, Đả
sản Đông Dương đã kị ời đưa ra nhữp th ng ch trương và chính sách đúng đn nhm ng
phó vi n nh i s ng th i t o n n t ng cho cu u tranh ạn đói, ổn đị đờ ống nhân dân, đồ ộc đấ
giành độc lp dân tc sau này.
Dù đã qua nhiều th p k , nh ng ch trương đó vẫn gi nguyên giá tr khi đất nước ph i
đối mt vi nhiu thách thức như thiên tai, dịch b nh và bi ến đổi khí h u. Các bi n pháp h
tr người dân nh ng vùng g ặp khó khăn đã được trin khai m t cách k p th i, th hi n rõ
vai trò của Nhà nướ ền địa phương và các tổc, chính quy chc xã h i trong vi m b o an ệc đả
sinh, kh c ph c h u qu do thiên tai và d ch b nh gây ra.
T đây ta nhậ ấy đượn th c vic nghiên c u n a ạn đói năm 1945 cùng các chính sách c
Đả ng trong thi k đó không chỉ u hơn về ột giai đoạ đầy đau giúp ta hi m n lch s
thương, còn cung cấp nhiu bài hc quý báu cho công tác h tr người dân gp khó
khăn ới lý do đó, nhóm hai đã tiếtrong bi cnh hin nay. V n hành nghiên c tài ứu đề “Tìm
hiu v n ng C ng s gi i quy t ạn đói năm 1945 Chủ trương của Đả ản Đông Dương về ế
nạn đói năm 1945. Liên hệ thc tin công tác h tr đồng bào gặp khó khăn do thiên tai,
dch b nh,... m ột vài địa phương trong thời gian qua”.
6
CHƯƠNG 1: TỔ ẠN ĐÓI NĂM 1945NG QUAN V N
1.1. B i c nh l ch s
1.1.1 B i c nh l ch s th gi ế i
Ngày 1-9- c t c Ba Lan. Chi n tranh th gi i l n th 1939, phát xít Đứ ấn công vào nư ế ế
Hai bùng n . u cu c chi n tranh gi a 2 t qu c, Ý, Nh t và Anh, Lúc đầ ế ập đoàn đế ốc: Đứ
Pháp, M . T ngày 22-6-1941 tr n tranh di n ra gi đi, chiế a th lế c phát xít Đức, Ý, Nht
vi các l ng dân ch ch ng Minh do Liên Xô là tr c t). ực lượ ống phát xít (phe Đồ
Tác động ca chiến tranh thế gii th Hai làm cho phong trào gii phóng dân tc phát
trin v i m c tiêu chung ch ng ch nghĩa phát xít. Thực dân Pháp li n nh y vào vòng chi n, ế
kéo theo các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương vào cảnh nước sôi l a b ỏng. Để ph c
v cho cuc chiến tranh phi nghĩa của chúng, thc dân Pháp thi hành nhiu chính sách cc
k ph i vản động đố ới nhân dân Pháp và nhân dân các nướ ộc địc thu a ca Pháp.
châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật đẩ ạnh quy mô xâm lưy m c Trung Quc.
Đế quc Nht Bn b u c tiắt đầu bành trướng và coi Đông Dương như ầu" để ến qua
Nam Á hòng kh ng ch Trung Qu c. B ế ởi khi đó, tuyến đường st Hi Phòng-Vân Nam
được coi con đườ ận đượ Đông Dương, ng duy nht Trung Quc nh c vin tr t M.
thc dân Pháp ti n hành phát xít hóa b máy cai tr t ng th i, ế Trung ương đến sở; đồ
th tiêu m i quy n dân sinh, dân ch , th ng, kh ẳng tay đàn áp phong trào cách mạ ng b ,
bt giam nhi ng Cều đảng viên Đ ng s n ản Đông Dương và những người liên quan đế
Cng s n, làm cho mâu thu n gi a nhân dân Vi t Nam v i th c dân Pháp càng thêm gay
gt.
Tháng 6-1940 chính qu c. Tháng 9-1940, phát xít ốc, nước Pháp đầu hàng phát xít Đứ
Nht xâm chi t. Phát xít Nh t, ếm Đông Dương, thực dân Pháp dâng Đông Dương cho Nhậ
thc dân Pháp c u k t v i nhau áp b ế c, bóc lột nhân dân Đông Dương và lập căn cứ quân
s chng l ng Minh ại phe Đồ Đông Nam Á.
1.1.2. B i c nh l ch s Vi t Nam
Trước chiến tranh thế gii th t Nam thu a c 2, Đông Dương trong đó Vi ộc đị a
thc dân Pháp. Khi chi n tranh n ra, Pháp thi hành chính sách th i chi n, phát xít hóa bế ế
máy th ng tr ; th c hi ện chính sách tăng cường vét sức người, s c c a t ại các nước thu c
địa để ến tranh đế phc v cuc chi quc.
Tháng 9 năm 1940, Nhật ti n vào mi n B c Vi t Nam, gây áp l c lên chính quy n Pháp ế
để giành quyn kim soát. Ngày 23/9/1940 t i Hà N i, Pháp kí hi u hàng phát xít ệp định đầ
Nht. T đó, Việt Nam b cun vào cu c chi n tranh khi Pháp Nh t tranh ch p quy n ế
kim soát kinh t ng ch u c t c c, bóc l t c a Pháp - Nh t. ế, h ảnh “mộ hai tròng” áp bứ
7
Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng lot các yêu sách
đánh vào nền kinh t ế như: buộc thc dân Pháp ph i ký k t nhi u hi ế ệp ưc yêu c u cung c p
lương th ật hàng năm; cấ ển lương thực, giao np lúa, go cho Nh m vn chuy c t Nam ra
Bc, h n ch chuyên ch t ế do, b i dân nh lúa tr ng tr ng l c. ắt ngườ ồng đay, dành ruộ
Năm 1945, Chiế Hai bước vào giai đoạn tranh thế gii th n kết thúc. Vit Nam, phát xít
Nht tìm cách h t c ng th ng chính sách xâm chi m, bóc l t nhân dân ực dân Pháp tăng cườ ế
ta nh m ph c v cho chi n tranh c a chúng. Nh ng chính sách cùng tàn b o c a phát ế
xít Nh t và th n n m tr ng, tàn kh c nh t trong l ch s Vi t ực dân Pháp đã dẫn đế ạn đói trầ
Nam khi ng bào ta chến cho hơn 2 triệu đồ ết đói và để cho đế li hu qu n ngày nay.
Tháng 8/1945, Cách m c Vi t Nam dân ch c ng ạng Tháng Tám thành công, Nhà
hoà mới ra đời đã phải đương đầ ới bao khó khăn, thửu v thách rt nghiêm tr ng. Chính
quyn cách mạng chưa kinh nghiệ ựng đất nướ ực lượng vũ m t chc, qun lý, xây d c; l
trang còn quá nh bé, trang b v i nh c bi t n n kinh t c c ững khí thô . Đặ ế ủa đất nướ
vốn đã nghèo nàn, lạ ật vơ vét xác xơ, chiếc hu, li b Pháp-Nh n tranh tàn phá. Tính mng
ca hàng vạn con người đang trông chờ vào nh ng bi n pháp nh m y lùi n a đẩ ạn đói củ
Đảng và chính quyn cách mng.
1.2. Nguyên nhân d n nẫn đế ạn đói năm 1945
1.2.1. Nguyên nhân tr c ti ếp
Th nh o c a phát xít Nhất, là chính sách vơ vét thóc g t và thc dân Pháp lúc b y gi
Các cườ ốc đang chiếm đóng Việt Nam như ng qu Pháp, Nht Bn vì m c v ục đích phụ
chiến tranh nên đã lạm d ng và khai thác quá s c vào n n nông nghi p v c h ốn đã lạ ậu, đói
kém và t đó gây ra nhiều tai h a làm ng x n sinh ho t kinh t c ảnh hưở ấu đế ế ủa người Vit.
Nguyên nhân t Nh t B n.
Quân Nh t c m v n chuy n lúa t mi n Nam ra B c tránh vi c b tu n qua ệc lương thự
Trung Quốc, cũng cấ ứu đói do gạ ải được ưu tiên m luôn vic m kho go c o trong kho ph
cho lính Nh t. Máy bay c ủa quân Đồng Minh đã cho phá hủ ục đườy các tr ng s t t Hu tr ế
ra Nam, phong t a c đườ ng bin khiến vic vn chuy c tển lương thự min Nam ra mi n
Bc không thc hi c. ện đượ
Bên cạnh đó, chính sách vét thóc ạo tăng vọt. Năm min Bc khiến giá thóc, g
1943, m t t g o giá chính th ng, giá ch ức là 31 đồ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40
đồng, giá ch đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng
còn giá ch 700- ng. Giá g đen từ 800 đồ ạo "phi nước đạ ến người dân không đủi" khi sc
mua, ph i ch u c nh ch ết đói.
Nguyên nhân t Pháp
8
Sau kh ng ho ng kinh t toàn c ế ầu năm 1930, Pháp quay lại vi chính sách b o h m u
dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường li thc dân. Pháp vì mục đích chiến
tranh đã lạm d ng và khai thác quá m c vào n n nông nghi p v ốn đã lạc hu c a Vi t Nam.
Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc go v tp trung các kho riêng, ly c
là để tiếp tế cho quân đội Nh t. H t ép bu c mua r c a dân quê Pháp l i mua thóc, ngô v i ế
giá cao. Lúa th a mi n Nam ch t ch t than thay c i các nhà ứa đầy kho Pháp đem đố
máy điệ là trướ ột nướ ậu đói n. Hu qu c thế gii th hai, Vit Nam vn ch m c lc h
nghèo so v i nhi u qu c gia châu Á khác. H th ng thu n a th c dân n a phong ki n ế ế
khiến cho các h nông dân ph i bán g n hết lương thực được để ến đa s np thuế khi
nông dân không còn lương thực d tr.
Giữa năm 1940 Pháp bị Đức chiếm và Nh t B ản dùng vũ lự ếm đóng c loi b Pháp chi
Vit Nam r i th c hi n các bi n pháp kh c li ệt hơn nhằm mục đích khai thác phục v chiến
tranh (b t dân nh lúa tr c dân bán g ồng đay, bu o vi giá r , thu h p di n tích canh tác,..)
Th hai, là do thiên tai, m t mùa,
Thi ti t ng nghiêm tr n s n xu c t i mi n B c. Mùa màng b ế ảnh hưở ọng đế ất lương thự
hn hán côn trùng phá ho i khi n s ng v xuân t m s t ế ản lượ đông năm 1944 giả
khong 20% so v i thu ho t tr t kh ng khi p ạch năm trước. Sau đó vào tháng 8, mộ ận lụ ế
gây v m, gây ng p 11 t nh v i t ng di n tích 312.000 ha ng t i cu c đê tại 79 điể ảnh hưở
sng c a 4 tri ệu người… Sau cơn lũ, bệnh dch t lây lan nhanh và r ng kh p m ọi nơi cộng
vi vi c không có thu c khi n n nên tr m tr ng. ốc men, lương thự ế ạn đói ngày càng trở
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp
Các th lế c phong ki n, th c dân áp dế ụng chính sách sưu thuế nng t nhi ều năm trước
đó đố ới người v i nông dân Vi t Nam. Cách th c thu thu s d ng m nh bi n pháp tra t n, ế
đánh đập, b t bu ộc người nông dân ph i n ộp đủ, không mi n gi ảm đối v i các h đói nghèo,
khiến cho nông dân ph i bán tài s n ho ặc lương thực để nên không có lương thự np thuế c
d tr .
Trong khi lúc này, l ng cách m ng c ng C ng s n Vi t Nam còn non tr , ực lượ ủa Đ
chưa giành đượ ền, chưa tự ế, chưa giải phóng được chính quy ch được v kinh t c nhiu
ruộng đất và ngườ ỏi ách đô hội dân kh ca thc dân, phong ki s c ến, phát xít nên chưa đ
để h tr, c ng bi ng quân sứu đói cho người dân… Nhữ ến độ và chính tr dn dp xy ra
như vậy đã ảnh hưở ực đế ất lương th ốn dĩ đã thiếng tiêu c n sn xu c ca min Bc v u go
li càng tr nên thi ếu hơn.
Nht B u tham chi n trong Chi n tranh Th gi i thản Pháp đề ế ế ế hai, bi n Vi t Nam ế
thành sân sau cung c ph c v cho các n l c chi n tranh c a h . ấp lương thực để ế
9
1.3 Th c tr ng và h u qu c a n ạn đói năm 1945
Nạn đói năm t Du k th c b u t kho ắt đầ ảng tháng 10 năm 1944, nạn đói kéo dài
sang n th c s ch m d t khi mà phong trào cách m ng gi i phóng ửa đầu năm 1945 và ch
dân t ng C ng s n Vi t Nam và Ch t ch H nh cao ộc do Đ Chí Minh lãnh đạo lên đến đỉ
và giành đượ ợi vào tháng 8 năm 1945.c thng l
Trong cu ch s ng C ng s n Vi t Nam - T p 2 nhà xu t b n ốn sách “Lị biên niên Đ
Chính tr qu ốc gia phát hành năm 2008 ghi: Do chính sách vét của đế quc phát xít
Pháp - Nh t các cu c ném bom c n s c - Nam do ủa Đồng minh ngăn ch thông thương B
mt mùa t cu m tr n ra 32 t nh B c ối năm 1944 đến đầu năm 1945 nạn đói tr ọng đã diễ
K B c Trung K t Qu ng Tr tr ra tr m là các t ng b t p ọng điể ỉnh đồ ằng nơi dân s
trung đông có nhiề ộng như Thái Bình,Nam Đị ải Phòng, Thanh Hóa,.... Đây là nạu ru nh,H n
đói khủ các địa phương bị ạn đói ng khiếp nht trong lch s dân tc ta. Theo thng kê t n
hoành hành, ch trong th i gian ng n, nạn đói đã cướp đi sinh mng c a 2 tri ệu người, bng
1/10 dân s Vi t Nam lúc b y gi .
Đế quc Nht Bn khi vừa đặt chân đến Đông Dương vào tháng 10/1940 chúng đã thi
hành hàng lo t các chính sách n kinh t . Bao g m: Bu c Pháp ký các hi c đánh vào nề ế ệp ướ
liên quan t i cung c ấp lương thực, giao n p lúa g ạo định k hàng năm, cấm vn chuyn lúa
go thc ph m t Nam ra B c, ki m soát h n ch vi c chuyên ch t do ch c ch ế đượ
tối đa 50kg gạ ỉnh. Trong khi đó, h ấp lương thựo trong mt t thng cung c c t min Nam
ra mi n B c b t gãy do M m bom làm h ng h th ng s ng b đứ ống đườ t đườ
tuyến 17. Đi kèm với chính sách cm vn chuyn lúa go t Nam ra Bc thì bn Nht còn
ra s ng h t thóc mi n B c khi n giá thóc g g o ức vơ vét từ ế ạo tăng vọt: năm 1943 giá 1 tạ
niêm y ng chết là 31 đồ đen bán 57 đồng thì sang năm 1944 giá gạo là 40 đồ đen là ng ch
350 đồ nhưng vẫn chưa kinh khủ ằng năm 1945 giá ch đen tăng lên gấp đôi ng mt t ng b
700-800 đồ ức 53 đồ ạo cao vút như vậng mt t trong khi giá chính th ng. Giá g y khiến
người dân nghèo Việt Nam rơi dầ ết đói. Ngoài ra, Nhật còn ép ngườn vào cnh ch i nông
dân nh h t lúa tr y ru ng tr ng l c. Theo th ế ồng đay, lấ ống năm 1940, diện tích trng
đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 hecta.
Trong khi Nh t ra s i th gom ức vơ vét cho chiến tranh tPháp cũng tìm mọ đoạn để
góp d tr th c ph i ph i Nh t và d m phòng khi quân đồng minh chưa tớ ải đánh nhau vớ
phòng khi tái m lược Vit Nam. T đây, người ch u kh nh t là nông dân v ới đủ lo i thu ế
đinh, thuế điền, tô tức. Năm 1944, Việt Nam mất mùa nhưng thực dân Pháp và chính quy n
phong ki n v n ph i c ng n p cho Nh n g ph c v chi n tranh phát ế ật n 900.000 tấ ạo để ế
xít, m t ph cho Pháp làm nguyên li u n c thay th cho than ần cũng để ấu rượu, thóc thì đượ ế
10
đá dùng đố ủa Giáo Văn Tạt lò. Trích dn t mt nghiên cu c o, nguyên Vi ng ện trưở
Vin S h c Vi t Nam: “Ngoài các chính sách cao thuế ật còn đưa ra nng, phát xít Nh
một “chương trình kinh tế uy” nhằ ệt để trương phát xít ch h m thc hin mt cách tri ch
ca mình. Chi n tranh gi a phát xít Nh c dân Pháp) ế ật quân đồng minh (trong đó có th
làm cho nhu c u nhiên li u than, d n c a Nh y ngô, v ng. l c ầu, điệ ật tăng cao. Chúng đã lấ
c lúa g thay th nh ng nhiên li u này nh i dân vào ạo để ế ằm mưu đồ phát xít, đẩy ngườ
thm h a ch m c nh nông nghi p b u di n ra: Hàng nghìn m u ngô ết đói…. th ắt đầ
rung b phá, hàng ch c nghìn m u ngô b phá ho i, hàng tri u t n thóc b thu n p. Và h
qu là tình tr ng thi u h c tr m tr ng, giá g o mi n B ế ụt lương thự ắc tăng 1400%.
Bên c p t i m t tr n l t lạnh đó, tháng 9/1944 thiên tai còn ớn đã khiến đê La Giang
(Hà Tĩnh) và đê sông C ạn đói càng trở ọng hơn, khổ (Ngh An) b v khiến n nên trm tr
nht dân g (Ti n H i, Thái Bình) khi c v Tây Lươn mùa m 1944 người dân mt
trng vì b r y phá ho ại hàng trăm mu rung ch t tr ng ch t vàng c mế ế u rung kng mt
ni vài chc cân thóc m nh giá b -1945, ẩy. Thêm vào đó, mùa đông l ất thường năm 1944
nhiệt độ gi m xu ng cò y m n 6℃ đã phá hủ ột lượ ớn các cây lương thựng l c, hoa màu khác
ngoài lúa.
Cái đói không buông tha ai trọ ững người dân nghèo người lao động đặng tâm nh c
bit nông dân không có ru sinh ộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất. Để
tn gi a n ạn đói người dân phải ăn đủ th t rau d i c chu i v cây đến c th t trâu bò chó
mèo, dân làng chài thì ăn củ ết. Khi không còn m đư gì ăn thì họ nâu ch c th ch còn
nước ngi ch chết để người nhà mang đi chôn hoặ ụi khi đang đc khi chết b chết b i
kiếm cái ăn. Cái chết vì đói kiể nhưng cùng thảu chết t t m kh c dày vào con
người ta c th xác l n tinh th ần, Cái đói phá hoại t xã hội đế ừng gia đình, nó khiến t n cha
b con, v b chồng, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì người ta phi trm
cướp. các vùng nông thôn nghèo hàng nghìn gia đình khi chết c nhà nhiu dòng h
tuyt t ho i s ng sót. ặc may ra có vài ngườ
Tháng 3 m 1945 nạn đói lên đến đỉnh điểm lượt người ngượ ạy đếc k xuôi ch n
các thành ph l n h bán cơ nghiệp để ền đi đườ ội người dân đã đoàn kế ly ti ng. Hà N t
nhau l ng Ngày C p các tr i t b n phát cháo mi n phí c u nh i ại phát độ u Đói, lậ ế ững ngườ
đang thoi thóp được đưa về ững ngườ tri Giáp Bát, còn nh i không th c c m ng n a ứu đượ
thì xác ch y m t xu ng h t xu ng hất đầ ột xe bò đem đi hấ “hấ như hất rác” tại nghĩa trang
Hp Thi n - Hai Trưng. Mục sư Lê Văn Thái Nguyên ội trưở- h ng Hi thánh Tin Lành
Vi it Nam th i k 1942-1969 vi t l ế : “Tôi thườ ững ngường nghe tiếng rên xiết ca nh i sp
chết, th y nh ững đ ết, nơi này 5ng tht qun qui gn nhng xác ch -3 xác chết, ch khác
11
từng đống người sng nm l n v ới ngườ ững đoàn xe bò đầi chết. Trên nh y nhng xác ch t, ế
mi xe ch ph m t chi c chi u trong nh ế ế ng cái h m m t m i l p m t l n. ấy trăm xác chế
mt vài c i th ng rác, m ối trong đố t vài h bên c c gột cơm đỏ ạnh nướ o thì h kéo
nhau t ừng lũ đến tranh cướp”.
Nạn đói đã để li hu qu nghiêm tr ng khi n B c b ạn đói nửa năm đã chết n 2
triệu ngườ các địa phương, nhiề gia đình đã chếi. u dòng h t hết không còn mt ai. Làng
Sơn Thọ ụy, Thái Bình) hơn 1.000 ngườ ết đói mấ, Thy Anh (Thái Th i thì ch t 956
người. Người ta thng kê Thái Bình, c t nh trong vòng 5 tháng s ngưi chết lên ti
280.000 ngườ ốn sách “Lị Nam Ninh” i chiếm 1/4 tng s dân toàn tnh. Trong cu ch s
xut b nh m i ngày ch i. ản năm 1988 cũng ghi: “Phủ Nghĩa Hưng, Nam Đị ết 400 ngườ
Huyện Kim Sơn, Ninh Bình, cả đói 22.908 ngườ v i chết. Trong 6.161 h ca c tnh
Nam Ninh thì 1.571 h ch nh ch i, ết không còn người nào. Nam Đ ết 212.218 ngư
Ninh Bình - i, Hà Nam - 37.939 ngườ 50.398 người”. Tỉnh Hà Sơn Bình cũ trong cả ạn đói n
mất đi đế ạn ngườ ều nơi làng mạc xác tiêu điền 8 v i tc 10% dân s trong tnh. nhi u,
các lo i hình ngh th công cũng đình đn. Làng La C c) s (Hoài Đứ người chết đói hơn
2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100
người thì 1.200 ngườ ết đói, b ững địa phương kể ững địi ch ng 57% s dân. Nh trên nh a
phương có nhiều ngườ ạn đói 1944i dân b chết trong n -1945.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đả ụng hộo chính Pháp, mt trn Vit Minh tn d i,
kêu g i nhân dân cùng h p s a Nh tr ng bào. Phong ức phá hàng trăm kho thóc củ ật để đồ
trào sôi s c kh y lùi ph i nông dân l i b t ắp nơi đã giúp nạn đói dần được đẩ ần nào, ngườ
đầ u dt díu nhau tr v quê hương tiếp tc cày cy. Cho ti tháng 6, vào v chiêm có g o
mi, mc s t ng t l i khi n nhi i ch t b i thống thay đổi độ ế ều ngườ ế c. Thêm n a, môi
trường cùng ô nhi m b i xác ch t ch t ch ế ồng không được x trong thi gian qua.
Dch b nh b u kéo t i l i l ng c a nhi i dân vô t i B c Giang và ắt đầ ấy đi sinh mạ ều ngườ
Cao B ng. Nhi u làng, nhi m d ch t , d ch s t vàng -80% dân s . da, đã mất đi 50%
Tháng 5/1945, b y tháng sau khi n t i mi n B c, tòa khâm sai t i N i ạn đói bùng nổ
lnh cho các t nh mi n B c phúc trình v t n th t. Có 20 t nh báo cáo s người chết đói
và ch t b nh là 400.000, ch tính mi n B c. ế
80 ng ch ng tích l ch s vnăm trôi qua, nhữ nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài
nhng n m m t p th t l nh. Nh sâu dưới lòng đấ ng nhân chng t a lừng đi qua tai họ ch
s y thì ghi nh n ỗi đau thương sâu trong tâm, mỗ ắc đế ết rưng rưng nưi ln nh n ch bi c
mt.
12
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢ ẢN ĐÔNG DƯƠNG VNG CNG S GI I
QUYT N ẠN ĐÓI NĂM 1945
2.1. Ch trương của Đả n Đông Dương về ạn đói năm 1945ng Cng s gii quyết n
Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 mộ- t trong nh ng thách th c l n nh t
Chính ph cách m ng Vi t Nam ph i m t và vi c ch ng gi y lùi n ải đố ặc đói, đẩ ạn đói là mt
nhim v ln và c p bách lúc b y gi . B i vì, n ạn đói lan rộng, hoành hành s làm xói mòn
sc m nh dân t a cu c s ộc, đe dọ ng m i. Dân m no thì chính quy n m c ọi ngườ ới đượ
gi v ng, c ng c c m gi i quy t v ố; đất nướ ới yên. Để ế n n ng Cạn này, Đả ng sản Đông
Dương đã đề trương cụ ể, chia làm hai giai đoạn: trướ ra nhng ch th c mt và lâu dài.
2.1.1. Ch c m trương trướ t
Trong tình hình Nh ng tích trật tăng cườ lương thực, khóa cht kho thóc go thì dân
Vit l i ch ết đói khắp nơi. Do đó, tháng 3 năm 1945, khi Chính phủ chưa ra đờ ực lượ i, l ng
Việt Minh đã kêu gọi đồng bào vùng lên phá kho thóc, tìm đường s ng; t ch c c người
trc ti c Nh t. Kh u hi i quy t ếp cùng đồng bào đi phá kho lương th ệu “Phá kho thóc, giả ế
nạn đói” c ệt Minh đượa Vi c thc hin khp tnh thành.
Để đạ khc ph c gii quyết n i sạn đói, dướ ch o c ng, ngày 5-9-1945, Chính ủa Đả
ph ra Sc l nh s 7 tuyên b th tiêu t t c nh ững quy định h n ch vi ế ệc lưu thông, chuyên
ch thóc g o gi a các vùng trong c nước. Nghiêm tr nh ng k thóc g o, đầu tích trữ
cm dùng go vào các công vi t s c n thi u, làm bánh; c m xu t ệc chưa thậ ết như nấu rượ
khu g ạo, ngô, đậu,
Với quan điểm “chống đói cũng như chố ại xâm”, ngày 28ng ngo -9-1945, Bác H viết
bài kêu gọi “sẻ m nhường áo” đăng trên T Cu quc: “Hỡi đồng bào yêu quý, t tháng
giêng đến tháng bảy năm nay, ở B c B ta đã có hai triệu ngư ết đói. Kếi ch đó lại b nước
lt, n n khạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khố ổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn,
nghĩ đế đói khổ ỏi đn k , chúng ta không kh ng lòng. V ngh v ng bào c ậy tôi xin đề ới đồ
nước, và tôi xin thực hành trước: C 10 ngày nh ịn ăn một ba, mi tháng nh n 3 b ữa. Đem
gạo đó (mỗi b a m ột bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì nh i nghèo s b a rau ững ngườ
bữa cháo để ch mùa lúa năm sau, khỏi đế ết đói. Tôi chắ ằng đồn ni ch c r ng bào ta ai
cũng sẵ ạn, hăng hái hưở ời đền lòng cu kh cu n ng ng l ngh nói trên. Tôi xin thay
mt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào” (Sách H Chí Minh toàn t p t p 4 - NXB Chính
tr qu c gia S tht 2011).
Đảng còn phát động phong trào quyên góp, điều hoà thóc gạo, đồng bào c nước hưởng
ng li kêu gi c a Ch t ch H Chí Minh và i. Lnoi gương Ngườ i kêu gi ca Ch t ch
H Chí Minh đã trở ần đoàn kết, tương thân tương ái củ thành ngn la thp sáng tinh th a
13
c dân t n ra r ng kh p trên c c vộc. Phong trào thi đua cứu đói đã diễ nướ i r t nhi u sáng
kiến, cách làm sáng t ch o c ng m nhạo như tổ ức “Hũ gạ ứu đói”, “Ngày đồ ịn ăn”, “Đoàn
quân ti u tr gi i cá nhân, mặc đói”. Mỗ ỗi gia đình đều đóng góp một phn nh bé để chung
tay cứu đói. Từ đó hàng vạ ạo đã đượ nước đóng góp, chia sẻn tn g c nhân dân c với đồng
bào đang chị ạn đói, góp phầu thm ha ca n n cu giúp k p th i.
Ngày 2-11- c s 1945, đượ đồng ý c a Chính ph , B ng B Xã h i kiêm Y t , C u trưở ế
tế và Lao động đã ra quyết định thành l p H i c t các tr s Hà N i, Thu n Hóa ứu đói, đặ
Sài Gòn. H i các chi nhánh các t nh, huy n, và t n các làng b n, th c hi n các
bin pháp nh m gi m s ng th i tìm ki m ngu c, th c lãng phí lương thực, đồ ế ồn lương thự
phẩm để ững ngườ cu giúp nh i nghèo
Ngày 28-11-1945, Ch t ch Chính ph l i S c l nh s 67 cho thi t l ế ập U ban t i
cao ti p t và c u tế ế ế” của Chính ph. Tham gia U ban này có B trưởng các b : B Kinh
tế, B h i kiêm Y t , C ế u tế và Lao động và B Canh nông. U ban này được phép toàn
quyền hành động để thc hin công cuc cu tế tiếp tế trên toàn quc. Ngoài ra còn có
các y ban c u tr ợ, huy động m i ngu n l c xã h ội để cung cấp lương thực, thu c men cho
người dân.
2.1.2. Ch trương lâu dài
Cùng v i quá trình kh n c p c b m gi i quy n ứu đói, đ ảo đả ết căn cơ và triệt để ạn đói,
Đảng, Chính ph Ch tch H Chí Minh phát động toàn dân tăng gia sản xut và th c
hành ti t ki m v i l i kêu g i c a Ch t ch H Chí Minh: ế “Tăng gia sả ất! Tăng gia n xu
sn xuất ngay! Tăng gia sản xut nữa!” Đó là khẩ ủa ta ngày nay. Toàn dân thi đua u hiu c
hăng hái tham gia sn xut.
Hi ngh toàn qu c c ng di quy t, a Đả ễn ra ngày 14 15/8/1945 đã ban hành nghị ế
trong đó nh ội dung liên quan đế ạt độ u đói: Chia lạng n n ho ng c i rung công, làm
cho dân nghèo ru ng cày c y, khuy n khích s n xu t; gi a tô, gi m l i t c, hoãn ế ảm đị
nợ”; “Thi hành lut ngày làm m giờ; đặt lu t xã h i b o hi m; c u t n ế ạn dân”. Chính ph
bãi b thu thân và nhi u th thu lý c a ch ế ế ế độ cũ, thực hin chính sách gim tô 25%,
chia l i ru ộng đt công mt cách công b ng. B Qu c dân Kinh t ế ra thông tri quy định vi c
kê khai s ru ộng đất vng ch , s ru ng công và ru ộng tư không làm hết, tm c p cho nông
dân không có ru ng ho c thi u ru ng. ế
Ngày 19-11-1945, Chính ph thi t l p trách v s n xu t. ế Ủy ban Trung ương ph ấn đề
Nhiều chính sách đã đượ ển khai đồ này như việc ra báo đc tri ng b lúc hướng d n nhân
dân s n xu t, cho nhân dân vay thóc, vay ti s n xu t, c cán b thú y v ền để nông thôn
chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách s a ch ữa các quãng đê bị v, cng c h th ống đê
14
điều, đắ đê mớ tăng gia, sp thêm mt s i. Phong trào n xut din ra sôi ni trong khp c
nước k t Ch t ch, Chính ph n m đế i cán b cao cp c ng ngoài gi làm vi c chính ủa Đả
thức đều tham gia.
Bên cạnh đó nhà nước đã thự trương, chính sách cầ ết khơi gợc hin các ch n thi i công
tác tuyên truyền để người dân đoàn kế ẻ, giúp đỡ đột, chia s ng viên ln nhau. Vic cu
đói năm 1945 là một trong nh ng ho ạt động có ý nghĩa sâu sắc trong vi c v c d y m t dân
tc b ảnh hưởng nng n t các chính sách thâm độ ực dân, phát xít; đồc ca bn th ng thi
khơi gi, c kết toàn dân t thành mộc để t kh i th ng nh t giành th ng l i trong cu c Cách
mng tháng Tám.
2.2 Quá trình tri n khai Ch ng C ng s gi i quy t trương của Đ ản Đông Dương về ế
nạn đói năm 1945
2.2.1 Ch c m t trương cứu đói trướ
Để th c hin nh ng ch trương cứu đói trước mt, ngay t khi Chính ph chưa ra đời,
lực lượng Việt Minh đã tổ chc và c i tr c ti ngườ ếp cùng đồng bào đi phá kho lương thực
Nht. Kh u hi i quy t n a Vi ệu “Phá kho thóc, giả ế ạn đói” củ t Minh được thc hin khp
tnh thành. T i Ninh Bình, hai huy n Nho Quan, Gia Vi ễn đã phá thành công 12 kho thóc.
Ti Hải Dương, nhân dân giành lại được 39 kho thóc và 43 thuy n g o. T ại Thái Bình, hơn
1.000 t n thóc trong các kho c a Nh ật đượ ỉnh Vĩnh Phúc, c phá ca, chia cho dân. Các t
Phú Th , Thái Nguyên, H i Phòng, ngo i thành Hà N ội... cũng diễn ra tương tự. Mi n Nam
cũng đã nổ ra phong trào phá kho lúa, để chia cho dân nghèo và c u t mi n B c. ế
Ngày 5-9-1945, dưới s ch đạo c ng, Chính ph ra Sủa Đả c lnh s 7 tuyên b th tiêu
tt c nh ng nh h n ch vi thóc g o gi a các vùng trong c quy đị ế ệc lưu thông, chuyên chở
nước. Nghiêm tr nh ng k đầu cơ tích trữ thóc go, cm dùng go vào các công việc chưa
tht s c n thi u, làm bánh; c m xu t kh u g làm t t công ết như nấu rượ ạo, ngô, đậu,... Để
tác này Chính ph m t u ban vào Nam B u tra và t ch c vi c v đã c điề n chuyn thóc
go ra mi n B c. Vi c buôn bán, chuyên ch thóc g o B c B tr nên hoàn toàn được t
do, Chính ph c n thóc g o s mua th ng c i v i nh i hành vi ủa tư gia. Còn đố ững ngườ
đầu cơ, tích trữ g o mà làm ảnh hưởng đến nn kinh t thì s b nghiêm ph t theo lu t và b ế
tch thu gia sản. Đây là việc làm thi t th c, kế p thi c a Chính ph , ph ản ánh sinh động m t
thc t r ng, n n hành chính dân chế non tr bu u t l i ích, nhu c u ổi đầ ấy đã luôn biết đặ
của người dân Vi t Nam lên trên h t, b ế ắt đầu t nh ững điều dung d nh ất là cơm ăn, áo mặc.
Sau khi đưa ra lờ ọi “sẻ cơm nhường áo” đăng trên Tời kêu g Cu quc, ngày 11-10-
1945, Ch t ch H u tiên r i d l xu t phát c Chí Minh đã góp bát gạo đ ủa “Đoàn quân
tiu tr gi i Nhà hát l n N i. Nhân dân kh nguy n th c hi n, c 10 ặc đói” tạ ắp nơi tự
15
ngày nh a, tháng nh g ng h i nghèo. Trong L ịn ăn 1 b ịn ăn ba bữa, đem số ạo đó ngườ
phát động đầu tiên, B C u t h ng nhân dân tích c ế ội đã vận độ ực tham gia và thu được
kết qu kh quan. Báo cáo t i phiên h p H ng Chính ph ngày 13-10-1945, B ng ội đồ trưở
Nguyễn Văn Tố báo cáo k t qu ế mà đội quân ti u tr gi ặc đói thực hiện, đã quyên góp được
5 t n g ạo ngay trong ngày đầ ạnh đó, hưởu tiên ra quân (ngày 11-10). Bên c ng ng l i kêu
gi c a Ch t ch H Chí Minh đng th i th c hi n nhi m v Người đã đặt ra trong
phiên h u tiên c a Chính ph m th i, M t tr n Vi cọp đầ ệt Minh các đoàn thể ứu đói
cũng đã vận độ ức “ngày đồng tâm” nhịn ăn lập “hũ gạng t chc lc quyên, t ch o cu
đói”… trở thành mt phong trào qun chúng r ng l o n. Phong trào trên đã được đông đả
qun chúng nhân dân ng h tham gia tích c c v i nhi u hình th c phong phú, lôi kéo
đông đảo giáo viên Hi Truyn quc ng, Thanh niên Cu quc, công chc, tiu
thương... tham gia. Hà Nội, Nam Định và các địa phương khác xuấ ện các xe bò “Bác t hi
ái” đi lạ ố, phườ ết nghĩa đỡc quyên khp ph ng. Nhân dân thành ph, tnh, huyn... nhn k
đần nhau. Nhân dân Hưng Yên giúp đỡ Bình. Đồng bào Đà Nẵ nhân dân Thái ng c p t c
đưa các chuyế ội. Các địa phương bỏ ẹt, rượn tàu go ra Hà N hn t nn nhu nh u chè, c
bạc… Bên cạnh đó, công tác vận động các nhà tư sản, đa ch b ti n c a, thóc g o ra s c
cứu đói cũng thu đượ ều địc kết qu tt. Rt nhi a ch đã nhiệt tình, hăng hái đóng góp.
h t nguy n góp t i 50 t n thóc. L i có h góp c s hoa l i trên 600 m u rung.
Phong trào d n d n tr nên r ng l ng kh p toàn qu c, ch ng nh ng lôi cu n n, sôi độ
nhà nhà tham gia, người ngườ ốn đượi tham gia còn lôi cu c nhiu t chc qun chúng,
văn hoá hộ n chúng, các đải khác. Nhiu t chc qu ng phái, tôn giáo, con ngoi
kiều... cũng quyên góp tiề ạo để giúp đỡn, g người nghèo. Nh u ding đêm biể ễn văn h
ngh thu i nh m l c quyên ti n g o c a các nhà h c c t chật ra đờ ảo tâm, để ứu đói đượ c
nhiều nơi. Nhữ ạt động hưở ển khai trên đã mang lng ho ng ng li kêu gi, tri i hiu qu
thiết thc trong vi c v n chuy n thóc g o và gim b t s lãng phí thóc g o trong nhân dân.
Ch trong vòng 3 tháng cu n chuy n g o t ối m 1945, chúng ta đã vậ ển được hơn 700 t
các t nh Nam B , Trung B ra c B c B . Nhi u làng B c Ninh, B c Giang, H i ứu đói
Dương đã t ệc tùng lãng phí để ệm lương thự nguyn b h tc ti tiết ki c. Các làng Cm
vùng Hoài Đức (Hà Đông), Dịch Vng (T Liêm, N ng ho ội) cũng ngừ ạt động để đỡ
lãng phí thóc g o nh dân nghèo. ằm giúp đỡ
Ti -11-ếp đó, ngày 2 1945, được s đồng ý ca Chính ph, B trưởng B hi kiêm
Y t , C u t nh thành l p H i c t các tr s Hà N i, ế ế và Lao động đã ra quyết đị ứu đói, đ
Thun Hóa Sài Gòn. H i các chi nhánh các t nh, huy n, t n các làng b n,
phương pháp hoạt đng c a H i ch y u tìm ngu n th c ph m, ti n v i do các nhà ế
16
hảo tâm giúp đỡ; phát trin sn xut, khuy n khích công vi ng áng trông nom ế c đồ đê
điều; giúp đỡ ẩn đất hoang hóa để đưa vào sả nhân dân trong vic khai kh n xut.
Ngày 28-11- ho ng ti p t , c u t t ch c quy c , ch t ch , hi u qu1945, để ạt độ ế ế ế hơn,
Ch tch Chính ph l i S c l nh s 67 cho thi t l ế ập U ban t i cao tiếp tế c u tế
ca Chính ph . y ban này có toàn quyền hành động để nghiên c u thi hành nh ững phương
pháp c n thi t v n xu t, ti p t , c u t cho nhân dân trong toàn cõi Vi t Nam. ế tăng gia sả ế ế ế
Ngoài ra còn các y ban c u tr ng m i ngu n l c h cung c ợ, huy độ ội để ấp lương
thc, thuốc men cho người dân. Xét thâ y yêu câ u va nhiêm vu cua Ch nh phi u t ra là ph i đặ
thưc hiên ngay cac biên phap cưu tê xa hôi, ngay 31-12-1945, Bô trương Bô Cưu tê xa hôi
Nguyễn Văn T ký ban hành Să c lênh 63 v thành l p H i c u t xã h i. S c l nh yêu c u ế
mi mi n B c-Trung-Nam ph i thành l p m ột cơ sở y tế địa phương để có th th c hi n
tt công tác cu t i s ng c a nhân dân t i dân khi ế khi đờ ại địa phương gặp khó khăn. Ngườ
có vướng mc có th liên lc vi Hi Cu tế xã hi ca Chính ph.
2.2.2 Ch trương lâu dài
Hưởng ng l i kêu g ọi tăng gia sản xut trong c c c a Ch t ch H Chí Minh, m nướ t
phong trào khai hoang “tấc đấ ấc vàng”, “không mộ ấc đất, t t t t b hoang” đã phát triển sâu
rng trong toàn qu c. Chính quy n t t c nh cho phép s d ng các địa phương quyết đị
những đ ống như sân bãi, v đê đểt công cng còn tr a hè, b trng trt. Chính quyn còn
vận độ nhân cho sử ạm các vườ ống quanh nhà đ tăng gia sảng c dng t n tr n xut. Mi
địa phương lậ ểu ban để huy độp ra mt ti ng nhân l c và t ch c s n xu c làm ất. Lương thự
ra được dùng để ế… Ở c sinh đã cuố sân trườ nơi cu t Hà Ni, h c xi c ng, va hè, bt c
nào đất trng. Viên ch c cu n trong công s tr ng ngô, khoai... Thanh niên th ốc vườ để đô
chia thành những đội tăng gia đi tr đê, bãi sông, lềng sn b đường.
Ngày 17-10-1945, B Kinh t ế ra Thông cho Uỷ phương ban nhân dân các cp v
pháp kh n c p ch p. Ngày 17-11-1945, B Kinh t l ấn hưng nông nghiệ ế ại ra Thông tư quy
đị nh: các U ban nhân dân phi kê khai rõ s ru t còn thộng đấ a trong vòng 15 ngày. N u ế
ch điền nào không khai ho c khai man s b ph t. Ti n ph vào công ạt thu được đem bỏ
qu c mua s m d ng c , cây con gi cho các h nghèo. Các U ủa làng để ống, giúp đỡ
ban nhân dân s công b nh ng ph n ru ộng đất để nông dân mượn. Nhng nông dân mu n
mượn đấ được hưởt quyn giao dch thng vi ch điền; khi gieo trng, h ng hoa li
hoàn toàn. Các U ban nhân dân cũng điề ộng đấ hoang hóa đu tra s ru t b cho nông dân
mượn canh tác không phi np các th thu ế. Trong tháng 10 11 năm 1945, Chính
ph ban hành ngh định mi n thu hoàn toàn cho nh ế ng vùng l t. B Qu c dân Kinh t ế ra
17
thông tri quy đị ộng đấ ộng tư không nh vic khai s ru t vng ch, s rung công ru
làm h t, t m c p cho nông dân không có ru ng ho c thi u ru ng. ế ế
Bên c -11-1945, Chính ph thi t l p ạnh đó, ngày 19 ế Ủy ban Trung ương ph trách vn
đề sn xut, các t nh, huy u thành lện, xã và làng đề p Tiu ban canh nông. Nhiu chính
sách đã đượ ển khai đ lúc này như vi báo đểc tri ng b c ra hướng dn nhân dân sn xut,
do v y t báo ph bi n nh ng ch th c a Chính ph ch ng d n Tấc đất ra đời để ế , t ức, hướ
bà con ki n th c v nông nghi n xu t. L nh c m xu t kh u g o và các lo i ế ệp để tăng gia s
hoa màu khác được ban hành s ki m tra nghiêm ng phát tri n s n xu ặt. Để ất n
na, Chính ph còn l nh cho các “Nông phố ngân hàng” và “Bình dân ngân quỹ” ph i t o
điều ki n cho nông dân vay ti n mua cây, con gi ống, hô hào các nhà tư sản, nhng nhà giàu
cho dân nghèo vay v phát tri n s n xu t. Chính ph p 110 t n thóc gi ng ốn để cũng đã cấ
cho nh ng vùng b thiên tai n ng nh t. Vi c ch t o các công c s n xu c m ế ất cũng đượ
rng và phát tri n.
Vic cng c h th tránh s t, l ống đê để , v đê cũng đượ ọng. Đếc Chính ph chú tr n
khong cu i tháng 10- c s 1945, đượ tham gia tích c c c a toàn dân, t t c các đoạn đê vỡ,
xung y c kh c ph c. T cu i tháng 11- p trung ếu đều đượ 1945, nhân dân các địa phương tậ
vào vi c b ồi đắp đê đắp tm đê mới. Trước khi bước vào mùa lũ, lụt m 1946,
Chính ph c l nh thành l p đã ra sắ “U ban Trung ương hộ đê Bc Bộ”. Chính th , ế
công tác b o v ng bão, l u nh. đê, phòng chố ụt đã bước đầ ổn đị
Nhm b o v và phát tri ển chăn nuôi, Chính phủ đã thành lập các đoàn bác sĩ thú y về
tận các làng, xã để trin khai công tác phòng ch ng b nh d ch cho gia súc, gia c m. Công
tác n xu c coi tr ng. Nhi u trang tr i m i động viên nhân dân đi khai hoang s ất cũng đượ
đã đượ ạng Sơn, Bắc mc lên các tnh Thái Nguyên, L c Giang....
Bng s c g ng n l c c ng, Chính ph và s tích c n xu t c a toàn ủa Đả ực tăng gia sả
dân, vi c gi i quy t n c nh ng k t qu to l n. V n ế ạn đói đã thu đượ ế chiêm năm 1946, sả
lượng lương thực thu đượ cao hơn vụ chiêm năm 1945 100.000 tấc Bc B n. V mùa
năm 1946, nhiề ỉnh cũng đạ mùa năm 1943 ởu t t thu hoch khá cao. Nếu v Bc B ch đạt
952.730 t à 832.000 t t 1.550.000 t n. Thu ho ch t các ấn, năm 1944 l ấn, thì năm 1946 đạ
loại hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn, đỗ ạc... cũng cao hơn nhiề, l u so với các năm trước.
Tăng gia sản xu t phát tri n, s ản lượng thu hoạch cao, đời sống nhân dân bước đầu đã được
ci thin. Điều này chng nh n vững ý nghĩa to lớ mt kinh t , còn góp ph n quan ế
trng vào công cu c xây d ng và b o v chính quy n cách m ng.
Như vậy, Đả ản Đông Dương đã đưa ra nhng Cng s ng ch n và k p trương đúng đắ
thi, nh c sận đượ hưởng ng nhi t tình c a toàn dân, mang l i nh ng k t qu tích c c, ế
18
góp ph n quan tr ng vào vi c nh tình hình h i xây d ổn đị ựng đất nước. Đầu năm
1946, n y lùi, t u ki n cho vi c xây d ng và gi v ng chính ạn đói bản được đẩ ạo điề
quyn; phát tri n l h m ng, m r ng kh t toàn dân thúc ực lượng trang các ối đoàn kế
đẩ y phong trào xóa nn mù ch trong đông đả ần chúng nhân dân. Đánh giá thành tích o qu
này trong l k ni m m c l p, Qu c khánh 2-9-1946, B ng B N i v ột m độ trưở
Nguyên Giáp tuyên b : “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật m t k công
ca ch dân ch ế độ ủ”.
2.3 Đánh giá về Ch trương của Đảng c ng C ng s gi i quy t ủa Đả ản Đông Dương về ế
nạn đói năm 1945
2.3.1 Thành công
Th t nh , s ướ lãnh đạ ủa Đảng đã đóng vai trò quyết địo c nh trong vic khi x ng
t chc các ho ng c i kêu g áo" ạt độ ứu đói. Qua lờ ọi phát động phong trào "nhường cơm sẻ
l o c i dân chia sập "hũ gạ ứu đói" đã khuyến khích ngườ lương thực cho nhau, giúp đ
những người đang chịu đói. Không chỉ dng l i vi c t nhân dân, ệc huy động lương th
Đảng còn t ch c các ho ạt động s n xu t nông nghi p kh n c ấp, tăng gia sn xu t t i nh ng
vùng có đi ện để tăng cườ ấp lương thự lãnh đạu ki ng ngun cung c c. S o sáng sut và kp
thi c ng ta không chủa Đả giúp người dân vượ ạn đói mà còn t qua n nâng cao uy tín c a
h trong lòng qu n chúng, c ng c lòng tin c a nhân dân vào phong trào cách m ng. Nh
đó, Đng ta không ch th c hi n thành công công tác c n b ứu đói mà còn chu sở chính
tr vng ch c cho cu c Cách m ạng Tháng Tám ngay sau đó.
Th hai, việc phân phát thu mua lương thực đã được t chc hiu qu. Trong bi
cảnh lương thự ủa Đảng đã khéo léo tổc khan hiếm nghiêm trng, chính quyn c chc các
đợ t thu mua go t nh ng vùng nông thôn còn s ng, t p trung vào nh ng khu v c ít ản lượ
chu nh hưởng c a n nhanh chóng phân ph n các thành ạn đói. Sau đó, họ ối lương thực đế
ph khu vc b đói kém tr ọng. Quá trình phân phát đượm tr c thc hin công bng
t ch c, nh m b i dân nhanh chóng hi u qu nh t. ằm đả ảo lương thực đến tay ngườ
Hơn nữ ớn đóng góp gạo đểa, Đảng còn kêu gi các ch rung l cu tr, gim b t s t p
trung tài nguyên trong tay m t s i giàu có. S khéo léo trong vi u ph ít ngườ ệc điề ối lương
thực đã giúp cứ ống hàng ngàn ngườu s i, gim b t tình tr t o lòng tin m nh ạng đói khổ
m t phía qu i v o c ng. ần chúng đố ới vai trò lãnh đ ủa Đ
Th ba, vi c k t h p các bi n pháp c i chu n b ế ứu đói vớ cho cuc cách mạng đã góp
phn quy nh vào thành công toàn di n cết đị ủa Đảng trong năm 1945. Trong khi tổ chc các
hoạt động cứu đói, Đảng cũng đng th i t n d ụng hội này để xây d ng và m r ng m ng
lưới qu n chúng ng h cho cách m ng. Các phong trào c u tr lương thực không ch nh m
19
mục đích giúp đỡ người dân vượ ạn đói còn phương tiện để t qua n gn kết các tng
lp nhân dân v ng, cới Đả ng c lòng tin vào s lãnh đo c a h . Nhi u cán b cách m ng
đã đượ các địa phương đc c v v a th c hi n công tác c a v ng nhân dân ứu đói, vừ ận độ
tham gia vào phong trào đấu tranh giành độ ập. Qua quá trình này, Đc l ng không ch gi i
quyết n c m t mà còn nâng cao tinh th u tranh và ý th c dân t c c i ạn đói trướ ần đấ ủa ngườ
dân, chu n b cho Cách m ng Tháng m. Vi c l ng ghép ho ng c u tr và chu n b ạt độ
cách mng một cách khéo léo đã tạo điều ki n thu n l ợi cho Đảng giành quy n l c và thành
lập nướ ộng hòa sau đó.c Vit Nam Dân ch C
2.3.2 H n ch ế
Bên c nh nh ng thành công l ng l i, ch ớn đáng ghi nhận trong đườ trương của Đảng
đã giúp đất nước bướ ạn đói lịc qua n ch s thì vn còn tn ti mt s ít hn chế.
Đầu tiên, h n ch ế khách quan đế muôn vàn khó khăn thn t hoàn cnh vi thách
him nghèo do ch th c dân, phong ki l i. L i d ng tình th n ph n ế độ ến để ế khó khăn, bọ
cách mng m cách liên kết vi Qu ng công khai ho c ng m ng m ch ng phá ốc dân Đ
cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các đoàn th ụng danh nghĩa cách ca ta, li d
mng, xuyên t c ch ng, Chính ph a uy hi p nhân dân, trương, chính sách của Đả ủ, đe dọ ế
tìm cách phá cơ sở cách m ng. Chúng t đến các làng để di n thuy t, l p h i, vi t báo tuyên ế ế
truyền tưở ản động ph ng, làm lung lay v th c ng C ng s n Vi t Nam c này còn ế ủa Đả
quá non tr v i nhi u h n ch trong nhân s khó có th ki m soát ch t ch , lo i tr i ế các đố
tượng này. Đảng Cng sn Vit Nam m i ch c chính quy n còn nhi u h n ch giành đượ ế
trong ngu n l ực tài chính cũng như nhân sự d n mẫn đế t s ch trương, nghị quyết ca các
cp xu c s c t ng kủy do các quan tham mưu đề ất chưa thự đượ ết th c ti n k ng;
chưa đánh giá, dự ững tác độ ảnh hưở báo nh ng, ng một cách đầy đủ, khoa hc. mt s
nơi việc vi c chia l n, công th còn bi u hi n l ch l c chính quy n cách ại công điề
mng thi u ngu n l th ki m soát, ng l c nh a ch ph n ế ực để ững đị ản động lũng đoạ
ảnh hưởng đế ần chúng nhân dân lao động. địa phương chưa nắn quyn li ca qu m
vng ch thi u h t thông tin và chính quy n không h th ng trương, làm quá đà do sự ế
thông tin liên l c hi u qu nh n bi c quy mô, m c a n n vi c h để ết đượ ức độ ạn đói, dẫn đế
không th tri n khai k p th i các bi n pháp c u tr . m ột vài nơi UBND đã b sung công
thóc g o ho c phá phách các p, d a n t ch n, ch p gây ra s b i v i nhi u điề ất bình đố
địa ch, to ra nhiu k thù đối ngh ch l ng. Do ti n hành v i vã, t ại Đả ế phát chưa s
tập trung đông đo phong trào phá kho thóc m t s t h i l n v địa phương thiệ
ngườ i và tài sn. mt s n t hiơi còn xuấ n hi ng nông dân tr u t ện tượ nên quá khích đấ
20
tràn lan m t ki m soát, m t s thành ph n ph m sai l m v nh n th c v vi c chu n b
lực lượng và trin khai khiến cho tình hình càng thêm khó kim soát.
Bên cạnh đó, do chiến tranh, h th ng giao thông và v n chuy ển lương thực t các vùng
tha g n các vùng thi u g n B c) bạo (như miền Nam) đế ế ạo (như miề gián đoạn và hư hại
nghiêm tr ng, d n tình tr ng thi ẫn đế ếu lương thực trm trọng hơn. Phong trào vận động ti t ế
kiệm lương thực ng h ngườ i b đói bước đầu đạ ốt, nhưng đó chỉt kết qu t bin pháp
tc th i.
Cách m ng Tháng Tám thành công, chính quy n cách m ng t ch thu thóc g o d tr
của đị ạn đói bước đầu được ngăn chặ ẫn chưa ch chia cho toàn dân. N n, song nhìn chung v
được gi i quy t tri ế t s thóc thu ho ch vđể chiêm 1945 và thóc c u t c a chính quy n ế
cũng chỉ có h n. Sau khi Nh t chi ếm Đông Dương, họ bu c nông dân Vi t Nam chuy i ển đổ
din tích tr ng lúa thành tr ồng đay để phc v cho nhu cu chiến tranh. Điều này làm gi m
đáng kể ẫn đế ụt lương thự din tích lúa go và d n thiếu h c trm tr ng. Tình hình chính tr -
h i không n di n tích canh tác gi m sút nhanh chóng. Ch tính trong ổn định cũng khiế
15 t ng b ng, di n tích cỉnh đồ ấy lúa mùa năm 1944 967.000 ha, đế mùa năm 1945 n v
còn 547.000 ha. S ru ng b b hoang do lt, thiếu m, thiếu phân bón, thiếu sc kéo
hoc do b địch uy hi p, phá ho c t i 265.000 ha. Vì th , vế ại ướ ế mùa năm 1945 thu hoạch
thp nhi u so v 832.000 t n gi m xu ng còn 500.000 t n). S thóc trên ch ới năm 1944 (từ
cung c l i v i m t ấp đủ cho nhân dân dùng trong vòng 3 tháng. Nguy nạn đói quay trở
mức độ ọng hơn. Tính mạ ạn con ngườ rng ln trm tr ng ca hàng v i trông ch vào
nhng bi n pháp nh y lùi n ng chính quy n cách m ng. Ch m đẩ ạn đói của Đả trương
lâu dài của Đảng là tăng gia sản xut, gi i quy t tri tình tr ng thi u h ế ệt để ế ụt lương thực v p
phi nhiều khó khăn. Tình thế lúc này, Đảng v a ph i ch trương đẩy mnh s n xu t mi n
Bc va ph i chu n b , tri n khai kháng chi n mi ế ền Nam. Đảng ti n hành c t giế ảm địa tô,
gim l i t c, hoãn n ợ… khuyến khích s n xu t ph n nào khi n làm h n ch ngu n ngân ế ế
sách ph c v cho vi c kháng chi n chi ng Mi n Nam. ế ến trườ
2.3.3 Bài h c
Vai trò, v th o c c c ng c , nâng cao cùng v i vi cao nh ng ế lãnh đạ ủa Đảng đượ ệc đề
truyn th ng t p c a dân t c n ốt đẹ i b t tinh th ần yêu nước, đoàn kết toàn dân. Đảng đã
sáng su t, k p th i đưa ra những ch trương chiến lược ng n h n và dài h n nh m xây d ng
lực lượ ức, đoàn kế ực lượ ạng giúp đất nước bước qua giai đoạng, t ch t các l ng cách m n
khó khăn. Thông qua nhữ trương biện pháp đa d ực, Đảng ch ng, tích c ng chính
quyn các cấp đã khuyến khích đông đảo nhân dân tham gia vào các phong trào ch ng n n
đói, đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, “nhường cơm sẻ áo” vố n truyn

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH QUC T
THO LUN
HC PHN: LCH S ĐẢNG CNG SN VIT NAM
ĐỀ TÀI: TÌM HIU V NẠN ĐÓI NĂM 1945 VÀ CHỦ TRƯƠNG
CỦA ĐẢNG CNG SN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GII QUYT NN
ĐÓI NĂM 1945. LIÊN HỆ THC TIN CÔNG TÁC H TR
ĐỒNG BÀO GẶP KHÓ KHĂN DO THIÊN TAI, DỊCH BỆNH,… Ở
M
ỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA
Lớp học phần: 241_HCMI0131_11 Nhóm: 2 GVHD: TS. Hoàng Thị Thắm Hà Nội – 10/2024
BNG PHÂN CÔNG NHIM V VÀ ĐÁNH GIÁ NHÓM 2 STT Họ và tên Nhiệm vụ Điểm 16 Dương Ngọc Bích 2.2 22 Vũ Thị Phương Dung 3.2 23 Đỗ Phương Duy 2.3 24 Cao Thị Thùy Dương Thuyết trình 25 Chử Thị Ánh Dương 3.1 26 Lê Bạch Dương
Tổng hợp Word + Mở đầu + Kết luận (Nhóm trưởng) 27 Nguyễn Thùy Dương 3.2 28 Nguyễn Tùng Dương 3.1 29 Vũ Tùng Dương 3.2 30 Nguyễn Văn Được 3.1 32 Hà Thị Hương Giang 2.1 33 Lê Hương Giang 1.3 34 Nguyễn Hương Giang 2.3 35 Vũ Thị Hương Giang Powerpoint 95 Nguyễn Thị Thu Uyên Thuyết trình 96 Đàm Hồng Vân 1.1,1.2 2 MC LC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1. Bi cnh lch s . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.1 Bi cnh lch s thế gii . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.2. Bi cnh lch s Vit Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn đói năm 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.1. Nguyên nhân trc tiếp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.3 Thc trng và hu qu ca nạn đói năm 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GIẢI
QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1. Ch trương của Đảng Cng sản Đông Dương về gii quyết nạn đói năm 1945
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1.1. Ch trương trước mt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1.2. Ch trương lâu dài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.2 Quá trình trin khai Ch trương của Đảng Cng sản Đông Dương về gii
quyết nạn đói năm 1945. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.1 Ch trương cứu đói trước mt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.2 Ch trương lâu dài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3 Đánh giá về Ch trương của Đảng của Đảng Cng sản Đông Dương về gii
quyết nạn đói năm 1945. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3.1 Thành công. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3.2 Hn chế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
2.3.3 Bài hc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
3.1 Công tác h tr lũ lụt tỉnh Hà Tĩnh năm 2020 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
3.2 Công tác h tr lũ quét, sạt l đất ti tnh Hà Giang . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45 3
DANH MC T VIT TT Ký hiu T NXB Nhà Xuất Bản UBND Ủy Ban Nhân Dân LHPN Liên Hiệp Phụ Nữ HĐND Hội Đồng Nhân Dân 4
LI M ĐẦU
Đã 80 năm đã trôi qua, nhưng nạn đói năm Ất Dậu (1945) vẫn là một ký ức kinh hoàng
trong tâm trí người dân Việt Nam. Thảm họa này đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu
người, tương đương 1/10 dân số lúc bấy giờ, để lại nỗi đau không dễ gì nguôi ngoai. Nguyên
nhân không chỉ do thiên tai, mà còn do chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát
xít Nhật, dẫn đến sự suy kiệt nghiêm trọng về lương thực. Trước tình cảnh đó, Đảng Cộng
sản Đông Dương đã kịp thời đưa ra những chủ trương và chính sách đúng đắn nhằm ứng
phó với nạn đói, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tạo nền tảng cho cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc sau này.
Dù đã qua nhiều thập kỷ, những chủ trương đó vẫn giữ nguyên giá trị khi đất nước phải
đối mặt với nhiều thách thức như thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Các biện pháp hỗ
trợ người dân ở những vùng gặp khó khăn đã được triển khai một cách kịp thời, thể hiện rõ
vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc đảm bảo an
sinh, khắc phục hậu quả do thiên tai và dịch bệnh gây ra.
Từ đây ta nhận thấy được việc nghiên cứu nạn đói năm 1945 cùng các chính sách của
Đảng trong thời kỳ đó không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử đầy đau
thương, mà còn cung cấp nhiều bài học quý báu cho công tác hỗ trợ người dân gặp khó
khăn trong bối cảnh hiện nay. Với lý do đó, nhóm hai đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm
hiu v nạn đói năm 1945 và Chủ trương của Đảng Cng sản Đông Dương về gii quyết
n
ạn đói năm 1945. Liên hệ thc tin công tác h tr đồng bào gặp khó khăn do thiên tai,
dch bnh,... một vài địa phương trong thời gian qua”. 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN V NẠN ĐÓI NĂM 1945
1.1. B
i cnh lch s
1.1.1 B
i cnh lch s thế gii
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công vào nước Ba Lan. Chiến tranh thế giới lần thứ
Hai bùng nổ. Lúc đầu là cuộc chiến tranh giữa 2 tập đoàn đế quốc: Đức, Ý, Nhật và Anh,
Pháp, Mỹ. Từ ngày 22-6-1941 trở đi, chiến tranh diễn ra giữa thế lực phát xít Đức, Ý, Nhật
với các lực lượng dân chủ chống phát xít (phe Đồng Minh do Liên Xô là trụ cột).
Tác động của chiến tranh thế giới thứ Hai làm cho phong trào giải phóng dân tộc phát
triển với mục tiêu chung chống chủ nghĩa phát xít. Thực dân Pháp liền nhảy vào vòng chiến,
kéo theo các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Để phục
vụ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng, thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách cực
kỳ phản động đối với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.
Ở châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật đẩy mạnh quy mô xâm lược Trung Quốc.
Đế quốc Nhật Bản bắt đầu bành trướng và coi Đông Dương như là "đầu cầu" để tiến qua
Nam Á hòng khống chế Trung Quốc. Bởi khi đó, tuyến đường sắt Hải Phòng-Vân Nam
được coi là con đường duy nhất Trung Quốc nhận được viện trợ từ Mỹ. Ở Đông Dương,
thực dân Pháp tiến hành phát xít hóa bộ máy cai trị từ Trung ương đến cơ sở; đồng thời,
thủ tiêu mọi quyền dân sinh, dân chủ, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, khủng bố,
bắt giam nhiều đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và những người có liên quan đến
Cộng sản, làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp càng thêm gay gắt.
Tháng 6-1940 ở chính quốc, nước Pháp đầu hàng phát xít Đức. Tháng 9-1940, phát xít
Nhật xâm chiếm Đông Dương, thực dân Pháp dâng Đông Dương cho Nhật. Phát xít Nhật,
thực dân Pháp cấu kết với nhau áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương và lập căn cứ quân
sự chống lại phe Đồng Minh ở Đông Nam Á.
1.1.2. Bi cnh lch s Vit Nam
Trước chiến tranh thế giới thứ 2, Đông Dương trong đó có Việt Nam là thuộc địa của
thực dân Pháp. Khi chiến tranh nổ ra, Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ
máy thống trị; thực hiện chính sách tăng cường vơ vét sức người, sức của tại các nước thuộc
địa để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc.
Tháng 9 năm 1940, Nhật tiến vào miền Bắc Việt Nam, gây áp lực lên chính quyền Pháp
để giành quyền kiểm soát. Ngày 23/9/1940 tại Hà Nội, Pháp kí hiệp định đầu hàng phát xít
Nhật. Từ đó, Việt Nam bị cuốn vào cuộc chiến tranh khi Pháp và Nhật tranh chấp quyền
kiểm soát kinh tế, hứng chịu cảnh “một cổ hai tròng” áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật. 6
Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt các yêu sách
đánh vào nền kinh tế như: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp
lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra
Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ Hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Việt Nam, phát xít
Nhật tìm cách hất cẳng thực dân Pháp tăng cường chính sách xâm chiếm, bóc lột nhân dân
ta nhằm phục vụ cho chiến tranh của chúng. Những chính sách vô cùng tàn bạo của phát
xít Nhật và thực dân Pháp đã dẫn đến nạn đói trầm trọng, tàn khốc nhất trong lịch sử Việt
Nam khiến cho hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói và để lại hậu quả cho đến ngày nay.
Tháng 8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà mới ra đời đã phải đương đầu với bao khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Chính
quyền cách mạng chưa có kinh nghiệm tổ chức, quản lý, xây dựng đất nước; lực lượng vũ
trang còn quá nhỏ bé, trang bị với những vũ khí thô sơ. Đặc biệt nền kinh tế của đất nước
vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp-Nhật vơ vét xác xơ, chiến tranh tàn phá. Tính mạng
của hàng vạn con người đang trông chờ vào những biện pháp nhằm đẩy lùi nạn đói của
Đảng và chính quyền cách mạng.
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn đói năm 1945
1.2.1. Nguyên nhân tr
c tiếp
Th
nhất, là chính sách vơ vét thóc gạo ca phát xít Nht và thc dân Pháp lúc by gi
Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ
chiến tranh nên đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói
kém và từ đó gây ra nhiều tai họa làm ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt kinh tế của người Việt.
Nguyên nhân t Nht Bn.
Quân Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc tránh việc lương thực bị tuồn qua
Trung Quốc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói do gạo trong kho phải được ưu tiên
cho lính Nhật. Máy bay của quân Đồng Minh đã cho phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở
ra Nam, phong tỏa cả đường biển khiến việc vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền
Bắc không thực hiện được.
Bên cạnh đó, chính sách vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt. Năm
1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40
đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng
còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức
mua, phải chịu cảnh chết đói.
Nguyên nhân t Pháp 7
Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo hộ mậu
dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân. Pháp vì mục đích chiến
tranh đã lạm dụng và khai thác quá mức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc hậu của Việt Nam.
Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc gạo về tập trung ở các kho riêng, lấy cớ
là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết ép buộc mua rẻ của dân quê Pháp lại mua thóc, ngô với
giá cao. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho Pháp đem đốt than thay củi ở các nhà
máy điện. Hậu quả là trước thế giới thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một nước lạc hậu và đói
nghèo so với nhiều quốc gia châu Á khác. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến
khiến cho các hộ nông dân phải bán gần hết lương thực có được để nộp thuế khiến đa số
nông dân không còn lương thực dự trữ.
Giữa năm 1940 Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng
Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến
tranh (bắt dân nhổ lúa trồng đay, buộc dân bán gạo với giá rẻ, thu hẹp diện tích canh tác,. )
Th hai, là do thiên tai, mt mùa,
Thời tiết ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Mùa màng bị
hạn hán và côn trùng phá hoại khiến sản lượng vụ đông – xuân từ năm 1944 giảm sụt
khoảng 20% so với thu hoạch năm trước. Sau đó vào tháng 8, một trận lũ lụt khủng khiếp
gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312.000 ha ảnh hưởng tới cuộc
sống của 4 triệu người… Sau cơn lũ, bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp mọi nơi cộng
với việc không có thuốc men, lương thực khiến nạn đói ngày càng trở nên trầm trọng.
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp
Các thế lực phong kiến, thực dân áp dụng chính sách sưu thuế nặng từ nhiều năm trước
đó đối với người nông dân Việt Nam. Cách thức thu thuế sử dụng mạnh biện pháp tra tấn,
đánh đập, bắt buộc người nông dân phải nộp đủ, không miễn giảm đối với các hộ đói nghèo,
khiến cho nông dân phải bán tài sản hoặc lương thực để nộp thuế nên không có lương thực dự trữ.
Trong khi lúc này, lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam còn non trẻ,
chưa giành được chính quyền, chưa tự chủ được về kinh tế, chưa giải phóng được nhiều
ruộng đất và người dân khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, phát xít nên chưa đủ sức
để hỗ trợ, cứu đói cho người dân… Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra
như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực của miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo
lại càng trở nên thiếu hơn.
Nhật Bản và Pháp đều tham chiến trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, biến Việt Nam
thành sân sau cung cấp lương thực để phục vụ cho các nỗ lực chiến tranh của họ. 8
1.3 Thc trng và hu qu ca nạn đói năm 1945
Nạn đói năm Ất Dậu kỳ thực bắt đầu từ khoảng tháng 10 năm 1944, nạn đói kéo dài
sang nửa đầu năm 1945 và chỉ thực sự chấm dứt khi mà phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo lên đến đỉnh cao
và giành được thắng lợi vào tháng 8 năm 1945.
Trong cuốn sách “Lịch s biên niên Đảng Cng sn Vit Nam - Tp 2 nhà xut bn
Chính tr quốc gia phát hành năm 2008 có ghi: Do chính sách vơ vét của đế quốc phát xít
Pháp - Nhật các cuộc ném bom của Đồng minh ngăn chặn sự thông thương Bắc - Nam do
mất mùa từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945 nạn đói trầm trọng đã diễn ra ở 32 tỉnh Bắc
Kỳ và Bắc Trung Kỳ từ Quảng Trị trở ra trọng điểm là các tỉnh đồng bằng nơi dân số tập
trung đông có nhiều ruộng như Thái Bình,Nam Định,Hải Phòng, Thanh Hóa,.... Đây là nạn
đói khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc ta. Theo thống kê từ các địa phương bị nạn đói
hoành hành, chỉ trong thời gian ngắn, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người, bằng
1/10 dân số Việt Nam lúc bấy giờ.
Đế quốc Nhật Bản khi vừa đặt chân đến Đông Dương vào tháng 10/1940 chúng đã thi
hành hàng loạt các chính sách đánh vào nền kinh tế. Bao gồm: Buộc Pháp ký các hiệp ước
liên quan tới cung cấp lương thực, giao nộp lúa gạo định kỳ hàng năm, cấm vận chuyển lúa
gạo thực phẩm từ Nam ra Bắc, kiểm soát và hạn chế việc chuyên chở tự do chỉ được chở
tối đa 50kg gạo trong một tỉnh. Trong khi đó, hệ thống cung cấp lương thực từ miền Nam
ra miền Bắc bị đứt gãy do Mỹ ném bom làm hỏng hệ thống đường sắt và đường bộ ở vĩ
tuyến 17. Đi kèm với chính sách cấm vận chuyển lúa gạo từ Nam ra Bắc thì bọn Nhật còn
ra sức vơ vét từng hạt thóc ở miền Bắc khiến giá thóc gạo tăng vọt: năm 1943 giá 1 tạ gạo
niêm yết là 31 đồng chợ đen bán 57 đồng thì sang năm 1944 giá gạo là 40 đồng chợ đen là
350 đồng một tạ nhưng vẫn chưa kinh khủng bằng năm 1945 giá chợ đen tăng lên gấp đôi
700-800 đồng một tạ trong khi giá chính thức là 53 đồng. Giá gạo cao vút như vậy khiến
người dân nghèo Việt Nam rơi dần vào cảnh chết đói. Ngoài ra, Nhật còn ép người nông
dân nhổ hết lúa trồng đay, lấy ruộng trồng lạc. Theo thống kê năm 1940, diện tích trồng
đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 hecta.
Trong khi Nhật ra sức vơ vét cho chiến tranh thì Pháp cũng tìm mọi thủ đoạn để gom
góp dự trữ thực phẩm phòng khi quân đồng minh chưa tới phải đánh nhau với Nhật và dự
phòng khi tái xâm lược Việt Nam. Từ đây, người chịu khổ nhất là nông dân với đủ loại thuế
đinh, thuế điền, tô tức. Năm 1944, Việt Nam mất mùa nhưng thực dân Pháp và chính quyền
phong kiến vẫn phải cống nộp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để phục vụ chiến tranh phát
xít, một phần cũng để cho Pháp làm nguyên liệu nấu rượu, thóc thì được thay thế cho than 9
đá dùng đốt lò. Trích dẫn từ một nghiên cứu của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng
Viện Sử học Việt Nam: “Ngoài các chính sách tô cao thuế nặng, phát xít Nhật còn đưa ra
một “chương trình kinh tế chỉ huy” nhằm thực hiện một cách triệt để chủ trương phát xít
của mình. Chiến tranh giữa phát xít Nhật và quân đồng minh (trong đó có thực dân Pháp)
làm cho nhu cầu nhiên liệu than, dầu, điện của Nhật tăng cao. Chúng đã lấy ngô, vừng. lạc
và cả lúa gạo để thay thế những nhiên liệu này nhằm mưu đồ phát xít, đẩy người dân vào
thảm họa chết đói…. Và thảm cảnh nông nghiệp bắt đầu diễn ra: Hàng nghìn mẫu ngô
ruộng bị phá, hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá hoại, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Và hệ
quả là tình trạng thiếu hụt lương thực trầm trọng, giá gạo ở miền Bắc tăng 1400%.
Bên cạnh đó, tháng 9/1944 thiên tai còn ập tới một trận lụt lớn đã khiến đê La Giang
(Hà Tĩnh) và đê sông Cả (Nghệ An) bị vỡ khiến nạn đói càng trở nên trầm trọng hơn, khổ
nhất là dân ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) khi cả vụ mùa năm 1944 người dân mất
trắng vì bị rầy phá hoại hàng trăm mẫu ruộng chết trắng chết vàng cả mẫu ruộng không mất
nổi vài chục cân thóc mẩy. Thêm vào đó, mùa đông lạnh giá bất thường năm 1944-1945,
nhiệt độ giảm xuống còn 6℃ đã phá hủy một lượng lớn các cây lương thực, hoa màu khác ngoài lúa.
Cái đói không buông tha ai trọng tâm là những người dân nghèo người lao động đặc
biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất. Để sinh
tồn giữa nạn đói người dân phải ăn đủ thứ từ rau dại củ chuối vỏ cây đến cả thịt trâu bò chó
mèo, dân làng chài thì ăn củ nâu cá chết. Khi không còn tìm được thứ gì ăn thì họ chỉ còn
nước ngồi chờ chết để người nhà mang đi chôn hoặc có khi chết bờ chết bụi khi đang đi
kiếm cái ăn. Cái chết vì đói là kiểu chết từ từ nhưng vô cùng thảm khốc nó dày vào con
người ta cả thể xác lẫn tinh thần, Cái đói phá hoại từ xã hội đến từng gia đình, nó khiến cha
bỏ con, vợ bỏ chồng, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì người ta phải trộm
cướp. Ở các vùng nông thôn nghèo hàng nghìn gia đình có khi chết cả nhà nhiều dòng họ
tuyệt tự hoặc may ra có vài người sống sót.
Tháng 3 năm 1945 nạn đói lên đến đỉnh điểm lũ lượt người ngược kẻ xuôi chạy đến
các thành phố lớn họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Ở Hà Nội người dân đã đoàn kết
nhau lại phát động Ngày Cứu Đói, lập các trại tế bần phát cháo miễn phí cứu những người
đang thoi thóp được đưa về trại Giáp Bát, còn những người không thể cứu được mạng nữa
thì xác chất đầy một xe bò đem đi hất xuống hộ “hất xuống hố như hất rác” tại nghĩa trang
Hợp Thiện - Hai Bà Trưng. Mục sư Lê Văn Thái Nguyên- hội trưởng Hi thánh Tin Lành
Vi
t Nam thi k 1942-1969 viết li: “Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp
chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác 10
từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết,
mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần.
một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đỏ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo
nhau từng lũ đến tranh cướp”.
Nạn đói đã để lại hậu quả nghiêm trọng khi nạn đói nửa năm ở Bắc bộ đã chết hơn 2
triệu người. Ở các địa phương, nhiều dòng họ gia đình đã chết hết không còn một ai. Làng
Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956
người. Người ta thống kê ở Thái Bình, cả tỉnh trong vòng 5 tháng số người chết lên tới
280.000 người chiếm 1/4 tổng số dân toàn tỉnh. Trong cuốn sách “Lịch sử Hà Nam Ninh”
xuất bản năm 1988 cũng có ghi: “Phủ Nghĩa Hưng, Nam Định mỗi ngày chết 400 người.
Huyện Kim Sơn, Ninh Bình, cả vụ đói có 22.908 người chết. Trong 6.161 hộ của cả tỉnh
Hà Nam Ninh thì có 1.571 hộ chết không còn người nào. Nam Định chết 212.218 người,
Ninh Bình - 37.939 người, Hà Nam - 50.398 người”. Tỉnh Hà Sơn Bình cũ trong cả nạn đói
mất đi đến 8 vạn người tức là 10% dân số trong tỉnh. nhiều nơi làng mạc xác xơ tiêu điều,
các loại hình nghề thủ công cũng đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn
2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100
người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân. Những địa phương kể trên là những địa
phương có nhiều người dân bị chết trong nạn đói 1944-1945.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, mặt trận Việt Minh tận dụng cơ hội,
kêu gọi nhân dân cùng hợp sức phá hàng trăm kho thóc của Nhật để trợ đồng bào. Phong
trào sôi sục khắp nơi đã giúp nạn đói dần được đẩy lùi phần nào, người nông dân lại bắt
đầu dắt díu nhau trở về quê hương tiếp tục cày cấy. Cho tới tháng 6, vào vụ chiêm có gạo
mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì bội thực. Thêm nữa, môi
trường vô cùng ô nhiễm bởi xác chết chất chồng không được xử lý trong thời gian qua.
Dịch bệnh bắt đầu kéo tới lại lấy đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội ở Bắc Giang và
Cao Bằng. Nhiều làng, xã nhiễm dịch tả, dịch sốt vàng da, đã mất đi 50%-80% dân số.
Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội
lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói
và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc.
80 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài
những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch
sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt. 11
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GII
QUY
T NẠN ĐÓI NĂM 1945
2.1. Ch
trương của Đảng Cng sản Đông Dương về gii quyết nạn đói năm 1945
Nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm 1945 là một trong những thách thức lớn nhất mà
Chính phủ cách mạng Việt Nam phải đối mặt và việc chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một
nhiệm vụ lớn và cấp bách lúc bấy giờ. Bởi vì, nạn đói lan rộng, hoành hành sẽ làm xói mòn
sức mạnh dân tộc, đe dọa cuộc sống mọi người. Dân có ấm no thì chính quyền mới được
giữ vững, củng cố; đất nước mới yên. Để giải quyết vấn nạn này, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã đề ra những chủ trương cụ thể, chia làm hai giai đoạn: trước mắt và lâu dài.
2.1.1. Ch trương trước mt
Trong tình hình Nhật tăng cường tích trữ lương thực, khóa chặt kho thóc gạo thì dân
Việt lại chết đói khắp nơi. Do đó, tháng 3 năm 1945, khi Chính phủ chưa ra đời, lực lượng
Việt Minh đã kêu gọi đồng bào vùng lên phá kho thóc, tìm đường sống; tổ chức và cử người
trực tiếp cùng đồng bào đi phá kho lương thực Nhật. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết
nạn đói” của Việt Minh được thực hiện ở khắp tỉnh thành.
Để khắc phục và giải quyết nạn đói, dưới sự chỉ đạo của Đảng, ngày 5-9-1945, Chính
phủ ra Sắc lệnh số 7 tuyên bố thủ tiêu tất cả những quy định hạn chế việc lưu thông, chuyên
chở thóc gạo giữa các vùng trong cả nước. Nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo,
cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất
khẩu gạo, ngô, đậu, …
Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28-9-1945, Bác Hồ viết
bài kêu gọi “sẻ cơm nhường áo” đăng trên Tờ Cứu quốc: “Hỡi đồng bào yêu quý, t tháng
giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bc B ta đã có hai triệu người chết đói. Kế đó lại b nước
l
t, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn,
nghĩ đến k đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề ngh với đồng bào c
nước, và tôi xin thực hành trước: C 10 ngày nhịn ăn một ba, mi tháng nhn 3 bữa. Đem
gạo đó (mỗi ba một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo s có ba rau
b
ữa cháo để ch mùa lúa năm sau, khỏi đến ni chết đói. Tôi chắc rằng đồng bào ta ai
cũng sẵn lòng cu kh cu nạn, mà hăng hái hưởng ng lời đề ngh nói trên. Tôi xin thay
m
t dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào” (Sách Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 - NXB Chính
trị quốc gia – Sự thật – 2011).
Đảng còn phát động phong trào quyên góp, điều hoà thóc gạo, đồng bào cả nước hưởng
ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người. Lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn lửa thắp sáng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của 12
cả dân tộc. Phong trào thi đua cứu đói đã diễn ra rộng khắp trên cả nước với rất nhiều sáng
kiến, cách làm sáng tạo như tổ chức “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, “Đoàn
quân tiễu trừ giặc đói”. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều đóng góp một phần nhỏ bé để chung
tay cứu đói. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng
bào đang chịu thảm họa của nạn đói, góp phần cứu giúp kịp thời.
Ngày 2-11-1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu
tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói, đặt các trụ sở ở Hà Nội, Thuận Hóa
và Sài Gòn. Hội có các chi nhánh ở các tỉnh, huyện, xã và tận các làng bản, thực hiện các
biện pháp nhằm giảm sự lãng phí lương thực, đồng thời tìm kiếm nguồn lương thực, thực
phẩm để cứu giúp những người nghèo
Ngày 28-11-1945, Chủ tịch Chính phủ lại ký Sắc lệnh số 67 cho thiết lập “U ban ti
cao tiếp tế và cu tế” của Chính phủ. Tham gia Uỷ ban này có Bộ trưởng các bộ: Bộ Kinh
tế, Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động và Bộ Canh nông. Uỷ ban này được phép toàn
quyền hành động để thực hiện công cuộc cứu tế và tiếp tế trên toàn quốc. Ngoài ra còn có
các Ủy ban cứu trợ, huy động mọi nguồn lực xã hội để cung cấp lương thực, thuốc men cho người dân.
2.1.2. Ch trương lâu dài
Cùng với quá trình khẩn cấp cứu đói, để bảo đảm giải quyết căn cơ và triệt để nạn đói,
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực
hành tiết kiệm với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia
sn xuất ngay! Tăng gia sản xut nữa!” Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Toàn dân thi đua
hăng hái tham gia sản xuất.
Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra ngày 14 và 15/8/1945 đã ban hành nghị quyết,
trong đó có những nội dung liên quan đến hoạt động cứu đói: “Chia lại ruộng công, làm
cho dân nghèo có ruộng cày cấy, khuyến khích sản xuất; giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn
nợ”; “Thi hành luật ngày làm tám giờ; đặt luật xã hội bảo hiểm; cứu tế nạn dân”. Chính phủ
bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý của chế độ cũ, thực hiện chính sách giảm tô 25%,
chia lại ruộng đất công một cách công bằng. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri quy định việc
kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông
dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.
Ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất.
Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân
dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn
chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê 13
điều, đắp thêm một số đê mới. Phong trào tăng gia, sản xuất diễn ra sôi nổi trong khắp cả
nước kể từ Chủ tịch, Chính phủ đến mọi cán bộ cao cấp của Đảng ngoài giờ làm việc chính thức đều tham gia.
Bên cạnh đó nhà nước đã thực hiện các chủ trương, chính sách cần thiết khơi gợi công
tác tuyên truyền để người dân đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ và động viên lẫn nhau. Việc cứu
đói năm 1945 là một trong những hoạt động có ý nghĩa sâu sắc trong việc vực dậy một dân
tộc bị ảnh hưởng nặng nề từ các chính sách thâm độc của bọn thực dân, phát xít; đồng thời
khơi gợi, cố kết toàn dân tộc để thành một khối thống nhất giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng Tám.
2.2 Quá trình trin khai Ch trương của Đảng Cng sản Đông Dương về gii quyết nạn đói năm 1945
2.2.1 Ch
trương cứu đói trước mt
Để thực hiện những chủ trương cứu đói trước mắt, ngay từ khi Chính phủ chưa ra đời,
lực lượng Việt Minh đã tổ chức và cử người trực tiếp cùng đồng bào đi phá kho lương thực
Nhật. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” của Việt Minh được thực hiện ở khắp
tỉnh thành. Tại Ninh Bình, hai huyện Nho Quan, Gia Viễn đã phá thành công 12 kho thóc.
Tại Hải Dương, nhân dân giành lại được 39 kho thóc và 43 thuyền gạo. Tại Thái Bình, hơn
1.000 tấn thóc trong các kho của Nhật được phá cửa, chia cho dân. Các tỉnh Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, Thái Nguyên, Hải Phòng, ngoại thành Hà Nội... cũng diễn ra tương tự. Miền Nam
cũng đã nổ ra phong trào phá kho lúa, để chia cho dân nghèo và cứu tế miền Bắc.
Ngày 5-9-1945, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ ra Sắc lệnh số 7 tuyên bố thủ tiêu
tất cả những quy định hạn chế việc lưu thông, chuyên chở thóc gạo giữa các vùng trong cả
nước. Nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo, cấm dùng gạo vào các công việc chưa
thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu,... Để làm tốt công
tác này Chính phủ đã cử một uỷ ban vào Nam Bộ điều tra và tổ chức việc vận chuyển thóc
gạo ra miền Bắc. Việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ trở nên hoàn toàn được tự
do, Chính phủ cần thóc gạo sẽ mua thẳng của tư gia. Còn đối với những người có hành vi
đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị
tịch thu gia sản. Đây là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một
thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu
của người dân Việt Nam lên trên hết, bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc.
Sau khi đưa ra lời kêu gọi “sẻ cơm nhường áo” đăng trên Tờ Cứu quốc, ngày 11-10-
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp bát gạo đầu tiên rồi dự lễ xuất phát của “Đoàn quân
tiễu trừ giặc đói” tại Nhà hát lớn Hà Nội. Nhân dân khắp nơi tự nguyện thực hiện, cứ 10 14
ngày nhịn ăn 1 bữa, tháng nhịn ăn ba bữa, đem số gạo đó ủng hộ người nghèo. Trong Lễ
phát động đầu tiên, Bộ Cứu tế xã hội đã vận động nhân dân tích cực tham gia và thu được
kết quả khả quan. Báo cáo tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 13-10-1945, Bộ trưởng
Nguyễn Văn Tố báo cáo kết quả mà đội quân tiễu trừ giặc đói thực hiện, đã quyên góp được
5 tấn gạo ngay trong ngày đầu tiên ra quân (ngày 11-10). Bên cạnh đó, hưởng ứng lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời thực hiện nhiệm vụ mà Người đã đặt ra trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu đói
cũng đã vận động tổ chức lạc quyên, tổ chức “ngày đồng tâm” nhịn ăn lập “hũ gạo cứu
đói”… trở thành một phong trào quần chúng rộng lớn. Phong trào trên đã được đông đảo
quần chúng nhân dân ủng hộ và tham gia tích cực với nhiều hình thức phong phú, lôi kéo
đông đảo giáo viên Hội Truyền bá quốc ngữ, Thanh niên Cứu quốc, công chức, tiểu
thương... tham gia. ở Hà Nội, Nam Định và các địa phương khác xuất hiện các xe bò “Bác
ái” đi lạc quyên khắp phố, phường. Nhân dân thành phố, tỉnh, huyện. . nhận kết nghĩa đỡ
đần nhau. Nhân dân Hưng Yên giúp đỡ nhân dân Thái Bình. Đồng bào Đà Nẵng cấp tốc
đưa các chuyến tàu gạo ra Hà Nội. Các địa phương bỏ hẳn tệ nạn nhậu nhẹt, rượu chè, cờ
bạc… Bên cạnh đó, công tác vận động các nhà tư sản, địa chủ bỏ tiền của, thóc gạo ra sức
cứu đói cũng thu được kết quả tốt. Rất nhiều địa chủ đã nhiệt tình, hăng hái đóng góp. Có
hộ tự nguyện góp tới 50 tấn thóc. Lại có hộ góp cả số hoa lợi trên 600 mẫu ruộng.
Phong trào dần dần trở nên rộng lớn, sôi động khắp toàn quốc, chẳng những lôi cuốn
nhà nhà tham gia, người người tham gia mà còn lôi cuốn được nhiều tổ chức quần chúng,
văn hoá và xã hội khác. Nhiều tổ chức quần chúng, các đảng phái, tôn giáo, bà con ngoại
kiều... cũng quyên góp tiền, gạo để giúp đỡ người nghèo. Những đêm biểu diễn văn hoá
nghệ thuật ra đời nhằm lạc quyên tiền gạo của các nhà hảo tâm, để cứu đói được tổ chức ở
nhiều nơi. Những hoạt động hưởng ứng lời kêu gọi, triển khai trên đã mang lại hiệu quả
thiết thực trong việc vận chuyển thóc gạo và giảm bớt sự lãng phí thóc gạo trong nhân dân.
Chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, chúng ta đã vận chuyển được hơn 700 tấn gạo từ
các tỉnh Nam Bộ, Trung Bộ ra cứu đói ở Bắc Bộ. Nhiều làng ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải
Dương đã tự nguyện bỏ hủ tục tiệc tùng lãng phí để tiết kiệm lương thực. Các làng Cốm ở
vùng Hoài Đức (Hà Đông), Dịch Vọng (Từ Liêm, Hà Nội) cũng ngừng hoạt động để đỡ
lãng phí thóc gạo nhằm giúp đỡ dân nghèo.
Tiếp đó, ngày 2-11-1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm
Y tế, Cứu tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói, đặt các trụ sở ở Hà Nội,
Thuận Hóa và Sài Gòn. Hội có các chi nhánh ở các tỉnh, huyện, xã và tận các làng bản,
phương pháp hoạt động của Hội chủ yếu là tìm nguồn thực phẩm, tiền và vải do các nhà 15
hảo tâm giúp đỡ; phát triển sản xuất, khuyến khích công việc đồng áng và trông nom đê
điều; giúp đỡ nhân dân trong việc khai khẩn đất hoang hóa để đưa vào sản xuất.
Ngày 28-11-1945, để hoạt động tiếp tế, cứu tế tổ chức quy củ, chặt chẽ, hiệu quả hơn,
Chủ tịch Chính phủ lại ký Sắc lệnh số 67 cho thiết lập “U ban ti cao tiếp tế và cu tế”
của Chính phủ. Ủy ban này có toàn quyền hành động để nghiên cứu thi hành những phương
pháp cần thiết về tăng gia sản xuất, tiếp tế, cứu tế cho nhân dân trong toàn cõi Việt Nam.
Ngoài ra còn có các Ủy ban cứu trợ, huy động mọi nguồn lực xã hội để cung cấp lương
thực, thuốc men cho người dân. Xét thâ y yêu câ u va nhiêm vu cua Chinh phu đặt ra là phải
thưc hiên ngay cac biên phap cưu tê xa hôi, ngay 31-12-1945, Bô trương Bô Cưu tê xa hôi
Nguyễn Văn Tố ký ban hành Să c lênh 63 về thành lập Hội cứu tế xã hội. Sắc lệnh yêu cầu
ở mỗi miền Bắc-Trung-Nam phải thành lập một cơ sở y tế ở địa phương để có thể thực hiện
tốt công tác cứu tế khi đời sống của nhân dân tại địa phương gặp khó khăn. Người dân khi
có vướng mắc có thể liên lạc với Hội Cứu tế xã hội của Chính phủ.
2.2.2 Ch trương lâu dài
Hưởng ứng lời kêu gọi tăng gia sản xuất trong cả nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một
phong trào khai hoang “tấc đất, tấc vàng”, “không một tấc đất b hoang” đã phát triển sâu
rộng trong toàn quốc. Chính quyền tất cả các địa phương quyết định cho phép sử dụng
những đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt. Chính quyền còn
vận động cả tư nhân cho sử dụng tạm các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi
địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất. Lương thực làm
ra được dùng để cứu tế… Ở Hà Nội, học sinh đã cuốc xới cả sân trường, vỉa hè, bất cứ nơi
nào đất trống. Viên chức cuốc vườn trong công sở để trồng ngô, khoai.. Thanh niên thủ đô
chia thành những đội tăng gia đi trồng sắn ở bờ đê, bãi sông, lề đường.
Ngày 17-10-1945, Bộ Kinh tế ra Thông tư cho Uỷ ban nhân dân các cấp về phương
pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp. Ngày 17-11-1945, Bộ Kinh tế lại ra Thông tư quy
định: các Uỷ ban nhân dân phải kê khai rõ số ruộng đất còn thừa trong vòng 15 ngày. Nếu
chủ điền nào không khai hoặc khai man sẽ bị phạt. Tiền phạt thu được đem bỏ vào công
quỹ của làng để mua sắm dụng cụ, cây và con giống, giúp đỡ cho các hộ nghèo. Các Uỷ
ban nhân dân sẽ công bố những phần ruộng đất để nông dân mượn. Những nông dân muốn
mượn đất có quyền giao dịch thẳng với chủ điền; khi gieo trồng, họ được hưởng hoa lợi
hoàn toàn. Các Uỷ ban nhân dân cũng điều tra số ruộng đất bị hoang hóa để cho nông dân
mượn canh tác mà không phải nộp các thứ thuế. Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính
phủ ban hành nghị định miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra 16
thông tri quy định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không
làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.
Bên cạnh đó, ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn
đề sản xuất, ở các tỉnh, huyện, xã và làng đều thành lập Tiểu ban canh nông. Nhiều chính
sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất,
do vậy tờ báo Tấc đất ra đời để phổ biến những chỉ thị của Chính phủ, tổ chức, hướng dẫn
bà con kiến thức về nông nghiệp để tăng gia sản xuất. Lệnh cấm xuất khẩu gạo và các loại
hoa màu khác được ban hành và có sự kiểm tra nghiêm ngặt. Để phát triển sản xuất hơn
nữa, Chính phủ còn lệnh cho các “Nông phố ngân hàng” và “Bình dân ngân quỹ” phải tạo
điều kiện cho nông dân vay tiền mua cây, con giống, hô hào các nhà tư sản, những nhà giàu
cho dân nghèo vay vốn để phát triển sản xuất. Chính phủ cũng đã cấp 110 tấn thóc giống
cho những vùng bị thiên tai nặng nhất. Việc chế tạo các công cụ sản xuất cũng được mở rộng và phát triển.
Việc củng cố hệ thống đê để tránh sạt, lở, vỡ đê cũng được Chính phủ chú trọng. Đến
khoảng cuối tháng 10-1945, được sự tham gia tích cực của toàn dân, tất cả các đoạn đê vỡ,
xung yếu đều được khắc phục. Từ cuối tháng 11-1945, nhân dân các địa phương tập trung
vào việc bồi đắp đê cũ và đắp thêm đê mới. Trước khi bước vào mùa lũ, lụt năm 1946,
Chính phủ đã ra sắc lệnh thành lập “Uỷ ban Trung ương hộ đê ở Bc Bộ”. Chính vì thế,
công tác bảo vệ đê, phòng chống bão, lụt đã bước đầu ổn định.
Nhằm bảo vệ và phát triển chăn nuôi, Chính phủ đã thành lập các đoàn bác sĩ thú y về
tận các làng, xã để triển khai công tác phòng chống bệnh dịch cho gia súc, gia cầm. Công
tác động viên nhân dân đi khai hoang sản xuất cũng được coi trọng. Nhiều trang trại mới
đã được mọc lên ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang. .
Bằng sự cố gắng nỗ lực của Đảng, Chính phủ và sự tích cực tăng gia sản xuất của toàn
dân, việc giải quyết nạn đói đã thu được những kết quả to lớn. Vụ chiêm năm 1946, sản
lượng lương thực thu được ở Bắc Bộ cao hơn vụ chiêm năm 1945 là 100.000 tấn. Vụ mùa
năm 1946, nhiều tỉnh cũng đạt thu hoạch khá cao. Nếu vụ mùa năm 1943 ở Bắc Bộ chỉ đạt
952.730 tấn, năm 1944 là 832.000 tấn, thì năm 1946 đạt 1.550.000 tấn. Thu hoạch từ các
loại hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn, đỗ, lạc... cũng cao hơn nhiều so với các năm trước.
Tăng gia sản xuất phát triển, sản lượng thu hoạch cao, đời sống nhân dân bước đầu đã được
cải thiện. Điều này chẳng những có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, mà còn góp phần quan
trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.
Như vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra những chủ trương đúng đắn và kịp
thời, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn dân, mang lại những kết quả tích cực, 17
góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình xã hội và xây dựng đất nước. Đầu năm
1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, tạo điều kiện cho việc xây dựng và giữ vững chính
quyền; phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, mở rộng khối đoàn kết toàn dân và thúc
đẩy phong trào xóa nạn mù chữ trong đông đảo quần chúng nhân dân. Đánh giá thành tích
này trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ
Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là mt k công
c
a chế độ dân chủ”.
2.3 Đánh giá về Ch trương của Đảng của Đảng Cng sản Đông Dương về gii quyết nạn đói năm 1945 2.3.1 Thành công
Th nht, sự lãnh đạo của Đảng đã đóng vai trò quyết định trong việc khởi xướng và
tổ chức các hoạt động cứu đói. Qua lời kêu gọi phát động phong trào "nhường cơm sẻ áo"
và lập "hũ gạo cứu đói" đã khuyến khích người dân chia sẻ lương thực cho nhau, giúp đỡ
những người đang chịu đói. Không chỉ dừng lại ở việc huy động lương thực từ nhân dân,
Đảng còn tổ chức các hoạt động sản xuất nông nghiệp khẩn cấp, tăng gia sản xuất tại những
vùng có điều kiện để tăng cường nguồn cung cấp lương thực. Sự lãnh đạo sáng suốt và kịp
thời của Đảng ta không chỉ giúp người dân vượt qua nạn đói mà còn nâng cao uy tín của
họ trong lòng quần chúng, củng cố lòng tin của nhân dân vào phong trào cách mạng. Nhờ
đó, Đảng ta không chỉ thực hiện thành công công tác cứu đói mà còn chuẩn bị cơ sở chính
trị vững chắc cho cuộc Cách mạng Tháng Tám ngay sau đó.
Th hai, việc phân phát và thu mua lương thực đã được tổ chức hiệu quả. Trong bối
cảnh lương thực khan hiếm nghiêm trọng, chính quyền của Đảng đã khéo léo tổ chức các
đợt thu mua gạo từ những vùng nông thôn còn sản lượng, tập trung vào những khu vực ít
chịu ảnh hưởng của nạn đói. Sau đó, họ nhanh chóng phân phối lương thực đến các thành
phố và khu vực bị đói kém trầm trọng. Quá trình phân phát được thực hiện công bằng và
có tổ chức, nhằm đảm bảo lương thực đến tay người dân nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Hơn nữa, Đảng còn kêu gọi các chủ ruộng lớn đóng góp gạo để cứu trợ, giảm bớt sự tập
trung tài nguyên trong tay một số ít người giàu có. Sự khéo léo trong việc điều phối lương
thực đã giúp cứu sống hàng ngàn người, giảm bớt tình trạng đói khổ và tạo lòng tin mạnh
mẽ từ phía quần chúng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
Th ba, việc kết hợp các biện pháp cứu đói với chuẩn bị cho cuộc cách mạng đã góp
phần quyết định vào thành công toàn diện của Đảng trong năm 1945. Trong khi tổ chức các
hoạt động cứu đói, Đảng cũng đồng thời tận dụng cơ hội này để xây dựng và mở rộng mạng
lưới quần chúng ủng hộ cho cách mạng. Các phong trào cứu trợ lương thực không chỉ nhằm 18
mục đích giúp đỡ người dân vượt qua nạn đói mà còn là phương tiện để gắn kết các tầng
lớp nhân dân với Đảng, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của họ. Nhiều cán bộ cách mạng
đã được cử về các địa phương để vừa thực hiện công tác cứu đói, vừa vận động nhân dân
tham gia vào phong trào đấu tranh giành độc lập. Qua quá trình này, Đảng không chỉ giải
quyết nạn đói trước mắt mà còn nâng cao tinh thần đấu tranh và ý thức dân tộc của người
dân, chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám. Việc lồng ghép hoạt động cứu trợ và chuẩn bị
cách mạng một cách khéo léo đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng giành quyền lực và thành
lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó.
2.3.2 Hn chế
Bên cạnh những thành công lớn đáng ghi nhận trong đường lối, chủ trương của Đảng
đã giúp đất nước bước qua nạn đói lịch sử thì vẫn còn tồn tại một số ít hạn chế.
Đầu tiên, là hạn chế khách quan đến từ hoàn cảnh với muôn vàn khó khăn thử thách
hiểm nghèo do chế độ thực dân, phong kiến để lại. Lợi dụng tình thế khó khăn, bọn phản
cách mạng tìm cách liên kết với Quốc dân Đảng công khai hoặc ngấm ngầm chống phá
cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các đoàn thể của ta, lợi dụng danh nghĩa cách
mạng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đe dọa uy hiếp nhân dân,
tìm cách phá cơ sở cách mạng. Chúng tự đến các làng để diễn thuyết, lập hội, viết báo tuyên
truyền tư tưởng phản động, làm lung lay vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này còn
quá non trẻ với nhiều hạn chế trong nhân sự khó có thể kiểm soát chặt chẽ, loại trừ các đối
tượng này. Đảng Cộng sản Việt Nam mới chỉ giành được chính quyền còn nhiều hạn chế
trong nguồn lực tài chính cũng như nhân sự dẫn đến một số chủ trương, nghị quyết của các
cấp ủy do các cơ quan tham mưu đề xuất chưa thực sự được tổng kết thực tiễn kỹ lưỡng;
chưa đánh giá, dự báo những tác động, ảnh hưởng một cách đầy đủ, khoa học. Ở một số
nơi việc việc chia lại công điền, công thổ còn có biểu hiện lệch lạc vì chính quyền cách
mạng thiếu nguồn lực để có thể kiểm soát, sàng lọc những địa chủ phản động lũng đoạn
ảnh hưởng đến quyền lợi của quần chúng nhân dân lao động. Có địa phương chưa nắm
vững chủ trương, làm quá đà do sự thiếu hụt thông tin và chính quyền không có hệ thống
thông tin liên lạc hiệu quả để nhận biết được quy mô, mức độ của nạn đói, dẫn đến việc họ
không thể triển khai kịp thời các biện pháp cứu trợ. Ở một vài nơi UBND đã bổ sung công
thóc gạo hoặc phá phách các ấp, dọa nạt chủ điền, chủ ấp gây ra sự bất bình đối với nhiều
địa chủ, tạo ra nhiều kẻ thù đối nghịch lại Đảng. Do tiến hành vội vã, tự phát chưa có sự
tập trung đông đảo mà phong trào phá kho thóc ở một số địa phương có thiệt hại lớn về
người và tài sản. Ở một số nơi còn xuất hiện hiện tượng nông dân trở nên quá khích đấu tố 19
tràn lan mất kiểm soát, có một số thành phần phạm sai lầm về nhận thức về việc chuẩn bị
lực lượng và triển khai khiến cho tình hình càng thêm khó kiểm soát.
Bên cạnh đó, do chiến tranh, hệ thống giao thông và vận chuyển lương thực từ các vùng
thừa gạo (như miền Nam) đến các vùng thiếu gạo (như miền Bắc) bị gián đoạn và hư hại
nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực trầm trọng hơn. Phong trào vận động tiết
kiệm lương thực ủng hộ người bị đói bước đầu đạt kết quả tốt, nhưng đó chỉ là biện pháp tức thời.
Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng tịch thu thóc gạo dự trữ
của địch chia cho toàn dân. Nạn đói bước đầu được ngăn chặn, song nhìn chung vẫn chưa
được giải quyết triệt để vì số thóc thu hoạch vụ chiêm 1945 và thóc cứu tế của chính quyền
cũng chỉ có hạn. Sau khi Nhật chiếm Đông Dương, họ buộc nông dân Việt Nam chuyển đổi
diện tích trồng lúa thành trồng đay để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Điều này làm giảm
đáng kể diện tích lúa gạo và dẫn đến thiếu hụt lương thực trầm trọng. Tình hình chính trị -
xã hội không ổn định cũng khiến diện tích canh tác giảm sút nhanh chóng. Chỉ tính trong
15 tỉnh đồng bằng, diện tích cấy lúa mùa năm 1944 là 967.000 ha, đến vụ mùa năm 1945
còn 547.000 ha. Số ruộng bị bỏ hoang do lũ lụt, thiếu mạ, thiếu phân bón, thiếu sức kéo
hoặc do bị địch uy hiếp, phá hoại ước tới 265.000 ha. Vì thế, vụ mùa năm 1945 thu hoạch
thấp nhiều so với năm 1944 (từ 832.000 tấn giảm xuống còn 500.000 tấn). Số thóc trên chỉ
cung cấp đủ cho nhân dân dùng trong vòng 3 tháng. Nguy cơ nạn đói quay trở lại với một
mức độ rộng lớn và trầm trọng hơn. Tính mạng của hàng vạn con người trông chờ vào
những biện pháp nhằm đẩy lùi nạn đói của Đảng và chính quyền cách mạng. Chủ trương
lâu dài của Đảng là tăng gia sản xuất, giải quyết triệt để tình trạng thiếu hụt lương thực vấp
phải nhiều khó khăn. Tình thế lúc này, Đảng vừa phải chủ trương đẩy mạnh sản xuất ở miền
Bắc vừa phải chuẩn bị, triển khai kháng chiến ở miền Nam. Đảng tiến hành cắt giảm địa tô,
giảm lợi tức, hoãn nợ… khuyến khích sản xuất phần nào khiến làm hạn chế nguồn ngân
sách phục vụ cho việc kháng chiến ở chiến trường Miền Nam.
2.3.3 Bài hc
Vai trò, vị thế lãnh đạo của Đảng được củng cố, nâng cao cùng với việc đề cao những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc nổi bật là tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân. Đảng đã
sáng suốt, kịp thời đưa ra những chủ trương chiến lược ngắn hạn và dài hạn nhằm xây dựng
lực lượng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng giúp đất nước bước qua giai đoạn
khó khăn. Thông qua những chủ trương và biện pháp đa dạng, tích cực, Đảng và chính
quyền các cấp đã khuyến khích đông đảo nhân dân tham gia vào các phong trào chống nạn
đói, đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, “nhường cơm sẻ áo” vốn là truyền 20