



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ
THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 VÀ CHỦ TRƯƠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GIẢI QUYẾT NẠN
ĐÓI NĂM 1945. LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÔNG TÁC HỖ TRỢ
ĐỒNG BÀO GẶP KHÓ KHĂN DO THIÊN TAI, DỊCH BỆNH,… Ở
MỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA
Lớp học phần: 241_HCMI0131_11 Nhóm: 2 GVHD: TS. Hoàng Thị Thắm Hà Nội – 10/2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ ĐÁNH GIÁ NHÓM 2 STT Họ và tên Nhiệm vụ Điểm 16 Dương Ngọc Bích 2.2 22 Vũ Thị Phương Dung 3.2 23 Đỗ Phương Duy 2.3 24 Cao Thị Thùy Dương Thuyết trình 25 Chử Thị Ánh Dương 3.1 26 Lê Bạch Dương
Tổng hợp Word + Mở đầu + Kết luận (Nhóm trưởng) 27 Nguyễn Thùy Dương 3.2 28 Nguyễn Tùng Dương 3.1 29 Vũ Tùng Dương 3.2 30 Nguyễn Văn Được 3.1 32 Hà Thị Hương Giang 2.1 33 Lê Hương Giang 1.3 34 Nguyễn Hương Giang 2.3 35 Vũ Thị Hương Giang Powerpoint 95 Nguyễn Thị Thu Uyên Thuyết trình 96 Đàm Hồng Vân 1.1,1.2 2 MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1. Bối cảnh lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.1.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn đói năm 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.1. Nguyên nhân trực tiếp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.3 Thực trạng và hậu quả của nạn đói năm 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GIẢI
QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải quyết nạn đói năm 1945
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1.1. Chủ trương trước mắt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.1.2. Chủ trương lâu dài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.2 Quá trình triển khai Chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải
quyết nạn đói năm 1945. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.1 Chủ trương cứu đói trước mắt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.2 Chủ trương lâu dài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3 Đánh giá về Chủ trương của Đảng của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải
quyết nạn đói năm 1945. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3.1 Thành công. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3.2 Hạn chế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
2.3.3 Bài học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
3.1 Công tác hỗ trợ lũ lụt tỉnh Hà Tĩnh năm 2020 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
3.2 Công tác hỗ trợ lũ quét, sạt lở đất tại tỉnh Hà Giang . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu Từ NXB Nhà Xuất Bản UBND Ủy Ban Nhân Dân LHPN Liên Hiệp Phụ Nữ HĐND Hội Đồng Nhân Dân 4
LỜI MỞ ĐẦU
Đã 80 năm đã trôi qua, nhưng nạn đói năm Ất Dậu (1945) vẫn là một ký ức kinh hoàng
trong tâm trí người dân Việt Nam. Thảm họa này đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu
người, tương đương 1/10 dân số lúc bấy giờ, để lại nỗi đau không dễ gì nguôi ngoai. Nguyên
nhân không chỉ do thiên tai, mà còn do chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát
xít Nhật, dẫn đến sự suy kiệt nghiêm trọng về lương thực. Trước tình cảnh đó, Đảng Cộng
sản Đông Dương đã kịp thời đưa ra những chủ trương và chính sách đúng đắn nhằm ứng
phó với nạn đói, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tạo nền tảng cho cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc sau này.
Dù đã qua nhiều thập kỷ, những chủ trương đó vẫn giữ nguyên giá trị khi đất nước phải
đối mặt với nhiều thách thức như thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Các biện pháp hỗ
trợ người dân ở những vùng gặp khó khăn đã được triển khai một cách kịp thời, thể hiện rõ
vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc đảm bảo an
sinh, khắc phục hậu quả do thiên tai và dịch bệnh gây ra.
Từ đây ta nhận thấy được việc nghiên cứu nạn đói năm 1945 cùng các chính sách của
Đảng trong thời kỳ đó không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử đầy đau
thương, mà còn cung cấp nhiều bài học quý báu cho công tác hỗ trợ người dân gặp khó
khăn trong bối cảnh hiện nay. Với lý do đó, nhóm hai đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm
hiểu về nạn đói năm 1945 và Chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải quyết
nạn đói năm 1945. Liên hệ thực tiễn công tác hỗ trợ đồng bào gặp khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh,... ở một vài địa phương trong thời gian qua”. 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945
1.1. Bối cảnh lịch sử
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công vào nước Ba Lan. Chiến tranh thế giới lần thứ
Hai bùng nổ. Lúc đầu là cuộc chiến tranh giữa 2 tập đoàn đế quốc: Đức, Ý, Nhật và Anh,
Pháp, Mỹ. Từ ngày 22-6-1941 trở đi, chiến tranh diễn ra giữa thế lực phát xít Đức, Ý, Nhật
với các lực lượng dân chủ chống phát xít (phe Đồng Minh do Liên Xô là trụ cột).
Tác động của chiến tranh thế giới thứ Hai làm cho phong trào giải phóng dân tộc phát
triển với mục tiêu chung chống chủ nghĩa phát xít. Thực dân Pháp liền nhảy vào vòng chiến,
kéo theo các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Để phục
vụ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng, thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách cực
kỳ phản động đối với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.
Ở châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật đẩy mạnh quy mô xâm lược Trung Quốc.
Đế quốc Nhật Bản bắt đầu bành trướng và coi Đông Dương như là "đầu cầu" để tiến qua
Nam Á hòng khống chế Trung Quốc. Bởi khi đó, tuyến đường sắt Hải Phòng-Vân Nam
được coi là con đường duy nhất Trung Quốc nhận được viện trợ từ Mỹ. Ở Đông Dương,
thực dân Pháp tiến hành phát xít hóa bộ máy cai trị từ Trung ương đến cơ sở; đồng thời,
thủ tiêu mọi quyền dân sinh, dân chủ, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, khủng bố,
bắt giam nhiều đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và những người có liên quan đến
Cộng sản, làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp càng thêm gay gắt.
Tháng 6-1940 ở chính quốc, nước Pháp đầu hàng phát xít Đức. Tháng 9-1940, phát xít
Nhật xâm chiếm Đông Dương, thực dân Pháp dâng Đông Dương cho Nhật. Phát xít Nhật,
thực dân Pháp cấu kết với nhau áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương và lập căn cứ quân
sự chống lại phe Đồng Minh ở Đông Nam Á.
1.1.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam
Trước chiến tranh thế giới thứ 2, Đông Dương trong đó có Việt Nam là thuộc địa của
thực dân Pháp. Khi chiến tranh nổ ra, Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ
máy thống trị; thực hiện chính sách tăng cường vơ vét sức người, sức của tại các nước thuộc
địa để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc.
Tháng 9 năm 1940, Nhật tiến vào miền Bắc Việt Nam, gây áp lực lên chính quyền Pháp
để giành quyền kiểm soát. Ngày 23/9/1940 tại Hà Nội, Pháp kí hiệp định đầu hàng phát xít
Nhật. Từ đó, Việt Nam bị cuốn vào cuộc chiến tranh khi Pháp và Nhật tranh chấp quyền
kiểm soát kinh tế, hứng chịu cảnh “một cổ hai tròng” áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật. 6
Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt các yêu sách
đánh vào nền kinh tế như: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp
lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra
Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ Hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Việt Nam, phát xít
Nhật tìm cách hất cẳng thực dân Pháp tăng cường chính sách xâm chiếm, bóc lột nhân dân
ta nhằm phục vụ cho chiến tranh của chúng. Những chính sách vô cùng tàn bạo của phát
xít Nhật và thực dân Pháp đã dẫn đến nạn đói trầm trọng, tàn khốc nhất trong lịch sử Việt
Nam khiến cho hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói và để lại hậu quả cho đến ngày nay.
Tháng 8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà mới ra đời đã phải đương đầu với bao khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Chính
quyền cách mạng chưa có kinh nghiệm tổ chức, quản lý, xây dựng đất nước; lực lượng vũ
trang còn quá nhỏ bé, trang bị với những vũ khí thô sơ. Đặc biệt nền kinh tế của đất nước
vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp-Nhật vơ vét xác xơ, chiến tranh tàn phá. Tính mạng
của hàng vạn con người đang trông chờ vào những biện pháp nhằm đẩy lùi nạn đói của
Đảng và chính quyền cách mạng.
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nạn đói năm 1945
1.2.1. Nguyên nhân trực tiếp
Thứ nhất, là chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ
Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ
chiến tranh nên đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói
kém và từ đó gây ra nhiều tai họa làm ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt kinh tế của người Việt.
Nguyên nhân từ Nhật Bản.
Quân Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc tránh việc lương thực bị tuồn qua
Trung Quốc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói do gạo trong kho phải được ưu tiên
cho lính Nhật. Máy bay của quân Đồng Minh đã cho phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở
ra Nam, phong tỏa cả đường biển khiến việc vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền
Bắc không thực hiện được.
Bên cạnh đó, chính sách vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt. Năm
1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40
đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng
còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức
mua, phải chịu cảnh chết đói.
Nguyên nhân từ Pháp 7
Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo hộ mậu
dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân. Pháp vì mục đích chiến
tranh đã lạm dụng và khai thác quá mức vào nền nông nghiệp vốn đã lạc hậu của Việt Nam.
Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc gạo về tập trung ở các kho riêng, lấy cớ
là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết ép buộc mua rẻ của dân quê Pháp lại mua thóc, ngô với
giá cao. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho Pháp đem đốt than thay củi ở các nhà
máy điện. Hậu quả là trước thế giới thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một nước lạc hậu và đói
nghèo so với nhiều quốc gia châu Á khác. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến
khiến cho các hộ nông dân phải bán gần hết lương thực có được để nộp thuế khiến đa số
nông dân không còn lương thực dự trữ.
Giữa năm 1940 Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng
Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến
tranh (bắt dân nhổ lúa trồng đay, buộc dân bán gạo với giá rẻ, thu hẹp diện tích canh tác,. )
Thứ hai, là do thiên tai, mất mùa,
Thời tiết ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Mùa màng bị
hạn hán và côn trùng phá hoại khiến sản lượng vụ đông – xuân từ năm 1944 giảm sụt
khoảng 20% so với thu hoạch năm trước. Sau đó vào tháng 8, một trận lũ lụt khủng khiếp
gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312.000 ha ảnh hưởng tới cuộc
sống của 4 triệu người… Sau cơn lũ, bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp mọi nơi cộng
với việc không có thuốc men, lương thực khiến nạn đói ngày càng trở nên trầm trọng.
1.2.2. Nguyên nhân gián tiếp
Các thế lực phong kiến, thực dân áp dụng chính sách sưu thuế nặng từ nhiều năm trước
đó đối với người nông dân Việt Nam. Cách thức thu thuế sử dụng mạnh biện pháp tra tấn,
đánh đập, bắt buộc người nông dân phải nộp đủ, không miễn giảm đối với các hộ đói nghèo,
khiến cho nông dân phải bán tài sản hoặc lương thực để nộp thuế nên không có lương thực dự trữ.
Trong khi lúc này, lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam còn non trẻ,
chưa giành được chính quyền, chưa tự chủ được về kinh tế, chưa giải phóng được nhiều
ruộng đất và người dân khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, phát xít nên chưa đủ sức
để hỗ trợ, cứu đói cho người dân… Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra
như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực của miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo
lại càng trở nên thiếu hơn.
Nhật Bản và Pháp đều tham chiến trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, biến Việt Nam
thành sân sau cung cấp lương thực để phục vụ cho các nỗ lực chiến tranh của họ. 8
1.3 Thực trạng và hậu quả của nạn đói năm 1945
Nạn đói năm Ất Dậu kỳ thực bắt đầu từ khoảng tháng 10 năm 1944, nạn đói kéo dài
sang nửa đầu năm 1945 và chỉ thực sự chấm dứt khi mà phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo lên đến đỉnh cao
và giành được thắng lợi vào tháng 8 năm 1945.
Trong cuốn sách “Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam - Tập 2 nhà xuất bản
Chính trị quốc gia phát hành năm 2008 có ghi: Do chính sách vơ vét của đế quốc phát xít
Pháp - Nhật các cuộc ném bom của Đồng minh ngăn chặn sự thông thương Bắc - Nam do
mất mùa từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945 nạn đói trầm trọng đã diễn ra ở 32 tỉnh Bắc
Kỳ và Bắc Trung Kỳ từ Quảng Trị trở ra trọng điểm là các tỉnh đồng bằng nơi dân số tập
trung đông có nhiều ruộng như Thái Bình,Nam Định,Hải Phòng, Thanh Hóa,.... Đây là nạn
đói khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc ta. Theo thống kê từ các địa phương bị nạn đói
hoành hành, chỉ trong thời gian ngắn, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người, bằng
1/10 dân số Việt Nam lúc bấy giờ.
Đế quốc Nhật Bản khi vừa đặt chân đến Đông Dương vào tháng 10/1940 chúng đã thi
hành hàng loạt các chính sách đánh vào nền kinh tế. Bao gồm: Buộc Pháp ký các hiệp ước
liên quan tới cung cấp lương thực, giao nộp lúa gạo định kỳ hàng năm, cấm vận chuyển lúa
gạo thực phẩm từ Nam ra Bắc, kiểm soát và hạn chế việc chuyên chở tự do chỉ được chở
tối đa 50kg gạo trong một tỉnh. Trong khi đó, hệ thống cung cấp lương thực từ miền Nam
ra miền Bắc bị đứt gãy do Mỹ ném bom làm hỏng hệ thống đường sắt và đường bộ ở vĩ
tuyến 17. Đi kèm với chính sách cấm vận chuyển lúa gạo từ Nam ra Bắc thì bọn Nhật còn
ra sức vơ vét từng hạt thóc ở miền Bắc khiến giá thóc gạo tăng vọt: năm 1943 giá 1 tạ gạo
niêm yết là 31 đồng chợ đen bán 57 đồng thì sang năm 1944 giá gạo là 40 đồng chợ đen là
350 đồng một tạ nhưng vẫn chưa kinh khủng bằng năm 1945 giá chợ đen tăng lên gấp đôi
700-800 đồng một tạ trong khi giá chính thức là 53 đồng. Giá gạo cao vút như vậy khiến
người dân nghèo Việt Nam rơi dần vào cảnh chết đói. Ngoài ra, Nhật còn ép người nông
dân nhổ hết lúa trồng đay, lấy ruộng trồng lạc. Theo thống kê năm 1940, diện tích trồng
đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 hecta.
Trong khi Nhật ra sức vơ vét cho chiến tranh thì Pháp cũng tìm mọi thủ đoạn để gom
góp dự trữ thực phẩm phòng khi quân đồng minh chưa tới phải đánh nhau với Nhật và dự
phòng khi tái xâm lược Việt Nam. Từ đây, người chịu khổ nhất là nông dân với đủ loại thuế
đinh, thuế điền, tô tức. Năm 1944, Việt Nam mất mùa nhưng thực dân Pháp và chính quyền
phong kiến vẫn phải cống nộp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để phục vụ chiến tranh phát
xít, một phần cũng để cho Pháp làm nguyên liệu nấu rượu, thóc thì được thay thế cho than 9
đá dùng đốt lò. Trích dẫn từ một nghiên cứu của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng
Viện Sử học Việt Nam: “Ngoài các chính sách tô cao thuế nặng, phát xít Nhật còn đưa ra
một “chương trình kinh tế chỉ huy” nhằm thực hiện một cách triệt để chủ trương phát xít
của mình. Chiến tranh giữa phát xít Nhật và quân đồng minh (trong đó có thực dân Pháp)
làm cho nhu cầu nhiên liệu than, dầu, điện của Nhật tăng cao. Chúng đã lấy ngô, vừng. lạc
và cả lúa gạo để thay thế những nhiên liệu này nhằm mưu đồ phát xít, đẩy người dân vào
thảm họa chết đói…. Và thảm cảnh nông nghiệp bắt đầu diễn ra: Hàng nghìn mẫu ngô
ruộng bị phá, hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá hoại, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Và hệ
quả là tình trạng thiếu hụt lương thực trầm trọng, giá gạo ở miền Bắc tăng 1400%.
Bên cạnh đó, tháng 9/1944 thiên tai còn ập tới một trận lụt lớn đã khiến đê La Giang
(Hà Tĩnh) và đê sông Cả (Nghệ An) bị vỡ khiến nạn đói càng trở nên trầm trọng hơn, khổ
nhất là dân ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) khi cả vụ mùa năm 1944 người dân mất
trắng vì bị rầy phá hoại hàng trăm mẫu ruộng chết trắng chết vàng cả mẫu ruộng không mất
nổi vài chục cân thóc mẩy. Thêm vào đó, mùa đông lạnh giá bất thường năm 1944-1945,
nhiệt độ giảm xuống còn 6℃ đã phá hủy một lượng lớn các cây lương thực, hoa màu khác ngoài lúa.
Cái đói không buông tha ai trọng tâm là những người dân nghèo người lao động đặc
biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất. Để sinh
tồn giữa nạn đói người dân phải ăn đủ thứ từ rau dại củ chuối vỏ cây đến cả thịt trâu bò chó
mèo, dân làng chài thì ăn củ nâu cá chết. Khi không còn tìm được thứ gì ăn thì họ chỉ còn
nước ngồi chờ chết để người nhà mang đi chôn hoặc có khi chết bờ chết bụi khi đang đi
kiếm cái ăn. Cái chết vì đói là kiểu chết từ từ nhưng vô cùng thảm khốc nó dày vào con
người ta cả thể xác lẫn tinh thần, Cái đói phá hoại từ xã hội đến từng gia đình, nó khiến cha
bỏ con, vợ bỏ chồng, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì người ta phải trộm
cướp. Ở các vùng nông thôn nghèo hàng nghìn gia đình có khi chết cả nhà nhiều dòng họ
tuyệt tự hoặc may ra có vài người sống sót.
Tháng 3 năm 1945 nạn đói lên đến đỉnh điểm lũ lượt người ngược kẻ xuôi chạy đến
các thành phố lớn họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Ở Hà Nội người dân đã đoàn kết
nhau lại phát động Ngày Cứu Đói, lập các trại tế bần phát cháo miễn phí cứu những người
đang thoi thóp được đưa về trại Giáp Bát, còn những người không thể cứu được mạng nữa
thì xác chất đầy một xe bò đem đi hất xuống hộ “hất xuống hố như hất rác” tại nghĩa trang
Hợp Thiện - Hai Bà Trưng. Mục sư Lê Văn Thái Nguyên- hội trưởng Hội thánh Tin Lành
Việt Nam thời kỳ 1942-1969 viết lại: “Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp
chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác 10
từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết,
mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần.
một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đỏ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo
nhau từng lũ đến tranh cướp”.
Nạn đói đã để lại hậu quả nghiêm trọng khi nạn đói nửa năm ở Bắc bộ đã chết hơn 2
triệu người. Ở các địa phương, nhiều dòng họ gia đình đã chết hết không còn một ai. Làng
Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956
người. Người ta thống kê ở Thái Bình, cả tỉnh trong vòng 5 tháng số người chết lên tới
280.000 người chiếm 1/4 tổng số dân toàn tỉnh. Trong cuốn sách “Lịch sử Hà Nam Ninh”
xuất bản năm 1988 cũng có ghi: “Phủ Nghĩa Hưng, Nam Định mỗi ngày chết 400 người.
Huyện Kim Sơn, Ninh Bình, cả vụ đói có 22.908 người chết. Trong 6.161 hộ của cả tỉnh
Hà Nam Ninh thì có 1.571 hộ chết không còn người nào. Nam Định chết 212.218 người,
Ninh Bình - 37.939 người, Hà Nam - 50.398 người”. Tỉnh Hà Sơn Bình cũ trong cả nạn đói
mất đi đến 8 vạn người tức là 10% dân số trong tỉnh. nhiều nơi làng mạc xác xơ tiêu điều,
các loại hình nghề thủ công cũng đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn
2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100
người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân. Những địa phương kể trên là những địa
phương có nhiều người dân bị chết trong nạn đói 1944-1945.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, mặt trận Việt Minh tận dụng cơ hội,
kêu gọi nhân dân cùng hợp sức phá hàng trăm kho thóc của Nhật để trợ đồng bào. Phong
trào sôi sục khắp nơi đã giúp nạn đói dần được đẩy lùi phần nào, người nông dân lại bắt
đầu dắt díu nhau trở về quê hương tiếp tục cày cấy. Cho tới tháng 6, vào vụ chiêm có gạo
mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì bội thực. Thêm nữa, môi
trường vô cùng ô nhiễm bởi xác chết chất chồng không được xử lý trong thời gian qua.
Dịch bệnh bắt đầu kéo tới lại lấy đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội ở Bắc Giang và
Cao Bằng. Nhiều làng, xã nhiễm dịch tả, dịch sốt vàng da, đã mất đi 50%-80% dân số.
Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội
lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói
và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc.
80 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài
những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch
sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt. 11
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ GIẢI
QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945
2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải quyết nạn đói năm 1945
Nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm 1945 là một trong những thách thức lớn nhất mà
Chính phủ cách mạng Việt Nam phải đối mặt và việc chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một
nhiệm vụ lớn và cấp bách lúc bấy giờ. Bởi vì, nạn đói lan rộng, hoành hành sẽ làm xói mòn
sức mạnh dân tộc, đe dọa cuộc sống mọi người. Dân có ấm no thì chính quyền mới được
giữ vững, củng cố; đất nước mới yên. Để giải quyết vấn nạn này, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã đề ra những chủ trương cụ thể, chia làm hai giai đoạn: trước mắt và lâu dài.
2.1.1. Chủ trương trước mắt
Trong tình hình Nhật tăng cường tích trữ lương thực, khóa chặt kho thóc gạo thì dân
Việt lại chết đói khắp nơi. Do đó, tháng 3 năm 1945, khi Chính phủ chưa ra đời, lực lượng
Việt Minh đã kêu gọi đồng bào vùng lên phá kho thóc, tìm đường sống; tổ chức và cử người
trực tiếp cùng đồng bào đi phá kho lương thực Nhật. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết
nạn đói” của Việt Minh được thực hiện ở khắp tỉnh thành.
Để khắc phục và giải quyết nạn đói, dưới sự chỉ đạo của Đảng, ngày 5-9-1945, Chính
phủ ra Sắc lệnh số 7 tuyên bố thủ tiêu tất cả những quy định hạn chế việc lưu thông, chuyên
chở thóc gạo giữa các vùng trong cả nước. Nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo,
cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất
khẩu gạo, ngô, đậu, …
Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28-9-1945, Bác Hồ viết
bài kêu gọi “sẻ cơm nhường áo” đăng trên Tờ Cứu quốc: “Hỡi đồng bào yêu quý, từ tháng
giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói. Kế đó lại bị nước
lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn,
nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả
nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem
gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau
bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói. Tôi chắc rằng đồng bào ta ai
cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên. Tôi xin thay
mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào” (Sách Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 - NXB Chính
trị quốc gia – Sự thật – 2011).
Đảng còn phát động phong trào quyên góp, điều hoà thóc gạo, đồng bào cả nước hưởng
ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người. Lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn lửa thắp sáng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của 12
cả dân tộc. Phong trào thi đua cứu đói đã diễn ra rộng khắp trên cả nước với rất nhiều sáng
kiến, cách làm sáng tạo như tổ chức “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, “Đoàn
quân tiễu trừ giặc đói”. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều đóng góp một phần nhỏ bé để chung
tay cứu đói. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng
bào đang chịu thảm họa của nạn đói, góp phần cứu giúp kịp thời.
Ngày 2-11-1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu
tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói, đặt các trụ sở ở Hà Nội, Thuận Hóa
và Sài Gòn. Hội có các chi nhánh ở các tỉnh, huyện, xã và tận các làng bản, thực hiện các
biện pháp nhằm giảm sự lãng phí lương thực, đồng thời tìm kiếm nguồn lương thực, thực
phẩm để cứu giúp những người nghèo
Ngày 28-11-1945, Chủ tịch Chính phủ lại ký Sắc lệnh số 67 cho thiết lập “Uỷ ban tối
cao tiếp tế và cứu tế” của Chính phủ. Tham gia Uỷ ban này có Bộ trưởng các bộ: Bộ Kinh
tế, Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động và Bộ Canh nông. Uỷ ban này được phép toàn
quyền hành động để thực hiện công cuộc cứu tế và tiếp tế trên toàn quốc. Ngoài ra còn có
các Ủy ban cứu trợ, huy động mọi nguồn lực xã hội để cung cấp lương thực, thuốc men cho người dân.
2.1.2. Chủ trương lâu dài
Cùng với quá trình khẩn cấp cứu đói, để bảo đảm giải quyết căn cơ và triệt để nạn đói,
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực
hành tiết kiệm với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia
sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Toàn dân thi đua
hăng hái tham gia sản xuất.
Hội nghị toàn quốc của Đảng diễn ra ngày 14 và 15/8/1945 đã ban hành nghị quyết,
trong đó có những nội dung liên quan đến hoạt động cứu đói: “Chia lại ruộng công, làm
cho dân nghèo có ruộng cày cấy, khuyến khích sản xuất; giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn
nợ”; “Thi hành luật ngày làm tám giờ; đặt luật xã hội bảo hiểm; cứu tế nạn dân”. Chính phủ
bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý của chế độ cũ, thực hiện chính sách giảm tô 25%,
chia lại ruộng đất công một cách công bằng. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri quy định việc
kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông
dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.
Ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất.
Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân
dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn
chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê 13
điều, đắp thêm một số đê mới. Phong trào tăng gia, sản xuất diễn ra sôi nổi trong khắp cả
nước kể từ Chủ tịch, Chính phủ đến mọi cán bộ cao cấp của Đảng ngoài giờ làm việc chính thức đều tham gia.
Bên cạnh đó nhà nước đã thực hiện các chủ trương, chính sách cần thiết khơi gợi công
tác tuyên truyền để người dân đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ và động viên lẫn nhau. Việc cứu
đói năm 1945 là một trong những hoạt động có ý nghĩa sâu sắc trong việc vực dậy một dân
tộc bị ảnh hưởng nặng nề từ các chính sách thâm độc của bọn thực dân, phát xít; đồng thời
khơi gợi, cố kết toàn dân tộc để thành một khối thống nhất giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng Tám.
2.2 Quá trình triển khai Chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải quyết nạn đói năm 1945
2.2.1 Chủ trương cứu đói trước mắt
Để thực hiện những chủ trương cứu đói trước mắt, ngay từ khi Chính phủ chưa ra đời,
lực lượng Việt Minh đã tổ chức và cử người trực tiếp cùng đồng bào đi phá kho lương thực
Nhật. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” của Việt Minh được thực hiện ở khắp
tỉnh thành. Tại Ninh Bình, hai huyện Nho Quan, Gia Viễn đã phá thành công 12 kho thóc.
Tại Hải Dương, nhân dân giành lại được 39 kho thóc và 43 thuyền gạo. Tại Thái Bình, hơn
1.000 tấn thóc trong các kho của Nhật được phá cửa, chia cho dân. Các tỉnh Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, Thái Nguyên, Hải Phòng, ngoại thành Hà Nội... cũng diễn ra tương tự. Miền Nam
cũng đã nổ ra phong trào phá kho lúa, để chia cho dân nghèo và cứu tế miền Bắc.
Ngày 5-9-1945, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ ra Sắc lệnh số 7 tuyên bố thủ tiêu
tất cả những quy định hạn chế việc lưu thông, chuyên chở thóc gạo giữa các vùng trong cả
nước. Nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo, cấm dùng gạo vào các công việc chưa
thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu,... Để làm tốt công
tác này Chính phủ đã cử một uỷ ban vào Nam Bộ điều tra và tổ chức việc vận chuyển thóc
gạo ra miền Bắc. Việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ trở nên hoàn toàn được tự
do, Chính phủ cần thóc gạo sẽ mua thẳng của tư gia. Còn đối với những người có hành vi
đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị
tịch thu gia sản. Đây là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một
thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu
của người dân Việt Nam lên trên hết, bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc.
Sau khi đưa ra lời kêu gọi “sẻ cơm nhường áo” đăng trên Tờ Cứu quốc, ngày 11-10-
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp bát gạo đầu tiên rồi dự lễ xuất phát của “Đoàn quân
tiễu trừ giặc đói” tại Nhà hát lớn Hà Nội. Nhân dân khắp nơi tự nguyện thực hiện, cứ 10 14
ngày nhịn ăn 1 bữa, tháng nhịn ăn ba bữa, đem số gạo đó ủng hộ người nghèo. Trong Lễ
phát động đầu tiên, Bộ Cứu tế xã hội đã vận động nhân dân tích cực tham gia và thu được
kết quả khả quan. Báo cáo tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 13-10-1945, Bộ trưởng
Nguyễn Văn Tố báo cáo kết quả mà đội quân tiễu trừ giặc đói thực hiện, đã quyên góp được
5 tấn gạo ngay trong ngày đầu tiên ra quân (ngày 11-10). Bên cạnh đó, hưởng ứng lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời thực hiện nhiệm vụ mà Người đã đặt ra trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu đói
cũng đã vận động tổ chức lạc quyên, tổ chức “ngày đồng tâm” nhịn ăn lập “hũ gạo cứu
đói”… trở thành một phong trào quần chúng rộng lớn. Phong trào trên đã được đông đảo
quần chúng nhân dân ủng hộ và tham gia tích cực với nhiều hình thức phong phú, lôi kéo
đông đảo giáo viên Hội Truyền bá quốc ngữ, Thanh niên Cứu quốc, công chức, tiểu
thương... tham gia. ở Hà Nội, Nam Định và các địa phương khác xuất hiện các xe bò “Bác
ái” đi lạc quyên khắp phố, phường. Nhân dân thành phố, tỉnh, huyện. . nhận kết nghĩa đỡ
đần nhau. Nhân dân Hưng Yên giúp đỡ nhân dân Thái Bình. Đồng bào Đà Nẵng cấp tốc
đưa các chuyến tàu gạo ra Hà Nội. Các địa phương bỏ hẳn tệ nạn nhậu nhẹt, rượu chè, cờ
bạc… Bên cạnh đó, công tác vận động các nhà tư sản, địa chủ bỏ tiền của, thóc gạo ra sức
cứu đói cũng thu được kết quả tốt. Rất nhiều địa chủ đã nhiệt tình, hăng hái đóng góp. Có
hộ tự nguyện góp tới 50 tấn thóc. Lại có hộ góp cả số hoa lợi trên 600 mẫu ruộng.
Phong trào dần dần trở nên rộng lớn, sôi động khắp toàn quốc, chẳng những lôi cuốn
nhà nhà tham gia, người người tham gia mà còn lôi cuốn được nhiều tổ chức quần chúng,
văn hoá và xã hội khác. Nhiều tổ chức quần chúng, các đảng phái, tôn giáo, bà con ngoại
kiều... cũng quyên góp tiền, gạo để giúp đỡ người nghèo. Những đêm biểu diễn văn hoá
nghệ thuật ra đời nhằm lạc quyên tiền gạo của các nhà hảo tâm, để cứu đói được tổ chức ở
nhiều nơi. Những hoạt động hưởng ứng lời kêu gọi, triển khai trên đã mang lại hiệu quả
thiết thực trong việc vận chuyển thóc gạo và giảm bớt sự lãng phí thóc gạo trong nhân dân.
Chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, chúng ta đã vận chuyển được hơn 700 tấn gạo từ
các tỉnh Nam Bộ, Trung Bộ ra cứu đói ở Bắc Bộ. Nhiều làng ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải
Dương đã tự nguyện bỏ hủ tục tiệc tùng lãng phí để tiết kiệm lương thực. Các làng Cốm ở
vùng Hoài Đức (Hà Đông), Dịch Vọng (Từ Liêm, Hà Nội) cũng ngừng hoạt động để đỡ
lãng phí thóc gạo nhằm giúp đỡ dân nghèo.
Tiếp đó, ngày 2-11-1945, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm
Y tế, Cứu tế và Lao động đã ra quyết định thành lập Hội cứu đói, đặt các trụ sở ở Hà Nội,
Thuận Hóa và Sài Gòn. Hội có các chi nhánh ở các tỉnh, huyện, xã và tận các làng bản,
phương pháp hoạt động của Hội chủ yếu là tìm nguồn thực phẩm, tiền và vải do các nhà 15
hảo tâm giúp đỡ; phát triển sản xuất, khuyến khích công việc đồng áng và trông nom đê
điều; giúp đỡ nhân dân trong việc khai khẩn đất hoang hóa để đưa vào sản xuất.
Ngày 28-11-1945, để hoạt động tiếp tế, cứu tế tổ chức quy củ, chặt chẽ, hiệu quả hơn,
Chủ tịch Chính phủ lại ký Sắc lệnh số 67 cho thiết lập “Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế”
của Chính phủ. Ủy ban này có toàn quyền hành động để nghiên cứu thi hành những phương
pháp cần thiết về tăng gia sản xuất, tiếp tế, cứu tế cho nhân dân trong toàn cõi Việt Nam.
Ngoài ra còn có các Ủy ban cứu trợ, huy động mọi nguồn lực xã hội để cung cấp lương
thực, thuốc men cho người dân. Xét thâ y yêu câ u va nhiêm vu cua Chinh phu đặt ra là phải
thưc hiên ngay cac biên phap cưu tê xa hôi, ngay 31-12-1945, Bô trương Bô Cưu tê xa hôi
Nguyễn Văn Tố ký ban hành Să c lênh 63 về thành lập Hội cứu tế xã hội. Sắc lệnh yêu cầu
ở mỗi miền Bắc-Trung-Nam phải thành lập một cơ sở y tế ở địa phương để có thể thực hiện
tốt công tác cứu tế khi đời sống của nhân dân tại địa phương gặp khó khăn. Người dân khi
có vướng mắc có thể liên lạc với Hội Cứu tế xã hội của Chính phủ.
2.2.2 Chủ trương lâu dài
Hưởng ứng lời kêu gọi tăng gia sản xuất trong cả nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một
phong trào khai hoang “tấc đất, tấc vàng”, “không một tấc đất bỏ hoang” đã phát triển sâu
rộng trong toàn quốc. Chính quyền tất cả các địa phương quyết định cho phép sử dụng
những đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt. Chính quyền còn
vận động cả tư nhân cho sử dụng tạm các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi
địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất. Lương thực làm
ra được dùng để cứu tế… Ở Hà Nội, học sinh đã cuốc xới cả sân trường, vỉa hè, bất cứ nơi
nào đất trống. Viên chức cuốc vườn trong công sở để trồng ngô, khoai.. Thanh niên thủ đô
chia thành những đội tăng gia đi trồng sắn ở bờ đê, bãi sông, lề đường.
Ngày 17-10-1945, Bộ Kinh tế ra Thông tư cho Uỷ ban nhân dân các cấp về phương
pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp. Ngày 17-11-1945, Bộ Kinh tế lại ra Thông tư quy
định: các Uỷ ban nhân dân phải kê khai rõ số ruộng đất còn thừa trong vòng 15 ngày. Nếu
chủ điền nào không khai hoặc khai man sẽ bị phạt. Tiền phạt thu được đem bỏ vào công
quỹ của làng để mua sắm dụng cụ, cây và con giống, giúp đỡ cho các hộ nghèo. Các Uỷ
ban nhân dân sẽ công bố những phần ruộng đất để nông dân mượn. Những nông dân muốn
mượn đất có quyền giao dịch thẳng với chủ điền; khi gieo trồng, họ được hưởng hoa lợi
hoàn toàn. Các Uỷ ban nhân dân cũng điều tra số ruộng đất bị hoang hóa để cho nông dân
mượn canh tác mà không phải nộp các thứ thuế. Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính
phủ ban hành nghị định miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra 16
thông tri quy định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không
làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.
Bên cạnh đó, ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn
đề sản xuất, ở các tỉnh, huyện, xã và làng đều thành lập Tiểu ban canh nông. Nhiều chính
sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất,
do vậy tờ báo Tấc đất ra đời để phổ biến những chỉ thị của Chính phủ, tổ chức, hướng dẫn
bà con kiến thức về nông nghiệp để tăng gia sản xuất. Lệnh cấm xuất khẩu gạo và các loại
hoa màu khác được ban hành và có sự kiểm tra nghiêm ngặt. Để phát triển sản xuất hơn
nữa, Chính phủ còn lệnh cho các “Nông phố ngân hàng” và “Bình dân ngân quỹ” phải tạo
điều kiện cho nông dân vay tiền mua cây, con giống, hô hào các nhà tư sản, những nhà giàu
cho dân nghèo vay vốn để phát triển sản xuất. Chính phủ cũng đã cấp 110 tấn thóc giống
cho những vùng bị thiên tai nặng nhất. Việc chế tạo các công cụ sản xuất cũng được mở rộng và phát triển.
Việc củng cố hệ thống đê để tránh sạt, lở, vỡ đê cũng được Chính phủ chú trọng. Đến
khoảng cuối tháng 10-1945, được sự tham gia tích cực của toàn dân, tất cả các đoạn đê vỡ,
xung yếu đều được khắc phục. Từ cuối tháng 11-1945, nhân dân các địa phương tập trung
vào việc bồi đắp đê cũ và đắp thêm đê mới. Trước khi bước vào mùa lũ, lụt năm 1946,
Chính phủ đã ra sắc lệnh thành lập “Uỷ ban Trung ương hộ đê ở Bắc Bộ”. Chính vì thế,
công tác bảo vệ đê, phòng chống bão, lụt đã bước đầu ổn định.
Nhằm bảo vệ và phát triển chăn nuôi, Chính phủ đã thành lập các đoàn bác sĩ thú y về
tận các làng, xã để triển khai công tác phòng chống bệnh dịch cho gia súc, gia cầm. Công
tác động viên nhân dân đi khai hoang sản xuất cũng được coi trọng. Nhiều trang trại mới
đã được mọc lên ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang. .
Bằng sự cố gắng nỗ lực của Đảng, Chính phủ và sự tích cực tăng gia sản xuất của toàn
dân, việc giải quyết nạn đói đã thu được những kết quả to lớn. Vụ chiêm năm 1946, sản
lượng lương thực thu được ở Bắc Bộ cao hơn vụ chiêm năm 1945 là 100.000 tấn. Vụ mùa
năm 1946, nhiều tỉnh cũng đạt thu hoạch khá cao. Nếu vụ mùa năm 1943 ở Bắc Bộ chỉ đạt
952.730 tấn, năm 1944 là 832.000 tấn, thì năm 1946 đạt 1.550.000 tấn. Thu hoạch từ các
loại hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn, đỗ, lạc... cũng cao hơn nhiều so với các năm trước.
Tăng gia sản xuất phát triển, sản lượng thu hoạch cao, đời sống nhân dân bước đầu đã được
cải thiện. Điều này chẳng những có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, mà còn góp phần quan
trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.
Như vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra những chủ trương đúng đắn và kịp
thời, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn dân, mang lại những kết quả tích cực, 17
góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình xã hội và xây dựng đất nước. Đầu năm
1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, tạo điều kiện cho việc xây dựng và giữ vững chính
quyền; phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, mở rộng khối đoàn kết toàn dân và thúc
đẩy phong trào xóa nạn mù chữ trong đông đảo quần chúng nhân dân. Đánh giá thành tích
này trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ
Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công
của chế độ dân chủ”.
2.3 Đánh giá về Chủ trương của Đảng của Đảng Cộng sản Đông Dương về giải quyết nạn đói năm 1945 2.3.1 Thành công
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng đã đóng vai trò quyết định trong việc khởi xướng và
tổ chức các hoạt động cứu đói. Qua lời kêu gọi phát động phong trào "nhường cơm sẻ áo"
và lập "hũ gạo cứu đói" đã khuyến khích người dân chia sẻ lương thực cho nhau, giúp đỡ
những người đang chịu đói. Không chỉ dừng lại ở việc huy động lương thực từ nhân dân,
Đảng còn tổ chức các hoạt động sản xuất nông nghiệp khẩn cấp, tăng gia sản xuất tại những
vùng có điều kiện để tăng cường nguồn cung cấp lương thực. Sự lãnh đạo sáng suốt và kịp
thời của Đảng ta không chỉ giúp người dân vượt qua nạn đói mà còn nâng cao uy tín của
họ trong lòng quần chúng, củng cố lòng tin của nhân dân vào phong trào cách mạng. Nhờ
đó, Đảng ta không chỉ thực hiện thành công công tác cứu đói mà còn chuẩn bị cơ sở chính
trị vững chắc cho cuộc Cách mạng Tháng Tám ngay sau đó.
Thứ hai, việc phân phát và thu mua lương thực đã được tổ chức hiệu quả. Trong bối
cảnh lương thực khan hiếm nghiêm trọng, chính quyền của Đảng đã khéo léo tổ chức các
đợt thu mua gạo từ những vùng nông thôn còn sản lượng, tập trung vào những khu vực ít
chịu ảnh hưởng của nạn đói. Sau đó, họ nhanh chóng phân phối lương thực đến các thành
phố và khu vực bị đói kém trầm trọng. Quá trình phân phát được thực hiện công bằng và
có tổ chức, nhằm đảm bảo lương thực đến tay người dân nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Hơn nữa, Đảng còn kêu gọi các chủ ruộng lớn đóng góp gạo để cứu trợ, giảm bớt sự tập
trung tài nguyên trong tay một số ít người giàu có. Sự khéo léo trong việc điều phối lương
thực đã giúp cứu sống hàng ngàn người, giảm bớt tình trạng đói khổ và tạo lòng tin mạnh
mẽ từ phía quần chúng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thứ ba, việc kết hợp các biện pháp cứu đói với chuẩn bị cho cuộc cách mạng đã góp
phần quyết định vào thành công toàn diện của Đảng trong năm 1945. Trong khi tổ chức các
hoạt động cứu đói, Đảng cũng đồng thời tận dụng cơ hội này để xây dựng và mở rộng mạng
lưới quần chúng ủng hộ cho cách mạng. Các phong trào cứu trợ lương thực không chỉ nhằm 18
mục đích giúp đỡ người dân vượt qua nạn đói mà còn là phương tiện để gắn kết các tầng
lớp nhân dân với Đảng, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của họ. Nhiều cán bộ cách mạng
đã được cử về các địa phương để vừa thực hiện công tác cứu đói, vừa vận động nhân dân
tham gia vào phong trào đấu tranh giành độc lập. Qua quá trình này, Đảng không chỉ giải
quyết nạn đói trước mắt mà còn nâng cao tinh thần đấu tranh và ý thức dân tộc của người
dân, chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám. Việc lồng ghép hoạt động cứu trợ và chuẩn bị
cách mạng một cách khéo léo đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng giành quyền lực và thành
lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau đó.
2.3.2 Hạn chế
Bên cạnh những thành công lớn đáng ghi nhận trong đường lối, chủ trương của Đảng
đã giúp đất nước bước qua nạn đói lịch sử thì vẫn còn tồn tại một số ít hạn chế.
Đầu tiên, là hạn chế khách quan đến từ hoàn cảnh với muôn vàn khó khăn thử thách
hiểm nghèo do chế độ thực dân, phong kiến để lại. Lợi dụng tình thế khó khăn, bọn phản
cách mạng tìm cách liên kết với Quốc dân Đảng công khai hoặc ngấm ngầm chống phá
cách mạng. Chúng cho tay chân chui vào các đoàn thể của ta, lợi dụng danh nghĩa cách
mạng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đe dọa uy hiếp nhân dân,
tìm cách phá cơ sở cách mạng. Chúng tự đến các làng để diễn thuyết, lập hội, viết báo tuyên
truyền tư tưởng phản động, làm lung lay vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này còn
quá non trẻ với nhiều hạn chế trong nhân sự khó có thể kiểm soát chặt chẽ, loại trừ các đối
tượng này. Đảng Cộng sản Việt Nam mới chỉ giành được chính quyền còn nhiều hạn chế
trong nguồn lực tài chính cũng như nhân sự dẫn đến một số chủ trương, nghị quyết của các
cấp ủy do các cơ quan tham mưu đề xuất chưa thực sự được tổng kết thực tiễn kỹ lưỡng;
chưa đánh giá, dự báo những tác động, ảnh hưởng một cách đầy đủ, khoa học. Ở một số
nơi việc việc chia lại công điền, công thổ còn có biểu hiện lệch lạc vì chính quyền cách
mạng thiếu nguồn lực để có thể kiểm soát, sàng lọc những địa chủ phản động lũng đoạn
ảnh hưởng đến quyền lợi của quần chúng nhân dân lao động. Có địa phương chưa nắm
vững chủ trương, làm quá đà do sự thiếu hụt thông tin và chính quyền không có hệ thống
thông tin liên lạc hiệu quả để nhận biết được quy mô, mức độ của nạn đói, dẫn đến việc họ
không thể triển khai kịp thời các biện pháp cứu trợ. Ở một vài nơi UBND đã bổ sung công
thóc gạo hoặc phá phách các ấp, dọa nạt chủ điền, chủ ấp gây ra sự bất bình đối với nhiều
địa chủ, tạo ra nhiều kẻ thù đối nghịch lại Đảng. Do tiến hành vội vã, tự phát chưa có sự
tập trung đông đảo mà phong trào phá kho thóc ở một số địa phương có thiệt hại lớn về
người và tài sản. Ở một số nơi còn xuất hiện hiện tượng nông dân trở nên quá khích đấu tố 19
tràn lan mất kiểm soát, có một số thành phần phạm sai lầm về nhận thức về việc chuẩn bị
lực lượng và triển khai khiến cho tình hình càng thêm khó kiểm soát.
Bên cạnh đó, do chiến tranh, hệ thống giao thông và vận chuyển lương thực từ các vùng
thừa gạo (như miền Nam) đến các vùng thiếu gạo (như miền Bắc) bị gián đoạn và hư hại
nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực trầm trọng hơn. Phong trào vận động tiết
kiệm lương thực ủng hộ người bị đói bước đầu đạt kết quả tốt, nhưng đó chỉ là biện pháp tức thời.
Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng tịch thu thóc gạo dự trữ
của địch chia cho toàn dân. Nạn đói bước đầu được ngăn chặn, song nhìn chung vẫn chưa
được giải quyết triệt để vì số thóc thu hoạch vụ chiêm 1945 và thóc cứu tế của chính quyền
cũng chỉ có hạn. Sau khi Nhật chiếm Đông Dương, họ buộc nông dân Việt Nam chuyển đổi
diện tích trồng lúa thành trồng đay để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Điều này làm giảm
đáng kể diện tích lúa gạo và dẫn đến thiếu hụt lương thực trầm trọng. Tình hình chính trị -
xã hội không ổn định cũng khiến diện tích canh tác giảm sút nhanh chóng. Chỉ tính trong
15 tỉnh đồng bằng, diện tích cấy lúa mùa năm 1944 là 967.000 ha, đến vụ mùa năm 1945
còn 547.000 ha. Số ruộng bị bỏ hoang do lũ lụt, thiếu mạ, thiếu phân bón, thiếu sức kéo
hoặc do bị địch uy hiếp, phá hoại ước tới 265.000 ha. Vì thế, vụ mùa năm 1945 thu hoạch
thấp nhiều so với năm 1944 (từ 832.000 tấn giảm xuống còn 500.000 tấn). Số thóc trên chỉ
cung cấp đủ cho nhân dân dùng trong vòng 3 tháng. Nguy cơ nạn đói quay trở lại với một
mức độ rộng lớn và trầm trọng hơn. Tính mạng của hàng vạn con người trông chờ vào
những biện pháp nhằm đẩy lùi nạn đói của Đảng và chính quyền cách mạng. Chủ trương
lâu dài của Đảng là tăng gia sản xuất, giải quyết triệt để tình trạng thiếu hụt lương thực vấp
phải nhiều khó khăn. Tình thế lúc này, Đảng vừa phải chủ trương đẩy mạnh sản xuất ở miền
Bắc vừa phải chuẩn bị, triển khai kháng chiến ở miền Nam. Đảng tiến hành cắt giảm địa tô,
giảm lợi tức, hoãn nợ… khuyến khích sản xuất phần nào khiến làm hạn chế nguồn ngân
sách phục vụ cho việc kháng chiến ở chiến trường Miền Nam.
2.3.3 Bài học
Vai trò, vị thế lãnh đạo của Đảng được củng cố, nâng cao cùng với việc đề cao những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc nổi bật là tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân. Đảng đã
sáng suốt, kịp thời đưa ra những chủ trương chiến lược ngắn hạn và dài hạn nhằm xây dựng
lực lượng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng giúp đất nước bước qua giai đoạn
khó khăn. Thông qua những chủ trương và biện pháp đa dạng, tích cực, Đảng và chính
quyền các cấp đã khuyến khích đông đảo nhân dân tham gia vào các phong trào chống nạn
đói, đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, “nhường cơm sẻ áo” vốn là truyền 20