BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-------------------------
BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
CHUYÊN ĐỀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC
(Tài liệu bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm dành cho giảng viên Đại học, Cao đẳng)
HÀ NỘI, 2025
MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUYÊN ĐỀ .............................................................................. 3
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ HỌC ............. 4
1.1. Vai trò của tự học và sự cần thiết nâng cao chất lượng tự học cho
người học .......................................................................................................... 4
1.2. Khái niệm về tự học .................................................................................. 5
1.3. Các hình thức và cấp độ tự học ............................................................... 7
1.4. Các kĩ năng tự học .................................................................................. 10
1.5. Quy trình dạy - tự học ............................................................................ 11
CHƯƠNG 2. ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC ...... 16
2.1. Đánh giá khả năng tự học ...................................................................... 16
2.2. Một số định hướng nâng cao chất lượng tự học cho người học ......... 19
2.2.1. Hình thành động cơ tự học cho người học ......................................... 20
2.2.2. Hướng dẫn người học xây dựng kế hoạch tự học .............................. 23
2.2.3. Hướng dẫn người học tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu .......................... 28
2.2.4. Hướng dẫn người học tự giải quyết vấn đề ........................................ 35
2.2.5. Hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học ...................................... 49
2.2.6. Hướng dẫn người học tự đánh giá, tự điều chỉnh ............................... 55
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 63
CÂU HỎI ÔN TẬP ........................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 65
3
KHÁI QUÁT CHUYÊN Đ
1. Mục tiêu chuyên đề
Sau khi học xong chuyên đề, người học đạt được các mục tiêu sau:
- Có hiểu biết về tự học;
- Nâng cao được khả năng tự học cho bản thân;
- Hướng dẫn được sinh viên tự học, tự nghiên cứu hiệu quả.
Mục tiêu trọng tâm: Hướng dẫn được sinh viên tự học, tự nghiên cứu hiệu quả.
2. Cấu trúc nội dung
Để nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên, mỗi giáo viên cần biết tự đặt
trả lời ba câu hỏi chính: Tạo sao phải tự học? Tự học gì? Làm thế nào để
nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên? Tài liệu với cấu trúc nội dung như sau
sẽ giúp giáo viên trả lời được ba câu hỏi đó:
4
CHƯƠNG 1. NHNG VN ĐLÝ LUN CƠ BN VỀ TỰ HỌC
1.1. Vai trò ca t hc và scn thiết nâng cao cht lưng t học cho ngưi hc
Tự học luôn được đề cập tới bởi vai trò quan trọng đặc biệt của trong
quá trình đào tạo: Tự học không chỉ giúp cho người học chủ động nắm được tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập còn giúp cho
người học hình thành phương pháp chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng học tập, rèn luyện
thói quen tự học suốt đời; Tự học giúp cho người học hình thành niềm tin khoa
học, rèn luyện ý chí, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập,
lòng say nghiên cứu khoa học; Tự học hình thành nên những con người tự
chủ, năng động, sáng tạo. vậy, tự học một yêu cầu cấp thiết ca hội đối
với mỗi con người trong giai đoạn bùng nổ thông tin khoa học như hiện nay.
Đối với sinh viên đại học thì tự học lại càng thể hiện tầm quan trọng. Bởi
lẽ, dựa trên đặc điểm tâm lý, trí tuệ của sinh viên thì sinh viên đối tượng đang
chuẩn bị cho hoạt động mang lại lợi ích vật chất, tinh thần cho hội nói chung
chuẩn bị cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình nói riêng. Hoạt động
học tập của sinh viên đại học mang tính tự học, tự nghiên cứu cao. Hoạt động học
tập tính mở để sinh viên phát huy tối đa năng lực của mình. Sự tự ý thức
tính kỷ luật tự giác nhân tố quyết định thành công của việc học. Do đó tự học
một hình thức tổ chức dạy học bản ở trường đại học, là một trong những yếu
tố quyết định tới chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên (chất lượng đào tạo),
quyết định tới chất lượng công việc của sinh viên sau khi ra trường. Mặt khác, tự
học còn được coi là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học một hoạt động
học tính chất đặc thù bậc đại học. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên thể hiện khả năng tự học của họ ở mức độ cao.
Sự cần thiết nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên/người học thể hiện chỗ:
Thứ nhất: Trong bối cảnh hiện nay, khi các trường đại học đã đang đào tạo
theo học chế tín chỉ, thời gian dành cho việc học tập trên lớp đối với sinh viên
ít, trong khi lượng kiến thức cần được trang bị bậc đại học khá nhiều, giảng viên
chỉ giới thiệu các vấn đề cốt lõi, bản, chú trọng trang bị các phương pháp học
tập, nghiên cứu chyếu. Do đó sinh viên muốn kiến thức vững chắc, sâu,
rộng trong học tập cũng như trong công việc sau này thì cần phải tự học.
5
Thứ hai: Với sự phát triển không ngừng của khoa học, hội, đặc biệt cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, khối lượng kiến thức
không ngừng tăng lên theo cấp số nhân, nếu sinh viên không tự học, ttích lũy
thêm thì sẽ trở thành tụt hậu trong lĩnh vực chuyên môn của mình, không đáp ứng
được yêu cầu của nghề nghiệp.
Thứ ba: Việc tự học, tự nghiên cứu giúp sinh viên thích ứng với sự thay đổi nội
dung, chương trình học tập, những thông tin khoa học thuộc chuyên ngành, đáp
ứng được yêu cầu công việc trong mọi giai đoạn.
Thứ tư: Riêng đối với đối tượng mong muốn trở thành giáo viên, nếu bản thân họ
có khả năng tự học thì họ sẽ điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao khả năng
tự học cho sinh viên/người học của mình; biết cách phát triển khả năng tự học cho
sinh viên/người học, cụ thể: Hướng dẫn học sinh tự học như thế nào? Tổ chức giờ
học theo hướng nâng cao khả năng tự học cho người học ra sao? …
Có thể nói, tự học có vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục
đào tạo nói chung, đối với phẩm chất và năng lực của mỗi con người nói riêng.
lẽ đó, các cấp độ khác nhau, tự học đã được xác định một mục tiêu giáo
dục, đào tạo bản trong nhà trường tất cả các bậc học, đặc biệt bậc đại
học. Nói cách khác, việc nâng cao khả năng tự học cho sinh viên là nhiệm vụ hết
sức cần thiết trong giáo dục và đào tạo. Điều 40 luật giáo dục đã chỉ rõ: “Phương
pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý
thức tgiác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển duy sáng
tạo, …”.
1.2. Khái nim vtự học
Quan niệm về tự học (Self-learning) đã được đề cập dưới nhiều góc độ,
nhiều hình thức khác nhau.
Theo Từ điển Giáo dục: Tự học quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri
thức khoa học và rèn kỹ năng thực hành không sự hướng dẫn trực tiếp của giáo
viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.
Cùng quan điểm trên, Nguyễn Hiến cho rằng: Tự học không ai bắt
buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm. Người học hoàn toàn làm chủ
mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được.
6
Tác giả N.A.Rubakin khẳng định: Tự tìm lấy tri thức có nghĩa là tự học. Tự
học quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm hội lịch sử trong thực tiễn hoạt
động nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu,
đối chiếu với các hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người
thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể.
Rất tâm huyết với vấn đề tự học đề cập đến vấn đề này trong nhiều tác
phẩm của mình, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn luôn coi tự học nguồn “nội lực” của
mỗi người học. Theo ông: Cốt lõi của học là tự học, quá trình phát triển nội tại,
trong đó chủ thể tự thể hiện biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình
bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong
con người mình. Ông đưa ra quan niệm: “Tự học tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp …) và có khi
cả bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan,
ý chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say khoa
học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó”.
Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng, nếu hiểu tự học học với ch, không
thầy bên cạnh thì còn hạn hẹp. Bởi dạy chỉ là ngoại lực tác động đến trò, giáo viên
không thể học hộ trò, bản thân trò phải cố gắng, đấy mới là tự học. Do đó, tự học
tồn tại với học nhình với bóng. Tự học hiểu như vậy thể xảy ra cả khi
giáo viên và không có giáo viên.
Các quan niệm về tự học với những cách tiếp cận khác nhau như trên
thể được xem xét theo hai khuynh hướng:
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, rèn kỹ năng
không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, rèn kỹ năng
có thể có hoặc không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
Tuy nhiên, giữa các quan niệm trên một nét chung đều quan niệm tự
học hoạt động của bản thân người học tự chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực tích cực; khuynh hướng thhai hàm
chứa khuynh hướng thứ nhất.
7
Như vậy khái niệm về tự học được hiểu đầy đủ như sau: Tự học là tự mình
suy nghĩ, hoạt động để chiếm lĩnh các kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo một
cách tự giác, chủ động, tự lực, tích cực để thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin
bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình. Tự học thể diễn ra
trong hoặc ngoài lớp học, có hoặc không có shướng dẫn của giáo viên.
1.3. Các nh thc và cp độ tự học
1.3.1. Các hình thức tự học
Căn cứ vào mối quan hệ của người dạy với người học, hai hình thức tự
học bản, đó là: tự học không sự hướng dẫn của giáo viên tự học hướng
dẫn của giáo viên.
- Tự học không sự hướng dẫn của giáo viên: Hoạt động học được tiến
hành tùy vào nhu cầu, mục đích của người học. Hoạt động học diễn ra hoàn
toàn độc lập, không sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên. Khi gặp
khó khăn, người học không giáo viên bên cạnh để hỏi, người học phải
tự mình xoay xở, động não để tìm hiểu nội dung, vấn đề cần học và nếu cần
phải tra cứu thêm sách, tài liệu liên quan. Lúc này, người học thực sự
làm việc độc lập, tự mình vượt qua khó khăn. Đây một năng lực cần
để con người thể tự học suốt đời. Học không giáo viên thể mang
lại hiệu quả tích cực, nhưng nhiều khi lại đòi hỏi phải huy động nhiều thời
gian vì không có hệ thống, định hướng, thiếu chiều sâu, …
Trong hình thức tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên có thể
bao gồm hai trường hợp là:
+ Tự học của những người không có điều kiện đi học, tri thức và kĩ năng
mà họ học được thông qua chính những nhu cầu, những hoạt động trong
cuộc sống thường nhật.
+ Tự học của những người có trình độ học vấn nhất định (đã một thời
gian dài được học với giáo viên để có được vốn văn hoá cơ bản). Vấn đề
học tuỳ nhu cầu của người học, người học thông qua sách, báo, tài liệu,
…, tự đọc lấy hiểu. Vai trò chủ thể của người học nhân tố trọng
yếu nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng.
Như vậy, hình thức tự học không sự hướng dẫn của giáo viên
người học tiến hành tự học một cách tự giác nhằm thỏa mãn nhu cầu
8
hiểu biết, mở rộng, đào sâu, bổ sung kiến thức văn hóa chung của bản
thân. Những kiến thức này thể nằm ngoài chương trình bắt buộc. Việc
tìm hiểu là do nhu cầu hiểu biết, nâng cao của người học và thường được
tiến hành ở ngoài lớp học.
- Tự học hướng của giáo viên: Hoạt động tự học được tiến hành tổ
chức, có kế hoạch, ngoài tính tự chủ của người học, cần có những tác động
khách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn của giáo viên để việc học tập
mang lại kết quả cao. Hiệu quả của hoạt động học tập hình thức tự học
này phụ thuộc vào vai trò của người hướng dẫn vai trò tích cực chủ động
hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học. vậy, nhiệm vụ quan
trọng của người giáo viên trong hình thức tự học này là phải phát huy được
tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập của người học, hình thành phương
pháp tự học cho họ để họ có khả năng tự học, tự hoàn thành nhiệm vụ học
tập. Hình thức tự học sự hướng dẫn của giáo viên chứa nhiều yếu tố
thuận lợi với người học, nhưng thuận lợi đó thể biến thành khó khăn nếu
trò ỷ lại vào giáo viên và giáo viên làm thay người học ở cả những việc
người học tự mình làm được. Hình thức tự học này thể diễn ra trong
lớp học hoặc ở ngoài lớp học.
Trong hình thức tự học hướng dẫn của giáo viên thể bao gồm hai
trường hợp là:
+ Tự học sự hướng dẫn của giáo viên nhưng không giáp mặt: Giáo
viên và người học không trực tiếp gặp nhau, giáo viên hướng dẫn người
học tự học thông qua các bài giảng trực tuyến, bài học trong các tài liệu
hướng dẫn của giáo viên, Trên cơ sở đó, người học tự mình thực hiện
nhiệm vụ, tự giải quyết những vướng mắc gặp phải trong quá trình học
để đạt được kết quả.
+ Tự học diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên: Giáo viên
người học trực tiếp gặp nhau trong những khoảng thời gian nhất định,
giáo viên giao cho người học những nhiệm vụ học tập cần thiết, hướng
dẫn người học tự học để thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, trò tự mình
thực hiện hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ.
9
Như vậy, nếu xét một cách chi tiết thì nhiều hình thức khác nhau để
người học thể tự học, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo
và hoàn thiện nhân cách bản thân. Nếu xét một cách tổng thể thì có hai hình thức
tự học cơ bản, đó là: tự học hoàn toàn không có sự hướng dẫn của thầy tự học
hướng dẫn của thầy. Tuy nhiên, dù là với hình thức nào thì để tự học đạt hiệu
quả cao, bản thân mỗi người học cần phải biết tích cực, chủ động học tập sao cho
phợp với khả năng, sở trường, hoàn cảnh, điều kiện của bản thân cũng như
những yêu cầu, quy chế của trường Đại học mình đã lựa chọn. Để việc tự học
mang lại hiệu quả tốt, trước hết phải học một cách có kế hoạch, có hệ thống, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên, rồi theo chiều hướng phát triển đi lên không cần
sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự tổ chức quá trình học tập của bản thân
một cách hiệu quả, tiến tới học suốt đời.
Tùy vào mục tiêu và nội dung tự học mà người học cần lựa chọn hình thức
tự học cho phù hợp. Đối với sinh viên, khi n đang ngồi trên ghế nhà trường,
trước hết cần học tốt các môn học trong chương trình để có vốn kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ vững vàng, do đó hình thức tự học phù hợp với sinh viên tự
học hướng dẫn của giảng viên.
1.3.2. Các cấp độ tự học
thể xác định bốn cấp độ tự học: Cấp độ thấp bước đầu làm quen để
học cách học; Cấp độ cao hơn là hình thành và rèn luyện các kỹ năng tự học; Cấp
độ tiếp theo ý thức được việc tự học, biết chủ động tự học; Cuối cùng đam
tự học.
Đối với các nhà nghiên cứu, tự học thường xuyên được diễn ra, tự học trở
thành thói quen, chất lượng tự học mang lại kết quả cao, tự học chủ yếunghiên
cứu khoa học. Có thể i, cấp độ tự học của các nhà nghiên cứu là đam mê tự học.
Đối với sinh viên, cấp độ tự học ý thức được việc tự học, biết chủ động
tự học. Bởi tự học một trong những năng lực cần có ở mỗi sinh viên. Sinh viên
phải biết tự học, tự tìm hiểu các tài liệu tham khảo mới thể hoàn thành nhiệm
vụ nhận thức. Hơn nữa, họ còn phải bước đầu biết nghiên cứu khoa học.
Đối với học sinh phổ thông (từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông),
tự học không cao như đối với sinh viên khác xa (không giống) với tự học của
nhà nghiên cứu. Tự học đối với các em tự trang bị cho bản thân những kiến
10
thức phổ thông cơ bản, cần thiết vận dụng vào giải quyết các vấn đề trong môn
học cũng như trong thực tế, biến đổi nhận thức từ thấp đến cao sao cho mỗi em
thể được chuẩn bị đầy đủ cho giai đoạn học tập tiếp theo cũng như các em sẽ
tự tin khi tham gia vào cuộc sống lao động sau này. Cấp độ tự học của các em đi
từ bước đầu làm quen để học cách học đến cấp độ hình thành và rèn luyện các kỹ
năng tự học.
1.4. Các năng tự học
1.4.1. Khái niệm kĩ năng tự học
Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách
vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã để hành động phù hợp với
những điều kiện cho phép.
năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả các thao tác, hành động tự
học trên sở vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã tích lũy phù hợp
với những điều kiện cho phép.
1.4.2. Hệ thống các kĩ năng tự học
Theo quan điểm điều khiển học, quá trình tự học là quá trình tự điều khiển,
tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập đạt kết quả tối ưu.
Quá trình tự điều khiển đó bắt đầu từ việc lập kế hoạch tự học, tổ chức thực hiện
kế hoạch cuối cùng tự đánh giá, tự điều chỉnh. Như vậy, việc tự học được
thực hiện bởi một chuỗi các hành động tự học. Để tự học kết quả, người học
phải những năng tự học tương ứng với các hành động tự học như: Kĩ năng
lập kế hoạch tự học; Kĩ năng tìm kiếm nghiên cứu i liệu; Kĩ năng tự giải quyết
vấn đề; Kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh; …
Hệ thống kĩ năng tự học bao gồm bốn nhóm kĩ năng cơ bản sau:
Nhóm 1: năng lập kế hoạch tự học, bao gồm các kĩ năng thành phần: Xác định
mục tiêu cần đạt; Xác định các nội dung cần tự học thời gian tự học; Xác định
các hoạt động cần phải tiến hành, các sản phẩm cụ thể.
Nhóm 2: Kĩ năng tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu, bao gồm các kĩ ng thành phần:
Tìm kiếm tài liệu; Nghe hiểu, đọc hiểu; Tóm tắt, ghi chép ý chính; Tự đặt trả
lời câu hỏi.
11
Nhóm 3: năng tự giải quyết vấn đề, bao gồm các năng thành phần: Phát hiện
vấn đề; Tìm giải pháp; Trình bày giải pháp; Nghiên cứu sâu giải pháp.
Nhóm 4: năng tự đánh giá, tự điều chỉnh, bao gồm các năng thành phần:
Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học Theo dõi sự tiến bộ, nhận
ra những ưu, nhược điểm; Khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong học tập; Điều
chỉnh cách học, chiến lược học.
Trên đây những năng bản trong quá trình tự học. Các năng tự
học khác thể được hình thành phát triển trên sở những năng bản
này. Cácnăng tự học có tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Để việc tự học đạt
kết quả tốt, trong quá trình tự học phải biết vận dụng kết hợp các năng tự
học.
Ví dụ kĩ năng tự học Tiếng Anh:
- Xác định mục tiêu: Nâng cao khả năng nghe, nói, đọc và viết tiếng Anh
- Xác định trình độ tiếng Anh của nhân: Tham gia một bài kiểm tra trực
tuyến hoặc một lớp học tiếng Anh và thảo luận với giáo viên của mình.
- Xác định thời gian và ngân sách cá nhân.
- Tạo kế hoạch học tập: Từ trình độ hiện tại, dựa trên thời gian và ngân sách
cá nhân, tạo một lịch học tập hợp lý.
- Học theo kế hoạch: Cần tuân thủ thực hiện kế hoạch đã tạo lập; tìm kiếm
các tài liệu học tập phù hợp như sách giáo khoa, sách hướng dẫn, bài học
trực tuyến, trung tâm tiếng Anh, podcast, video, Cần phải tập trung vào
việc luyện tập nghe, nói, đọc và viết tiếng Anh trong suốt quá trình học tập.
- Đánh giá kết quả: Sau một khoảng thời gian, cần phải đánh giá kết quả của
mình để biết liệu kế hoạch học tập hiệu quả hay không. Nếu không, có thể
điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu.
1.5. Quy trình dy - tự học
1.5.1. Quan hệ giữa dạy và tự học
Học tập là hoạt động của một người tiếp thu kiến thức. Nó có thể có chủ ý
hay chỉ sự tình cờ ngẫu nhiên. Học tập bao gồm việc thu thập thông tin, kỹ
năng, thái độ, hiểu biết hay giá trị mới. thường đi kèm với những thay đổi về
12
cách ứng xử và liên tục diễn ra trong suốt cuộc đời. Học tập thường được coi như
vừa là quá trình, vừa là kết quả.
Tự học một hình thức hoạt động nhận thức của nhân với sự tự giác,
tính tích cực và độc lập cao nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính
bản thân người học tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo
chương trình sách giáo khoa đã quy định. Thọc nội lực phát triển bản thân
người học. Người học chủ động, tích cực, tự mình chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo, bằng hành động của chính mình, tự phát triển từ bên trong.
Học cốt lõi tự học, quá trình phát triển nội tại, trong đó chthể tự
thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận,
xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình.
Dạy hoạt động của giáo viên nhằm hướng dẫn, tổ chức đạo diễn cho
người học tự mình tìm ra kiến thức. Mục đích của dạy làm cho người học biết
học đúng cách (biết tự học). Tác động dạy của giáo viên ngoại lực đối với sự
phát triển bản thân người học.
Như vậy, tự học quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy nhưng tính
độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân. Mối quan hệ giữa dạy tự học về
bản chất là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực. Tác động dạy của giáo viên
là quan trọng đến đâu vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc c, tạo điều kiện cho
người học tự học, tự phát triển và trưởng thành: giáo viên dạy để người học tự học
(mục tiêu), giáo viên dạy cho người học tự học (phương pháp), giáo viên dạy
thành người học tự học (quá trình dạy tự học).
Dạy phải đi đôi với việc học, dạy có hiệu quả phải được đánh giá từ học có
hiệu quả. Dạy cho người học kiến thức là cần thiết, nhưng dạy cho người học biết
cách tự học kiến thức cần thiết hơn. Để giúp người học nâng cao chất lượng
học tập, giáo viên sẽ hướng dẫn cho người học cách học chủ yếu, đưa ra các
tình huống, cách giải quyết vấn đề, các nhiệm vụ cần phải thực hiện, chỉ cho người
học các hình thức tổ chức giúp người học phấn đấu đạt kết quả cao.
Với việc dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, giáo viên
người trao kiến thức, người học người nhận, thụ động tiếp thu, nên khó kích
thích được sức năng động, sức tự vươn lên của người học. Trong việc dạy cho
người học tự học, giáo viên không áp đặt về nội dung, phương pháp, kế hoạch, …
13
một cách cứng nhắc hướng dẫn người học tự tìm ra kiến thức bằng hành động
của chính mình, kích thích được tính tích cực, tự lực, năng động, sức tự vươn lên
của người học, chỉ khi nào thật cần thiết giáo viên mới trực tiếp điều chỉnh, cùng
người học giải quyết để không lãng phí thời gian. Tuy nhiên, điều quan trọng
người dạy phải biết lựa chọn để đặt ra cho người học những nhiệm vụ vừa sức,
bảo đảm cho việc trưởng thành và mức tiến bộ của họ, đồng thời đây cũng là việc
kích thích tạo ra nhu cầu, sự hứng thú tự học, nếu không dễ làm người học chán
nản, chùn bước khi gặp vấn đề khó khăn. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng của giáo
viên dạy cho người học cách tự học. Đây là công việc không đơn giản của giáo
viên trong quá trình dạy học, bởi vì muốn dạy cách tự học cho người khác thì bản
thân giáo viên cũng phải biết cách tự học.
Người giáo viên giỏi người biết dạy cho trò tự học. Người học giỏi
người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự học thuộc qtrình nhân a
việc học không có nghĩa là học một mình, mà học trong sự hợp tác với các bạn,
trong môi trường hội, dưới sự hướng dẫn của giáo viên sự hợp tác với các
bạn ngoại lực. Ngược lại tác động của giáo viên của môi trường hội sẽ
kém hiệu lực nếu không phát huy được khả năng tự học của người học.
Sự kết hợp giữa ngoại lực dạy với nội lực tự học làm tăng sức tự học,
nâng cao khả năng tự học, chất lượng hiệu quả học tập thể xem như một hiện
tượng cộng hưởng. Dạy học cộng hưởng với tự học tức dạy như thế nào cho
sức tự vươn lên nói trên của người học được kích thích, duy trì tăng cường đến
mức người học thể tự mình chiếm lĩnh tri thức mới, đạt được mục tiêu học.
Tương tự như hiện tượng cộng hưởng cơ học (Hiện tượng biên độ giao động của
một hệ giao động tăng đột biến khi tần số ngoại lực xấp xỉ bằng tần số riêng của
hệ đó), tác động dạy ngoại lực chỉ cộng hưởng với tự học khi vừa sức tự
vươn lên hoặc xấp xỉ sức tự vươn lên của người học.
Dạy học kiểu “hướng dẫn người học tự mình tìm ra kiến thức bằng hành
động của chính mình” theo nguyên tắc “vừa sức tự vươn lên” của người học được
hiểu theo cách “động” “tự lực vươn lên trên sức mình một ít” thì kích thích
được tính tích cực, tự lực, năng động, sức tự ơn lên của người học trong suốt
cả quá trình “tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh” để tự mình
chiếm lĩnh tri thức mới, tức tạo ra được sự cộng hưởng. Cộng hưởng đồng nghĩa
với vừa sức tự vươn lên của người học. Để dạy tác động cộng hưởng với tự học,
14
giáo viên phải đề ra những mục tiêu vừa sức tự vươn lên. Việc đạt được mục tiêu
hay một khả năng mới bao giờ cũng tương ứng với khó khăn cần khắc phục.
Như vậy, vấn đề được đặt ra là không thể nhấn mạnh một chiều nội lực hay
ngoại lực kết hợp mật thiết, chặt chẽ nội ngoại lực, nhằm tiến tới trình
độ cao của chất lượng dạy học là cộng hưởng nội lực và ngoại lực với nhau. Nói
một cách khác, qtrình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóa việc học phải kết hợp
với quá trình hợp tác với bạn quá trình dạy của giáo viên. Kết hợp dạy với tự
học là nhằm làm cho dạy với tự học cộng hưởng được với nhau tạo ra chất lượng
và hiệu quả cao để đạt mục tiêu đào tạo con người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo.
1.5.2. Quy trình dạy tự học
Quy trình dạy - tự học bao gồm: quy trình tự học của người học dưới tác
động dạy của giáo viên nhằm biến đổi tri thức, kho tàng văn hoá, khoa học của
nhân loại thành học vấn riêng của bản thân người học.
Trong đó, quy trình tự học của người học gồm ba thời:
- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện
vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức
mới (đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (có tính chất cá nhân).
- Tự thể hiện: Người học thể hiện bằng văn bản, bằng lời nói, sắm vai trong
các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm nhân
ban đầu của mình, tự thể hiện qua hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với
các bạn và giáo viên tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp
học.
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi
với các bạn và giáo viên, sau khi giáo viên kết luận, người học tự kiểm tra,
tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản
phẩm khoa học (tri thức).
Tương ứng với quy trình tự học của người học, quy trình dạy của giáo viên
cũng gồm ba thời:
- Hướng dẫn: Giáo viên hướng dẫn cho từng cá nhân người học, về các tình
huống, các vấn đề cần giải quyết, về các nhiệm vụ phải thực hiện.
15
- Tổ chức: Giáo viên tổ chức cho người học tự thể hiện mình và hợp tác với
các bạn (tổ chức các cuộc tranh luận, hội thảo, trao đổi trò trò, trò thầy,
nhóm, …). Lúc này giáo viên đóng vai trò người đạo diễn dẫn chương
trình.
- Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra: Khẳng định về mặt khoa học kiến thức
do người học tự tìm ra. Cuối cùng giáo viên người kiểm tra, đánh giá kết
quả tự học của người học trên sở người học tự đánh giá, tự điều chỉnh,
Đi cùng với hai quy trình trên trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của người
học, tri thức cũng trải qua ba thời:
- Tri thức cá nhân: Người học tự tìm ra được một tri thức hay sản phẩm ban
đầu mang tính chất nhân, thể đúng hoặc sai, khách quan hoặc chủ
quan, khoa học hay thiếu khoa học.
- Tri thức hội: Tri thức nhân thông qua sự trao đổi, thảo luận, hợp tác
với bạn trong lớp trở thành khách quan hơn, mang tính chất xã hội (xã hội
lớp học).
- Tri thức khoa học: Với kết luận cuối cùng của giáo viên, người học tự kiểm
tra điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người tự học tự tìm ra
giờ đây mới thật sự khách quan khoa học theo đúng nghĩa của tri thức.
Sơ đồ quy trình dạy - tự học
Tri thức
Người
dạy
Người
học Tự
NC
Tri
thức
Người dạy
Tổ chức
Người học
Tự thể
hin
Tri thức
Người dạy
ĐG, kết
luận
Tự kiểm
16
CHƯƠNG 2. ĐNH HƯNG NÂNG CAO CHT LƯNG TỰ HỌC
2.1. Đánh giá khnăng thọc
Mỗi người học khác nhau khả năng tự học khác nhau. Đánh giá được
khả năng tự học của người học sẽ có lợi cho cả người học và người dạy.
- Đối với người học: kết quả đánh giá không chỉ tiết lộ mức độ tự học của
bản thân còn hội hiểu hơn về tự học, điều này rất quan trọng
để nâng cao khả năng tự học, tiến tới tự học suốt đời;
- Đối với người dạy: khi đã xác định được mức độ tự học của người học, họ
thể cải tiến việc dạy đphợp hơn với nhu cầu khả năng học tập
của người học, để hướng dẫn người học tốt hơn. Người mức độ tự học
cao cũng cần được hỗ trợ để giúp duy trì phát triển hơn nữa khả năng
của họ trong việc trở thành những người học độc lập suốt đời.
Để đánh giá khả năng tự học, cần công cụ để đánh giá, thực chất các câu
hỏi để khảo sát trực tiếp người học, sau đó phân tích để phiên giải kết quả. Công
cụ đánh giá khả năng tự học đã được một số nhà khoa học xây dựng sử dụng
trong những nghiên cứu về giáo dục từ cuối thế kỉ XX, tuy nhiên mỗi một công
cụ lại những ưu khuyết điểm riêng, các thành tố được đưa ra trong mỗi bộ
công cụ là khác nhau, phụ thuộc vào người xây dựng bộ công cụ định nghĩa khái
niệm tự học phương diện nào. Một số bộ công cụ (bộ câu hỏi) đã được xây dựng
và sử dụng trên nhiều quốc gia như: bộ công cụ của Guglielmino gồm 8 thành tố
(Tự ý thức bản thân để học hiệu quả; Sự cởi mvới các hội học tập; Tính
chủ động và độc lập trong học tập; Chấp nhận chịu trách nhiệm với việc học của
mình; Tình yêu với việc học; Sự sáng tạo; Khả năng sử dụng các kỹ năng nghiên
cứu cơ bản và giải quyết vấn đề; Định hướng tích cực cho tương lai). Bộ công cụ
của Guglielmino 58 câu hỏi; Bcông cụ của Williamson gồm 5 thành tố (Nhận
thức; Chiến lược học tập; Hoạt động học tập; Đánh giá; ng giao tiếp giữa
các cá nhân). Bộ công cụ của Williamson 60 câu hỏi.
Dưới đây gii thiu 60 câu hi đánh giá kh năng thọc do Williamson xây
dựng: Mỗi câu 5 mc đtrli theo thang đim t1 đến 5, trong đó: 5 = Luôn
luôn, 4 = Thường xuyên, 3 = Đôi khi, 2 = Ít khi, 1 = Không bao giờ.
1) Tôi tự xác định nhu cầu học tập của bản thân.
2) Tôi có thể chọn phương pháp học tập tốt nhất cho riêng mình.
17
3) Tôi coi giáo viên người hỗ trợ học tập hơn người chỉ cung cấp thông
tin.
4) Tôi luôn cập nhật các nguồn học tập khác nhau.
5) Tôi chịu trách nhiệm về việc học của mình.
6) Tôi chịu trách nhiệm xác định các lĩnh vực học tập còn yếu kém của mình.
7) Tôi có thể duy trì động lực học tập của bản thân.
8) Tôi có thể lập kế hoạch và đặt mục tiêu học tập của mình.
9) Tôi dành những lúc nghỉ ngơi trong khoảng thời gian học tập dài.
10) Tôi cần giữ thói quen học tập hàng ngày khỏi những việc quan trọng khác.
11) Tôi liên hệ kinh nghiệm/trải nghiệm của mình với những thông tin mới.
12) Tôi cảm thấy rằng tôi đang học mặc không được hướng dẫn bởi một
giảng viên.
13) Tôi tham gia thảo luận nhóm.
14) Tôi nhận thấy việc học cùng bạn là hiệu quả.
15) Tôi thấy đóng vailà một phương pháp hữu ích cho học tập phức hợp.
16) Tôi thấy các hoạt động dạy (của thầy) học (của trò) tương tác, đan xen
với nhau là hiệu quả hơn việc chỉ nghe thầy giảng.
17) Tôi thấy sự mô phỏng, mô hình hóa trong dạy-học là hữu ích.
18) Tôi thấy việc học từ các nghiên cứu trường hợp (case studies) là hữu ích.
19) Động lực bên trong của tôi giúp tôi phát triển xa hơn và cải thiện việc học
tập.
20) Tôi coi các vấn đề học tập là thách thức.
21) Tôi sắp xếp việc học hàng ngày của mình theo cách thể giúp phát triển
thói quen tự học lâu dài trong cuộc sống.
22) Tôi thấy lập đồ khái niệm/sơ đồ duy (concept mapping/mind
mapping) là một phương pháp hiệu quả để học tập.
23) Tôi thấy các công nghệ tương tác hiện đại trong giáo dục giúp cải thiện quá
trình học tập của tôi.
18
24) Tôi có thể quyết định chiến lược học tập của riêng mình.
25) Tôi ôn lại và luyện tập sau khi học bài mới.
26) Tôi xác định những điểm quan trọng khi đọc một tài liệu học tập hoặc một
bài báo.
27) Tôi sử dụng đồ khái niệm/phác thảo (concept mapping/outlining) như
một phương pháp hữu ích để lĩnh hội lượng thông tin lớn.
28) Tôi có thể sử dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả.
29) Sự tập trung của tôi tăng lên tôi chú ý nhiều hơn khi tôi đọc một nội
dung nghiên cứu phức tạp.
30) Tôi lưu giữ các ghi chú chú thích hoặc bản tóm tắt của tất cả ý tưởng,
nhận xét và kiến thức mới.
31) Tôi thích khám phá thêm các thông tin nằm ngoài mục tiêu của khóa học.
32) Tôi có thể liên hệ kiến thức với thực hành/thực tiễn.
33) Tôi nêu/đặt ra các câu hỏi liên quan trong quá trình học tập.
34) Tôi thể phân tích phản biện những ý tưởng, thông tin hoặc bất kỳ kinh
nghiệm học tập mới nào.
35) Tôi luôn cởi mở với quan điểm của người khác.
36) Tôi luôn muốn nghỉ giải lao giữa bất kỳ nhiệm vụ học tập nào.
37) Tôi tự đánh giá trước khi nhận lại phản hồi từ giảng viên.
38) Tôi xác định các vấn đề cần phát triển thêm trong bất cứ điều gì tôi đã học.
39) Tôi có thể theo dõi tiến trình học tập của mình.
40) Tôi có thể xác định các điểm mạnh và điểm yếu của mình.
41) Tôi đánh giá cao việc soát, đánh giá kết quả làm việc của mình bởi bạn
học
42) Tôi thấy cả thành công thất bại đều truyền cảm hứng cho tôi học hỏi
thêm.
43) Tôi coi trọng phê bình, phê phán như là cơ sở để cải thiện việc học của tôi.
44) Tôi tự theo dõi, giám sát việc hoàn thành mục tiêu học tập của mình.
19
45) Tôi tự kiểm tra hồ học tập (porfolio) để xem xét tiến trình học tập của
mình.
46) Tôi xem xét và suy ngẫm về các hoạt động học tập của mình.
47) Tôi thấy việc học đầy thử thách.
48) Tôi được truyền cảm hứng từ thành công của người khác.
49) Tôi dđịnh tìm hiu thêm vcác nn văn hóa ngôn ngkhác tôi
thưng xuyên tiếp xúc.
50) Tôi có thxác đnh vai trò ca mình trong mt nhóm.
51) Sự tương tác ca tôi vi ngưi khác giúp tôi hiu biết chính mình đtừ đó
lập kế hoch cho vic hc tp xa hơn.
52) Tôi tn dng mi cơ hi mà tôi bt gp.
53) Tôi cn chia sthông tin vi ngưi khác.
54) Tôi duy trì mi quan hệ tốt vi nhng ngưi khác.
55) Tôi cm thy ddàng làm vic, cng tác vi ngưi khác.
56) Tôi thành công trong vic giao tiếp bng li nói.
57) Tôi xác đnh sự cần thiết ca các liên kết liên ngành đi vi vic duy trì s
hài hòa xã hi.
58) Tôi có thdin đt ý tưng ca mình mt cách hiu quả bằng văn bn.
59) Tôi có thể dễ dàng bày tquan đim ca mình.
60) Tôi thy ththách khi hc tp trong môi trưng đa dng vvăn hóa.
Để đánh giá khả năng tự học của người học, giáo viên có thể dùng bộ công
cụ của các nhà khoa học đã xây dựng hoặc tự xây dựng công cụ phù hợp với môn
học mà mình giảng dạy. Công cụ (bộ câu hỏi) đánh giá khả năng tự học được xây
dựng căn cứ vào khái niệm về thọc, các năng tự học môn học mà giáo viên
trực tiếp giảng dạy.
2.2. Mt s định hưng nâng cao cht lưng thọc cho ngưi học
Từ khái niệm về tự học, các năng tự học, quy trình dạy - tự học, ta
chu trình hình thành và phát triển khả năng tự học như sau:
20
Căn cứ vào chu trình hình thành phát triển khả năng tự học trên, giáo
viên có thể thực hiện một số định hướng nâng cao khả năng tự học cho người học
như sau: hình thành động tự học cho người học; hướng dẫn người học xây dựng
kế hoạch tự học; hướng dẫn người học tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu; hướng dẫn
người học tự giải quyết vấn đề; hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học; hướng
dẫn người học tự đánh giá, tự điều chỉnh; …
2.2.1. Hình thành đng cơ tự học cho ngưi học
a) Nội dung và ý nghĩa
Động chính sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng nhân nhận thấy
cần chiếm lĩnh để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của mình. Sức hấp dẫn lôi
cuốn của đối tượng càng lớn thì động cơ thúc đẩy hoạt động càng lớn.
Trong dạy học, gợi động tạo được sức hấp dẫn, lôi cuốn, tạo được
động lực bên trong thúc đẩy người học muốn học, hứng thú với việc học, thúc đẩy
người học hoạt động, nhằm làm cho những mục đích phạm biến thành những
mục đích của cá nhân người học.
Có hai loại động cơ học tập chủ yếu sau đối với sinh viên:
- Động hoàn thiện tri thức, biểu hiện thái độ đối với các tri thức, với quá
trình chiếm lĩnh, mở rộng tri thức ...
dụ: Sinh viên say sưa học tập sức hấp dẫn, lôi kéo của bản thân tri
thức những phương pháp giành tri thức ấy, mong muốn nhiều hiểu
biết, khao khát mở rộng tri thức ….
- Động cơ quan hệ xã hội, biểu hiện ở thái độ đối với các điều không phải tri
thức khoa học, nhưng điều đó lại chthể đạt được trong điều kiện các
em chiếm lĩnh được tri thức khoa học.
Hình
thành
động
TH
Xây dựng
KHTH
Thực hiện
KHTH
Tự đánh
giá, điều
chỉnh

Preview text:


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-------------------------
BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHUYÊN ĐỀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC
(Tài liệu bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm dành cho giảng viên Đại học, Cao đẳng) HÀ NỘI, 2025 MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUYÊN ĐỀ .............................................................................. 3
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ HỌC ............. 4
1.1. Vai trò của tự học và sự cần thiết nâng cao chất lượng tự học cho
người học .......................................................................................................... 4
1.2. Khái niệm về tự học .................................................................................. 5
1.3. Các hình thức và cấp độ tự học ............................................................... 7
1.4. Các kĩ năng tự học .................................................................................. 10
1.5. Quy trình dạy - tự học ............................................................................ 11
CHƯƠNG 2. ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC ...... 16
2.1. Đánh giá khả năng tự học ...................................................................... 16
2.2. Một số định hướng nâng cao chất lượng tự học cho người học ......... 19
2.2.1. Hình thành động cơ tự học cho người học ......................................... 20
2.2.2. Hướng dẫn người học xây dựng kế hoạch tự học .............................. 23
2.2.3. Hướng dẫn người học tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu .......................... 28
2.2.4. Hướng dẫn người học tự giải quyết vấn đề ........................................ 35
2.2.5. Hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học ...................................... 49
2.2.6. Hướng dẫn người học tự đánh giá, tự điều chỉnh ............................... 55
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 63
CÂU HỎI ÔN TẬP ........................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 65
KHÁI QUÁT CHUYÊN ĐỀ
1. Mục tiêu chuyên đề
Sau khi học xong chuyên đề, người học đạt được các mục tiêu sau:
- Có hiểu biết về tự học;
- Nâng cao được khả năng tự học cho bản thân;
- Hướng dẫn được sinh viên tự học, tự nghiên cứu hiệu quả.
Mục tiêu trọng tâm: Hướng dẫn được sinh viên tự học, tự nghiên cứu hiệu quả.
2. Cấu trúc nội dung
Để nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên, mỗi giáo viên cần biết tự đặt
và trả lời ba câu hỏi chính: Tạo sao phải tự học? Tự học là gì? Làm thế nào để
nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên? Tài liệu với cấu trúc nội dung như sau
sẽ giúp giáo viên trả lời được ba câu hỏi đó: 3
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ HỌC
1.1. Vai trò của tự học và sự cần thiết nâng cao chất lượng tự học cho người học
Tự học luôn được đề cập tới bởi vai trò quan trọng đặc biệt của nó trong
quá trình đào tạo: Tự học không chỉ giúp cho người học chủ động nắm được tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập mà còn giúp cho
người học hình thành phương pháp chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng học tập, rèn luyện
thói quen tự học suốt đời; Tự học giúp cho người học hình thành niềm tin khoa
học, rèn luyện ý chí, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập,
lòng say mê nghiên cứu khoa học; Tự học hình thành nên những con người tự
chủ, năng động, sáng tạo. Vì vậy, tự học là một yêu cầu cấp thiết của xã hội đối
với mỗi con người trong giai đoạn bùng nổ thông tin khoa học như hiện nay.
Đối với sinh viên đại học thì tự học lại càng thể hiện rõ tầm quan trọng. Bởi
lẽ, dựa trên đặc điểm tâm lý, trí tuệ của sinh viên thì sinh viên là đối tượng đang
chuẩn bị cho hoạt động mang lại lợi ích vật chất, tinh thần cho xã hội nói chung
và chuẩn bị cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình nói riêng. Hoạt động
học tập của sinh viên đại học mang tính tự học, tự nghiên cứu cao. Hoạt động học
tập có tính mở để sinh viên phát huy tối đa năng lực của mình. Sự tự ý thức và
tính kỷ luật tự giác là nhân tố quyết định thành công của việc học. Do đó tự học
là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở trường đại học, là một trong những yếu
tố quyết định tới chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên (chất lượng đào tạo),
quyết định tới chất lượng công việc của sinh viên sau khi ra trường. Mặt khác, tự
học còn được coi là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học – một hoạt động
học có tính chất đặc thù ở bậc đại học. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên thể hiện khả năng tự học của họ ở mức độ cao.
Sự cần thiết nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên/người học thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Trong bối cảnh hiện nay, khi các trường đại học đã và đang đào tạo
theo học chế tín chỉ, thời gian dành cho việc học tập ở trên lớp đối với sinh viên
ít, trong khi lượng kiến thức cần được trang bị ở bậc đại học khá nhiều, giảng viên
chỉ giới thiệu các vấn đề cốt lõi, cơ bản, chú trọng trang bị các phương pháp học
tập, nghiên cứu là chủ yếu. Do đó sinh viên muốn có kiến thức vững chắc, sâu,
rộng trong học tập cũng như trong công việc sau này thì cần phải tự học. 4
Thứ hai: Với sự phát triển không ngừng của khoa học, xã hội, đặc biệt là cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, khối lượng kiến thức
không ngừng tăng lên theo cấp số nhân, nếu sinh viên không tự học, tự tích lũy
thêm thì sẽ trở thành tụt hậu trong lĩnh vực chuyên môn của mình, không đáp ứng
được yêu cầu của nghề nghiệp.
Thứ ba: Việc tự học, tự nghiên cứu giúp sinh viên thích ứng với sự thay đổi nội
dung, chương trình học tập, những thông tin khoa học thuộc chuyên ngành, đáp
ứng được yêu cầu công việc trong mọi giai đoạn.
Thứ tư: Riêng đối với đối tượng mong muốn trở thành giáo viên, nếu bản thân họ
có khả năng tự học thì họ sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao khả năng
tự học cho sinh viên/người học của mình; biết cách phát triển khả năng tự học cho
sinh viên/người học, cụ thể: Hướng dẫn học sinh tự học như thế nào? Tổ chức giờ
học theo hướng nâng cao khả năng tự học cho người học ra sao? …
Có thể nói, tự học có vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục
và đào tạo nói chung, đối với phẩm chất và năng lực của mỗi con người nói riêng.
Vì lẽ đó, ở các cấp độ khác nhau, tự học đã được xác định là một mục tiêu giáo
dục, đào tạo cơ bản trong nhà trường ở tất cả các bậc học, đặc biệt là ở bậc đại
học. Nói cách khác, việc nâng cao khả năng tự học cho sinh viên là nhiệm vụ hết
sức cần thiết trong giáo dục và đào tạo. Điều 40 luật giáo dục đã chỉ rõ: “Phương
pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý
thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, …”.
1.2. Khái niệm về tự học
Quan niệm về tự học (Self-learning) đã được đề cập dưới nhiều góc độ,
nhiều hình thức khác nhau.
Theo Từ điển Giáo dục: Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri
thức khoa học và rèn kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo
viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.
Cùng quan điểm trên, Nguyễn Hiến Lê cho rằng: Tự học là không ai bắt
buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm. Người học hoàn toàn làm chủ
mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được. 5
Tác giả N.A.Rubakin khẳng định: Tự tìm lấy tri thức có nghĩa là tự học. Tự
học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt
động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu,
đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người
thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể.
Rất tâm huyết với vấn đề tự học và đề cập đến vấn đề này trong nhiều tác
phẩm của mình, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn luôn coi tự học là nguồn “nội lực” của
mỗi người học. Theo ông: Cốt lõi của học là tự học, là quá trình phát triển nội tại,
trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình
bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong
con người mình. Ông đưa ra quan niệm: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp …) và có khi
cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan,
ý chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó”.
Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng, nếu hiểu tự học là học với sách, không có
thầy bên cạnh thì còn hạn hẹp. Bởi dạy chỉ là ngoại lực tác động đến trò, giáo viên
không thể học hộ trò, bản thân trò phải cố gắng, đấy mới là tự học. Do đó, tự học
tồn tại với học như hình với bóng. Tự học hiểu như vậy có thể xảy ra cả khi có
giáo viên và không có giáo viên.
Các quan niệm về tự học với những cách tiếp cận khác nhau như trên có
thể được xem xét theo hai khuynh hướng:
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, rèn kỹ năng
không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, rèn kỹ năng
có thể có hoặc không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
Tuy nhiên, giữa các quan niệm trên có một nét chung là đều quan niệm tự
học là hoạt động của bản thân người học tự chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực; khuynh hướng thứ hai hàm
chứa khuynh hướng thứ nhất. 6
Như vậy khái niệm về tự học được hiểu đầy đủ như sau: Tự học là tự mình
suy nghĩ, hoạt động để chiếm lĩnh các kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo một
cách tự giác, chủ động, tự lực, tích cực để thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin
bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình. Tự học có thể diễn ra ở
trong hoặc ngoài lớp học, có hoặc không có sự hướng dẫn của giáo viên.

1.3. Các hình thức và cấp độ tự học
1.3.1. Các hình thức tự học

Căn cứ vào mối quan hệ của người dạy với người học, có hai hình thức tự
học cơ bản, đó là: tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên và tự học có hướng dẫn của giáo viên.
- Tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên: Hoạt động học được tiến
hành tùy vào nhu cầu, mục đích của người học. Hoạt động học diễn ra hoàn
toàn độc lập, không có sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên. Khi gặp
khó khăn, người học không có giáo viên bên cạnh để hỏi, người học phải
tự mình xoay xở, động não để tìm hiểu nội dung, vấn đề cần học và nếu cần
phải tra cứu thêm sách, tài liệu có liên quan. Lúc này, người học thực sự
làm việc độc lập, tự mình vượt qua khó khăn. Đây là một năng lực cần có
để con người có thể tự học suốt đời. Học không có giáo viên có thể mang
lại hiệu quả tích cực, nhưng nhiều khi lại đòi hỏi phải huy động nhiều thời
gian vì không có hệ thống, định hướng, thiếu chiều sâu, …
Trong hình thức tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên có thể
bao gồm hai trường hợp là:
+ Tự học của những người không có điều kiện đi học, tri thức và kĩ năng
mà họ học được thông qua chính những nhu cầu, những hoạt động trong
cuộc sống thường nhật.
+ Tự học của những người có trình độ học vấn nhất định (đã có một thời
gian dài được học với giáo viên để có được vốn văn hoá cơ bản). Vấn đề
học là tuỳ nhu cầu của người học, người học thông qua sách, báo, tài liệu,
…, tự đọc lấy mà hiểu. Vai trò chủ thể của người học là nhân tố trọng
yếu nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng.
Như vậy, hình thức tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên
là người học tiến hành tự học một cách tự giác nhằm thỏa mãn nhu cầu 7
hiểu biết, mở rộng, đào sâu, bổ sung kiến thức văn hóa chung của bản
thân. Những kiến thức này có thể nằm ngoài chương trình bắt buộc. Việc
tìm hiểu là do nhu cầu hiểu biết, nâng cao của người học và thường được
tiến hành ở ngoài lớp học.
- Tự học có hướng của giáo viên: Hoạt động tự học được tiến hành có tổ
chức, có kế hoạch, ngoài tính tự chủ của người học, cần có những tác động
khách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn của giáo viên để việc học tập
mang lại kết quả cao. Hiệu quả của hoạt động học tập ở hình thức tự học
này phụ thuộc vào vai trò của người hướng dẫn và vai trò tích cực chủ động
hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học. Vì vậy, nhiệm vụ quan
trọng của người giáo viên trong hình thức tự học này là phải phát huy được
tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập của người học, hình thành phương
pháp tự học cho họ để họ có khả năng tự học, tự hoàn thành nhiệm vụ học
tập. Hình thức tự học có sự hướng dẫn của giáo viên chứa nhiều yếu tố
thuận lợi với người học, nhưng thuận lợi đó có thể biến thành khó khăn nếu
trò ỷ lại vào giáo viên và giáo viên làm thay người học ở cả những việc mà
người học tự mình làm được. Hình thức tự học này có thể diễn ra ở trong
lớp học hoặc ở ngoài lớp học.
Trong hình thức tự học có hướng dẫn của giáo viên có thể bao gồm hai trường hợp là:
+ Tự học có sự hướng dẫn của giáo viên nhưng không giáp mặt: Giáo
viên và người học không trực tiếp gặp nhau, giáo viên hướng dẫn người
học tự học thông qua các bài giảng trực tuyến, bài học trong các tài liệu
hướng dẫn của giáo viên, … Trên cơ sở đó, người học tự mình thực hiện
nhiệm vụ, tự giải quyết những vướng mắc gặp phải trong quá trình học
để đạt được kết quả.
+ Tự học diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên: Giáo viên và
người học trực tiếp gặp nhau trong những khoảng thời gian nhất định,
giáo viên giao cho người học những nhiệm vụ học tập cần thiết, hướng
dẫn người học tự học để thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, trò tự mình
thực hiện hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ. 8
Như vậy, nếu xét một cách chi tiết thì có nhiều hình thức khác nhau để
người học có thể tự học, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo
và hoàn thiện nhân cách bản thân. Nếu xét một cách tổng thể thì có hai hình thức
tự học cơ bản, đó là: tự học hoàn toàn không có sự hướng dẫn của thầy và tự học
có hướng dẫn của thầy. Tuy nhiên, dù là với hình thức nào thì để tự học đạt hiệu
quả cao, bản thân mỗi người học cần phải biết tích cực, chủ động học tập sao cho
phù hợp với khả năng, sở trường, hoàn cảnh, điều kiện của bản thân cũng như
những yêu cầu, quy chế của trường Đại học mình đã lựa chọn. Để việc tự học
mang lại hiệu quả tốt, trước hết phải học một cách có kế hoạch, có hệ thống, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên, rồi theo chiều hướng phát triển đi lên là không cần
sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự tổ chức quá trình học tập của bản thân
một cách hiệu quả, tiến tới học suốt đời.
Tùy vào mục tiêu và nội dung tự học mà người học cần lựa chọn hình thức
tự học cho phù hợp. Đối với sinh viên, khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường,
trước hết cần học tốt các môn học trong chương trình để có vốn kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ vững vàng, do đó hình thức tự học phù hợp với sinh viên là tự
học có hướng dẫn của giảng viên.
1.3.2. Các cấp độ tự học
Có thể xác định bốn cấp độ tự học: Cấp độ thấp là bước đầu làm quen để
học cách học; Cấp độ cao hơn là hình thành và rèn luyện các kỹ năng tự học; Cấp
độ tiếp theo là ý thức được việc tự học, biết chủ động tự học; Cuối cùng là đam mê tự học.
Đối với các nhà nghiên cứu, tự học thường xuyên được diễn ra, tự học trở
thành thói quen, chất lượng tự học mang lại kết quả cao, tự học chủ yếu là nghiên
cứu khoa học. Có thể nói, cấp độ tự học của các nhà nghiên cứu là đam mê tự học.
Đối với sinh viên, cấp độ tự học là ý thức được việc tự học, biết chủ động
tự học. Bởi tự học là một trong những năng lực cần có ở mỗi sinh viên. Sinh viên
phải biết tự học, tự tìm hiểu các tài liệu tham khảo mới có thể hoàn thành nhiệm
vụ nhận thức. Hơn nữa, họ còn phải bước đầu biết nghiên cứu khoa học.
Đối với học sinh phổ thông (từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông),
tự học không cao như đối với sinh viên và khác xa (không giống) với tự học của
nhà nghiên cứu. Tự học đối với các em là tự trang bị cho bản thân những kiến 9
thức phổ thông cơ bản, cần thiết và vận dụng vào giải quyết các vấn đề trong môn
học cũng như trong thực tế, biến đổi nhận thức từ thấp đến cao sao cho mỗi em
có thể được chuẩn bị đầy đủ cho giai đoạn học tập tiếp theo cũng như các em sẽ
tự tin khi tham gia vào cuộc sống lao động sau này. Cấp độ tự học của các em đi
từ bước đầu làm quen để học cách học đến cấp độ hình thành và rèn luyện các kỹ năng tự học.
1.4. Các kĩ năng tự học
1.4.1. Khái niệm kĩ năng tự học

Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách
vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với
những điều kiện cho phép.
Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả các thao tác, hành động tự
học trên cơ sở vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã tích lũy phù hợp
với những điều kiện cho phép.
1.4.2. Hệ thống các kĩ năng tự học
Theo quan điểm điều khiển học, quá trình tự học là quá trình tự điều khiển,
tự tác động của chủ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập đạt kết quả tối ưu.
Quá trình tự điều khiển đó bắt đầu từ việc lập kế hoạch tự học, tổ chức thực hiện
kế hoạch và cuối cùng là tự đánh giá, tự điều chỉnh. Như vậy, việc tự học được
thực hiện bởi một chuỗi các hành động tự học. Để tự học có kết quả, người học
phải có những kĩ năng tự học tương ứng với các hành động tự học như: Kĩ năng
lập kế hoạch tự học; Kĩ năng tìm kiếm nghiên cứu tài liệu; Kĩ năng tự giải quyết
vấn đề; Kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh; …
Hệ thống kĩ năng tự học bao gồm bốn nhóm kĩ năng cơ bản sau:
Nhóm 1: Kĩ năng lập kế hoạch tự học, bao gồm các kĩ năng thành phần: Xác định
mục tiêu cần đạt; Xác định các nội dung cần tự học và thời gian tự học; Xác định
các hoạt động cần phải tiến hành, các sản phẩm cụ thể.
Nhóm 2: Kĩ năng tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu, bao gồm các kĩ năng thành phần:
Tìm kiếm tài liệu; Nghe hiểu, đọc hiểu; Tóm tắt, ghi chép ý chính; Tự đặt và trả lời câu hỏi. 10
Nhóm 3: Kĩ năng tự giải quyết vấn đề, bao gồm các kĩ năng thành phần: Phát hiện
vấn đề; Tìm giải pháp; Trình bày giải pháp; Nghiên cứu sâu giải pháp.
Nhóm 4: Kĩ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh, bao gồm các kĩ năng thành phần:
Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học Theo dõi sự tiến bộ, nhận
ra những ưu, nhược điểm; Khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong học tập; Điều
chỉnh cách học, chiến lược học.
Trên đây là những kĩ năng cơ bản trong quá trình tự học. Các kĩ năng tự
học khác có thể được hình thành và phát triển trên cơ sở những kĩ năng cơ bản
này. Các kĩ năng tự học có tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Để việc tự học đạt
kết quả tốt, trong quá trình tự học phải biết vận dụng và kết hợp các kĩ năng tự học.
Ví dụ kĩ năng tự học Tiếng Anh:
- Xác định mục tiêu: Nâng cao khả năng nghe, nói, đọc và viết tiếng Anh
- Xác định trình độ tiếng Anh của cá nhân: Tham gia một bài kiểm tra trực
tuyến hoặc một lớp học tiếng Anh và thảo luận với giáo viên của mình.
- Xác định thời gian và ngân sách cá nhân.
- Tạo kế hoạch học tập: Từ trình độ hiện tại, dựa trên thời gian và ngân sách
cá nhân, tạo một lịch học tập hợp lý.
- Học theo kế hoạch: Cần tuân thủ và thực hiện kế hoạch đã tạo lập; tìm kiếm
các tài liệu học tập phù hợp như sách giáo khoa, sách hướng dẫn, bài học
trực tuyến, trung tâm tiếng Anh, podcast, video, … Cần phải tập trung vào
việc luyện tập nghe, nói, đọc và viết tiếng Anh trong suốt quá trình học tập.
- Đánh giá kết quả: Sau một khoảng thời gian, cần phải đánh giá kết quả của
mình để biết liệu kế hoạch học tập có hiệu quả hay không. Nếu không, có thể
điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu.
1.5. Quy trình dạy - tự học
1.5.1. Quan hệ giữa dạy và tự học

Học tập là hoạt động của một người tiếp thu kiến thức. Nó có thể có chủ ý
hay chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên. Học tập bao gồm việc thu thập thông tin, kỹ
năng, thái độ, hiểu biết hay giá trị mới. Nó thường đi kèm với những thay đổi về 11
cách ứng xử và liên tục diễn ra trong suốt cuộc đời. Học tập thường được coi như
vừa là quá trình, vừa là kết quả.
Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân với sự tự giác,
tính tích cực và độc lập cao nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính
bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo
chương trình sách giáo khoa đã quy định. Tự học là nội lực phát triển bản thân
người học. Người học chủ động, tích cực, tự mình chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo, bằng hành động của chính mình, tự phát triển từ bên trong.
Học – cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự
thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận,
xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình.
Dạy là hoạt động của giáo viên nhằm hướng dẫn, tổ chức và đạo diễn cho
người học tự mình tìm ra kiến thức. Mục đích của dạy là làm cho người học biết
học đúng cách (biết tự học). Tác động dạy của giáo viên là ngoại lực đối với sự
phát triển bản thân người học.
Như vậy, tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy nhưng nó có tính
độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân. Mối quan hệ giữa dạy và tự học về
bản chất là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực. Tác động dạy của giáo viên dù
là quan trọng đến đâu vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện cho
người học tự học, tự phát triển và trưởng thành: giáo viên dạy để người học tự học
(mục tiêu), giáo viên dạy cho người học tự học (phương pháp), giáo viên dạy
thành người học tự học (quá trình dạy – tự học).
Dạy phải đi đôi với việc học, dạy có hiệu quả phải được đánh giá từ học có
hiệu quả. Dạy cho người học kiến thức là cần thiết, nhưng dạy cho người học biết
cách tự học kiến thức là cần thiết hơn. Để giúp người học nâng cao chất lượng
học tập, giáo viên sẽ hướng dẫn cho người học cách học là chủ yếu, đưa ra các
tình huống, cách giải quyết vấn đề, các nhiệm vụ cần phải thực hiện, chỉ cho người
học các hình thức tổ chức giúp người học phấn đấu đạt kết quả cao.
Với việc dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, giáo viên là
người trao kiến thức, người học là người nhận, thụ động tiếp thu, nên khó kích
thích được sức năng động, sức tự vươn lên của người học. Trong việc dạy cho
người học tự học, giáo viên không áp đặt về nội dung, phương pháp, kế hoạch, … 12
một cách cứng nhắc mà hướng dẫn người học tự tìm ra kiến thức bằng hành động
của chính mình, kích thích được tính tích cực, tự lực, năng động, sức tự vươn lên
của người học, chỉ khi nào thật cần thiết giáo viên mới trực tiếp điều chỉnh, cùng
người học giải quyết để không lãng phí thời gian. Tuy nhiên, điều quan trọng là
người dạy phải biết lựa chọn để đặt ra cho người học những nhiệm vụ vừa sức,
bảo đảm cho việc trưởng thành và mức tiến bộ của họ, đồng thời đây cũng là việc
kích thích tạo ra nhu cầu, sự hứng thú tự học, nếu không dễ làm người học chán
nản, chùn bước khi gặp vấn đề khó khăn. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng của giáo
viên là dạy cho người học cách tự học. Đây là công việc không đơn giản của giáo
viên trong quá trình dạy học, bởi vì muốn dạy cách tự học cho người khác thì bản
thân giáo viên cũng phải biết cách tự học.
Người giáo viên giỏi là người biết dạy cho trò tự học. Người học giỏi là
người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự học – thuộc quá trình cá nhân hóa
việc học – không có nghĩa là học một mình, mà học trong sự hợp tác với các bạn,
trong môi trường xã hội, dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sự hợp tác với các
bạn – ngoại lực. Ngược lại tác động của giáo viên và của môi trường xã hội sẽ
kém hiệu lực nếu không phát huy được khả năng tự học của người học.
Sự kết hợp giữa ngoại lực – dạy với nội lực – tự học làm tăng sức tự học,
nâng cao khả năng tự học, chất lượng hiệu quả học tập có thể xem như là một hiện
tượng cộng hưởng. Dạy học cộng hưởng với tự học tức là dạy như thế nào cho
sức tự vươn lên nói trên của người học được kích thích, duy trì và tăng cường đến
mức người học có thể tự mình chiếm lĩnh tri thức mới, đạt được mục tiêu học.
Tương tự như hiện tượng cộng hưởng cơ học (Hiện tượng biên độ giao động của
một hệ giao động tăng đột biến khi tần số ngoại lực xấp xỉ bằng tần số riêng của
hệ đó), tác động dạy – ngoại lực chỉ cộng hưởng với tự học khi nó vừa sức tự
vươn lên hoặc xấp xỉ sức tự vươn lên của người học.
Dạy học kiểu “hướng dẫn người học tự mình tìm ra kiến thức bằng hành
động của chính mình” theo nguyên tắc “vừa sức tự vươn lên” của người học được
hiểu theo cách “động” là “tự lực vươn lên trên sức mình một ít” thì kích thích
được tính tích cực, tự lực, năng động, sức tự vươn lên của người học trong suốt
cả quá trình “tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh” để tự mình
chiếm lĩnh tri thức mới, tức là tạo ra được sự cộng hưởng. Cộng hưởng đồng nghĩa
với vừa sức tự vươn lên của người học. Để dạy tác động cộng hưởng với tự học, 13
giáo viên phải đề ra những mục tiêu vừa sức tự vươn lên. Việc đạt được mục tiêu
hay một khả năng mới bao giờ cũng tương ứng với khó khăn cần khắc phục.
Như vậy, vấn đề được đặt ra là không thể nhấn mạnh một chiều nội lực hay
ngoại lực mà là kết hợp mật thiết, chặt chẽ nội và ngoại lực, nhằm tiến tới trình
độ cao của chất lượng dạy học là cộng hưởng nội lực và ngoại lực với nhau. Nói
một cách khác, quá trình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóa việc học phải kết hợp
với quá trình hợp tác với bạn và quá trình dạy của giáo viên. Kết hợp dạy với tự
học là nhằm làm cho dạy với tự học cộng hưởng được với nhau tạo ra chất lượng
và hiệu quả cao để đạt mục tiêu đào tạo con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo.
1.5.2. Quy trình dạy – tự học
Quy trình dạy - tự học bao gồm: quy trình tự học của người học dưới tác
động dạy của giáo viên nhằm biến đổi tri thức, kho tàng văn hoá, khoa học của
nhân loại thành học vấn riêng của bản thân người học.
Trong đó, quy trình tự học của người học gồm ba thời:
- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện
vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức
mới (đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (có tính chất cá nhân).
- Tự thể hiện: Người học thể hiện bằng văn bản, bằng lời nói, sắm vai trong
các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân
ban đầu của mình, tự thể hiện qua hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với
các bạn và giáo viên tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi
với các bạn và giáo viên, sau khi giáo viên kết luận, người học tự kiểm tra,
tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản
phẩm khoa học (tri thức).
Tương ứng với quy trình tự học của người học, quy trình dạy của giáo viên cũng gồm ba thời:
- Hướng dẫn: Giáo viên hướng dẫn cho từng cá nhân người học, về các tình
huống, các vấn đề cần giải quyết, về các nhiệm vụ phải thực hiện. 14
- Tổ chức: Giáo viên tổ chức cho người học tự thể hiện mình và hợp tác với
các bạn (tổ chức các cuộc tranh luận, hội thảo, trao đổi trò – trò, trò – thầy,
nhóm, …). Lúc này giáo viên đóng vai trò là người đạo diễn và dẫn chương trình.
- Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra: Khẳng định về mặt khoa học kiến thức
do người học tự tìm ra. Cuối cùng giáo viên là người kiểm tra, đánh giá kết
quả tự học của người học trên cơ sở người học tự đánh giá, tự điều chỉnh, …
Đi cùng với hai quy trình trên trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của người
học, tri thức cũng trải qua ba thời:
- Tri thức cá nhân: Người học tự tìm ra được một tri thức hay sản phẩm ban
đầu mang tính chất cá nhân, có thể đúng hoặc sai, khách quan hoặc chủ
quan, khoa học hay thiếu khoa học.
- Tri thức xã hội: Tri thức cá nhân thông qua sự trao đổi, thảo luận, hợp tác
với bạn trong lớp trở thành khách quan hơn, mang tính chất xã hội (xã hội lớp học).
- Tri thức khoa học: Với kết luận cuối cùng của giáo viên, người học tự kiểm
tra điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người tự học tự tìm ra
giờ đây mới thật sự khách quan khoa học theo đúng nghĩa của tri thức. Tri thức Tri Tri thức thức Người Người Người dạy Người học Người dạy Người học dạy học Tự Tổ chức Tự thể ĐG, kết Tự kiểm NC hiện luận tra, tự điều chỉnh
Sơ đồ quy trình dạy - tự học 15
CHƯƠNG 2. ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC
2.1. Đánh giá khả năng tự học
Mỗi người học khác nhau có khả năng tự học khác nhau. Đánh giá được
khả năng tự học của người học sẽ có lợi cho cả người học và người dạy.
- Đối với người học: kết quả đánh giá không chỉ tiết lộ mức độ tự học của
bản thân mà còn có cơ hội hiểu rõ hơn về tự học, điều này rất quan trọng
để nâng cao khả năng tự học, tiến tới tự học suốt đời;
- Đối với người dạy: khi đã xác định được mức độ tự học của người học, họ
có thể cải tiến việc dạy để phù hợp hơn với nhu cầu và khả năng học tập
của người học, để hướng dẫn người học tốt hơn. Người có mức độ tự học
cao cũng cần được hỗ trợ để giúp duy trì và phát triển hơn nữa khả năng
của họ trong việc trở thành những người học độc lập suốt đời.
Để đánh giá khả năng tự học, cần có công cụ để đánh giá, thực chất các câu
hỏi để khảo sát trực tiếp người học, sau đó phân tích để phiên giải kết quả. Công
cụ đánh giá khả năng tự học đã được một số nhà khoa học xây dựng và sử dụng
trong những nghiên cứu về giáo dục từ cuối thế kỉ XX, tuy nhiên mỗi một công
cụ lại có những ưu và khuyết điểm riêng, các thành tố được đưa ra trong mỗi bộ
công cụ là khác nhau, phụ thuộc vào người xây dựng bộ công cụ định nghĩa khái
niệm tự học ở phương diện nào. Một số bộ công cụ (bộ câu hỏi) đã được xây dựng
và sử dụng trên nhiều quốc gia như: bộ công cụ của Guglielmino gồm 8 thành tố
(Tự ý thức bản thân để học có hiệu quả; Sự cởi mở với các cơ hội học tập; Tính
chủ động và độc lập trong học tập; Chấp nhận chịu trách nhiệm với việc học của
mình; Tình yêu với việc học; Sự sáng tạo; Khả năng sử dụng các kỹ năng nghiên
cứu cơ bản và giải quyết vấn đề; Định hướng tích cực cho tương lai). Bộ công cụ
của Guglielmino có 58 câu hỏi; Bộ công cụ của Williamson gồm 5 thành tố (Nhận
thức; Chiến lược học tập; Hoạt động học tập; Đánh giá; Kĩ năng giao tiếp giữa
các cá nhân). Bộ công cụ của Williamson có 60 câu hỏi.
Dưới đây giới thiệu 60 câu hỏi đánh giá khả năng tự học do Williamson xây
dựng: Mỗi câu có 5 mức độ trả lời theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó: 5 = Luôn
luôn, 4 = Thường xuyên, 3 = Đôi khi, 2 = Ít khi, 1 = Không bao giờ.
1) Tôi tự xác định nhu cầu học tập của bản thân.
2) Tôi có thể chọn phương pháp học tập tốt nhất cho riêng mình. 16
3) Tôi coi giáo viên là người hỗ trợ học tập hơn là người chỉ cung cấp thông tin.
4) Tôi luôn cập nhật các nguồn học tập khác nhau.
5) Tôi chịu trách nhiệm về việc học của mình.
6) Tôi chịu trách nhiệm xác định các lĩnh vực học tập còn yếu kém của mình.
7) Tôi có thể duy trì động lực học tập của bản thân.
8) Tôi có thể lập kế hoạch và đặt mục tiêu học tập của mình.
9) Tôi dành những lúc nghỉ ngơi trong khoảng thời gian học tập dài.
10) Tôi cần giữ thói quen học tập hàng ngày khỏi những việc quan trọng khác.
11) Tôi liên hệ kinh nghiệm/trải nghiệm của mình với những thông tin mới.
12) Tôi cảm thấy rằng tôi đang học mặc dù không được hướng dẫn bởi một giảng viên.
13) Tôi tham gia thảo luận nhóm.
14) Tôi nhận thấy việc học cùng bạn là hiệu quả.
15) Tôi thấy “đóng vai” là một phương pháp hữu ích cho học tập phức hợp.
16) Tôi thấy các hoạt động dạy (của thầy) và học (của trò) tương tác, đan xen
với nhau là hiệu quả hơn việc chỉ nghe thầy giảng.
17) Tôi thấy sự mô phỏng, mô hình hóa trong dạy-học là hữu ích.
18) Tôi thấy việc học từ các nghiên cứu trường hợp (case studies) là hữu ích.
19) Động lực bên trong của tôi giúp tôi phát triển xa hơn và cải thiện việc học tập.
20) Tôi coi các vấn đề học tập là thách thức.
21) Tôi sắp xếp việc học hàng ngày của mình theo cách có thể giúp phát triển
thói quen tự học lâu dài trong cuộc sống.
22) Tôi thấy lập sơ đồ khái niệm/sơ đồ tư duy (concept mapping/mind
mapping) là một phương pháp hiệu quả để học tập.
23) Tôi thấy các công nghệ tương tác hiện đại trong giáo dục giúp cải thiện quá
trình học tập của tôi. 17
24) Tôi có thể quyết định chiến lược học tập của riêng mình.
25) Tôi ôn lại và luyện tập sau khi học bài mới.
26) Tôi xác định những điểm quan trọng khi đọc một tài liệu học tập hoặc một bài báo.
27) Tôi sử dụng sơ đồ khái niệm/phác thảo (concept mapping/outlining) như
một phương pháp hữu ích để lĩnh hội lượng thông tin lớn.
28) Tôi có thể sử dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả.
29) Sự tập trung của tôi tăng lên và tôi chú ý nhiều hơn khi tôi đọc một nội
dung nghiên cứu phức tạp.
30) Tôi lưu giữ các ghi chú có chú thích hoặc bản tóm tắt của tất cả ý tưởng,
nhận xét và kiến thức mới.
31) Tôi thích khám phá thêm các thông tin nằm ngoài mục tiêu của khóa học.
32) Tôi có thể liên hệ kiến thức với thực hành/thực tiễn.
33) Tôi nêu/đặt ra các câu hỏi liên quan trong quá trình học tập.
34) Tôi có thể phân tích và phản biện những ý tưởng, thông tin hoặc bất kỳ kinh
nghiệm học tập mới nào.
35) Tôi luôn cởi mở với quan điểm của người khác.
36) Tôi luôn muốn nghỉ giải lao giữa bất kỳ nhiệm vụ học tập nào.
37) Tôi tự đánh giá trước khi nhận lại phản hồi từ giảng viên.
38) Tôi xác định các vấn đề cần phát triển thêm trong bất cứ điều gì tôi đã học.
39) Tôi có thể theo dõi tiến trình học tập của mình.
40) Tôi có thể xác định các điểm mạnh và điểm yếu của mình.
41) Tôi đánh giá cao việc rà soát, đánh giá kết quả làm việc của mình bởi bạn học
42) Tôi thấy cả thành công và thất bại đều truyền cảm hứng cho tôi học hỏi thêm.
43) Tôi coi trọng phê bình, phê phán như là cơ sở để cải thiện việc học của tôi.
44) Tôi tự theo dõi, giám sát việc hoàn thành mục tiêu học tập của mình. 18
45) Tôi tự kiểm tra hồ sơ học tập (porfolio) để xem xét tiến trình học tập của mình.
46) Tôi xem xét và suy ngẫm về các hoạt động học tập của mình.
47) Tôi thấy việc học đầy thử thách.
48) Tôi được truyền cảm hứng từ thành công của người khác.
49) Tôi dự định tìm hiểu thêm về các nền văn hóa và ngôn ngữ khác mà tôi thường xuyên tiếp xúc.
50) Tôi có thể xác định vai trò của mình trong một nhóm.
51) Sự tương tác của tôi với người khác giúp tôi hiểu biết chính mình để từ đó
lập kế hoạch cho việc học tập xa hơn.
52) Tôi tận dụng mọi cơ hội mà tôi bắt gặp.
53) Tôi cần chia sẻ thông tin với người khác.
54) Tôi duy trì mối quan hệ tốt với những người khác.
55) Tôi cảm thấy dễ dàng làm việc, cộng tác với người khác.
56) Tôi thành công trong việc giao tiếp bằng lời nói.
57) Tôi xác định sự cần thiết của các liên kết liên ngành đối với việc duy trì sự hài hòa xã hội.
58) Tôi có thể diễn đạt ý tưởng của mình một cách hiệu quả bằng văn bản.
59) Tôi có thể dễ dàng bày tỏ quan điểm của mình.
60) Tôi thấy thử thách khi học tập trong môi trường đa dạng về văn hóa.
Để đánh giá khả năng tự học của người học, giáo viên có thể dùng bộ công
cụ của các nhà khoa học đã xây dựng hoặc tự xây dựng công cụ phù hợp với môn
học mà mình giảng dạy. Công cụ (bộ câu hỏi) đánh giá khả năng tự học được xây
dựng căn cứ vào khái niệm về tự học, các kĩ năng tự học và môn học mà giáo viên trực tiếp giảng dạy.
2.2. Một số định hướng nâng cao chất lượng tự học cho người học
Từ khái niệm về tự học, các kĩ năng tự học, quy trình dạy - tự học, ta có
chu trình hình thành và phát triển khả năng tự học như sau: 19 Hình thành động cơ TH Tự đánh Xây dựng giá, điều KHTH chỉnh Thực hiện KHTH
Căn cứ vào chu trình hình thành và phát triển khả năng tự học trên, giáo
viên có thể thực hiện một số định hướng nâng cao khả năng tự học cho người học
như sau: hình thành động cơ tự học cho người học; hướng dẫn người học xây dựng
kế hoạch tự học; hướng dẫn người học tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu; hướng dẫn
người học tự giải quyết vấn đề; hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học; hướng
dẫn người học tự đánh giá, tự điều chỉnh; …
2.2.1. Hình thành động cơ tự học cho người học
a) Nội dung và ý nghĩa
Động cơ chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng mà cá nhân nhận thấy
cần chiếm lĩnh để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của mình. Sức hấp dẫn lôi
cuốn của đối tượng càng lớn thì động cơ thúc đẩy hoạt động càng lớn.
Trong dạy học, gợi động cơ là tạo được sức hấp dẫn, lôi cuốn, tạo được
động lực bên trong thúc đẩy người học muốn học, hứng thú với việc học, thúc đẩy
người học hoạt động, nhằm làm cho những mục đích sư phạm biến thành những
mục đích của cá nhân người học.
Có hai loại động cơ học tập chủ yếu sau đối với sinh viên:
- Động cơ hoàn thiện tri thức, biểu hiện ở thái độ đối với các tri thức, với quá
trình chiếm lĩnh, mở rộng tri thức ...
Ví dụ: Sinh viên say sưa học tập vì sức hấp dẫn, lôi kéo của bản thân tri
thức và những phương pháp giành tri thức ấy, mong muốn có nhiều hiểu
biết, khao khát mở rộng tri thức ….
- Động cơ quan hệ xã hội, biểu hiện ở thái độ đối với các điều không phải tri
thức khoa học, nhưng điều đó lại chỉ có thể đạt được trong điều kiện các
em chiếm lĩnh được tri thức khoa học. 20