



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58605085
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ************
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN ĐỀ TÀI ĐIỂM
STT MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM GHI CHÚ BTL BTL 1 2153756 TRƯƠNG HIẾU QUYỀN Words 2 2411735 TRỊNH VĨ KHÔI Mở Đầu 3 2313316 TRƯƠNG ĐỨC THỊNH Words 4
2110622 TRƯƠNG HOÀNG TRỌNG Chương 3 5 2413606 TRƯƠNG MINH TRIẾT Chương 3 6 2310315 TRƯƠNG PHƯỚC BÌNH Chương 1 7 2312454 TRƯƠNG THÀNH NHÂN Kết Luận lOMoAR cPSD| 58605085 8 2311706 TRƯƠNG TRỌNG KHÔI Chương 2
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY LỚP: L01 NHÓM: 30 HỌC KỲ 251
GVHD: TS. TRẦN THỊ SEN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM HỌC 2025 -2026
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM Nhiệm vụ % ST được Điểm Ký tên T
Mã số SV Họ và tên phân BTL Điểm công BTL 1
2153756 TRƯƠNG HIẾU QUYỀN 2 2411735 TRỊNH VĨ KHÔI 3
2313316 TRƯƠNG ĐỨC THỊNH 4
2110622 TRƯƠNG HOÀNG TRỌNG 5 2413606 TRƯƠNG MINH TRIẾT 6
2310315 TRƯƠNG PHƯỚC BÌNH 7 2312454 TRƯƠNG THÀNH NHÂN 8
2311706 TRƯƠNG TRỌNG KHÔI
Họ và tên nhóm trưởng: Trương Thành Nhân lOMoAR cPSD| 58605085 Số ĐT:
...............................................Email:
.................................................................................... Nhận xét của GV: GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên) Trần Thị Sen NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên) PHẦN MỞ ĐẦU 1.
Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cạnh tranh
trở thành một yếu tố tất yếu và là môi trường tồn tại của mọi doanh nghiệp. Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp đó mà
còn góp phần hình thành sức cạnh tranh chung của nền kinh tế quốc gia. Cạnh tranh là
động lực buộc doanh nghiệp phải đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, giảm chi phí sản xuất và tối ưu hóa nguồn lực. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế
đang phát triển và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp giữ vai trò then chốt trong việc khẳng định vị thế quốc gia trên thương trường quốc tế.
Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích
lệ: số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu ngành nghề đa dạng, một số doanh
nghiệp đã tạo dựng được thương hiệu uy tín trong và ngoài nước, góp phần mở rộng thị
trường xuất khẩu và nâng cao giá trị. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều hạn
chế như quy mô doanh nghiệp chủ yếu nhỏ và vừa, năng suất lao động thấp, trình độ
công nghệ và quản trị còn hạn chế, khả năng đổi mới sáng tạo chưa cao. Trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt và xu thế chuyển đổi số toàn cầu, nếu không kịp thời nâng cao năng
lực cạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí mất đi lợi thế
trên chính thị trường nội địa. Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao lOMoAR cPSD| 58605085
năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” là cần thiết và mang tính cấp bách.
Đề tài được thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực
trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó
nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp đang đối
mặt. Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp với bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, nhằm giúp doanh nghiệp nâng
cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tế quốc dân.
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ hơn khái niệm, nội dung và các yếu tố cấu
thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời hệ thống hóa những quan điểm
khoa học liên quan đến vấn đề này. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ
sở tham khảo quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược phát
triển, cải thiện quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đồng thời, những kiến nghị từ
đề tài có thể là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 2.
Mục tiêu của đề tài
Tổng quan và hệ thống hóa những cơ sở lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong thời
gian qua, chỉ ra những thành công và hạn chế.
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Việt Nam trong thời gian tới, phù hợp với bối cảnh hội nhập và xu thế phát triển kinh tế toàn cầu. 3.
Nhiệm vụ của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay.
Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
trong giai đoạn gần đây.
Xác định và phân tích những yếu tố đã, đang và sẽ tác động đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trong thời gian tới. 4.
Đối tượng nghiên cứu. lOMoAR cPSD| 58605085
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 5.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải
pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng trong khoảng 10 năm gần đây, đồng
thời đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Phạm vi không gian: các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề tại Việt
Nam, trong bối cảnh cạnh tranh ở cả thị trường nội địa và quốc tế. 6.
Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đây là phương pháp chủ đạo trong Chương 1
nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, chọn lọc và tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước,
từ đó cho phép xây dựng khung lý thuyết vững chắc làm nền tảng cho nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp phân tích – tổng hợp và thống kê: trong Chương 2, đề tài sử dụng
dữ liệu từ các báo cáo các cơ quan có uy tín như Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, VCCI, các tổ chức quốc tế (WB, WEF, OECD…), cũng như số liệu khảo sát về
môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Dữ liệu được xử lý thông qua phương
pháp thống kê – mô tả, kết hợp so sánh theo thời gian và với các nước trong khu vực
Phương pháp phân tích định tính và định lượng: phân tích định tính được sử dụng
để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, một số chỉ
tiêu định lượng (thị phần, năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng, chỉ số PCI,
GCI…) được vận dụng để đo lường và minh chứng cho đánh giá
Phương pháp so sánh và đối chiếu: đề tài tiến hành so sánh năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực, từ đó chỉ ra khoảng
cách, học hỏi kinh nghiệm và rút ra bài học thực tiễn.
Phương pháp dự báo và đề xuất giải pháp: trên cơ sở phân tích lý luận và thực
tiễn, đề tài vận dụng phương pháp dự báo để nhận định xu hướng phát triển năng lực
cạnh tranh trong giai đoạn tới, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi và
phù hợp với bối cảnh hội nhập. lOMoAR cPSD| 58605085
Như vậy, sự kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu trên không chỉ giúp
đề tài đảm bảo tính toàn diện và khoa học mà còn làm nổi bật giá trị thực tiễn, tạo cơ sở
cho việc hoạch định chính sách và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. 7.
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận: đề tài góp phần hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và doanh nghiệp quốc tế nói chung,
làm rõ các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Ý nghĩa thực tiễn: các phân tích và giải pháp của đề tài có thể trở thành tài liệu
tham khảo hữu ích cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, nâng
cao hiệu quả quản trị, cũng như cho các cơ quan hoạch định chính sách trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. 8.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận được chia thành 3 phần tương ứng với ba chương chính:
• Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
• Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
• Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam. PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1.
Khái quát về cạnh tranh và quy luật cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh là một phạm trù bao quát, hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực của đời
sống xã hội, từ sinh hoạt thường ngày đến kinh tế, chính trị, văn hoá hay thể thao. Song,
mỗi lĩnh vực lại có cách định nghĩa và cách hiểu khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Anh, competition có nghĩa là cạnh tranh là “một sự kiện hoặc
một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về
phía mình”. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần hơn,
phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.
Trong lĩnh vực kinh tế học, cho đến nay các học giả vẫn chưa thống nhất về một
định nghĩa hoàn chỉnh đối với cạnh tranh. Nguyên nhân là bởi cạnh tranh vốn dĩ là một
hiện tượng đặc thù của nền kinh tế thị trường, tồn tại ở mọi lĩnh vực, xuyên suốt các giai
đoạn của hoạt động kinh doanh và gắn liền với tất cả các chủ thể tham gia thị trường. lOMoAR cPSD| 58605085
Chính vì vậy, khái niệm cạnh tranh thường được tiếp cận và lý giải từ nhiều góc độ khác
nhau, phụ thuộc vào mục tiêu cũng như hướng nghiên cứu của từng nhà khoa học.
Từ điển Kinh doanh (Anh, 1992) định nghĩa cạnh tranh là “sự ganh đua, sự kình
địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên
sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển Bách khoa Tri thức phổ
thông tiếng Việt cũng giải thích: đó là “Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất
hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.”
Mặc dù được tiếp cận và diễn giải dưới nhiều góc độ khác nhau, song tựu trung
lại, trong kinh tế học, cạnh tranh thường được hiểu là quá trình ganh đua giữa các chủ
thể kinh doanh trên thị trường nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình.
Cạnh tranh có thể diễn ra cả giữa những người bán lẫn những người mua, tuy nhiên hình
thức phổ biến nhất vẫn là cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ [Trường,2023].
Khái niệm quy luật cạnh tranh:
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan
hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật cạnh
tranh yêu cầu, khi đã tham gia thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh, bên cạnh sự
hợp tác, luôn phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể
kinh tế với nhau nhằm có được những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua
đó mà thu được lợi ích tối đa. Kinh tế thị trường càng phát càng trở nên thường xuyên,
quyết triển thì cạnh tranh trên thị trường liệt hơn. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh
tranh có thể diễn ra giữa các chủ thể trong nội bộ ngành, cũng có thê diễn ra giữa các
chủ thê thuộc các ngành khác nhau [Hải,2019].
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong
cùng một ngành hàng hóa. Đây là một trong những phương thức để thực hiện lợi ích của
doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp
ra sức cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động
đẻ hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa, làm cho giá trị hàng hoá của doanh nghiệp sản
45 trị xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó. Kết quả của cạnh tranh trong nội
bộ ngành là hình thành giá trị thị trường của từng loại hàng hoá. Cùng một loại hàng hóa
được sản xuất ra trong các doanh nghiệp sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều
kiện trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động
...) khác nhau, cho nên hàng hoá sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị
trường các hàng hoá được trao đổi theo giá thị thị trường chấp nhận. Theo C. Mác, "Một
mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất ra
trong một khu vực sản xuất nào đó. Mặt khác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá lOMoAR cPSD| 58605085
biệt của những hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực
đó và chiêm một khối lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này" [Hải,2019].
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh
giữa các ngành khác nhau. Cạnh tranh giữa các ngành, vì vậy, cũng trở thành phương
thức để thực hiện lợi ích của các chủ thể thuộc các ngành sản xuất khác nhau trong điều
kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh giữa các ngành là phương thức để các chủ thể sản
xuất kinh doanh ở các ngành sản xuất khác nhau tìm kiếm lợi ích của mình. Mục đích
của cạnh tranh giữa các ngành là nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất. Biện pháp cạnh tranh
giữa các ngành là các doanh nghiệp tự do di chuyển nguôn lực của mình từ ngành này
sang ngành khác, vào các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau [Hải,2019].
Khái niệm năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi thế của một doanh nghiệp
so với các đối thủ trên thị trường, được phản ánh qua hiệu quả tổ chức sản xuất – kinh
doanh, chất lượng và giá trị sản phẩm, mức độ huy động và sử dụng nguồn lực, cũng
như khả năng đạt được thu nhập vượt trội trong cùng thời điểm. Năng lực cạnh tranh
trong tiếng anh là Competitiveness.
Năng lực cạnh tranh được xem như “kim chỉ nam” để doanh nghiệp tạo ra động
lực tốt nhất để không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội mà còn là yếu tố quan trọng
khẳng định hiệu quả công việc và năng suất lao động trong nền kinh tế.
Năng lực cạnh tranh có thể phân theo tính chất nền kinh tế, bao gồm năng lực
cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đó
sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và tận dụng các yếu tố bên ngoài như thế nào
để: Đầu tiên là tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cần thiết và thu hút khách hàng
mục tiêu. Thứ hai là giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều doanh thu và lợi nhuận hơn. Thứ ba
là nâng cao vị thế và chỗ đứng của bạn trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh [Dung,2022].
Năng lực cạnh tranh không chỉ giữ vai trò then chốt trong hoạt động điều hành
mà còn quyết định trực tiếp đến sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh
thể hiện ba vai trò chủ yếu:
Thứ nhất là động lực tồn tại: Cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển
liên tục, tạo ra nhiều giá trị mới. Để đứng vững và không bị loại bỏ trong môi trường
đầy biến động và không ngừng phát triển, doanh nghiệp buộc phải duy trì và củng cố năng lực cạnh tranh. lOMoAR cPSD| 58605085
Thứ hai là thúc đẩy phát triển và đổi mới: Thông qua quá trình nâng cao năng
lực cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể phát triển mở rộng quy mô, cải thiện tính
chuyên nghiệp và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường.
Thứ ba là công cụ đạt được mục tiêu kinh doanh: Ở từng giai đoạn, doanh nghiệp
sẽ triển khai các chiến lược và dự án phù hợp nhằm phát triển bền vững, ngày càng lớn
mạnh. Việc gia tăng năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp hiện thực hóa mục tiêu
nhanh chóng và hiệu quả hơn [Dung,2022].
Tác động của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
- Những tác động tích cực của cạnh tranh:
Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất. Trong nền kinh tế
thị trường, để nâng cao năng lực cạnh tranh, các chủ thể sản xuất kinh doanh Thông
ngừng tìm kiếm và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, từ đó kéo
theo sự đổi mới về trình độ tay nghề, tri thức của người lao động. Kết quả là, cạnh tranh
thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
Thứ hai, cạnh tranh thúc đây sự phát triển nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh
tế thị trường, mọi hành vi của mọi chủ thể kinh tế đều hoạt động trong môi trường cạnh
tranh. Hơn nữa, mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị
trường đều nhằm mục đích lợi nhuận tối đa, muốn vậy ngoài việc hợp tác, họ cũng cạnh
tranh với nhau để có được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để
thu được lợi nhuận cao nhất. Thông qua đó, nên kinh tế thị trường không ngừng được hoàn thiện hơn.
Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực.
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc tiếp cận các nguồn lực phải dựa trên nguyên tắc cạnh
tranh đề phân bổ vào chủ thể có thể sử dụng hiệu quả hơn cả. Theo đó, các chủ thể sản
xuất kinh doanh phải thực hiện cạnh tranh để có doanh. được cơ hội sử dụng các nguồn
lực để phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, cạnh tranh thúc đây năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường, mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi nhuận tối đa. Chỉ có những sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng lựa chọn thì mới bán được và đo đó người
sản xuất mới có lợi nhuận. Vì vậy, những người sản xuất phải tìm mọi cách tạo ra khối
lượng sản phẩm đa dạng, dồi dào, phong phú, chất lượng tốt, giá thành hạ, làm cho nhu cầu
của người tiêu dùng và xã hội được đáp ứng [Hải,2019]. -
Những tác động tiêu cực của cạnh tranh:
Khi thực hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh, cạnh tranh có thể dẫn tới các tác động tiêu cực như:
Thứ nhất là, cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại môi trường kinh doanh. Khi
các chủ thể thực hiện các biện pháp cạnh tranh thiếu lành mạnh, thậm chí là các thủ đoạn lOMoAR cPSD| 58605085
xấu để tìm kiếm lợi thế sẽ làm xói mòn đến môi trường kinh doanh, thậm chí xói mòn
giá trị đạo đức xã hội. Do đó, các biện pháp, thủ đoạn cạnh tranh thiếu lành mạnh cần được loại trừ.
Thứ hai là, cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí nguồn lực xã hội. Để giành
ưu thế trong cạnh tranh, có thể có chủ thể chiếm giữ các nguồn lực mà không phát huy
vai trò của các nguồn lực đó trong sản xuất kinh doanh, không đưa vào sản xuất để tạo
ra hàng hóa, dịch vụ cho xã hội. Trong những trường hợp như vậy, cạnh tranh đã làm
cho nguồn lực xã hội bị lãng phí.
Thứ ba là, cạnh tranh không lành mạnh gây làm tổn hại phúc lợi của xã hội. Khi
các nguồn lực bị lãng phí, cạnh tranh không lành mạnh đã khiến cho phúc lợi xã hội bị
tổn thất. Thay vì nếu sử dụng hiệu quả, xã hội sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn để thỏa
mãn nhu cầu. Cho nên, khi các chủ thể sử dụng các biện pháp cạnh tranh thiếu lành
mạnh, phúc lợi xã hội sẽ bị ảnh hưởng [Hải,2019] 1.2.
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều yếu tố cốt lõi,
bao gồm: năng lực tài chính, năng lực quản trị, nguồn nhân lực, công nghệ và đổi mới
sáng tạo, cùng với thương hiệu và chiến lược marketing.
Thứ nhất là năng lực tài chính. Năng lực tài chính là yếu tố nền tảng quyết định
sự ổn định và khả năng phát triển của doanh nghiệp. Nó thể hiện ở khả năng huy động,
quản lý và phân bổ các nguồn vốn nhằm bảo đảm cho hoạt động sản xuất – kinh doanh
diễn ra liên tục và hiệu quả. Doanh nghiệp có năng lực tài chính vững mạnh không chỉ
duy trì được sự cân đối trong ngắn hạn mà còn tạo dựng tiềm lực để mở rộng đầu tư,
nâng cao sức cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Khi đánh giá năng lực tài chính của một doanh nghiệp cần tập trung vào 3 tiêu
chí chính là: tài sản, nguồn vốn và kết quả hoạt động của công ty: Đánh giá tình trạng
tài sản: Bao gồm so sánh tổng tài sản cuối kỳ và đầu kỳ, kết hợp xem xét tỷ trọng từng
loại tài sản trong tổng tài sản, xu hướng biến động xem tỷ trọng cao hay thấp, phù hợp
với loại hình doanh nghiệp hay không. Từ đó có thể xem xét mức độ đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp: Bao gồm phân tích sự biến động và cơ cấu vốn để xem doanh nghiệp độc lập
hay phụ thuộc về tài chính cũng như biết được những khó khăn hiện tại của doanh
nghiệp. Đánh giá kết quả kinh doanh. Bao gồm hoạt động phân tích kết quả hoạt động
của công ty trong ba năm, xem xét các biến động xem công ty có lãi hay không, từ đó
xác định năng lực tài chính tốt hay yếu.
Thứ hai là năng lực quản trị của doanh nghiệp. Năng lực quản trị của doanh
nghiệp là khả năng của nhà quản trị và bộ máy quản lý trong việc xây dựng chiến lược,
tổ chức thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt mục lOMoAR cPSD| 58605085
tiêu đề ra [Koontz, H. & Weihrich, H,2005]. Đây là một trong những yếu tố cốt lõi quyết
định đến sự thành bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh [Robbins, S.P. & Coulter, M, 2018].
Năng lực quản trị thể hiện ở nhiều khía cạnh: Năng lực hoạch định chiến lược:
xác định tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu dài hạn và định hướng phát triển. Năng lực tổ
chức – điều hành: thiết kế cơ cấu tổ chức, phân công nhiệm vụ, xây dựng quy trình vận
hành hiệu quả. Năng lực lãnh đạo và quản trị nhân sự: tạo động lực, dẫn dắt đội ngũ,
phát triển văn hóa doanh nghiệp. Năng lực kiểm soát và quản lý rủi ro: giám sát hoạt
động, đánh giá hiệu quả, xử lý các vấn đề phát sinh. Năng lực thích ứng và đổi mới:
nhanh nhạy nắm bắt cơ hội, ứng dụng công nghệ mới, điều chỉnh chiến lược khi môi
trường thay đổi [Robbins, S.P. & Coulter, M, 2018].
Một doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt sẽ sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài
chính, nhân lực, công nghệ để nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, đồng thời xây dựng uy tín và năng lực cạnh tranh bền vững trên thị trường.
Thứ ba là nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực được coi là tài sản
quan trọng nhất của doanh nghiệp, là yếu tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả hoạt động
và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn,
kỹ năng nghề nghiệp, thái độ làm việc tích cực và tinh thần sáng tạo sẽ giúp doanh
nghiệp tận dụng tối đa các nguồn lực khác như tài chính, công nghệ và quản trị để đạt
được hiệu quả cao nhất [Barney, J,1991].
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nguồn nhân lực thể hiện ở: Chất
lượng lao động: trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng thích
ứng với thay đổi. Năng lực sáng tạo và đổi mới: khả năng đề xuất ý tưởng mới, cải tiến
quy trình, nâng cao năng suất. Tinh thần làm việc và văn hóa doanh nghiệp: động lực,
thái độ hợp tác, gắn bó lâu dài. Khả năng học hỏi và phát triển: sự linh hoạt trong tiếp
thu công nghệ mới, tham gia đào tạo, tự hoàn thiện. Sự phù hợp giữa nhân lực và chiến
lược: phân bổ, sử dụng nhân lực hiệu quả để thực hiện mục tiêu doanh nghiệp [Wright,
P. M., McMahan, G. C., & McWilliams, A,1994].
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về vốn hay công
nghệ mà còn về chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, đầu tư cho phát triển nguồn nhân
lực – từ tuyển dụng, đào tạo, đến tạo động lực và giữ chân nhân tài – trở thành chiến
lược dài hạn nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững [Porter, M. E,1985].
Thứ tư là công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã nổi lên như những yếu tố
then chốt định hình năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngày nay, khả năng ứng dụng
các tiến bộ công nghệ cùng năng lực đổi mới sáng tạo là động lực cốt lõi bảo đảm tăng
trưởng bền vững và tạo khác biệt trên thị trường. lOMoAR cPSD| 58605085
Công nghệ giúp doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng suất,
giảm chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Việc làm chủ công nghệ tiên tiến
còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với thay đổi của thị trường và đáp ứng
yêu cầu khách hàng [Porter, M. E,1985]. Đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn trong sản
phẩm, mà còn bao gồm đổi mới về mô hình kinh doanh, quy trình quản lý, chiến lược
marketing và dịch vụ khách hàng. Đây là yếu tố tạo ra sự khác biệt, giúp doanh nghiệp
duy trì lợi thế cạnh tranh trong môi trường đầy biến động [Tidd, J., & Bessant, J,2014].
Doanh nghiệp có năng lực đổi mới sáng tạo tốt thường linh hoạt hơn trước rủi ro, nhạy
bén trong nắm bắt cơ hội, và có khả năng chiếm lĩnh thị trường mới [Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A,1997].
Thứ năm là thương hiệu và chiến lược marketing. Trong môi trường kinh doanh
hiện đại, thương hiệu và chiến lược marketing giữ vai trò trung tâm trong việc kiến tạo
và duy trì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Kotler và Keller (2016), thương
hiệu không chỉ là dấu hiệu nhận diện mà còn là tập hợp giá trị, niềm tin và trải nghiệm
mà khách hàng gắn kết với doanh nghiệp. Một thương hiệu mạnh giúp gia tăng lòng
trung thành, tạo lợi thế khác biệt và giảm thiểu rủi ro cạnh tranh về giá.
Bên cạnh đó, chiến lược marketing hiệu quả là công cụ để chuyển hóa giá trị
thương hiệu thành lợi thế cạnh tranh thực tế. Porter (1985) cho rằng chiến lược marketing
định hướng doanh nghiệp trong việc lựa chọn thị trường mục tiêu, xây dựng định vị sản
phẩm và tối ưu hóa chuỗi giá trị nhằm đạt được sự khác biệt bền vững. Trong kỷ nguyên
số, chiến lược marketing ngày càng mở rộng sang các kênh trực tuyến, truyền thông xã
hội và quản trị trải nghiệm khách hàng, qua đó tạo ra tương tác hai chiều và củng cố vị
thế thương hiệu trên thị trường toàn cầu (Keller, 2013). Có thể khẳng định rằng, sự kết
hợp hài hòa giữa một thương hiệu mạnh và chiến lược marketing toàn diện chính là nền
tảng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì tăng trưởng dài hạn và
khẳng định vị thế trong bối cảnh toàn cầu hóa. 1.3.
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thường được đánh giá dựa trên nhiều tiêu
chí như thị phần, chất lượng sản phẩm, chi phí, khả năng đổi mới, thương hiệu và uy tín,
năng lực tài chính, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị, mức độ hài
lòng khách hàng, khả năng thích ứng với môi trường, cũng như cam kết phát triển bền
vững và trách nhiệm xã hội.
Đầu tiêu là thị phần. Thị phần không chỉ phản ánh quy mô và sức mạnh của doanh
nghiệp trong mối tương quan với các đối thủ, mà còn thể hiện khả năng chiếm lĩnh và
duy trì vị trí trên thị trường. Theo Porter (1985), thị phần cao thường là kết quả của lợi
thế cạnh tranh bền vững, được tạo ra từ sự kết hợp giữa hiệu quả chi phí, chất lượng sản
phẩm và chiến lược khác biệt hóa. Thị phần là minh chứng cụ thể nhất cho năng lực lOMoAR cPSD| 58605085
cạnh tranh, bởi nó thể hiện mức độ chấp nhận của khách hàng và sự khẳng định vị thế
của doanh nghiệp trong ngành [Trần Sửu ,2015].
Thứ hai là chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm phản ánh mức độ đáp ứng
nhu cầu và sự kỳ vọng của khách hàng, bao gồm các khía cạnh như độ bền, độ tin cậy,
tính năng và tính thẩm mỹ [Garvin, 1987]. Nguyễn Thị Cành (2012) cho rằng chất lượng
sản phẩm là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao uy tín thương hiệu và mở rộng thị
phần của doanh nghiệp. Chất lượng vượt trội không chỉ giúp doanh nghiệp tạo dựng
lòng tin với khách hàng, mà còn là cơ sở để xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững trước
các đối thủ. Trong bối cảnh hội nhập, việc duy trì tiêu chuẩn chất lượng cao còn hỗ trợ
doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế.
Thứ ba là chi phí. Chi phí phản ánh khả năng doanh nghiệp kiểm soát và sử dụng
hiệu quả nguồn lực, từ đó tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và mức độ cạnh
tranh về giá. Porter (1985) cho rằng quản trị chi phí hiệu quả cho phép doanh nghiệp
thiết lập lợi thế chi phí thấp, tạo điều kiện để mở rộng thị phần. Việc tối ưu hóa chi phí
sản xuất và phân phối giúp doanh nghiệp không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
lực mà còn tăng khả năng thích ứng trước biến động của thị trường. Quản trị chi phí hiệu
quả vì vậy trở thành nền tảng để doanh nghiệp duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài [Phạm Văn Dũng ,2018].
Thứ tư là khả năng đổi mới. Khả năng đổi mới thể hiện năng lực của doanh nghiệp
trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc mô hình kinh doanh mới nhằm thích
ứng và dẫn dắt thị trường. Đổi mới là động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng và hình thành
lợi thế cạnh tranh [Schumpeter ,1934]. Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Phúc (2019) nhấn
mạnh rằng doanh nghiệp có khả năng đổi mới liên tục sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động,
mở rộng thị trường và gia tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ năm là thương hiệu và uy tín. Thương hiệu và uy tín phản ánh mức độ được
thị trường và khách hàng công nhận, qua đó quyết định khả năng duy trì lòng trung thành
và tạo khác biệt so với đối thủ. Keller (2013) cho rằng một thương hiệu mạnh giúp gia
tăng giá trị cảm nhận, giảm rủi ro cạnh tranh về giá và mở rộng cơ hội kinh doanh. Lê
Thị Thu Thủy (2017) khẳng định uy tín và hình ảnh thương hiệu không chỉ nâng cao vị
thế doanh nghiệp trong nước mà còn hỗ trợ quá trình vươn ra thị trường quốc tế.
Thứ sáu là năng lực tài chính. Năng lực tài chính phản ánh khả năng doanh nghiệp
huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để duy trì hoạt động và mở rộng
đầu tư. Barney (1991) cho rằng nguồn lực tài chính vững mạnh tạo điều kiện để doanh
nghiệp triển khai chiến lược cạnh tranh và đạt lợi thế bền vững. Năng lực tài chính quyết
định khả năng chống chịu rủi ro, nâng cao uy tín với đối tác và hỗ trợ doanh nghiệp nắm
bắt cơ hội trong môi trường hội nhập [Nguyễn Văn Công ,2018].
Thứ bảy là trình độ công nghệ. Trình độ công nghệ thể hiện khả năng doanh
nghiệp ứng dụng, làm chủ và đổi mới các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản lOMoAR cPSD| 58605085
xuất – kinh doanh. OECD (2005) khẳng định rằng công nghệ tiên tiến là nền tảng giúp
doanh nghiệp gia tăng năng suất, giảm chi phí và tạo ra sự khác biệt trên thị trường. Việc
đầu tư và nâng cao trình độ công nghệ là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp nâng cao
chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập và cải thiện năng lực cạnh tranh [Phạm Đức Chính ,2020].
Tiếp theo là nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị. Nguồn nhân lực phản ánh chất
lượng đội ngũ lao động về trình độ, kỹ năng và mức độ gắn kết với doanh nghiệp. Becker
và Huselid (2006) cho rằng quản trị nguồn nhân lực hiệu quả giúp gia tăng năng suất,
đổi mới và khả năng cạnh tranh dài hạn. Trần Kim Dung (2015) nhấn mạnh rằng nguồn
nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất
– kinh doanh và hội nhập quốc tế.
Hiệu quả quản trị thể hiện năng lực tổ chức, điều hành và ra quyết định chiến
lược nhằm tối ưu hóa nguồn lực và định hướng phát triển. Drucker (1999) chỉ ra rằng
quản trị hiệu quả tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững thông qua việc kết hợp mục
tiêu dài hạn với hiệu suất hoạt động. Hiệu quả quản trị giúp doanh nghiệp nâng cao năng
lực cạnh tranh thông qua cải tiến quy trình, phát huy tiềm năng con người và thích ứng
nhanh với biến động thị trường [Nguyễn Hữu Lam ,2017].
Cuối cùng là mức độ hài lòng khách hàng, khả năng thích ứng với môi trường,
cũng như cam kết phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội. Mức độ hài lòng khách
hàng phản ánh sự đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm với
doanh nghiệp. Oliver (1997) cho rằng sự hài lòng là nền tảng để xây dựng lòng trung
thành, từ đó duy trì và mở rộng thị phần. Nguyễn Thị Mai Trang (2006) nhấn mạnh rằng
sự hài lòng của khách hàng có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và năng lực
cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thích ứng với môi trường thể hiện năng lực phản ứng nhanh của doanh
nghiệp trước những biến động về kinh tế, công nghệ, xã hội và pháp lý. Teece, Pisano
và Shuen (1997) gọi đây là “năng lực động”, cho phép doanh nghiệp tái cấu trúc nguồn
lực để nắm bắt cơ hội và giảm thiểu rủi ro. Khả năng thích ứng linh hoạt là điều kiện
cần thiết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong bối cảnh hội nhập và biến động toàn cầu [Lê Quân ,2019].
Cam kết phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội phản ánh sự quan tâm của
doanh nghiệp đến môi trường, cộng đồng và lợi ích lâu dài của xã hội. Carroll (1991)
khẳng định trách nhiệm xã hội là một cấu phần quan trọng trong chiến lược cạnh tranh,
giúp gia tăng uy tín và niềm tin của công chúng. Vũ Trí Dũng (2020) nhấn mạnh rằng
cam kết phát triển bền vững không chỉ nâng cao hình ảnh doanh nghiệp mà còn tạo lợi
thế trong việc tiếp cận thị trường quốc tế và nhà đầu tư. lOMoAR cPSD| 58605085 1.4.
Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực nội tại
bên trong doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố bên ngoài. Gồm
hai nhóm chính: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp gồm chất lượng nguồn nhân lực, năng lực
quản trị và lãnh đạo, trình độ công nghệ và khả năng đổi mới sáng tạo, chiến lược
marketing và giá trị thương hiệu, văn hoá doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức.
Bên cạnh nội lực, năng lực cạnh tranh còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu
tố của môi trường kinh doanh bên ngoài, nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh
nghiệp. Các yếu tố bên ngoài bao gồm:
Thứ nhất là môi trường kinh tế vĩ mô. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi
suất, tỷ giá hối đoái và chính sách tài khóa – tiền tệ của Nhà nước đều tác động đến chi
phí sản xuất, sức mua và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Thứ hai là hệ thống pháp lý và chính sách của nhà nước. Các quy định về thuế,
thương mại, đầu tư, cạnh tranh, hay chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có thể tạo thuận lợi
hoặc gây cản trở cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Thứ ba là mức độ cạnh tranh trong ngành. Cấu trúc ngành, số lượng đối thủ, sản
phẩm thay thế và rào cản gia nhập ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược định vị và lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ tư là sự phát triển của khoa học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá.
Công nghệ thay đổi nhanh chóng buộc doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới để
thích ứng. Đồng thời, quá trình toàn cầu hóa làm gia tăng mức độ cạnh tranh nhưng cũng
mở ra nhiều cơ hội hợp tác và mở rộng thị trường.
Thứ năm là nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng. Sự thay đổi trong thị hiếu,
thu nhập, và xu hướng tiêu dùng (đặc biệt là hướng đến sản phẩm xanh, bền vững) đòi
hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt trong chiến lược sản phẩm và marketing.
Cuối cùng là yếu tố tự nhiên và môi trường sinh thái. Biến đổi khí hậu, khan hiếm
tài nguyên và yêu cầu về phát triển bền vững đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất – kinh doanh và hình ảnh của doanh nghiệp trong xã hội.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương 2: lOMoAR cPSD| 58605085
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1.
Tổng quan về doanh nghiệp Việt Nam
Trong giai đoạn 2010 – 2015, số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam tăng đều, phản
ánh sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp 2005
và Luật Đầu tư 2005 phát huy hiệu quả. Năm 2010, cả nước có khoảng 300.000 doanh
nghiệp đang hoạt động [Tổng cục Thống kê, 2011]. Đến năm 2015, con số này tăng lên
khoảng 442.000 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs),
chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp [Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2016]. Tuy nhiên, quy
mô vốn và trình độ công nghệ trong giai đoạn này còn hạn chế, chủ yếu dựa vào lao
động phổ thông và thiết bị lạc hậu, năng suất thấp.
Bước sang giai đoạn 2015 – 2020, số lượng doanh nghiệp tiếp tục tăng nhanh, đạt
khoảng 758.000 vào năm 2020 [Tổng cục Thống kê, 2021]. Đây là thời kỳ Việt Nam hội
nhập sâu rộng với nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng, tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Quy mô vốn trung bình của doanh
nghiệp mới thành lập cũng tăng dần, từ khoảng 7,6 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2015 lên
gần 12 tỷ đồng năm 2020 [Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020]. Tuy vậy, sự bùng phát của
đại dịch COVID-19 năm 2020 đã tác động mạnh, khiến hàng chục nghìn doanh nghiệp
tạm ngừng hoặc giải thể, bộc lộ hạn chế trong sức chống chịu và khả năng thích ứng.
Đến năm 2024, Việt Nam ghi nhận 157.240 doanh nghiệp thành lập mới với tổng
vốn đăng ký trên 1,54 triệu tỷ đồng, bình quân 9,8 tỷ đồng/doanh nghiệp [Cục Quản lý
Đăng ký Kinh doanh, 2024]. Tổng cộng, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị
trường đạt 233,4 nghìn, tăng 7,1% so với năm 2023 [Tổng cục Thống kê, 2025]. Tuy
nhiên, trong quý I năm 2025, tình hình rút lui của doanh nghiệp tiếp tục diễn biến phức
tạp. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lên tới
khoảng 78.800 doanh nghiệp, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước [Cục Thống kê - Bộ
Tài chính, 2025]. Con số này cho thấy áp lực lớn mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam
đang đối mặt, phản ánh rõ những khó khăn về chi phí, vốn, thị trường và năng lực cạnh
tranh trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động.Về chất lượng, nhiều doanh nghiệp đã
bắt đầu chú trọng đầu tư vào công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số, đặc biệt trong
các lĩnh vực công nghiệp chế biến, xuất khẩu. Tuy nhiên, SMEs vẫn chiếm đa số và gặp
khó khăn về vốn, quản trị, và trình độ nhân lực, làm giảm năng lực cạnh tranh so với
doanh nghiệp FDI và các tập đoàn lớn.
Nhìn chung, qua từng giai đoạn từ 2010 đến 2024, bức tranh doanh nghiệp Việt
Nam có nhiều thay đổi tích cực: số lượng và vốn đăng ký tăng nhanh, đóng vai trò chủ
lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, những thách thức về chất lượng phát triển, tính bền vững,
khả năng ứng phó rủi ro và đầu tư công nghệ vẫn là vấn đề lớn cần được giải quyết trong thời gian tới. lOMoAR cPSD| 58605085 2.2.
Thành tựu đạt được
Trong giai đoạn 2010 – 2015, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước khởi sắc quan
trọng. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, từ khoảng 300.000 năm 2010 lên gần 500.000
vào năm 2015 (Tổng cục Thống kê, 2011; 2016). Vốn đăng ký bình quân của doanh
nghiệp mới thành lập đạt 5 – 7,6 tỷ đồng, cho thấy xu hướng mở rộng quy mô (Bộ
KH&ĐT, 2016). Hoạt động chủ yếu tập trung ở thương mại, dịch vụ, xây dựng, nhưng
đã xuất hiện doanh nghiệp chế biến – chế tạo, tạo nền móng cho giai đoạn sau. Giai đoạn
2016 – 2020 chứng kiến sự bùng nổ cả về số lượng lẫn chất lượng.
Đến năm 2020, có hơn 758.000 doanh nghiệp đang hoạt động, gấp 2,5 lần năm 2010
(Tổng cục Thống kê, 2021). Vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp thành lập mới đạt
gần 12 tỷ đồng (Bộ KH&ĐT, 2020). Xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn, tham
gia sâu vào sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin và logistics. Cùng với đó,
quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ thông qua các hiệp định thương mại CPTPP, EVFTA
đã mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong giai đoạn 2021 – 2024, bối cảnh COVID-19 đã gây ra nhiều khó khăn khi
số doanh nghiệp rút lui tăng cao (World Bank, 2022). Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn
thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới mô hình kinh doanh. Năm 2024, số doanh nghiệp gia
nhập và tái gia nhập thị trường đạt 233,4 nghìn – mức cao nhất từ trước đến nay (Tổng
cục Thống kê, 2025). Vốn bình quân của doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,8 tỷ đồng
(Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh, 2024), phản ánh sự ổn định và bền vững hơn. Doanh
nghiệp tập trung nhiều hơn vào công nghiệp chế biến – chế tạo, dịch vụ hiện đại và kinh
tế số, đồng thời môi trường kinh doanh Việt Nam liên tục cải thiện theo báo cáo Doing
Business của Ngân hàng Thế giới (2020). 2.3.
Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Trong giai đoạn 2010-2015, một số hạn chế nổi bật là doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm phần lớn, vốn ít, khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại thấp, năng suất lao động
và quản trị chưa phát triển. Do hạn chế về tài chính, nhiều doanh nghiệp không đủ khả
năng mở rộng quy mô hoặc đầu tư vào thiết bị máy móc tiên tiến. Việc phân cấp quản
lý, thủ tục hành chính còn nhiều rào cản, chi phí tuân thủ cao khiến nhiều doanh nghiệp
e ngại khi muốn mở rộng hoạt động.
Giai đoạn 2016-2020 mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực nhưng cũng lộ rõ nhiều
tồn tại. Đầu tiên là khả năng chống chịu với khủng hoảng còn yếu: năm 2020, do ảnh
hưởng của dịch COVID-19, hơn 101.700 doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể;
số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng mạnh, ngành bán buôn, xây
dựng, dịch vụ lưu trú-ăn uống bị ảnh hưởng nặng [Tổng cục Thống kê, 2021; Dang ky
doanh nghiep, 2020]. Thứ hai, việc tiếp cận vốn vẫn là điểm nghẽn lớn đối với doanh
nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; lãi suất cao, yêu cầu thế chấp hoặc điều kiện vay khó khăn khiến lOMoAR cPSD| 58605085
nhóm này khó mở rộng. Thứ ba, năng lực quản trị, nhân lực chất lượng cao và trình độ
công nghệ chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp, vùng miền, đặc biệt giữa thành phố lớn và vùng nông thôn.
Giai đoạn 2021-2024 tiếp tục ghi nhận các vấn đề cũ được làm rõ hơn, đồng thời
xuất hiện nguyên nhân mới. DNNVV vẫn chiếm áp đảo về số lượng nhưng chiếm chưa
tới 30% tổng vốn hoạt động của khu vực doanh nghiệp [Mai Phương, 2025]; nghĩa là tỷ
lệ đóng góp vốn, khả năng đầu tư lớn còn rất hạn chế. Ngoài ra, tâm lý “không muốn
lớn” vẫn phổ biến, nhiều doanh nghiệp nhỏ chỉ đủ tồn tại, không dám mở rộng quy mô
do sợ rủi ro, chi phí phát sinh cao, cạnh tranh quyết liệt [Saigon Times, 2024]. Cơ chế
chính sách mặc dù ngày càng được hoàn thiện nhưng sự triển khai, hỗ trợ thực tế cho
nhóm doanh nghiệp nhỏ/vùng sâu/vùng xa chưa đầy đủ; nhiều doanh nghiệp gặp khó
khăn về tiếp cận tín dụng, vốn vay, và thiếu thông tin, nhân sự có trình độ quản trị hiện
đại. Một số ngành bị đứt gãy chuỗi cung ứng do biến động quốc tế (ví dụ trong và sau
COVID-19) cũng làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. 2.4.
Vấn đề đặt ra về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những hạn chế và nguyên nhân đã phân tích ở trên, vấn đề đặt ra
hiện nay là doanh nghiệp Việt Nam cần có những giải pháp mạnh mẽ và đồng bộ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh. Trước hết, các doanh nghiệp cần đầu tư đổi mới công
nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, coi đây là yếu tố cốt lõi để gia tăng
giá trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, cần chú trọng phát
triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo kỹ năng số, kỹ năng quản trị hiện đại và khả
năng thích ứng với công nghệ 4.0. Song song với đó, việc đa dạng hóa nguồn vốn và mở
rộng kênh huy động qua thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư thay vì chỉ phụ thuộc vào
tín dụng ngân hàng là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải cải thiện
quản trị, minh bạch tài chính và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn để bảo đảm sự
bền vững. Cuối cùng, việc tăng cường liên kết, hợp tác trong và ngoài nước, tận dụng
hiệu quả các hiệp định thương mại tự do sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp Việt Nam
mở rộng thị trường và nâng cao vị thế quốc tế.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam giai
đoạn 2010–2024 có thể thấy rằng, cộng đồng doanh nghiệp đã đạt được những bước tiến
quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ quy mô vốn, trình độ công nghệ, cơ cấu
ngành nghề đến khả năng hội nhập quốc tế, nhiều thành tựu đã góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó
vẫn tồn tại không ít hạn chế như quy mô nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ áp đảo, nguồn lực tài
chính hạn chế, năng suất lao động thấp, thiếu đổi mới sáng tạo và chịu nhiều tác động lOMoAR cPSD| 58605085
từ biến động kinh tế toàn cầu.Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực quản trị còn
yếu, hệ thống pháp lý và chính sách hỗ trợ chưa thực sự đồng bộ, cùng với việc hội nhập
sâu rộng khiến doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trên
cơ sở đó, vấn đề đặt ra hiện nay là cần có những giải pháp toàn diện và đồng bộ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam. Điều này không chỉ bao gồm
việc cải thiện thể chế, hỗ trợ vốn và công nghệ, mà còn phải thúc đẩy tinh thần đổi mới
sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao ý thức tự cường của
chính doanh nghiệp. Đây sẽ là nền tảng để bước sang Chương 3 đề xuất các giải pháp
thiết thực nhằm củng cố năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới. Chương 3:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng, chịu tác động
của nhiều yếu tố như cạnh tranh thương mại, biến động chính trị, cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư và yêu cầu cấp bách về phát triển bền vững, Việt Nam đang đứng trước
cả những cơ hội lớn lẫn thách thức không nhỏ. Trong dòng chảy đó, việc nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là bài
toán về tăng trưởng kinh tế, mà còn là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính tự chủ, khả
năng chống chịu và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong dài hạn. 3.1.
Bối cảnh tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào các
yếu tố bên trong mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ bối cảnh kinh tế toàn cầu. Sự đan
xen phức tạp giữa các động lực phát triển, những hạn chế trong nước và các xu hướng
biến động của nền kinh tế thế giới đã tạo nên một môi trường nhiều cơ hội và thách thức.
Việc phân tích rõ cả hai bối cảnh này là cơ sở quan trọng để đánh giá đúng thực trạng
và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
3.1.1 Bối cảnh quốc tế
Doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động trong một môi trường quốc tế đầy biến
động, nơi các xu hướng lớn vừa mở ra những cơ hội chưa từng có, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
Thứ nhất, về việc tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới.
Các hiệp định như Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế
Toàn diện Khu vực (RCEP) đã mở ra "đường cao tốc" kết nối doanh nghiệp Việt Nam
với các thị trường lớn nhất thế giới. Chẳng hạn như thương mại hai chiều giữa Việt Nam lOMoAR cPSD| 58605085
và khối CPTPP đã vượt mốc 102 tỷ USD vào năm 2024 [Hải quan Việt Nam, 2025]. Các
hiệp định này mang lại cơ hội to lớn về mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu,
thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ EU, Nhật Bản, Canada. Song song với đó là
các tiêu chuẩn khắt khe mà các doanh nghiệp phải đối mặt, rào cản lớn nhất không còn
là thuế quan mà là các quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn lao động, môi trường, sở hữu
trí tuệ và quy tắc xuất xứ.
Thứ hai, về căng thẳng thương mại Mỹ-Trung và việc áp đặt các hàng rào thuế
quan đã đẩy một làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tập đoàn đa quốc
gia đang tích cực đa dạng hóa sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất. Ví
dụ như các công ty lớn của Hoa Kỳ (như Apple, Intel…) có xu hướng mới đi tìm nguồn
cung của họ ngoài Trung Quốc [Bộ Công Thương, 2023]. Đây là cơ hội vàng cho Việt
Nam. Với vị trí địa lý chiến lược, sự ổn định chính trị và chi phí lao động cạnh tranh,
Việt Nam đã nổi lên như một điểm đến hấp dẫn, một mắt xích tiềm năng trong chuỗi
cung ứng mới. Tuy nhiên, chính sách thuế quan của Mỹ cũng đặt ra những thách thức
không nhỏ. Tồn tại rủi ro Việt Nam có thể trở thành đối tượng bị điều tra và áp thuế nếu
bị coi là điểm trung chuyển để hàng hóa Trung Quốc lẩn tránh thuế quan. Điều này đòi
hỏi các doanh nghiệp phải hết sức minh bạch về quy tắc xuất xứ.
Thứ ba, về cuộc Cách mạng Cộng nghiệp 4.0. CMCN 4.0 với các công nghệ đột
phá như Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Big Data) đang tái
định hình toàn bộ nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển đổi số không
còn là một lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện sống còn để tồn tại và phát triển. Công
nghệ 4.0 mở ra cơ hội to lớn để tăng hiệu quả vận hành, giảm chi phí, tối ưu hóa chuỗi
cung ứng, và tạo ra các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, giúp doanh nghiệp dễ dàng
tiếp cận thị trường toàn cầu. Tuy nhiên thách thức lớn nhất đối với đa số doanh nghiệp
Việt Nam, đặc biệt là DNNVV, là các rào cản về chi phí đầu tư ban đầu cao, thiếu một
nền tảng công nghệ và hệ sinh thái tích hợp. Thứ hạng về kỹ năng số của lao động Việt
Nam cũng đang ở mức thấp, đứng thứ 97 trên thế giới [Lý luận chính trị, 2024]. Điều
nay cho thấy rào cản lớn hơn cả là sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực sẵn sàng cho
chuyển đổi số, có khả năng vận hành và làm chủ công nghệ mới.
Thứ tư, về các cuộc xung đột địa chính trị, đặc biệt là cuộc xung đột giữa Nga –
Ukraine. Các doanh nghiệp xuất khẩu nông, thủy sản, hạt điều... sang Nga đối mặt với
việc đơn hàng bị hủy, thanh toán bị tắc nghẽn do Nga bị loại khỏi hệ thống SWIFT, và
chi phí vận tải tăng vọt khi các tuyến vận tải phải đi đường vòng qua các cảng trung
gian. Kim ngạch thương mại Việt - Nga giảm mạnh, gần 50% trong năm 2022 [Lý luận
chính trị, 2025]. Tác động nghiêm trọng nhất là việc giá năng lượng leo thang trên toàn
cầu, làm cho các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là những ngành phụ thuộc vào nguyên
liệu nhập khẩu, phải đối mặt với chi phí đầu vào tăng cao, làm xói mòn lợi nhuận và giảm sức cạnh tranh.