-
Thông tin
-
Quiz
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng hiện nay | Tiểu luận Xây dựng đảng
Lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta đã khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Xây dựng Đảng 15 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng hiện nay | Tiểu luận Xây dựng đảng
Lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta đã khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Xây dựng Đảng 15 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TỔ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ------------------------- TIỂU LUẬN XÂY DỰNG ĐẢNG
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng hiện nay
Sinh viên: VŨ ĐỨC VIỆT
Mã số sinh viên: 2156060048
Lớp : QUAY PHIM TRUYỀN HÌNH K41
Hà nội, tháng 12 năm 2021 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Tính tất yếu của đề tài ................................................................................. 1
NỘI DUNG ...................................................................................................... 3
Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ cở Đảng ở nước ta hiện nay ...................................................... 3
1. Khái niệm tổ chức cơ sở Đảng. .............................................................. 3
2. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng: .................................................. 3
3. Chức năng, nhiệm vụ tổ chức cơ sở Đảng, cơ sở nói chung. ............... 6
4. Chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ phường, thị trấn: ............ 8
5. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đầu cảu tổ chức cơ sở Đảng. ......... .12
Chương II: Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đầy của đảng
bộ phường Thanh Trì trong những năm vừa qua. ................................. 14
1. Khái quát đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế- xã hội của
phường Thanh Trì. ................................................................................... 14
2. Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ
phường những năm vừa qua: .................................................................. 14
Chương III: Phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ phường Thanh Trì
trong thời gian tới. ..................................................................................... 19
KẾT LUẬN .................................................................................................... 24 1
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA
TỔ CHỨC CƠ SỞ HIỆN NAY MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta đã khẳng định: Đảng cộng sản Việt
Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng chính
trị duy nhất lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Qua 79 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành, Đảng cộng sản Việt Nam đã
xây dựng được 1 hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở,
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và khẳng định vai trò là Đảng duy nhất cầm quyền,
lãnh đạo đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập
dân tộc và các thành quả cách mạng đã giành được. Một trong những đóng góp
hết sức quan trọng vào những thành công của cách mạng đó chính là hệ thống tổ
chức Đảng cơ sở. Trong suốt quá trình cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân đến cách mạng XHCN, đặc biệt ngày nay trong sự nghiệp đổi mới
đất nước, tổ chức Đảng ở cơ sở đã luôn làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, là
nền tảng của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đã ghi rõ "Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng đã
khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của
quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức Đảng".
Bước vào thế kỷ XXI, Đảng ta, nhân dân ta đang thực hiện công cuộc đẩy mạnh
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Đây là nhiệm vụ to lớn, khó khăn và
trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước cũng như thế giới
có nhiều biến động khó khăn. Để hoàn thành được sự nghiệp cách mạng, đòi
hỏi sự nỗ lực phấn đấu của toàn đảng, toàn dân. Hội nghị lần thứ 7 - BCH Trung
ương Đảng, khoá X, Đảng đã đề ra nghị quyết "Về nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, Đảng viên", 2
nhằm đưa các tổ chức trong hệ thống chính trịcơ sở lên tầm cao mới, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đòi hỏi Đảng ta, các tổ chức cơ sở Đảng
phải đổi mới chính mình, củng cố xây dựng đội ngũ để nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu giải quyết những vấn đề nảy sinh từ cơ sở. Do đó Đảng ta
phải thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.Với ý nghĩa quan trọng của tổ chức cơ sở
Đảng, để đóng góp vào việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp đổi mới, trên cơ sở vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng vào thực tiễn. Qua tiểu luận này xin đề
cập đến vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ ….. -
Kinh Môn - Hải Dương. Trong công tác lãnh đạo nhân dân thực hiện công
cuộc CNH-HĐH, nông nghiệp nông thôn, xây dựng …… ngày càng giàu mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh. 3 NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ cở Đảng ở nước ta hiện nay
1. Khái niệm tổ chức cơ sở Đảng.
Điều 21, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định rõ về tổ chức cơ sở Đảng là: "ở xã,
phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ
sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác có từ 30 Đảng viên chính
thức trở lên, lập tổ chức cơ sở Đảng " ... "Tổ chức cơ sở Đảng dưới 3 Đảng viên,
lập chi bộ cơ sở, có các tổ Đảng trực thuộc. Tổ chức cơ sở có từ 30 Đảng viên
trở lên lập Đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc Đảng uỷ"
Điều 10 điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ "Tổ chức cơ sở Đảng được
lập tại đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo
của cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc". Điều lệ Đảng cũng có quy
định riêng cho tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam và công an nhân dân Việt Nam.
Như vậy, tổ chức cơ sở Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam gồm chi bộ cơ sở,
Đảng bộ cơ sở. Đảng bộ cơ sở có 2 loại: Đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực thuộc;
Đảng bộ cơ sở có Đảng bộ bộ phận và chi bộ trực thuộc. Các tổ chức cơ sở
Đảng đều có cấp uỷ cấp trên trực tiếp. Ví dụ: huyện uỷ là cấp trên trực tiếp của
tổ chức cơ sở Đảng ở xã, thị trấn thuộc huyện đó; quận uỷ và cấp trên trực tiếp
của tổ chức cơ sở Đảng ở phường thuộc quận ...
Ngoài ra, nếu được cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý, trong một số tổ chức cơ
sở Đảng còn có Đảng bộ bộ phận trực thuộc Đảng uỷ cơ sở. Trong các Đảng bộ
bộ phận có các chi bộ trực thuộc.
2. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng:
2.1 Quan điểm của Mác Lênin
Mác - FĂng ghen là những người đầu tiên nêu lên những quan điểm, tư tưởng 4
về tổ chức cơ sở Đảng. Hai ông sáng lập ra "Liên đoàn những người cộng sản"
và các chi bộ của liên đoàn, quốc tế I và các Đảng cộng sản của quốc tế II.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, hai ông đã chỉ ra rằng: “Các chi bộ bị
buông lỏng về mặt tổ chức sẽ dẫn đến cắt đứt liên lạc với BCH trung ương, làm
cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và duy nhất”. Hai ông đã đặc biệt nhắc nhở
các Đảng cơ sở khâu đặc biệt quan trọng là củng cố các chi bộ, “ Biến mỗi chi
bộ thành trung tâm và hạt nhân của hiệp hội công nhân, là mắt xích quan trọng,
là chỗ dựa vững chắc của Đảng”
Kế thừa và phát triển những quan điểm đó, Lênin trong xây dựng và lãnh đạo
Đảng Bôn sê vích Nga, Đảng chủ nghĩa dân chủ - xã hội Nga, một Đảng kiểu
mới của giai cấp công nhân đã chỉ rõ "Việc thành lập các tổ chức cách mạng
trong các xí nghiệp, nhà máy là nhiệm vụ đầu tiên, cấp bách của Đảng chủ
nghĩa dân chủ - Xã hội Nga, mỗi nhà máy phải là một thành trì".
Khi trở thành Đảng cầm quyền, các tổ chức cơ sở Đảng tăng lên cả về số
lượng và phong phú về nội dung, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt
động. Lênin yêu cầu: những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với tư tưởng
Đảng phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động tuyên
truyền, nhưng công tác tổ chức phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, với tất cả mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải
thông qua công tác muôn hình muôn vẻ và rèn luyện mình, rèn luyện Đảng, giai
cấp, quần chúng một cách có hệ thống.
Người yêu cầu Đảng cộng sản phải bằng nhiều biện pháp nâng cao vai trò tổ
chức cơ sở Đảng, phát huy tình chủ động, sáng tạo của cơ sở thì những mục
tiêu của chính sách kinh tế của nhà nước Xô Viết mới thành hiện thực.
2.2 Tư Tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có cùng quan điểm tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Người đã kế thừa và phát triển sáng tạo quan
điểm này phù hợp với điều kiện ở nước ta. 5
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng các chi bộ Đảng bộ cơ sở là "tổ chức cơ bản
của Đảng", là "nền tảng, nền móng" của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là
dây chuyền" để Đảng liên hệ với quần chúng nhân dân. Chất lượng của chi bộ,
Đảng bộ cơ sở là một trong những yếu tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng ở cơ sở để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Chủ tịch Hồ CHí Minh viết "Để lãnh đạo cách mạng thì Đảng phải mạnh, là do
chi bộ tố” ; “Muốn làm nhà cho tốt thì phải xây dựng nền móng cho vững, muốn
thực hiện kế hoạch tốt phải chăm lo củng cố chi bộ"
2.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn
luyện. Trong suốt quá trình lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, luôn luôn quan
tâm lãnh đạo, xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng ta khẳng
định "Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng để khai thác, những kinh
nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở
mà hạt nhân là tổ chức cơ sở đảng, những mặt khác sự yếu kém của nhiều tổ
chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng". Qua hơn 20 năm
đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng về kinh tế -
xã hội, giữ vững ổn định về chính trị và hiện nay đang phấn đấu thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2020, trong điều kiện có những thời cơ
thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn thách thức mới. Trong hoàn cảnh
đó, tổ chức cơ sở Đảng nói chung, tổ chức cơ sở Đảng ở xã, phường, thị trấn nói
riêng có vị trí vai trò quan trọng. Tại hội nghị lần thứ V, BCH TW khoá X, Đảng
ta đã đề ra nghị quyết quan trọng về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn" nhằm đưa các tổ chức trong hệ thống
chính trị ở cơ sở nhất là tổ chức cơ sở Đảng ở những địa bàn lên tầm cao mới,
đáp ứng yêu cầu của cách mạng, 6
- Tổ chức cơ sở Đảng là cầu nối giữa đảng với nhân dân, đưa đường lối chính
sách vào nhân dân, tuyên truyền cho nhân dân hiểu và lãnh đạo nhân dân thực hiện.
- Tổ chức cơ sở Đảng còn là nơi kiểm nghiệm khẳng định sự đúng đắn đường lối
chính sách của Đảng, đóng góp cho đảng những sáng kiến, những kinh nghiệm
để Đảng bổ sung hoàn chỉnh đường lối chính sách, đề ra chủ trương chính sách mới.
3. Chức năng, nhiệm vụ tổ chức cơ sở Đảng, cơ sở nói chung. 3.1 Chức năng
- Tổ chức cơ sở Đảng còn là nơi kiểm nghiệm khẳng định sự đúng đắn đường lối
chính sách của Đảng, đóng góp cho đảng những sáng kiến, những kinh nghiệm
để Đảng bổ sung hoàn chỉnh đường lối chính sách, đề ra chủ trương chính sách mới.
- Là hạt nhân lãnh đạo của Đảng, chính trị ở cơ sở:
Đó là việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
Nghị quyết, chủ trương của cấp trên tại đơn vị cơ sở, lãnh đạo đơn vị cơ sở trong
sạch vững mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, động viên
nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Là nơi tiến hành các hoạt động xây dựng Đảng: Đó là giáo dục rèn luyện đảng
viên, phân công công việc cho đảng viên, kết nạp đảng viên, xét kỷ luật đảng
viên, đưa người không đủ tư cách ra khỏi đảng. Là nơi đào tạo rèn luyện cán bộ
cho Đảng, chi bộ, Đảng bộ cơ sở, là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư nguyện vọng
của nhân dân, phản ánh với Đảng, để Đảng đề ra đường lối đúng đắn hợp lòng
dân, định hướng hoạt động và uốn nắn những lệch lạc của các tổ chức, các đoàn thể cơ sở. 7 3.2 Nhiệm vụ.
Một là: Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; đề
ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
Hai Là: Xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng
sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường
đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý
cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
Ba là: Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị – xã hội trong sạch, vững
mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Bốn là: Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và
thực hiện đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Năm là: Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và
pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và
đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.
Đảng uỷ cơ sở nếu được cấp trên trực tiếp uỷ quyền thì được quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên.
Ngoài chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng. Ban Bí thư Trung ương đã
có quy định cụ thể đối với Đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn. 8
4. Chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ phường, thị trấn: 4.1 Chức năng.
Ban Bí thư Trung ương quy định số 94/QĐ-TW ngày 03/3/2004 về chức năng,
nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn như sau:
Đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo
thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước và quản lý đô thị trên địa bàn;
xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, phường, thị trấn giàu đẹp, văn
minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tình thần của nhân dân, động
viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. 4.2 Nhiệm vụ.
Một là: Lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội - An ninh quốc phòng:
Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã
hội theo nghị quyết của đại hội Đảng bộ, chi bộ phường, thị trấn và của cấp trên;
tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế và hộ gia đình
phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ đúng chính sách của pháp luật và nhà
nước, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; động viên nhân dân làm tròn
nghĩa vụ đối với nhà nước; xây dựng phường, thị trấn giàu đẹp, văn minh.
- Lãnh đạo chính quyền thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính nhà nước
và công tác quản lý đô thị trên địa bàn; thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ
tầng theo quy hoạch; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, bảo
vệ môi trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, xoá đói, giảm nghèo.
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt
phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; giám sát mọi hoạt 9
động ở cơ sở theo đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước;
mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kịp thời giải quyết
những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư ở cơ sở theo đúng luật pháp,
không để tích tụ mâu thuẫn trở thành điểm nóng, không để xảy ra tình trạng
khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để làm mất ổn định chính trị trên địa bàn.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậu phương
quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đề cao tinh thần
cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể,
tính mạng và tài sản của nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là ma tuý mại dâm.
Hai là: Lãnh đạo công tác tư tưởng:
- Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội trong các tầng
lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên; xây dựng tình đoàn kết gắn
bó, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh ở tổ
dân phố, khu dân cư và trong từng gia đình, chú trọng tuyên truyền và nhân rộng
gương người tốt việc tốt, các nhân tố tích cực trên mọi lĩnh vực.
- Tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân hiểu và chấp hành đúng đường lối
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các nhiệm vụ của
địa phương; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để
giải quyết và báo cáo lên cấp trên.
- Lãnh đạo cán bộ, Đảng viên và nhân dân đấu tranh chống các quan điểm sai
trái, những hành vi nói, viết và làm trái với đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước; chống tư tưởng cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè 10
phái, gia trưởng, bảo thủ và các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan; phòng, chống sự
suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Ba là:. Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ:
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị, các đơn
vị kinh tế, sự nghiệp ở cơ sở vững mạnh; xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tích cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ, từng bước
trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức phường, thị trấn.
- Cấp uỷ xây dựng quy chế và công tác tổ chức cán bộ; nhận xét, đánh giá, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ đối với cán bộ thuộc quyền;
quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với cán bộ ở cơ sở theo phân
cấp; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn có tín nhiệm trong tổ chức Đảng và nhân dân
để bầu vào các chức danh chủ chốt của HĐND, UBND, MTTQ, các đoàn thể
nhân dân theo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức.
- Cấp uỷ đề xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giới thiệu cán bộ tham gia vào các
cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cấp trên và cán
bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên quản lý.
Bốn là: Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể nhân dân:
- Lãnh đạo xây dựng MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở phường, thị trấn vững
mạnh, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi
đoàn thể. Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và nhà
nước, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
thi đua thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
- Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ đường
lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ 11
của địa phương, trước hết là những chủ trương, chính sách về xây dựng quản lý
đô thị, giải quyết việc làm và các chính sách xã hội khác.
Năm là: Xây dựng tổ chức Đảng:
- Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng Đảng chi bộ, chi bộ trong
sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là
phát hiện và đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện
tiêu cực khác; chú trọng xây dựng và nâng cao chất lượng lãnh đạo của các chi
bộ, tổ đảng ở tổ dân phố, khu dân cư. Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh
hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê và phê bình; thực
hiện có nền nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ,
bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu.
- Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu,
phấn đấu trở thành người lao động giỏi, công dân gương mẫu, nghiêm chỉnh
chấp hành và vận động, thuyết phục nhân dân chấp hành nghị quyết của tổ chức
Đảng, quyết định của chính quyền và chương trình hành động của các đoàn
thể nhân dân. Cấp uỷ xây dựng kế hoạch và tạo điều kiện cho đảng viên thực
hiện nhiệm vụ học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt.
- Cấp uỷ xây dựng kế hoạch, biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều
kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Làm tốt công tác động viên
khen thưởng, kỷ luật đảng viên, xử lý nghiêm, kịp thời những cán bộ đảng viên
vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Làm tốt công tác tạo nguồn và phát triển Đảng viên, bảo đảm về tiêu chuẩn và
quy trình, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và
những người lao động giỏi, có uy tín trong quần chúng. 12
- Xây dựng cấp uỷ và Bí thư cấp uỷ đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực,
thực sự là trung tâm đoàn kết, hoạt động có hiệu quả, được đảng viên và nhân
dân tín nhiệm. Định kỳ hàng năm, cấp uỷ tổ chức để quần chúng tham gia, góp ý
xây dựng đảng, Bí thư cấp uỷ cơ sở, Chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tự phê
bình trước đại diện của nhân dân và chịu trách nhiệm khi để xảy ra quan liêu,
lãng phí, tham nhũng ở địa phương.
- Cấp uỷ thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ,
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước và quy định của Bộ chính
trị về những điều Đảng viên không được làm. Phối hợp với các tổ chức cơ sở
Đảng trên địa bàn và các tổ chức cơ sở Đảng có Đảng viên, cán bộ, công chức
đang cư trú trên địa bàn thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của đảng, pháp luật của
nhà nước và các nhiệm vụ của địa phương.
5. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đầu cảu tổ chức cơ sở Đảng.
5.1 Khái niệm năng lực lãnh đạo.
Để lãnh đạo cách mạng thắng lợi, đảng phải có năng lực, năng lực lãnh đạo,
năng lực hiểu biết, năng lực tổ chức thực hiện. Năng lực lãnh đạo của Đảng là
do các tổ chức cơ sở đảng và từng đảng viên tạo nên.
Năng lực lãnh đạo là khả năng tri thức tổng hợp các thuộc tính cơ bản của tổ
chức lãnh đạo, nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động lý luận và thực tiễn, bảo đảm
cho hoạt động của tổ chức phù hợp với nhu cầu khách quan của tình hình chung
và tình hình cụ thể của từng địa phương, để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị đề ra.
5.2 Khái niệm về sức chiến đấu .
Theo quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng là thành tố đầu tiên có ý nghĩa hết
sức quan trọng để xây dựng Đảng, làm cho đảng ta ngày càng giàu trí tuệ, trong 13
sạch, vững mạnh để lãnh đạo đất nước tiếp tục đi lên. Trong giai đoạn hiện nay,
các tổ chức cơ sở đảng cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau để nâng
cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng nói chung và tổ chức cơ sở Đảng nói riêng là:
+ Nâng cao năng lực, hoạch định đường lối, chính sách ở tổ chức cơ sở Đảng là
nâng cao năng lực xác định nhiệm vụ chính trị cho đúng, phù hợp với đường lối,
chính sách của Đảng và thực tiễn tình hình ở địa phương.
+ Nâng cao năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị .
+ Năng lực, tổng kết, rút kinh nghiệm, tạo sự thống nhất giữa nhận thức và lý
luận, sự thống nhất giữa nhận thức và hành động.
+ Nâng cao năng lực lãnh đạo mặt trận và các đoàn thể quần chúng, tăng cường
mối quan hệ gắn bó với dân.
- Nâng cao sức chiến đấu là:
+ Từng cán bộ, đảng viên, từng tổ chức đảng, cấp uỷ Đảng và toàn Đảng phải có
ý chí phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
+ Thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức, không nể nang, né tránh "dĩ hoà vi quý".
+ Kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, say thoái ở
ngay trong bản thân mỗi đảng viên, ổ trong tổ chức Đảng và trong xã hội, dũng
cảm đấu tranh chống các tư tưởng, quan điểm, hành động sai trái, thù địch. 14
Chương II: Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đầy của đảng bộ
phường Thanh Trì trong những năm vừa qua.
1. Khái quát đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế- xã hội của phường Thanh Trì.
- Phường Thanh Trì thuộc quận Hoàng Mai – Hà Nội phía bắc giáp quận
Long Biên, phía nam gáp các phường Vĩnh Hưng và Lĩnh Nam, phía tây
giáp huyện Gia Lâm, phía đông giáp quận Hai Bà Trưng.
- Phường Thanh trì có tổng diện tích đất tự nhiên là 3,34 km², Dân số đến
năm 2021 là 25.600 người, được chia thành 6 khu dân cư với khoảng 2500
hộ dân, mật độ 7665 người/km2
- Phường Thanh Trì có 5 trường học: 3 trường nầm non, 1 trường tiểu học, 1
trường trung học cơ sở đều mang tên Thanh Trì
2. Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ phường những năm vừa qua:
2.1 Những kết quả đạt được
Một là: Lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội
Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta có nhiều thay đổi
nhanh chóng, thời cơ thách thức đan xen. Nhưng Đảng bộ và nhân dân đã đoàn
kết khắc phục mọi khó khăn, tập trung trí tuệ thực hiện thắng lợi nghị quyết đại
hội đảng … lần thứ XXVIII và nghị quyết đại hội huyện Đảng bộ Kinh Môn lần thứ XXII
Kinh tế phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch đúng hướng, phát triển dân số hàng năm dưới 1%. Việc xây dựng kết cấu
hạ tầng nông thôn được thực hiện tích cực. Cả thị trấn có 80% đường bê tông,
20% đường cấp phối; các trường học được kiên cố hoá cao tầng 100%; Trạm y
tế đạt chuẩn quốc gia. Năm 2005, vốn xây dựng đạt 3 tỷ đồng, (trong đó vốn nhà 15
nước 70%, nhân dân đóng góp 30%). Tổng thu ngân sách đạt 3,8 tỷ đồng = 152% kế hoạch.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự ATXH được giữ vững. Các đoàn thể chính trị
- xã hội, chính quyền, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh. Chính sự ổn định và
phát triển đã tạo đà cho địa phương phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là: Quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ kế cận.
Trong những năm vừa qua Đảng uỷ đã quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ
kế cận, cử 13 đồng chí đi học lớp trung cấp lý luận chính trị do trường chính trị
tỉnh phối hợp với huyện uỷ tổ chức, đã cử 10 đồng chí đi học cao đẳng và đại
học nhằm nâng cao về trình độ lý luận chuyên môn và nghiệp vụ.
Ba là: Duy trì chế độ sinh hoạt, chế độ báo cáo, giữ nghiêm ý thức tổ chức kỷ luật trong Đảng.
Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Do đó chất
lượng đảng viên được nâng lên, phát huy tốt được vai trò lãnh đạo, giữ gìn phẩm
chất chính trị có đạo đức, lối sống lành mạnh, trong sáng, được quần chúng nhân
dân tin tưởng noi theo. Củng cố lãnh đạo, xây dựng chính quyền và các tổ chức
đoàn thể, các tổ chức kinh tế vững mạnh nhiều năm liền được tỉnh, huyện khen
là đơn vị trong sạch, vững mạnh.
Bốn là: Làm tốt công tác quản lý đảng viên.
Phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên, tạo cho đảng viên yên tâm công tác và
phát triển kinh tế gia đình.
Thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền và các đoàn
thể, bí thư, trưởng khu được tập huấn các lớp ở trung tâm chính trị huyện phối hợp tổ chức. 16
Năm là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên.
Triển khai học tập tốt các nghị quyết của TW, xây dựng chương trình hành động
của Đảng bộ, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo, phát huy tính tiền
phong gương mẫu trong việc thực hiện tốt cuộc vận động chỉnh đốn Đảng.
Sáu là: Công tác kiểm tra Đảng
Đã có những bước rõ nét, kể cả tư tưởng nhận thức và tổ chức. Đảng uỷ đã cùng
với uỷ ban kiểm tra xây dựng chương trình làm việc, thực hiện đúng Chỉ thị,
Nghị quyết và Điều lệ Đảng quy định.
Trong nhiệm kỳ qua, uỷ ban kiểm tra đã tập trung xem xét kiểm tra vào những
đảng viên vi phạm và có dấu hiệu vi phạm, đã kỷ luật xoá tên 7 đồng chí, cảnh
cáo toàn Đảng bộ 2 đ/c và 2 đồng chí làm đơn rút khỏi danh sách đảng viên.
Nhìn chung thời gian vừa qua số lượng đảng viên vi phạm, có dấu hiệu vi phạm
đã giảm so với trước đây. Nguyên nhân cơ bản là đảng bộ đã thực hiện tốt quy
chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật Đảng, UBKT Đảng làm
việc đúng nguyên tắc, có trách nhiệm, khách quan, do vậy giúp cấp uỷ làm tốt
công xây dựng chỉnh đốn Đảng.
Bảy là: Công tác lãnh đạo các tổ chức đoàn thể.
Để tăng cường sự lãnh của Đảng đối với các tổ chức đoàn thể, thường xuyên
hàng quý, 6 tháng Đảng uỷ triển khai các Nghị quyết của Đảng với các đoàn thể,
nhằm giúp cho các đoàn thể nắm và quán triệt cho các hội viên thực hiện tốt
Nghị quyết của Đảng uỷ, thường xuyên trú trọng xây dựng qui chế dân chủ ở cơ
sở, là cầu lối giữ nhân dân với Đảng.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân luôn được quan tâm lãnh đạo, làm
tốt công tác tham mưu giúp cấp uỷ tuyên truyền vận động các tần lớp nhân dân
chấp hành tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của 17
nhà nước, hăng hái thi đua lao động sản xuất làm giầu chính đáng, tích cực góp
phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân địa phương.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể đã có nhiều cố gắng, động viên nhân dân tích
cực phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo, tham gia các hoạt động tình
nhgĩa, các cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư, xây dựng Đảng, chính quyền, hàng năm tổ chức bình xét các gia đình
văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Trong nhiều năm liên MTTQ và các đoàn thể đều
đạt đơn vị trong sạch vững mạnh và khá, được tỉnh, huyện tặng bằng khen và giấy khen. 2.3. Nguyên nhân
* Nguyên nhân của những ưu điểm:
- …. có vị trí địa lý khá thuận lợi, có núi sông, có đồng bằng màu mỡ với các
loại cây trồng, vật nuôi, có đường bộ, đường thuỷ chạy qua. Đó là điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng.
- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp trên, sự hưởng ứng, tham mưu đắc
lực của các cấp ngành trong thị trấn, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự chỉ
đạo nhạy bén kịp thời có hiệu quả của BCH Đảng bộ, nghị quyết đề ra phù hợp
tình hình thực tiễn của thị trấn, đồng thời triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả.
- Năng lực lãnh đạo quản lý điều hành của đại bộ phận của các đồng chí trong
cấp uỷ và cán bộ các ngành khá đồng đều, đại đa số đảng viên trong Đảng bộ
đều có lập trường tư tưởng vững vàng, gương mẫu có trách nhiệm cao, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, có uy tín với nhân dân, phần lớn các đảng viên
lão thành trải qua công tác chiến đấu được nghỉ chế độ đã đóng góp nhiệt tình về
trí tuệ, kinh nghiệm cho Đảng uỷ, cho chi bộ, cho quê hương. 18
- …. có các ban ngành đoàn thể khá đồng đều và mạnh, hàng năm các tổ vững
mạnh, nhân dân Minh Tân có truyền thống cần cù, sáng tạo, hiếu học biết vận
dụng tiềm năng sẵn có của địa phương, tin vào sự lãnh đạo của Đảng, biết vươn
lên trong khó khăn để làm giàu cho gia đình và xã hội.
* Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém.
- Một số nghị quyết xây dựng thiếu tính khoa học, thiếu thực tiễn hiệu quả thấp,
thể hiện trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên còn thấp, năng lực nghiên cứu
lý luận và tổng kết thực tiễn còn yếu
- Nguyên tắc tập trung dân chủ có lúc, có nơi còn buông lỏng, công tác quản lý
đảng viên có lúc chưa chặt chẽ, công tác phát triển đảng viên mới còn ở mức
quá khiêm tốn, năng lực quản lý điều hành của vài ngành, của một số cơ sở còn
yếu, buông lỏng quản lý, phân công không cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc đùn
đẩy né tránh, ngại va chạm. Một số cán bộ nhất là cán bộ khu dân cư, năng lực
quản lý và lãnh đạo còn nhiều hạn chế, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới.
- Tính kỷ luật trong Đảng chưa thật sự nghiêm, đấu tranh nội bộ còn e dè, nể
nang, đôi khi có biểu hiện mất đoàn kết.
- Việc xử lý cán bộ đảng viên vi phạm kinh tế, vi phạm pháp luật, vi phạm Điều
lệ Đảng chưa được nghiêm minh, kịp thời, làm giảm uy tín của Đảng đối với
nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ tới việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
- Một số ít đảng viên thiếu ý chí vươn lên, ngại khó khăn, ngại học tập, ý thức
kỷ luật yếu, cá biệt có những đảng viên quan liêu, xa rời quần chúng.