NGÂN HÀNG ĐỀ THI
Môn: Cơ sở Văn hóa
I. 10 CÂU TÁI HIỆN
1. Trình bày khái niệm văn hóa. Phân biệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật
1.1 Khái niệm văn hóa:
nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận
đánh giá khác nhau.
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa 1 hệ thống hữu các giá trị vật chất tinh thần
do con người sáng tạo tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên môi trường hội”. Khái niệm này đã nêu ra 4 đặc
trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
- Với Từ Chi, ông cho rằng: Tất cả những không phải tự nhiên đều văn hóa”, tức
nhấn mạnh vai trò của con người đối với việc sáng tạo văn hóa.
- Còn theo chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặt ăn các phương thực sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát minh đó tức văn
hóa”. Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đẩy đủ hơn. Suy cho
cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn thời gian được lặp đi lặp lại, trở thành
thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được
tích lũy, lưu truyền từ đời này sang đời khác, thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của
mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.
- Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con
người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là do con người sáng tạo và vì lợi ích của con
người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống của con người
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần
+ Văn hóa tạo ra sự khác biệt
+ Văn hóa là động lực cho sự phát triển
Như vậy, văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy
trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn, được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong
đời sống xã hội, được gìn giữtrao truyền cho các thế hệ sau theo quy luật kế thừagiao
lưu tiếp biến.A
VD: Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, trang phục truyền thống,...
- Văn hóa một phạm trù lịch sử, biến đổi theo thời gian không gian, mang dấu ấn của
thời đại, quốc gia, dân tộc.
Từ đây, có thể rút ra một số đặc trưng tiêu biểu của văn hóa:
Tính hệ thống:A
+ Gồm nhiều sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau
+ Tạo nên các đặc trưng, quy luật hình thành và phát triển
=> Nhờ tính hệ thống văn hóa bao trùm mọi hoạt động hội, thực hiện được chức
năng tổ chức xã hội.
Tính giá trị:A
+ Văn hóa theo nghĩa đen là trở thành đẹp, có giá trị
+ Tính giá trị nằm phân biệt với phi giá trị, thước đo mức độ nhân bản của hội con
người
+ Các giá trị những tiêu chí phân biệt khác nhau: theo mục đích: giá trị vật chất (phục
vụ mục đích vật chất) giá trị tinh thần (phục vụ mục đích tinh thần); theo ý nghĩa: giá
trị sử dụng và giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ
Tính nhân sinh:A
+ Phân biệt văn hóa một hiện tượng hội do con người sáng tạo nên với các giá trị tự
nhiên
+ Văn hóa chính là cái tự nhiên bị biến đổi bời con người
Tính lịch sử:A
+ Mang dấu ấn của quốc gia dân tộc chính bản sắc văn hóa - cái chung nhất của một nền
văn hóa để nhận diện một nền văn hóa phân biệt giữa nền văn hóa này với nền văn hóa
khác
1.2 Phân biệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật:
a)A Văn minh:A
- Văn minh trình độ đạt được trong sự phát triển văn hóa vật chất văn hóa tinh thần của
xã hội loài người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho 1 khu vực rộng lớn, 1
thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh có thể so sánh cao thấp, văn hóa chỉ là sự khác biệt.
Văn minh (civilization) gốc La tinh “civitas” nghĩa đô thị, hàm ý một giai đoạn con
người thoát khỏi tình trạng trú tự nhiên sang trú có quy hoạch, mang nhiều yếu tố nhân
tạo
- Do vậy, khái niệm văn minh chỉ khía cạnh vật chất, kỹ thuật. Văn minh những thành tựu
đã đạt được khi văn hóa phát triển đến một mức độ nhất định của một không gianhội nhất
định
VD: Văn minh Ai Cập cổ đại, văn minh Địa Trung Hải, văn minh châu Âu,...
- Văn hóa xuất hiện trước văn minh. dụ trước khi xuất hiện văn minh Văn Lang - Âu Lạc,
Việt Nam đã xuất hiện một số nền văn hóa như: văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn. Văn
minh chỉ trình độ phát triển, có tính quốc tế và gắn bó nhiều với phương tây đô thị.
b) Văn hiến:A
- Văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các giá trị tinh thần do hiền tài sáng tạo ra,
có bề dày lịch sử, tính dân tộc và gắn bó nhiều hơn với phương đông nông nghiệp
VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán
c) Văn vật:A
- Văn vật chỉ những vật thể những di tích lịch sử, công trình giá trị nghệ thuật thể
nhìn thấy. Văn vật chủ yếu chỉ những giá trị vật chất.
VD: Phở Hà Nội, Gốm Bát Tràng, Cốm Làng Vòng
Văn hiến, văn vật chỉ là 1 bộ phận của văn hóa
Xét trong mối quan hệ với nhau, có thể thấy:
- Về đối tượng, văn hóa bao gồm tất cả các yếu tố vật chất tinh thần, văn vật thiên về yếu
tố vật chất trong khi văn hiến tập trung các yếu tố tinh thần, văn minh lại thiên về các yếu tố
vật chất kỹ thuật
- Trong khi văn hóa, văn hiến, văn vật tính lịch sử, tính dân tộc thì văn minh tính quốc
tế và chỉ sự phát triển theo giai đoạn.
- Văn minh thường gắn với hội phương tây còn văn hóa, văn hiến, văn vật lại thân thuộc
hơn với xã hội phương Đông.
2. Trình bày đặc trưng vị trí của nền văn hoá Đông Sơn trong tiến trình lịch sử văn
hoá Việt Nam.
2.1 Khái quát chung:
- Đông Sơn một địa danh nổi tiếng thuộc tỉnh Thanh Hóa. Năm 1924, ông Nguyễn Văn
Lắm, một dân chài trên sông đã tình cờ phát hiện một số hiện vật bằng đồng lộ thiên bên
bờ sông mã. Đến năm 1934, nhà khảo học Hainơ Geldean đã đặt tên cho nhóm hiện vật bằng
đồng thu lượm được ở vùng Đông Sơn (Thanh Hóa) là “Văn hóa Đông Sơn”
- Văn hóa Đông Sơn nền văn hóa thuộc thời đại đồng thau kỳ thời đại đồ sắt Việt
Nam, được phát triển liên tục từ khoảng 2000 năm Tr.CN cho đến thế kỉ VII Tr.CN trải
qua 4 giai đoạn phát triển là: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, và Đông Sơn
- Địa bàn phân bố của văn hóa này không chỉ ở vùng Thanh Hóa, mà trải rộng khắp vùng Bắc
Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam, tập trung nhất ở vùng lưu vực các con sông Hồng, Mã, Chu, Cả
- Các nhà khảo cổ học đã khai quật hàng trăm di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn. Đó là những di
chỉ có tầng văn hóa dày, trong đó có nhiều hiện vật bằng đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ thủy tinh…
2.2 Những đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn:
a) Về phương thức sản xuất:A
- Phương thức sản xuất: lúa nước đóng vai trò chủ đạo
+ Sản xuất nông nghiệp đã phát triển đạt tới trình độ cao năng suất khá, thuật canh
tác thuần thục
+ Người Việt đã biết “đao canh thủy nậu”, biết sản xuất theo mùa, gieo trồng nhiều loại lúa
và các loại cây rau quả khá đa dạng
+ Cùng với sản xuất nông nghiệp là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà
+ Chăn nuôi có vị trí quan trọng: vật nuôi dùng để kéo, ăn thịt, săn thú
+ Nông cụ đa dạng với cuốc, xẻng, mai, thuồng. Đặc biệt lưỡi cày đồng phù hợp với các
chủng loại, phù hợp với từng loại đất
- Các nghề phụ như chăn nuôi, đánh cá, làm vườn đã được hình thành giai đoạn này để hỗ
trợ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp
- Các nghề thủ công nghiệp cũng đặc biệt phát triển thời kỳ này như nghề mộc, nghề làm
đồ gốm, nghề dệt, nghề đan lát mây tre, nghề chế tác làm đồ trang sức…
b) Văn hóa sinh hoạt vật chất:
- Văn hóa ẩm thực: hình bữa cơm - rau - cá, trong đó cơm rau chủ đạo, ăn gạo nếp
nhiều hơn gạo tẻ. Đó là dựa trên nền tảng sản xuất thực vật, sản xuất lúa nước
- Văn hóa trang phục: trang phục quần áo khá phong phú, nhiều nét riêng độc đáo đạt đến
trình độ thẩm nhất định. Kiểu tóc: cắt tóc ngắn để xoã ngang vai, búi tóc trên đầu, tết tóc
thả sau lưng. Phụ nữ mặc yếm váy, nam giới đóng khố. Ngày hội trang phục cầu kỳ, đẹp
hơn: nam nữ đều mặc áo liền váy vạt áo toả ra 2 bên dùng trong hội. Quần áo đều
bằng vải, lông hoặc kết hợp với cây, đầu đội lông chim hoặc gắn thêm lông chim
cho đẹp.Trang phục của giới quý tộc lớp trên: phụ nữ mặc đủ xống áo, đầu khăn trùm vắt
thành chóp nhọn, yếm che ngực áo xẻ cánh mặc bên ngoài, thắt lưng ngang bụng, liền
đó chiếc váy chùng che kín gót chân. Nhuộm răng đen xăm mình phổ biến cả nam
và nữ, đeo vòng tai hạt, chuỗi, nhẫn, vòng chân và phổ biến là vòng tay. Hầu hết đồ trang sức
đều làm bằng đá màu xanh hoặc bằng đồng, ít có đồ vàng, ngọc.
- Văn hóa kiến trúc: người Đông Sơn thói quen nhà sàn để tránh thú dữ, lụt. Mái nhà
2 loại: mái cong hình thuyền hoặc mái úp kiểu mai rùa. Chất liệu để làm nhà chủ yếu
gỗ, tranh, tre, nứa, lá.
- Văn hóa giao thông: phương tiện đi lại chủ yếu thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu
đường sông, ven biển. Đường bộ dùng voi, trâu để vận chuyển, khi lâm trận dùng voi chiến
đấu. Quãng đường ngắn họ đi lại bằng chân
c) Về văn hóa sinh hoạt tinh thần:A
- Về duy nhận thức: biết phân loại sự vật theo chức năng như công cụ sản xuất (cuốc,
cày…), công cụ sinh hoạt (dao, bình…), công cụ chiến đấu (giáo, mác…)
- Về nhận thức thế giới: sự nhận thức về thế giới nhận thức chính mình bằng duy
lưỡng phân: đàn ông - đàn bà, núi - biển… vũ trụ theo họ là trời tròn - đất vuông, trời che chở
cho con người, đất nuôi dưỡng con người
- Về duy toán học: duy đối xứng gương, đối xứng trục. Con người tri thức về thiên
văn học. Các loại hình trên mặt trống đồng: ngôi sao giữa (mặt trời), con người các loài
vật xoay ngược chiều kim đồng hồ
- Về tri thức kỹ thuật: tri thức về luyện kim, tạo nên các sản phẩm bền đẹp như trống đồng,
kỹ thuật làm khuôn đúc, vẽ hoa văn trang trí trên trống đồng công cụ đạt đến trình độ tinh
xảo
- Về tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên, tín
ngưỡng phồn thực, sùng bái con người…
- Về phong tục tập quán: nhuộm răng, ăn trầu, phong tục cưới xin, ma chay, phong tục lễ hội.
Đặc biệt lễ hội thờ kỳ này khá phong phú như hội mùa, hội cầu, hội nước… Các phong tục
thể hiện sắc thái sinh hoạt phong phú đa dạng của con người, cầu mong mưa thuận gió
hòa, thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc
- Về chữ viết: chữ viết Đông Sơn được chạm khắc trên các công cụ, khí đồng thau, các
đường nét còn lược nhưng khúc chiết, ràng. Ngoài ra còn các dạng văn tự khác trên
đồ đá, đồ gốm. Trong đó loại hình văn tự thắt nút dùng 1 số sợi dây màu sắc khác nhau buộc
lại thành các nút khác nhau để trao đổi thông tin
- Về văn hóa nghệ thuật: nghệ thuật được biểu hiện qua quá trình hình thành quan niệm thẩm
mĩ của người Việt cổ và được tập trung thể hiện trên trống đồng Đông Sơn
+ Về mặt nghệ thuật, trống đồng Đông Sơn là nhạc cụ quan trọng, âm sắc vang hùng và được
sử dụng trong những sinh hoạt quan trọng như tế lễ, tế hội
+ Nghệ thuật chạm khác trên trống đồng là một thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực tạo hình của
người Việt cổ, những chạm khắc này liên quan đến các quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo,
chứa đựng những nét sống thực, thể hiện quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh
d) Tổ chức xã hội thời Đông Sơn:A
- Trong xã hội Đông Sơn đã có sự phát triển cao của sản xuất, đã có chế độ tư hữu và sự phân
chia xã hội thành giai cấp
- Gia đình mẫu hệ là chủ yếu ở giai đoạn này
- Sau gia đình, làng xóm được hình thành, trong làng xóm những người cùng huyết thống
những người không cùng huyết thống trú. Họ cùng nhau khai khẩn ruộng đất, trồng
trọt, chăn nuôi, xây dựng cuộc sống
- Trong văn hóa Đông Sơn, nhà nước cũng được hình thành:
+ Nhà nước Văn Lang thuộc thời đại Hùng Vương
+ Nhà nước Âu Lạc thuộc thời đại An Dương Vương
2.3 Vị trí của văn hóa Đông Sơn trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam:
Văn hóa Đông Sơn nền văn hóa cội nguồn, thể hiện sức mạnh trường tồn mang dấu ấn
đặc sắc của văn hóa dân tộc ông cha xưa tạo dựng nên. Những giá trị của nền văn hóa
Đông Sơn nền tảng của tinh thần, động lực để đưa dân tộc ta không ngừng phát triển, xây
dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc.
- Văn hóa Đông Sơn có vị trí và vai trò đặc biệt trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Qua 80 năm
phát hiệnnghiên cứu, văn hóa Đông Sơn được biết đến như là cơ sở vật chất cho sự ra đời
của nhà nước Văn Lang các vua Hùng tiếp đến nước Âu Lạc của vua An Dương
Vương.
+ Với nền văn hóa Đông Sơn, kỹ thuật chế tác đồ đồng đã vươn lên trình độ khá cao so với
trình độ thế giới đương thời. Sản phẩm đồng biểu tượng của văn hóa Đông Sơn trống
đồng Đông Sơn
+ Quá trình hình thành phát triển của văn hóa Đông Sơn miền Bắc quá trình hình
thành nên cốt lõi của người Việt cổ nhà nước đầu tiên của họ. Đây một nền văn hóa
thống nhất chủ nhân của nền văn hóa đó một cộng đồng dân gồm nhiều thành phần
tộc người gần gũi với nhau về nhân chủng và văn hóa
+ Văn hóa Đông Sơn điển hình của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Cùng với văn hóa
Óc Eo, văn hóa Sa Huỳnh tạo thành “tam giác văn hóa” của người Việt
- nền văn hóa bản địa Phi Hoa, phi Ấn, mang tính chất nông nghiệp. Văn hóa Đông Sơn
tạo thành nền tảng để văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa khác như
Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á trong thiên niên kỷ đầu sau công nguyên vẫn giữ được
bản sắc văn hóa dân tộc
3. Trình bày những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hoá
Trung Hoa.
3.1. Bối cảnh lịch sử:
- Vào thiên niên kỷ đầu công nguyên, nền văn hóa Việt cổ bắt đầu chịu những thử thách ghê
gớm. Quốc gia Văn Lang, sau đó Âu Lạc dân tộc hẩu như vừa mới được xác lập tồn
tại chưa bao lâu đã rơi vào tình trạng bị đô hộ. Năm179 trước công nguyên, Triệu Đà vua
nước Nam Việt đóng đô Phiên ‘Ngung (Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) xâm chiếm
nước Âu Lạc, chia Âu Lạc ra thành hai quận: Giao Chỉ Cửu Chân. Năm 111 trước công
nguyên, nhà Hán chiếm được nước Nam Việt, đổi vùng đất của Âu Lạc, thành châu Giao Chỉ.
Thời này kéo dài từ năm 179 trước công nguyên tới năm 938 với chiến thắng của Ngô
Quyền mở đầu cho kỷ nguyên độc lập thời tự chủ của quốc gia Đại Việt.
- Cùng với việc xâm lược lãnh thổ, nhà Hán sau này các triều đại tiếp theo của phong
kiến phương Bắc, đã tiến hành đồng hóa về mặt dân tộc và văn hóa.
3.2. Quá trình giao lưu tiếp biến diễn ra với 2 hình thức: giao lưu cưỡng bức và giao lưu
tự nguyện:
- khái niệm: Giao lưu tiếp biến văn hóa sự gặp gỡ, thâm nhập học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa.
Trong quá trình này, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát
triển và tiến bộ văn hóa
- Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam đã có những cuộc tiếp xúc và giao lưu với
các nền văn hóa phương đông phương tây bằng con đường hình thức khác nhau. Cùng với sự hình
thành các yếu tố văn hóa bản địa, giao lưu tiếp biến với văn hóa đông - tây đã trở thành động lực to lớn
cho sự biến đổi, phát triển và làm nên những sắc thái riêng của nền văn hóa Việt Nam.
*Hình thức giao lưu cưỡng bức:A
- Giao lưu cưỡng bức diễn ra hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỷ I đến thế kỷ X từ
1407 đến 1427.
- Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên, các đế chế phương Bắc ra sức thực hiện các
chính sách đồng hóa về phương diện văn hóa nhằm biến nước ta trở thành một quận, một
huyện của Trung Quốc
- Từ 1407 đến 1427 giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Binh lính vào nước Nam tàn
phá khốc liệt. Trừ sách vở và bản in đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra mọi sách
vở đều bị đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do người Trung Quốc dựng đều được
giữ gìn cẩn thận, các bia còn lại bị phá hủy tất cả
*Hình thức giao lưu tự nguyện:A
Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng diễn ra giao lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với dân
Bách Việt. Đó sự giao lưu tiếp biến hai chiều, học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa.
Người ta nhận thấy khá nhiều di vật của phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa di
sản như đồng tiền thời Tần Hán, tiền ngũ thủ đời hán, các dụng cụ sinh hoạt của quý tộc hán
như gương đồng, ấm đồng… Những sản phẩm ấy kết quả của sự trao đổi, thông thương
giữa 2 nước.
3.3. Những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung
Hoa:
Những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa là văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần:
*Văn hóa vật chất: Người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như: kỹ thuật rèn,
đúc sắt, gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân để tăng độ màu mỡ
cho đất, kỹ thuật xây cất nơi bằng gạch ngối. Người Việt học được kinh nghiệm dùng đã
đắp để ngăn sóng biển, biến cải kỷ làm đồ gốm… bên cạnh cơm rau thì tiếp thu bánh bao,
màn thầu, nước tương, dầu… nhà chen nón lá, nhà san còn tồn tại. bánh bao đc tiếp nhận
thì nước mắn và bữa cơm cơm rau cá vẫn không thể soán ngôi.
- trang phục: tq sườn xám, vn áo dài.
*Văn hóa tinh thần: Việt Nam tiếp nhận một số phong tục trong văn hóa Trung Quốc, đặc
biệt hệ thống lễ Tết do ảnh hưởng của thể thức nho giáo nên chúng ta tôn vinh tết nguyên
đán, có những lễ hội thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Việt Nam tiếp nhận ngôn
ngữ của Trung Hoa và tư tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên tinh thần hỗn dung,
hòa hợp với tín ngưỡng bản địa các tưởng khác, phỏng hệ thống giao dục theo tinh
thần Nho giáo, tiếp nhận một số phong tục lễ Tết, lễ hội… Tuy nhiên, cách tiếp nhận của
người Việt rất thông minh và linh hoạt.
ngôn ngữ: tiếng hán của tq, người việt đã sáng tạo ra chữ hán – việt gọi là chữ nôm
- pttq: vn tiếp nhận những ngày lễ, tết của người hán, tết nguyên đán, tết 15-1, 3-3, 5-5 ,… nhưng ý nghĩa của
những ngày tết này đều khác vs ng gốc bên tq
Vdu tết hàn thực 3-3 TQ ngày mng cấm lửa, ăn đồ lạnh để tưởng nhớ ng đã khuất..mang không khí ảm
đạm còn ở vn tết 3-3 âm thì mng cùng quây quần ăn bánh trôi, vui vẻ hạnh phúc…
Vd vào những ngày lễ, tết VN thì các thường đi chùa cầu quốc thái dân an, cầu bình an cho mng,… =>
các qttq đều chỉ tiếp nhận ở bề mặt còn cốt lõi vấn là của VN
- tín ngưỡng: sự ảnh hưởng lớn nhất là nho giáo
Bị những ảnh hưởng như coi trọng nam giới, quan niệm quân tử, trung quân, hiếu quốc -> VN: trong nam
khinh nữ chỉ ở bề mặt, vẫnmẫu hệ, con gái vx rất đc tôn trọng (Trai mà chi, gái mà chi/Sinh con có nghĩa
có nghì là hơn; con gái rượu); trung quân là trung với nước; hiếu cha mẹ còn hiếu với dân.
+ sao kh bị ảnh hưởng lớn: phạm vi ảnh hưởng nhỏ, chỉ những tầng lớp trên mới đc tiếp xúc với nho
giáo, nhân dân nghèo kh có tiền học chữ nho nên kh hiểu đc nho giáo mà ảnh hưởng. rồi nhân dân sống trong
làng đc bao bọc bởi lũy tre – mãng chắn xâm lấn vh…
-> biến đổi vh vn trong gltb vs tq có rõ ràng nhưng vx giữ đc giá trị vh truyền thống vn
=> hệ quả: sự tiếp nhận văn tự hán, du nhập nho giáo, lão giáo, phogn tục tấp quán./ sự thay đổi tổ
chức hành chính, coi trọng học hành thi cử, chọn người tài/ đời sống vc, tt of ng Việt trở nên phong phú hơn/
cho thấy ý thức gìn giữ vh vn luôn tồn tại.
* nguyên nhân vh vn luôn tồn tại suốt nghìn năm bắc thuộc
- ng việt trc đó đã có vh đông sơn
- phạm vi ảnh hưởng ít, lớp trên
- đức “khoan hòa” of ng việt trong giao lưu, tiếp biến vh với vh phương bắc.
3.4 Nhận xét:
Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt Nam văn hóa Trung Hoa sự giao lưu, tiếp biến liên tục
qua nhiều thời của lịch sử còn mãi về sau. Không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam rất lớn. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại phát
triển, khẳng định bản sắc văn hóa của mình. Những tiếp thu của nhân dân ta hoàn toàn mang
tính sáng tạo, những tinh hoa của văn hóa bên ngoài đã được bản địa hóa phù hợp với cuộc
sống của người Việt. Những yếu tố ngoại lai đó trở thành chất xúc tác thúc đẩy những yếu tố
nội tại làm cho văn hóa Việt Nam phát triển phong phú mà không làm mất đi bản sắc.liên
hệ thực tiễn hòa nhập nhưng kh hào tan, vai trò giới trẻ
4. Trình bày diện mạo văn hoá Đại Việt thời Lý - Trần.
4.1. Bối cảnh lịch sử:
- Triều được bắt đầu từ khi vua Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 kết thúc
năm 1225, trải qua 9 đời vua. Sau khi Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng Trần Cảnh,
triều Trần được lập nên bắt đầu năm 1225 kéo dài đến năm 1400, trải qua 13 đời vua. Lý-
Trần hai triều đại tồn tại dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Xây dựng nhà nước
pk trung ương tập quyền. thực hiện nền độc lập tự chủ sau 1000 năm mất nước. thời kỳ vh
đông sơn đc phục hưng mạnh mẽ.
- Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển
hưng thịnh bậc nhất của dân tộc ta. Triều (1009 - 1226) thời Trần (1226 - 1400) hai
triều đại lớn trong lịch sử dân tộc ta, đây được xem giai đoạn lịch sử oanh liệt nhất thời
trung đại, giai đoạndân tộc đã vươn lên mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. thời - Trần,
nhà nước phong kiến củng cố phát triển chế độ trung ương tập quyền, nhiều cải cách về
chính trị, kinh tế, quân sự được áp dụng đã đem lại thành quả rực rỡ về nhiều mặt. Trên cơ sở
kinh tế - chính trị đó, văn hóa, tư tưởng của dân tộc cũng được phát triển mạnh mẽ. 2 thời đại
nối tiếp nhau gần 4 thế kỷ và thể hiện nhiều nét tương đồng về văn hóa. Văn hóa Lý Trần mở
đầu cho thời kỳ văn hóa Đồng Việt thời đạt được nhiều thành tựu bản, góp phần
khởi điểm bản sắc văn hóa dân tộc.
4.2 Đặc trưng văn hóa:
a) Văn hóa vật chất:
*Những công trình nổi bật:
- Thành tựu lớn nhất của thời này xây dựng được kinh thành Thăng Long. Kinh đô
Thăng Long được xây dựng bên sông Hồng, nơi trung tâm trời đất.
- Những ngôi chùa được xây dựng rất nhiều, thường gắn với nước non, sông núi, mây trời.
Một số ngôi chùa nổi tiếng được xây dựng thời này như: Chùa Diên Hựu (Một Cột),
chùa Phật Tích, chùa Yên Từ…
* chùa một cột biểu tượng của hoa sen vươn lên giữa hồ nước hình vuông. Vua Thái Tông (1028
1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen đưa tay dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho
các quần thần nghe. Nhà Thiền Tuệ khuyên vua dựng một ngôi chùa trên cột đá giữa hồ Linh Chiểu
mang dáng bông sen nở nên gọi là “Liên Hoa đài”, trong chùa tạc pho tượng Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen
như nhà vua đã gặp trong mộng. Các nhà đến làm lễ, đi vòng quanh chùa tụng kinh, niệm Phật cầu chúc
cho vua sống lâu nên gọi là chùa Diên Hựu.
- Văn Miếu - Quốc Từ Giám được khởi công xây dựng từ thời nhà(1070) là một quần thể
kiến trúc tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của Nho giáo vào nước ta.
*Kiến trúc:
- Kiến trúc Phật giáo thời - Trần luôn tạo ra một không gian kiến trúc thâm nghiêm phù
hợp với triết lý phật giáo
- Hình tượng đặc trưng con rồng thời - Trần thể hiện tín ngưỡng thờ nước, cầu mong
mưa thuận gió hòa. Rồng thời - Trần: thể hiện tín ngưỡng thời nước (vh noogn ngh vh
đông sơn). Sự kết hợp đặc điểm của các con sát: rắn, trăn, sấu tử -> sự uyển
chuyển, sức mạnh. Con rồng thân dài, uốn khúc theo hình sin đều đặn, thân kh có vẩy, đầu sư
tử mũi to mắt lồi, có bờm, mào lửa dài. Rồng đại diện cho sm dân tộc, sm vương quyền, đồng
nghĩa vs SUN, sm vũ trụ mây mưa sấm chớp phù hộ đất nc thái bình,…
- Các nghề thủ công nghệ phát triển, các sản phẩm gốm nhiều màu sắc, họa tiết trang trí
đặc sặc được những người thợ khéo tay đời ràm ra. an nam tứ đại khí( 4 hiện vật bằng
đồng lớn nhất của an nam) giai đoạn này tất: chuông quy điền (thăng long); tháp báo thiên
(thăng long); vạc phổ minh ( nam định); tượng phật chùa Quỳnh lâm (quảng ninh) => nghệ
thuật đúc đồng rất tinh xảo
b) Văn hóa tinh thần:
A- thời lý – trần tam giáo đồng nguyên là sự cùng tồn tại kết hợp hài hòa của 3 tôn giáo: Phật-
Đạo-Nho. Trong thời - Trần, tam giáo đồng nguyên vừa đường lối, chính sách của nhà
cầm quyền, vừa là một thực tiễn xã hội, phản ánh thế cân bằng văn hóa. Thế cân bằng đó thực
ra không bền, trong một biên độ dao động. Trong các giai tầng hội bên trên, thời
Lý, cán cân lệch về Phật giáo, đến thời Trần, cán cân chuyển sang Nho giáo. Trong khối quần
chúng bình dân bên dưới, ảnh hưởng của Phật, Đạo hòa quyện cùng các tín ngưỡng dân gian
luôn luôn chiếm ưu thế, ảnh hưởng của Nho còn khá khiêm tốn.
*Đạo Phật:
- Phật giáo phát triển khắp mọi nơi, tưởng giáo Phật giáo ngấm sâu vào suy nghĩ, tình
cảm và cuộc sống của mọi tầng lớp dân chúng
- Các làng quê chỗ nào cũng chùa, nhà tầng lớp trí thức uy tín với dân chúng.
Ngôi chùa trở thành trung tâm văn hóa kinh đô các xóm làng, vừa trung tâm dạy học,
vừa là nơi hội họp dân chúng, tổ chức lễ hội
- Phật giáo triều một cấu giáo dục hoàn chỉnh, trung ương Đại - một chức vụ
cao cấp. Ở chùa có tăng trụ trì, đồng thời kiêm việc dạy học, truyền bá kinh sách
- tưởng chính trị tâm linh tín ngưỡng của người dân Đại Việt thời - Trần sự kết
hợp hài hòa giữa Nho - Phật - Đạo
*Nho giáo:
- Vào nửa đầu thế kỷ XI, dưới triều vua Thái Tông (1028 - 1054) giặc giã nổi lên khắp
nơi. Nhà vua và các nhà tư tưởng đã đã nhận hạn chế của Phật giáo và tính ưu việt của triết lý
Nho giáo trong việc trị quốc. Chính vậy, Nho học được du nhập mạnh mẽ hơn, dần dần
phát huy ảnh hưởng đến đời sống xã hội cùng Phật giáo và Lão giáo
*Văn hóa giáo dục thời Lý:
- Vua Nhân Tông không ngừng mở mang học tập, thi cử coi đây việc hệ trọng của
quốc gia
- Năm 1075, vua mở khoa thi Nho học đầu tiên. Nho giáo ngày càng được đề cao, Nho học
ngày càng được suy tôn
- Năm 1076, vua Nhân Tông cho mở Quốc Tử Giám để đón nhận con em các quý tốc,
quan lại cao cấp vào đây học. Đây là trường đại học đầu tiên của nước ta
=> triều Lý, nền văn hóa giáo dục từ nguyên đã phát triển lên một tầm cao hơn, về vật
chất lẫn tinh thần. Một tầng lớp nho được đào tạo theo ý thức hệ nho giáo bắt đầu xuất
hiện, đó những con người xuất sắc về trí tuệ, phẩm chất, tài năng. Giáo dục, thi cử trở
thành lĩnh vực trọng yếu xây dựng nền tảng chính trị, tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện các nhiệm vụ của nhà nước phong kiến. Chỉ thông qua giáo dục, thi cử một cách
nghiêm túc, vai trò trị quốc của giai cấp phong kiến mới được khẳng định
*Văn hóa giáo dục thời Trần:
- Năm 1232, vua Trần Thái Tông mở kỳ thi đại khoa đầu tiên dưới triều Trần
- Năm 1267, vua Trần Thánh Tông cho chọn những nho sinh hay chữ để bổ vào các quán,
sảnh, viện, công bằng với tất cả những người có tài, văn hay chữ tốt
- Năm 1304, vua Trần Anh Tông tổ chức và cải cách kỳ thi Thái học theo thể lệ mới, quy chế
thi cùng nghiêm ngặt. Từ đây các nhân tại được trọng dụng gắn hơn với triều đình
phong kiến
- Vua Trần Nhuận Tông đã tiếp tục cải tạo đưa việc thi tuyển vào nề nếp chặt ché hơn
trước, vua quy định lệ thi 3 cấp: thi Hương, thi Hội, thi Đình
=> Bước sang thời Trần, nhìn chung việc học hành thi cử đã tiến bộ hơn triều Lý. Hệ thống
trường học đã được thiết lập mở rộng từ trung ương đến địa phương, thể lệ thi cử ngày
càng chặt chẽ và chất lượng. Tầng lớp trí thức ở nước ta thời kỳ này tiếp thu Nho học và biến
theo tinh thần dân tộc, khẳng định truyền thống Việt Nam, cốt cách Việt Nam ngang tầm
với các quốc gia láng giềng.
*Quân sự:
- Trong thời đại - Trần, nghệ thuật quân sự đã phát triển thành một nền văn hóa quân sự
với các nguyên tắc, nguyên chặt chẽ được thể hiện qua sách vở thực hiện trong các trận
đánh quân xâm lược như: kế sách: Tiên phát - Chế nhân, sách Binh Thư yếu lược. Trong 3
lần đụng độ với giặc Nguyên Mông, Trung Quốc, Trần Quốc Tuấn đã đề ra kế sách Rút lui
chiến lược trong cả 3 lần để bảo toàn lực lượng, làm hao tổn ý chí, sức mạnh của kẻ địch
- Văn hóa quân sự thời đại này tưởng quân sự của người phương Nam chống lại người
phương Bắc, của dân nông nghiệp chiến đấu với người du mục, của chính nghĩa đấu tranh
với phi nghĩa, của ít địch nhiều, của yếu chống mạnh
*Tinh thần yêu nước:
Tinh thần yêu nước thiết tha đặc điểm nổi bật của thời đại Trần, tinh thần yêu nước ấy
luôn luôn được thể hiện qua các tác phẩm văn học, sử học, trong mỗi bài thơ, bài hịch, bài
chiếu của các nhà sư, nho sĩ, tướng quân hoặc vua chúa
4.3 Đánh giá chung:
- Ở thời đại Lý - Trần, đạo Phật phát triển rõ nét. Rất nhiều ngôi chùa được xây dựng vẫn giữ
nguyên giá trị văn hóa đến thời điểm hiện tại. Một số ngôi chùa được xây dựng thành khu du
lịch văn hóa tâm linh, giúp quảng nền văn hóa nét đẹp của Việt Nam với bạn quốc
tế, là niềm tự hào của người Việt Nam
- Tín ngưỡng sùng bái đạo Phật cũng một nét đẹp văn hóa. Đi chùa vào dịp lễ Tết một
tục lệ không thể thiếu của nhân dân
- Văn hóa giáo dục thời - Trần những bước phát triển vượt bậc, tiền đề, nền móng
cho nền giáo dục nước ta hiện nay
=> Những giá trị văn hóa vật chất tinh thần của thời đại - Trần tài sản quý báu của
dân tộc. Do đó thế hệ trẻ phải không ngừng tìm hiểu văn hóa nước nhà, giữ gìn phát triển
văn hóa ngày càng phong phú, giàu đẹp.
5. Trình bày đặc điểm hệ thống tín ngưỡng Việt Nam.
5.1 Khái niệm tín ngưỡng:
- Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh vật thiêng, một số các
loại cây hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc suy tôn, gán cho những
phẩm chất siêu phàm.
- tín ngưỡng xh sớm hơn tôn giáo, gắn với sự ra đời của xh loài người. bắt đầu bằng những lễ nghi truyền
thống gắn vs ptsx như cầu mưa, cầu gió-> niềm tin của con người gửi gắm vào sức mạnh tự nhiên.-> tin
vạn vật hữu linh. Niềm tin này xphat khi con ng biết đạt vị trí của mình trong mqh thiên-địa-nhân.
+ Tín ngưỡng la niềm tin tự phát, gắn liền với buổi đầu bình minh của lsu loài người, kh xác định thời
điểm ra đời,
+ kh giáo lý, quy định tổ chức chặt chẽ (vì niềm tin thì khác nhau, cách biểu hiện cx khác nhau -> cấu
tchuc kh chặt chẽ)
+ kh có hệ thống kinh sách cụ thể
+ đc sáng tạo bởi tầng lớp bình dân
+ nơi hành lễ tùy tiện: miếu, am, điếm,…
+ gắn với bản sắc dân tộc- sức sống biểu hiện ẩn tàng, tinh tế, khó nắm bắt -> có sự trùi sụp theo time.
+ xh vs mọi thứ xung quanh, ở từng vùng miền khác nhau sẽ có những tín ngưỡng khác nhau (vd
- Tín ngưỡng xâm nhập vào thiết chế tổ chức nhà nước, là hệ tư tưởng chính trị, nhịp cầu giao
lưu tiếp biến, môi trường đào tạo hiền tài, con đường giải phóng sức sáng tạo để thức
đẩy nghệ thuật phát triển. Tín ngưỡng làm phong phú đời sống tâm hồn của mỗi người
cộng đồng xã hội bằng những sinh hoạt tinh thần đặc trưng. Tín ngưỡng vừasản phẩm vừa
là biểu hiện của văn hóa.
- Không phải tín ngưỡng nào cũng giống nhau. Phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt, thói quen
hay quan niệm từng vùng miền sẽ ảnh hưởng tới tín ngưỡng vùng đó.
Ví dụ, những người nông dân Bắc Bộ xưa tin thờ Thành Hoàng Làng. Hay vùng Sóc Sơn thờ
Thánh Gióng như một vị anh hùng, ông tổ nghề…
5.2 Đặc điểm của tín ngưỡng:
Trong đời sống văn hóa Việt Nam, hệ thống tín ngưỡng về bản bao gồm: tín ngưỡng thờ
các thần tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của
văn hóa Việt Nam đều mang đặc trưng của văn hóa nông nghiệp, đó là:
- Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
- Hài hòa âm dương: thể hiện các đối tượng thờ cúng: Trời - Đất; Tiên - Rồng. ông đồng -
bà đồng
- Đề cao phụ nữ: thể hiện ở nhiều nữ thần như Mẫu Tam phủ (Bà Trời - Đất - Nước), Mẫu Tứ
phủ (Bà Mây - Mưa - Sấm - Chớp)
- Giao thoa, tiếp biến với các tôn giáo ngoại lai: hệ quả tôn giáo đa thần chứ không phải
độc thần như trong nhiều tôn giáo khác
5.3 Các nhóm tín ngưỡng:
a) Tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên:A
- Từ xa xưa, người Việt cổ đã thờ thần mặt trời - vị thần làm ra ánh sáng, hơi ấm, làm ra mưa
thuận gió hòa, phù trợ cho cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước
- Ngoài thờ cây, người Việt cũng thờ một số loài động vật. Tiêu biểu nhất tín ngưỡng thờ
Rồng. Hình ảnh con rồng hình ảnh biểu trưng, ước lệ được cấu thành từ 3 con vật thật
trong đời sống tự nhiên: rắn nước, cá sống và loài chim sống ở vùng sông nước
Ngoài ra, nhân dân miền duyên hải thờ Ông (cá voi cứu người bị nạn trên biển), đồng bào
Nam Bộ thờ Ông cả Cọp (con hổ)...
=> Đó bởi gắn với môi trường tự nhiên của vùng sông nước mênh mang, con người
muốn tìm một điểm tựa tâm linh để củng cố niềm tin và sức mạnh cho chính mình.
b) Tín ngưỡng phồn thực:A
- Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực được thể hiện bằng hai hình thức: thờ các hình ảnh sinh
thực khí tôn vinh hành vi tính giao.hóa thân vào trong các trò chơi, trong tập tục, điêu
khắc, văn chương…
- Khi đi vào văn hóa Chăm Pa, tín ngưỡng được thể hiện bằng hai hình tượng điêu khắc
Linga và Yoni - biểu trương cho đấng sáng tạo, sinh sôi, nảy nở
=> Thể hiện ước nguyện chính đáng phác thực của những dân nông nghiệp cổ cầu cho
mùa màng bội thu, con người vật nuôi sinh sôi nảy nở, khỏe mạnh; tự mang tinh thần
nhân văn sâu sắc, niềm lạc quan của con người
c) Tín ngưỡng thờ Mẫu:A
- Trong văn hóa Việt Nam truyền thống, tín ngưỡng thờ Mẫu không đồng nhất với tín ngưỡng
thờ thần nữ. Tục thờ thần nữ đá có mặt ở Việt Nam từ xa xưa với nhiều hình ảnh thuộc Nhiên
thần và Nhân thần.
dụ: thờ Mẹ Âu - một hình tượng người Mẹ sinh ra con Rồng cháu Tiên, thờ Dâu,
Tướng, Đậu, Giản - vốn những Nhiên thần phù trợ cho cuộc sống của dân
nông nghiệp. Còn Nhân thần bao gồm những vị nữ thần trong huyền thoại trong lịch sử
như: mẹ Âu Cơ, mẹ Gióng, Hai Bà Trưng…
- Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ đó. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ một thứ tín ngưỡng phổ
quát rộng hơn là thờ thần nữ, thờ tính Nữmức độ cao nhấttính Mẫu - mẹ. tính mẫu thể
hiện sự sinh sôi, chở che, nuôi dưỡng, lưu giữ. lòng bai dung, nhân từ, hiền hòa. -> kết
tinh cao của sự đề cao ng phụ nữ trong vh việt nam. dụ như đặt tên đất, tên làng, tên núi,
tên sông hễ tên người Nam phải tên người Nữ (Ông Đốc, Ông Trang, Đen,
Điểm…phật giáo ấn độ phật ông về vn quan âm thánh mẫu, phật nghìn mắt nghìn
tay; 4 bà tứ pháp, “con dại cái mang”)
- ngày nay thờ mẫu vẫn còn duy trìphát triểnvn. Việc hầu bóng cx dc nghiên cứu rất kỹ
lưỡng tránh mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh. ở vn bao giờ cx dành cho phụ nữ 1 tình cảm
đặc biệt, lòng biết ơn, niềm kính trọng. đâu nữ đó bớt bạo lực, nhẹ nhàng hơn…đạo
mẫu là tín ngưỡng có vẻ đẹp cao nhất của vh vn
d) Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:A
- sở xuất phát của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ niềm tin về sự bất tử của linh
hồn: tin rằng con người phần hồn phần xác, khi chết đi con người chỉ chết về thể xác,
còn phần hồn thì sống mãi. Ông nơi chín suối nhưng vẫn thường xuyên về phù hộ độ trì
cho con cháu. sở hội rất quan trọng đối với người Việt đó đạo “uống nước nhớ
nguồn”, lòng tri ân của con cháu đối với ông tổ tiên đã tạo dựng hình hài vóc dáng,
ban tặng cho con người sự sống.
- Bàn thờ tổ tiên trong gian đình người Việt thường được thắp hương, cúng lễ vào dịp giỗ kỵ
vào ngày Tết. Thái độ thành kính của con người cho thấy thờ cúng tổ tiên không chỉ xuất
phát từ niềm tin vào sự bất tử của linh hồn, cốt lõi nằm chính đạo “uống nước nhớ
nguồn” của người Việt, biểu hiện tri ân đối với ông bà, cha mẹ.
- “đất thổ công, sông bá” -> thờ thần thổ công cùng thờ cúng tổ tiên. thổ công
ssinhj đoạt phúc họa trong gdinh.
+ tổ tiên ở giữa, bàn thờ thổ công ở bên trái(hướng đông hướng mặt trời). thổ thần địa vị kém
với nhưng có quyền lực hơn nhân thần đc gọi là “đệ nhất gia chi chủ”
+ bàn thờ luôn hương nước (âm dương), lễ tết đc trưng ngũ quả (nhân quả, nhân sinh),
mâm cúng cb rất công phu-> thành kính.
- 3 cấp độ: gia đình(tổ tiên gđ), dòng họ (tổ tiên cả dòng họ), nhà nước (vua hùng)
+ giỗ tổ hùng vương (dù ai đi ngược,…) đã thể hiện chiều sâu gt vh cộng đồng của con ng
VN. Thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với vua hùng dựng nc giữ nc -> sự kết nối gđ, gia tộc
dân tộc.
dụ, Giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành ngày giỗ trọng đại của cả dân tộc. phương trời
nào, người Việt Nam đều nhớ đến ngày giỗ Tổ. Đền Hùng trở thành nơi tưởng nhớ, tôn vinh
công lao vua Hùng
=> Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên tín ngưỡng thiêng liêng, thể hiện tính nhân bản của người
Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn của người sống với người đã khuất.
e) Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng Làng:A
- Nơi thờ thần Thành Hoàng Làng đình làng, vốn nguồn gốc từ đình dịch, đình trạm,
đình quán, về sau được linh thiêng hóa, trở thành nơi vị thần quyết định phúc họa cho cả làng
- Thần Thành Hoàng Làng vốn không phải Nhiên thần Nhân thần, nguồn gốc gần
gũi với đời sống con người, những người công lập làng, ông tổ nghề đã đem đến sức
sống cho làng.
=> Điều này cho thấy lòng tri ân của dân làng đối với những người đã mở làng, truyền nghề
cho dân làng.
5.3. đặc trưng of tín ngưỡng VN
- tôn trọng, găn bó mật thiết con người với tự nhiên, đề cao tính nữ
- phản ánh đậm nét nguyên lý âm dương (tn phồn thực)-> khát vọng sinh sôi,, pt -> trường tồn của dân tộc
- tính cộng đồng, tổng hợp, dân chủ. (mqh 2 chiều của con ng và thần linh..)
5.4. liên hệ thực tiễn và vai trò sinh viên
6. Trình bày ý nghĩa văn hoá của lễ hội truyền thống Việt Nam.
6.1. khái niệm và đặc điểm lhtt.
Căn nguyên: Kh ai dám chắc lễ hội vn từ bảo giờ nma dựa vào cứ liệu lsu cta thể thấy lh xh từ thời đông
sơn, do thời đs cta cấy lúa 1 vụ và thu hoạch vào mùa thu nên thời đs có những lễ hội diễn ra từ mùa thu. lhtt
vn gắn bó chặt chẽ vs lối sống của cư dân nghiep lúa nc do dd mtruong tự nhiên của vn phù hợp vưới pt ngln
cho nên có nhiều loại hình lễ hội đều có ng gốc haowcj căn nguyên hoặc liên hệ chatej chẽ vs đk sx nnln
- khái niệm lễ hội truyền thống vn: hình thức sinh hoạt vh của con ng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh,
nhu cầu thể hiện, khẳng định mình và ước vọng về 1 cs tốt đẹp cho cá nhân, gia đình, cộng đồng.
- cấu trúc của lễ hội: lễ + hội
+ lễ: thực hiện hệ thống nghi lễ nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh (biểu hiện ngưỡng mô, biết ơn với nvat đc
phụng thờ, cầu xin ước 1 cs no đủ…); các nghi thức trong phần lễ tính hệ thống, sắp xếp theo trật tự
mối liên kết chặt chẽ với nhau (các nghi thức banrL lễ rước nước, lễ mộc dục, lễ gia quan, lễ rước, đại
tế, lễ rèm…)
+ hội: là hdong vhoa mang ý nghĩa thực tiễn nhằm biểu hiên lòng thành kính viwus biểu tượng dc tôn thờ,
đáp ứng nhu cầu giải trí, sinh hoạt vh cộng đồng. các thành tố của phần hội : trò diễn, trò chơi, văn nghệ, thi
tài ẩm thực…
- đặc điểm lễ hội: lh là sinh hoạt vh gắn với 1 cộng đồng dân cư nhất định (mang sắc thái riêng của mỗi công
đồng dân tộc, diễn ra trong không gian cộng đồng: làng, vùng miền, nước…)
- các loại hình lễ hội: (Do đk tự nhiên, trí thức chưa pt cha ông chưa thể giải những hiện tượng
thờ hóa chúng)
+ lễ hội nghề nghiệp: lh nông ng, lễ hội nghề khác
+ lễ hội kỷ niệm các anh hùng dân tộc: các ahung dtoc trong sự ng dựng nc giữ nc, thể hiện niềm biết
ơn…
+ lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo: thờ thần, thờ mẫu.. hội chùa, thờ phật..
6.2. ý nghĩa lễ hội ttvn: 5 ý nghĩa
6.2.1. lh chứa đựng nhiều gtri lịch sử, tích tụ số lớp vh: ls hình hành lễ hội thể gắn vs sự hình thành
lãng hoặc gắn vs 1 nv lsu cụ thể, gắn vs cộng đồng làng, dân nên nhìn lh thể tháy đc ls làng xã,
nhìn ra lh vùng miền cx thế nhìn rộng ra thấy đc ls dân tộc. lớp vh: lễ hội 1 bức tranh tổng hợp tích tụ
những lớp lang vh từ đời này sangd dời khác cả vh vc lẫn vhtt (phân tích các sản vật dâng cúng trong lễ) đặc
trưng vh trang phục khi có sự khác biệt của ng làm lễ vs ng đi xem hội…
6.2.2. lh thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, và sinh hoạt vh cộng đồng: ở lh mng đc tham gia phần lễ thiêng liêng,
đc làm các hđọng thờ cúng, thể hiện niềm tin của mk,….
6.2.3, ý nghĩa cộng đồng, cộng cảm sâu sắc: tất cả mng trong làng đều đc tham gia lễ hội gắn vs các của
như cb cho lễ hội tg, dc thoả thuê đắm mk vào phần lễ vui chơi hết mk phần hội. all đều tập hợp
và hướng vọng về phía nvat thờ và tích cực tham gia các trò chơi của lễ hội… Chính tôn giáo tín ngưỡng, các
nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó “cuộc đời thứ hai”,
đó trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu. Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về cội
nguồn. Hơn thế hướng về cội nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ
nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Thực hiện các nghi thức trong lễ hội, con người biểu hiện lòng biết ơn
với trời đất, thần linh, các anh hùng dân tộc đã công giúp họ trong cuộc sống trong sự nghiệp dựng
nước, giữ nước.
6.2.4. mang ý nghĩa dân chủ, nhân bản và gt thẩm mỹ cao: trong bối cảnh làng xã xưa có sự phân bt giữa dân
chính (ở làng 3 đời trở nên) với dân ngụ cư(nơi khác -> kh gốc gác) kh đc trong làng phải rìa
lãng kh đc hưởng các quyền lợi ở làng như kh đc cấp đất chia ruộng,… nhưng rieng ở lễ hội thì kh phân biệt
mà all mng đều đc tgia từ phần cb lễ hội đến khi lh diễn ra.
Gt thẩm mĩ thể hiện trong cả vc và tt như lễ vật lúc nào cx đẹp nhất để dâng lên, hay quần áo của những ng đi
lễ hội cx đẹp nhất,…
6.2.5. góp phần vào vc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc vh dân tộc. lh mang đậm nét đẹp vh người vn, và
những lễ hội cho đến bh vx giữ. Nhưng nét đẹp đó. Nhìn vào lễ hội là thấy đc bản sắc vh vn sâu sắc…
6.3. liên hệ làm gì và cần làm ntn để phát huy ý nghĩa lễ hội hiện nay. Đối với văn hóa Việt Nam, lễ hội càng
giá trị đặc biệt. không chỉ môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ sáng tạo hưởng thụ giá trị
văn hóa, nó không chỉ là bảo tàng lịch sử văn hóa dân tộc mà còn là sức mạnh của văn hóa nội sinh để chống
lại sự đồng hóa về phương diện văn hóa, để bảo vệ bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.
7. Trình bày những đặc trưng văn hoá trang phục của Việt Nam.
7.1 Khái niệm trang phục, văn hóa trang phục:
- Khái niệm trang phục: Trang phục là khái niệm chỉ các loại đồ mặc như quần áo, đồ đội như
khăn nón, đồ đi như giày dép guốc, những trang phục như khăn quàng thắt lưng cùng các
đồ trang sức. Chức năng chủ yếu của trang phục là nhằm bảo vệ thân thể con người và để làm
đẹp cho con người.
- Khái niệm văn hóa trang phục: Văn hóa trang phục văn hóa mặc, sự tổng hợp những
cách mặc, sử dụng phụ kiện… Thông qua đó con người thể gửi gắm những quan niệm về
thẩm mĩ, nhân sinh, vũ trụ; thể hiện phong cách riêng của một cộng đồng dân tộc.
7.2. Phân loại và vai trò của văn hóa trang phục:
*Phân loại:A
- Theo chủng loại chức năng chia thành trang phục mặc thường ngày, lễ hội, thể thao,
đồng phục, bảo hộ lao động, biểu diễn nghệ thuật…
- Theo mục đích: ban đầu con người dùng cây, vỏ cây, da thú…. thô để che thân nhưng
sau này con người đã biết sử dụng trang phục với chất liệu quý hiếm làm đẹp cho bản thân
- Theo giới tính: trang phục phụ nữ thường mềm mại diêm dúa hơn trang phục đàn ông; theo
lứa tuổi: trang phục trẻ em thường giản dị, gọn gàng, nhiều màu sắc, phù hợp với tính cách
hiếu động của trẻ em
*Vai trò của văn hóa trang phục:A
- Nói đến văn hóa trang phục là nói đến văn hóa mặc của con người. Nhưng con người không
chỉ biết mặc cho ấm còn biết cách mặc cho đẹp, nên vấn đề mặc chính vấn đề của văn
hóa. Đằng sau trang phục là thị hiếu thẩm mỹ, là quan niệm sống, là sự thể hiện trình độ nhận
thức trong văn hóa ứng xử
- Cái mặc cái bên ngoài nhưng đôi khi lại hình thức phản ánh nội dung bởi tạo ấn
tượng sâu sắc ngay trong lần đầu tiên gặp mặt. Đôi khi thành bại của công việc phụ thuộc vào
chính ấn tượng ban đầu này cho nên sự chỉn chu, lịch sự trong ăn mặc thước đo nhận thức
văn hóa con người
7.3 Đặc trưng văn hóa trang phục Việt Nam:
- Tính nông nghiệp truyền thống:Avhtpvn chịu ảnh hưởng của mttn nhiều cụ thể chất liệu, kiểu dáng
và màu sắc
+ Về chất liệu, trang phục của người Việt chủ yếu được chế tác từ các loại cây cối như tơ cây
chuối, cây gai, bông, nuôi tằm lấy kén dệt vải. Về màu sắc, người Việt thường dùng màu nâu
hoặc đen, màu gần với màu bùn đất, phù hợp với công việc lao động đồng án.
+ Ngay từ buổi đầu lịch sử, người Việt đã biết tận dụng các chất liệu tự nhiên để tạo nên
trang phục cho mình. Các chất liệu ban đầu bao gồm vỏ cây, cây, sợi dây rừng… Sau này,
người ta dùng cây gai, trồng dâu nuôi tằm lấy kén dệt vải.
+ chất liệu: gốc tự nhiên sợi tơ tằm, sợi tơ chuối, bông, đay, lanh, mỏng nhẹ thoáng vì…
+ kiểu dáng: rộng. đồ phụ nữ: yếm, váy. Áo tứ thân dài. Đồ đàn ông: khố, quấn lá tọa
+ màu sắc: nâu đen chàm, sẩm tối, vì…
+ Sau này, họ bắt đầu biết tạo ra màu sắc cho trang phục để làm đẹp cho chính mình. Kỹ
thuật nhuộm màu sắc được tận dụng chế biến từ tự nhiên: màu đen từ tre đốt thành,
màu xanh từ lá cây, nhựa cây hoặc rỉ đồng, màu vàng từ gạch non hoặc cây dành dành…
- Tính linh hoạt:A
+ Theo chủng loại chức năng, trang phục gồm đồ mặt phía trên, đồ mặt phía dưới, đồ
đội đầu, đồ đi chân đồ trang sức. Theo mục đích, trang phục lao động trang phục lễ
hội. Theo giới tính sự phân biệt giữa trang phục nam trang phục nữ. Văn hóa trang
phục cùng linh hoạt, người ta mặc đồ phù hợp với hoàn cảnh, tính chất nghề nghiệp, môi
trường sinh hoạt…
+ Trong trang phục, người Việt Nam đã ứng xử rất linh hoạt để ứng phó với môi trường tự
nhiên, còn luôn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người. sự linh hoạt, tinh tế ấy vẫn
được người Việt giữ gìn và phát triển đến ngày nay.
- Tính thẩm mỹ:A
+ Con người không chỉ biết mặc cho ấm còn biết mặc cho đẹp. Các trang phục được may
theo những tiêu chuẩn quy định, đảm bảo kỹ thuật, tuy nhiên vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ.
dụ áo yếm của phụ nữ đã xuất hiện từ lâu, sau đó được cách tân dần trở thành trang
phục tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ.
+ Văn hóa mặc của người Việt ít nhiều chịu tác động thay đổi khi tiếp xúc với văn hóa
Trung Quốc. Thế nhưng, người Việt đã rất tinh tế và linh hoạt khi tiếp nhận những yếu tố văn
hóa ngoại sinh, làm phong phú độc đáo thêm cho văn hóa trang phục dân tộc không bị
mất đi quan điểm thẩm mỹ mang tính thời đại.
- Thể hiện địa vị xã hội:A
+ Trang phục còn dấu hiệu bên ngoài để nhận thấy vị trí hội của con người, chỉ đẳng
cấp, nguồn gốc xuất thân của người mặc trangphục: “Hơn nhau tấm áo manh quần/ Thả ra
bóc trần, ai cũng như ai.”
+ Người xưa dùng chất liệu, màu sắc để phân biệt tầng lớp hội. dụ, tầng lớp quý tộc
thường mặc trang phục bằng chất liệu cao cấp như: gấm, vóc, đoạn sa… trong khi thường dân
sử dụng chất liệu thô sơ. Về màu sắc: trong quá khứ, màu vàng được sử dụng khá phổ biến,
và chỉ dành cho vua chúa để thể hiện uy quyền
Tuy nhiên, văn hóa trang phục hiện nay không có sự phân biệt giai cấp, thể hiện sự công bằng
trong xã hội.
=> tóm lại tphuc của ng việt thể hiện dấu ấn nôn nghiệp trong chất liệu, sự thích ứng vs mttn, đk sx, thể
hiện cá tính dân tộc…
- vde gìn giữ trang phục tt ng việt trong xu thế hội nhập ngày nay.. (liên hệ thực tiễn, sinh viên,…)
8. Trình bày những đặc điểm của gia đình người Việt truyền thống.
8.1 Khái niệm gia đình:
- Gia đình một thực thể hội, một giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu tồn tại các nhu cầu
tinh thần đặc biệt thiêng liêng của con người.
- thể hiểu gia đình một cộng đồng người được hình thành phát triển trên sở hôn
nhân, huyết thống, pháp quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất sinh
hoạt tinh thần. Điều tiết hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình những quy định
đã trở thành chuẩn mực đạo đức, đó chính là gia quy.
8.2 Khái niệm văn hóa gia đình:
- Văn hóa gia đình một dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng, Văn hóa gia đình gồm tổng
thể những hoạt động sống cùng gia đình, bị chi phối bởi các chuẩn mực hộivà dc các
thành viên trong gdinh chấp nhận, chia sẻ, thực hiện
8.3 Đặc điểm của gia đình người Việt truyền thống:
- Tính chất tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp:A
+ Do nền sản xuất tiểu nông, gia đình người Việt cổ một đơn vị sản xuất nhỏ. Kinh tế tiểu
nông nền kinh tế tự cấp tự túc, bên cạnh nghề nông đóng vai trò chủ đạo các nghề thủ
công phục vụ cho sản xuất nhu cầu sinh hoạt gia đình. sự phân chia vai trò lao động
trong (vd chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa) ngoài ra những lúc nông nhàn ng việt làm
nghề thủ công và buôn bán nhỏ (vợ làm là chủ yếu) 5 canh… nuôi đủ 5 con với 1 chồng”
Trong hội cổ truyền đã sự khẳng định lao động chính sự phân công lao động trong
gia đình: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
+ Trong hoạt động kinh tế của hội truyền thống, cùng với sản xuất nông nghiệp một số
nghề thủ công hoạt buôn bán nhỏ. Hoạt động này được chia đều cho cả nam nữ: “Đàn
không biết dệt là đàn bà nhác/ Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư”.
+ Còn hoạt động thương nghiệp cũng chỉ dừng lại ở mức độ bán một số nông sản và mua sắm
những vật dụng thiết yếu nhằm đảm bảo nhu cầu sinh hoạt gia đình.
- Gắn bó với dòng họ:A
+ Gia đình người Việt trong hội cổ truyền mối quan hệ mật thiết với dòng họ. Đối với
người Việt, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Con chú con bác chẳng khác nhau”. Sự
liên minh dòng họ không chỉ theo đuổi mục đích kinh tế sự liên kết khẳng định sức
mạnh dòng họ và thực hiện chức năng thờ cúng Tổ tiên - giá trị tâm linh mà mỗi gia đình, gia
tộc tôn thờ.
+ gđ ng việt tiến hành các hđ tâm linh đc biểu hiện cụ thểtín ngưỡng thoqf cúng tổ tiên, thờ thổ công => ý
nghĩa + thờ thổ công (bên trái hướng đông, thờ riêng, gắn vs hướng mt mọc, đón nhận những sinh khí
trong lành cho 1 khởi đàu mới, mang đến ự sinh sôi nảy nở,… thể hiện sự mong muốn đón nhận những gì tốt
đẹp cho gđ) thổ công tuy địa vị kém hơn nhân thần nhưng quyên lực lớn hơn la fng trông coi canh
giữ cho phần đất âm của gia cũ để xua đuổi những ma giữ gây tai họa cho gia chủ. Tên cúng cơm thường xổ
thiếu 1 nét khi nào về phải nói đúng tên.
+ Gia đình quan trọng giáo dục con cái theo những thang bậc chuẩn mực giá trị văn hóa
gia đình, giáo dục tri thức và nhân cách để mỗi thành viên sẽ làm rạng danh gia tộc, cho cộng
đồng dân tộc. Gia lễ không chỉ là nếp nhà mà còn là chuẩn mực văn hóa, ảnh hưởng tới tương
quan xóm làng, tạo lập phép đối nhân xử thế của mỗi người trong đời sống cộng đồng. Từ đó
mới thấy mối quan hệ giữa gia đình và gia tộc là rất chặt chẽ, mở rộng ra là mối quan hệ giữa
gia đình và dân tộc thông qua tộc, xóm làng.
+ thực hiện các giáo dục hình thành nhân cách cho con người (thai giáo: khi bắt đầu bầu thì cha
mẹ đã xử hòa nhã hơn, tránh va chạm xung đột, bồi bổ không sát sinh nhờ hàng xóm giết hộ,…trong
time mang bầu thường xuyên hát, kể chuyển, cho con, “cây xanh thì cũng xanh, cha mẹ hiền lành để phức
cho con…”) cha mẹ giáo dục con trong suốt cuộc đơi con người (từ bé đến lớn, khi về nhà vx phải giữ nề nếp
gia phong gia đình,…. Nội dung giáo dục rất đa dạng phong phú (gd về nhập thân vh : gọi bố ông bà cha mẹ,
biết ứng xử “anh em như thể tay chân,…: giáo dục đối nhân xử thế,…dạy đỗ cách làm ăn,;…) vai trò giáo
dục của ng mẹ “con hư tại mẹ cháu hư tại bà.
+ Trong hội truyền thống, hội Việt Nam một hội mang tính chất mẫu hệ. Nhưng
rồi cùng sự vận động của lịch sử, vai trò của người đàn ông ngày càng được khẳng định. Kết
quả gia đình người Việt truyền thống mang tính chất phụ quyền trong đó vai trò của người
đàn ông được quy định do họ nhân tố quan trọng của lực lượng sản xuất vị thế của họ
trong gia đình, đời sống xã hội
+ Người Việt quan niệm “con gái con người ta”, sinh con trai mới nối tiếp được dòng họ
trong xã hội đã chuyển hóa từ mẫu hệ sang phụ quyền
- Đề cao vai trò của phụ nữ: người phụ nữ trong gia đình là người lao động chính, cũng đồng
thời là người mẹ, người vợ và người thầy đảm nhiệm chức năng giáo dục, tâm lý tình cảm
+ Vai trò của người phụ nữ được khẳng định trước hết ở thiên chức làm vợ, làm mẹ trong đời
sống gia đình. vợ, phải chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ, mọi gian truân niềm hạnh phúc
với chồng. Trong đời sống tinh thần, phụ nữ là chỗ dựa tinh thần, động viên khích lệ tinh thần
chồng, bảo vệ sự yên ấm gia đình
Để hoàn thành thiên chức làm mẹ, người phụ nữ phải cố gắng, hy sinh nhiều. Vai trò làm mẹ
của người phụ nữ không chỉ thể hiện công lao sinh thành chín tháng mang nặng đẻ đau
còn thể hiện ở việc nuôi dạy con cái.
+ Người phụ nữ trong gia đình còn thực hiện chức năng giáo dục bởi rất nhiều do. Khi
vắng mặt người chồng, người đàn bà sẽ ở nhà gánh vác hậu phương, nuôi con cái. Người phụ
nữ với khả năng chịu thương chịu khó trở thành người thầy đầu tiên cho con qua những câu
hát ru, huyền thoại, cổ tích… Những đứa trẻ tiếp nhận bài học vỡ lòng, coi người phụ nữ
bảo tàng tri thức kinh nghiệm, hiếu biết
+ Người phụ nữ cầu nối giữa các thành viên trong gia đình giữa gia đình của mình vớ
họ hàng. Người phụ nữ phái rất khéo léo khi giải quyết các tình huống tâm phát sinh trong
quan hệ với bố mẹ chồng, chị chồng, em chồng, hàng xóm,...
+ Xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp lúa nước dẫn đến vai trò bình đẳng của người phụ
nữ trong hoạt động kinh tế “chồng cày vợ cấy”, người phụ nữ cũng chính người quản
kinh tế gia đình, không chỉ “nuôi cái cùng con”, hi sinh cho chồng khi đất nước cần,
người phụ nữ sẵn sàng hi sinh, dâng hiến “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
- loại hình: gia đình hạt nhân phổ biến xh xưa vì xưa khi ở riêng sẽ đc làng cắt đất cho nên phải hưởng cái đó
+ gđ nhỏ
+gđ lớn (kh phổ biến vì dkd vc y tế chưa phát triển nên tuoir thọ của ng việt thường ngắn
8.4 Liên hệ những biến đổi trong gia đình hiện nay:
Dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: phát triển của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu thế toàn cầu hóa, chủ trương,
chính sách của Đảng về Nhà nước gia đình,... gia đình Việt Nam đã những biến đổi về
quy mô, kết cấu, các chức năng cũng như quan hệ gia đình,...
- Sự biến đổi về quy gia đình: quy gia đình ngày càng giảm. Do nhiều tác động trong
đó phải kể đến vai trò của Nhà nước trong cuộc vận động sinh đẻ kế hoạch nhưng năm
1980, 1990. Gia đình hạt nhân, gia đình 2 thế hệ ngày càng phổ biến trong hội Việt Nam
ngày nay.
- Biến đổi các chức năng của gia đình:
+ Trong hội truyền thống, nhu cầu về con gái thể hiện ở việc càng đông con càng tốt, phải
con trai. Hiện nay, nhu cầu đông con trong các gia đình đã giảm, một số gia đình cũng
không còn coi trọng việc nhất thiết phải có con trai
+ Gia đình truyền thống chủ yếu giáo dục đạo đức, nhân cách cho con cái thì gia đình hiện
nay còn chú trọng giáo dục kỹ năng, chuyên môn, đầu tư học hành cho con cái
- Quan hệ giữa vợ và chồng: trong gia đình truyền thống luôn tồn tại sự bất bình đẳng giữa vợ
và chồng. Trong gia đình Việt Nam hiện nay, sự bình đẳng giữa vợ và chồng đã dần được thể
hiện
- Quan hệ giữa cha mẹ con cái: trong gia đình truyền thống, cha mẹ uy quyền tuyệt đối
với con cái, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Tuy nhiên, trong gia đình hiện nay, mối quan hệ
giữa cha mẹ và con cái đã dân chủ hơn, con cái được lựa chọn, bày tỏ ý kiến cá nhân…
9. Trình bày những đặc điểm của lễ Tết Việt Nam.
9.1 Khái quát hệ thống lễ Tết Việt Nam:
a) Khái niệm và cơ sở hình thành:A
- Quan niệm về lễ Tết của người Việt:
+ Tết là biến âm của từ “tiết” (thời tiết, mùa tiết)
+ Lễ Tết việc tổ chức những nghi lễ theo một khuôn mẫu nhất định, vào các thời điểm của
tự nhiên theo các chu kỳ: xuân, hạ, thu, đông
+ Lễ Tết của người Việt chủ yếu tính theo lịch âm
- Cơ sở hình thành:
- Nhu cầu tâm linh:A
+ Tết đọc chệch của thời tiết ra. mùa vụ thì phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên
người nông dân gửi gắm vào lễ Tết lòng tôn kính tri ân các vị thần linh liên quan đến
mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Mặt trời, thần Nước… Lòng tôn kính ấy biểu hiện
qua phần Lễ thiêng liêng với những thức dâng xuất phát từ tấm lòng thành kính.
- Đặc trưng của nghề nông nghiệp lúa nước:
+ Các pho truyền thuyết bằng chứng lịch sử chỉ rõ, nhà nước Văn Lang với Kinh Dương
Vương - Lạc Long Quân - Âu được suy tôn thủy tổ của người Việt, lập nên triều đại
của vua Hùng. Ngay từ thời hồng hoang lịch sử ấy, hoàng từ Lang Liêu đã dùng gạo nếp kết
tinh từ đất trời làm bánh chưng dân lên vua cha. Kể từ đó, triết trời tròn đất vuông hệ
vòng quay bốn mùa xuân hạ thu đông, hương thơm lúa nếp tành tinh hoa văn hóa của nền văn
minh lúa nước.
- Nhu cầu giải trí:A
+ Tết cuộc hành hương về với cội nguồn, về với nơi chôn rau cắt rốn, về với gia đình, với
cộng đồng dân tộc dân tộc. Tết ngày đoàn tụ xóa đi khoảng cách không gian thời
gian, hóa giải hờn dỗi để kết nối tình thân.
+ Những ngày Tết luôn tràn ngập niềm vui, hân hoan trong khát vọng sum vầy. Người Việt
tin Tết vui vẻ thì cả năm sẽ tốt đẹp.
=> lễ tết là sinh hoạt vh cổ truyền của cộng đồng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, nhu cầu
ẩm thực và các nhu cầu khác của con người.
- cấu trúc lễ tết:
+ lễ: thực hiện các nghi lễ (chủ yếu trong gia đình) nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh (thờ
cúng tổ tiên, ông bà
+ tết: ăn tết và các sinh hoạt khác
- hệ thống lễ tết of ng việt:
1 ăm có nhị thập tứ tiết khí (24 tết): tết nguyên đán, tết khai hạ, tết thượng nguyên (rằm tháng
giêng), tết hàn thực, tết thanh minh, tết đoan ngọ, tết trung thu, tết trùng cửu, tết trùng thập,
tết táo quân,…
b) Giới thiệu, phân tích một số lễ Tết tiêu biểu:A
- Trong văn hóa Việt Nam, chúng ta có đến 12 cái Tết trong năm. Trong 12 cái Tết đó thì Tết
Nguyên đán là lễ Tết quan trọng nhất. Nó diễn ra vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu
một năm mới theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
+ Tết Nguyên Đán được bắt đầu từ Tết Táo quân vào 23 tháng Chạp với rất nhiều lễ nghi
mang nhiều ý nghĩa, và Tết chỉ thực sự kết thúc bằng Tết Khai Hạ vào mùng 7 tháng Giêng
+ Tết Nguyên Đán ý nghĩa cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn của cuộc sống, biểu
hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Tết Nguyên Đán đánh dấu thời khắc
chuyển giao đất trời, ẩn chứa những ý nghĩa thiêng liêng trong tâm linh mỗi người Việt.
9.2 Đặc điểm của lễ Tết Việt Nam:
- từ “ăn” trong ăn tết: phải ăn thì mơi tồn tại ptrien, thể hiện mong muốn no đủ, ăn ông
bà tổ tiên ăn trc -> mk ăn sau-> lòng biết ơn. Ăn lộc, ăn sum vầy, đoàn tụ gđinh.
- Cấu trúc: lễ và tết, gắn liền với thời tiết, thời vụA
+ Con người Việt Nam vốn thuận theo sự vận hành vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt
các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nên lễ Tết Nguyên Đán có ý nghĩa đặc biệt, đặc biệt đối với
hội mà nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính.
+ Mùa vụ phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời Tiết nên người nông dân gửi gắm vào Lễ Tết sự
tôn kính với các thần liên quan đến mùa màng. Lòng tôn kính ấy được biểu hiện qua phần
Lễ trang trọng và linh thiêng với những thức dân xuất phát từ lòng thành.
- Mang dấu ấn và bản sắc riêng, thể hiện tính cộng đồng, cộng cảmA
+ Lễ Tết thể hiện mối cộng cảm sâu sắc của mỗi người với gia tộc xóm làng trong tính
cộng đồng, hàm chứa niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh về những điều tốt
đẹp mà con người khao khát hướng tới.
+ Tết cuộc hành hương hướng về cộng đồng gia tộc dân tộc. Tết dịp đoàn tụ, xỏa bỏ
đi khoảng cách thời gian không gian, xóa bỏ thù hận, hóa giải giận hời để lối sống duy tình
trở thành đạo lý dân tộc.
+ Trong những ngày Tết, con người luôn vui vẻ với truy cầu cả năm sẽ tốt đẹp. Niềm tin này
khiến Lễ Tết trở thành Tết của niềm lạc quan, hy vọng. Đó phẩm chất tốt đẹp của dân tộc
Lạc Việt, là sức mạnh nội sinh giúp văn hóa Việt Nam trường tồn phát triển.
9.3. liên hệ với lễ tết hiện nay và vai trò gìn giữ giới trẻ.

Preview text:

NGÂN HÀNG ĐỀ THI
Môn: Cơ sở Văn hóa I. 10 CÂU TÁI HIỆN
1. Trình bày khái niệm văn hóa. Phân biệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật
1.1 Khái niệm văn hóa:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
- Theo GS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là 1 hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội”.
Khái niệm này đã nêu ra 4 đặc
trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
- Với Từ Chi, ông cho rằng: “Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều là văn hóa”, tức
nhấn mạnh vai trò của con người đối với việc sáng tạo văn hóa.
- Còn theo chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặt ăn ở và các phương thực sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa”. Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đẩy đủ hơn. Suy cho
cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi lặp lại, trở thành
thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được
tích lũy, lưu truyền từ đời này sang đời khác, thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của
mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.
- Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con
người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là do con người sáng tạo và vì lợi ích của con
người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống của con người và
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Theo những quan điểm quốc tế, UNESCO đã nêu lên 3 đặc điểm cơ bản của văn hóa:
+ Văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần
+ Văn hóa tạo ra sự khác biệt
+ Văn hóa là động lực cho sự phát triển
Như vậy, văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy
trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn, được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong
đời sống xã hội, được gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ sau theo quy luật kế thừa và giao lưu tiếp biến.
VD: Tục nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, trang phục truyền thống,...
- Văn hóa là một phạm trù lịch sử, biến đổi theo thời gian và không gian, mang dấu ấn của
thời đại, quốc gia, dân tộc.
Từ đây, có thể rút ra một số đặc trưng tiêu biểu của văn hóa: Tính hệ thống:
+ Gồm nhiều sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau
+ Tạo nên các đặc trưng, quy luật hình thành và phát triển
=> Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa bao trùm mọi hoạt động xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Tính giá trị:
+ Văn hóa theo nghĩa đen là trở thành đẹp, có giá trị
+ Tính giá trị nằm ở phân biệt với phi giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
+ Các giá trị có những tiêu chí phân biệt khác nhau: theo mục đích: có giá trị vật chất (phục
vụ mục đích vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ mục đích tinh thần); theo ý nghĩa: có giá
trị sử dụng và giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ Tính nhân sinh:
+ Phân biệt văn hóa là một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo nên với các giá trị tự nhiên
+ Văn hóa chính là cái tự nhiên bị biến đổi bời con người Tính lịch sử:
+ Mang dấu ấn của quốc gia dân tộc chính là bản sắc văn hóa - cái chung nhất của một nền
văn hóa để nhận diện một nền văn hóa và phân biệt giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác
1.2 Phân biệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật: a) Văn minh:
- Văn minh là trình độ đạt được trong sự phát triển văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của
xã hội loài người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Văn minh chỉ trình độ văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho 1 khu vực rộng lớn, 1
thời đại hoặc cả nhân loại. Văn minh có thể so sánh cao thấp, văn hóa chỉ là sự khác biệt.
Văn minh (civilization) gốc La tinh là “civitas” nghĩa là đô thị, hàm ý một giai đoạn con
người thoát khỏi tình trạng cư trú tự nhiên sang cư trú có quy hoạch, mang nhiều yếu tố nhân tạo
- Do vậy, khái niệm văn minh chỉ khía cạnh vật chất, kỹ thuật. Văn minh là những thành tựu
đã đạt được khi văn hóa phát triển đến một mức độ nhất định của một không gian xã hội nhất định
VD: Văn minh Ai Cập cổ đại, văn minh Địa Trung Hải, văn minh châu Âu,...
- Văn hóa xuất hiện trước văn minh. Ví dụ trước khi xuất hiện văn minh Văn Lang - Âu Lạc,
Việt Nam đã xuất hiện một số nền văn hóa như: văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn. Văn
minh chỉ trình độ phát triển, có tính quốc tế và gắn bó nhiều với phương tây đô thị. b) Văn hiến:
- Văn = vẻ đẹp, hiến = hiền tài. Văn hiến thiên về các giá trị tinh thần do hiền tài sáng tạo ra,
có bề dày lịch sử, tính dân tộc và gắn bó nhiều hơn với phương đông nông nghiệp
VD: chữ viết, thơ văn, phong tục tập quán c) Văn vật:
- Văn vật chỉ những vật thể ở những di tích lịch sử, công trình có giá trị nghệ thuật có thể
nhìn thấy. Văn vật chủ yếu chỉ những giá trị vật chất.
VD: Phở Hà Nội, Gốm Bát Tràng, Cốm Làng Vòng
Văn hiến, văn vật chỉ là 1 bộ phận của văn hóa
Xét trong mối quan hệ với nhau, có thể thấy:
- Về đối tượng, văn hóa bao gồm tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần, văn vật thiên về yếu
tố vật chất trong khi văn hiến tập trung các yếu tố tinh thần, văn minh lại thiên về các yếu tố vật chất kỹ thuật
- Trong khi văn hóa, văn hiến, văn vật có tính lịch sử, tính dân tộc thì văn minh có tính quốc
tế và chỉ sự phát triển theo giai đoạn.
- Văn minh thường gắn với xã hội phương tây còn văn hóa, văn hiến, văn vật lại thân thuộc
hơn với xã hội phương Đông.
2. Trình bày đặc trưng và vị trí của nền văn hoá Đông Sơn trong tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam. 2.1 Khái quát chung:
- Đông Sơn là một địa danh nổi tiếng thuộc tỉnh Thanh Hóa. Năm 1924, ông Nguyễn Văn
Lắm, một dân chài trên sông Mã đã tình cờ phát hiện một số hiện vật bằng đồng lộ thiên bên
bờ sông mã. Đến năm 1934, nhà khảo học Hainơ Geldean đã đặt tên cho nhóm hiện vật bằng
đồng thu lượm được ở vùng Đông Sơn (Thanh Hóa) là “Văn hóa Đông Sơn”
- Văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa thuộc thời đại đồng thau và sơ kỳ thời đại đồ sắt ở Việt
Nam, được phát triển liên tục từ khoảng 2000 năm Tr.CN cho đến thế kỉ VII Tr.CN và trải
qua 4 giai đoạn phát triển là: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, và Đông Sơn
- Địa bàn phân bố của văn hóa này không chỉ ở vùng Thanh Hóa, mà trải rộng khắp vùng Bắc
Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam, tập trung nhất ở vùng lưu vực các con sông Hồng, Mã, Chu, Cả
- Các nhà khảo cổ học đã khai quật hàng trăm di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn. Đó là những di
chỉ có tầng văn hóa dày, trong đó có nhiều hiện vật bằng đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ thủy tinh…
2.2 Những đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn:
a) Về phương thức sản xuất:
- Phương thức sản xuất: lúa nước đóng vai trò chủ đạo
+ Sản xuất nông nghiệp đã phát triển đạt tới trình độ cao và có năng suất khá, kĩ thuật canh tác thuần thục
+ Người Việt đã biết “đao canh thủy nậu”, biết sản xuất theo mùa, gieo trồng nhiều loại lúa
và các loại cây rau quả khá đa dạng
+ Cùng với sản xuất nông nghiệp là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà
+ Chăn nuôi có vị trí quan trọng: vật nuôi dùng để kéo, ăn thịt, săn thú
+ Nông cụ đa dạng với cuốc, xẻng, mai, thuồng. Đặc biệt là lưỡi cày đồng phù hợp với các
chủng loại, phù hợp với từng loại đất
- Các nghề phụ như chăn nuôi, đánh cá, làm vườn đã được hình thành ở giai đoạn này để hỗ
trợ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp
- Các nghề thủ công nghiệp cũng đặc biệt phát triển ở thời kỳ này như nghề mộc, nghề làm
đồ gốm, nghề dệt, nghề đan lát mây tre, nghề chế tác làm đồ trang sức…
b) Văn hóa sinh hoạt vật chất:
- Văn hóa ẩm thực: mô hình bữa cơm - rau - cá, trong đó cơm và rau chủ đạo, ăn gạo nếp
nhiều hơn gạo tẻ. Đó là dựa trên nền tảng sản xuất thực vật, sản xuất lúa nước
- Văn hóa trang phục: trang phục quần áo khá phong phú, có nhiều nét riêng độc đáo đạt đến
trình độ thẩm mĩ nhất định. Kiểu tóc: cắt tóc ngắn để xoã ngang vai, búi tóc trên đầu, tết tóc
thả sau lưng. Phụ nữ mặc yếm và váy, nam giới đóng khố. Ngày hội trang phục cầu kỳ, đẹp
hơn: nam và nữ đều mặc áo liền váy có vạt áo toả ra 2 bên dùng trong vũ hội. Quần áo đều
bằng vải, lông vũ hoặc kết hợp với lá cây, đầu đội mũ lông chim hoặc gắn thêm lông chim
cho đẹp.Trang phục của giới quý tộc lớp trên: phụ nữ mặc đủ xống áo, đầu có khăn trùm vắt
thành chóp nhọn, có yếm che ngực và áo xẻ cánh mặc bên ngoài, thắt lưng ngang bụng, liền
đó là chiếc váy chùng che kín gót chân. Nhuộm răng đen và xăm mình là phổ biến ở cả nam
và nữ, đeo vòng tai hạt, chuỗi, nhẫn, vòng chân và phổ biến là vòng tay. Hầu hết đồ trang sức
đều làm bằng đá màu xanh hoặc bằng đồng, ít có đồ vàng, ngọc.
- Văn hóa kiến trúc: người Đông Sơn có thói quen ở nhà sàn để tránh thú dữ, lũ lụt. Mái nhà
có 2 loại: mái cong hình thuyền hoặc mái úp kiểu mai rùa. Chất liệu để làm nhà chủ yếu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá.
- Văn hóa giao thông: phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu là
đường sông, ven biển. Đường bộ dùng voi, trâu để vận chuyển, khi lâm trận dùng voi chiến
đấu. Quãng đường ngắn họ đi lại bằng chân
c) Về văn hóa sinh hoạt tinh thần:
-
Về tư duy và nhận thức: biết phân loại sự vật theo chức năng như công cụ sản xuất (cuốc,
cày…), công cụ sinh hoạt (dao, bình…), công cụ chiến đấu (giáo, mác…)
- Về nhận thức thế giới: có sự nhận thức về thế giới và nhận thức chính mình bằng tư duy
lưỡng phân: đàn ông - đàn bà, núi - biển… vũ trụ theo họ là trời tròn - đất vuông, trời che chở
cho con người, đất nuôi dưỡng con người
- Về tư duy toán học: tư duy đối xứng gương, đối xứng trục. Con người có tri thức về thiên
văn học. Các loại hình trên mặt trống đồng: ngôi sao ở giữa (mặt trời), con người và các loài
vật xoay ngược chiều kim đồng hồ
- Về tri thức kỹ thuật: tri thức về luyện kim, tạo nên các sản phẩm bền đẹp như trống đồng,
kỹ thuật làm khuôn đúc, vẽ hoa văn trang trí trên trống đồng và công cụ đạt đến trình độ tinh xảo
- Về tín ngưỡng, tôn giáo: tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên, tín
ngưỡng phồn thực, sùng bái con người…
- Về phong tục tập quán: nhuộm răng, ăn trầu, phong tục cưới xin, ma chay, phong tục lễ hội.
Đặc biệt lễ hội thờ kỳ này khá phong phú như hội mùa, hội cầu, hội nước… Các phong tục
thể hiện sắc thái sinh hoạt phong phú và đa dạng của con người, cầu mong mưa thuận gió
hòa, thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc
- Về chữ viết: chữ viết Đông Sơn được chạm khắc trên các công cụ, vũ khí đồng thau, các
đường nét còn sơ lược nhưng khúc chiết, rõ ràng. Ngoài ra còn có các dạng văn tự khác trên
đồ đá, đồ gốm. Trong đó loại hình văn tự thắt nút dùng 1 số sợi dây màu sắc khác nhau buộc
lại thành các nút khác nhau để trao đổi thông tin
- Về văn hóa nghệ thuật: nghệ thuật được biểu hiện qua quá trình hình thành quan niệm thẩm
mĩ của người Việt cổ và được tập trung thể hiện trên trống đồng Đông Sơn
+ Về mặt nghệ thuật, trống đồng Đông Sơn là nhạc cụ quan trọng, âm sắc vang hùng và được
sử dụng trong những sinh hoạt quan trọng như tế lễ, tế hội
+ Nghệ thuật chạm khác trên trống đồng là một thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực tạo hình của
người Việt cổ, những chạm khắc này liên quan đến các quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo,
chứa đựng những nét sống thực, thể hiện quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh
d) Tổ chức xã hội thời Đông Sơn:
- Trong xã hội Đông Sơn đã có sự phát triển cao của sản xuất, đã có chế độ tư hữu và sự phân
chia xã hội thành giai cấp
- Gia đình mẫu hệ là chủ yếu ở giai đoạn này
- Sau gia đình, làng xóm được hình thành, trong làng xóm có những người cùng huyết thống
và những người không cùng huyết thống cư trú. Họ cùng nhau khai khẩn ruộng đất, trồng
trọt, chăn nuôi, xây dựng cuộc sống
- Trong văn hóa Đông Sơn, nhà nước cũng được hình thành:
+ Nhà nước Văn Lang thuộc thời đại Hùng Vương
+ Nhà nước Âu Lạc thuộc thời đại An Dương Vương
2.3 Vị trí của văn hóa Đông Sơn trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam:
Văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa cội nguồn, thể hiện sức mạnh trường tồn và mang dấu ấn
đặc sắc của văn hóa dân tộc mà ông cha xưa tạo dựng nên. Những giá trị của nền văn hóa
Đông Sơn là nền tảng của tinh thần, động lực để đưa dân tộc ta không ngừng phát triển, xây
dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc.
- Văn hóa Đông Sơn có vị trí và vai trò đặc biệt trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Qua 80 năm
phát hiện và nghiên cứu, văn hóa Đông Sơn được biết đến như là cơ sở vật chất cho sự ra đời
của nhà nước Văn Lang và các vua Hùng và tiếp đến là nước Âu Lạc của vua An Dương Vương.
+ Với nền văn hóa Đông Sơn, kỹ thuật chế tác đồ đồng đã vươn lên trình độ khá cao so với
trình độ thế giới đương thời. Sản phẩm đồng là biểu tượng của văn hóa Đông Sơn là trống đồng Đông Sơn
+ Quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc là quá trình hình
thành nên cốt lõi của người Việt cổ và là nhà nước đầu tiên của họ. Đây là một nền văn hóa
thống nhất mà chủ nhân của nền văn hóa đó là một cộng đồng cư dân gồm nhiều thành phần
tộc người gần gũi với nhau về nhân chủng và văn hóa
+ Văn hóa Đông Sơn là điển hình của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Cùng với văn hóa
Óc Eo, văn hóa Sa Huỳnh tạo thành “tam giác văn hóa” của người Việt
- Là nền văn hóa bản địa Phi Hoa, phi Ấn, mang tính chất nông nghiệp. Văn hóa Đông Sơn
tạo thành nền tảng để văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa khác như
Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á trong thiên niên kỷ đầu sau công nguyên mà vẫn giữ được
bản sắc văn hóa dân tộc
3. Trình bày những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hoá Trung Hoa.
3.1. Bối cảnh lịch sử:
- Vào thiên niên kỷ đầu công nguyên, nền văn hóa Việt cổ bắt đầu chịu những thử thách ghê
gớm. Quốc gia Văn Lang, sau đó là Âu Lạc và dân tộc hẩu như vừa mới được xác lập và tồn
tại chưa bao lâu đã rơi vào tình trạng bị đô hộ. Năm179 trước công nguyên, Triệu Đà vua
nước Nam Việt đóng đô ở Phiên ‘Ngung (Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) xâm chiếm
nước Âu Lạc, chia Âu Lạc ra thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 111 trước công
nguyên, nhà Hán chiếm được nước Nam Việt, đổi vùng đất của Âu Lạc, thành châu Giao Chỉ.
Thời kì này kéo dài từ năm 179 trước công nguyên tới năm 938 với chiến thắng của Ngô
Quyền mở đầu cho kỷ nguyên độc lập thời tự chủ của quốc gia Đại Việt.
- Cùng với việc xâm lược lãnh thổ, nhà Hán và sau này là các triều đại tiếp theo của phong
kiến phương Bắc, đã tiến hành đồng hóa về mặt dân tộc và văn hóa.
3.2. Quá trình giao lưu tiếp biến diễn ra với 2 hình thức: giao lưu cưỡng bức và giao lưu tự nguyện:
- khái niệm: Giao lưu tiếp biến văn hóa là sự gặp gỡ, thâm nhập và học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa.
Trong quá trình này, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát
triển và tiến bộ văn hóa
- Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam đã có những cuộc tiếp xúc và giao lưu với
các nền văn hóa phương đông và phương tây bằng con đường và hình thức khác nhau. Cùng với sự hình
thành các yếu tố văn hóa bản địa, giao lưu và tiếp biến với văn hóa đông - tây đã trở thành động lực to lớn
cho sự biến đổi, phát triển và làm nên những sắc thái riêng của nền văn hóa Việt Nam.
*Hình thức giao lưu cưỡng bức:
- Giao lưu cưỡng bức diễn ra ở hai giai đoạn lịch sử điển hình: từ thế kỷ I đến thế kỷ X và từ 1407 đến 1427.
- Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên, các đế chế phương Bắc ra sức thực hiện các
chính sách đồng hóa về phương diện văn hóa nhằm biến nước ta trở thành một quận, một huyện của Trung Quốc
- Từ 1407 đến 1427 là giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt. Binh lính vào nước Nam tàn
phá khốc liệt. Trừ sách vở và bản in đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra mọi sách
vở đều bị đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do người Trung Quốc dựng đều được
giữ gìn cẩn thận, các bia còn lại bị phá hủy tất cả
*Hình thức giao lưu tự nguyện:
Trước thời kỳ Bắc thuộc đã từng diễn ra giao lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với cư dân
Bách Việt. Đó là sự giao lưu tiếp biến hai chiều, học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa.
Người ta nhận thấy khá nhiều di vật của phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa di
sản như đồng tiền thời Tần Hán, tiền ngũ thủ đời hán, các dụng cụ sinh hoạt của quý tộc hán
như gương đồng, ấm đồng… Những sản phẩm ấy là kết quả của sự trao đổi, thông thương giữa 2 nước.
3.3. Những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa:
Những biến đổi của văn hóa Việt Nam trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa là văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần:
*Văn hóa vật chất: Người Việt đã tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như: kỹ thuật rèn,
đúc sắt, gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân để tăng độ màu mỡ
cho đất, kỹ thuật xây cất nơi ở bằng gạch ngối. Người Việt học được kinh nghiệm dùng đã
đắp để ngăn sóng biển, biến cải kỷ làm đồ gốm… bên cạnh cơm rau cá thì tiếp thu bánh bao,
màn thầu, nước tương, xì dầu… nhà chen nón lá, nhà san còn tồn tại. bánh bao đc tiếp nhận
thì nước mắn và bữa cơm cơm rau cá vẫn không thể soán ngôi.
- trang phục: tq sườn xám, vn áo dài.
*Văn hóa tinh thần: Việt Nam tiếp nhận một số phong tục trong văn hóa Trung Quốc, đặc
biệt là hệ thống lễ Tết do ảnh hưởng của thể thức nho giáo nên chúng ta tôn vinh tết nguyên
đán, có những lễ hội thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Việt Nam tiếp nhận ngôn
ngữ của Trung Hoa và tư tưởng Trung Hoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên tinh thần hỗn dung,
hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các tư tưởng khác, mô phỏng hệ thống giao dục theo tinh
thần Nho giáo, tiếp nhận một số phong tục lễ Tết, lễ hội… Tuy nhiên, cách tiếp nhận của
người Việt rất thông minh và linh hoạt.
ngôn ngữ: tiếng hán của tq, người việt đã sáng tạo ra chữ hán – việt gọi là chữ nôm
- pttq: vn tiếp nhận những ngày lễ, tết của người hán, tết nguyên đán, tết 15-1, 3-3, 5-5 ,… nhưng ý nghĩa của
những ngày tết này đều khác vs ng gốc bên tq
Vdu tết hàn thực 3-3 ở TQ là ngày mng cấm lửa, ăn đồ lạnh để tưởng nhớ ng đã khuất..mang không khí ảm
đạm còn ở vn tết 3-3 âm thì mng cùng quây quần ăn bánh trôi, vui vẻ hạnh phúc…
Vd vào những ngày lễ, tết ở VN thì các gđ thường đi chùa cầu quốc thái dân an, cầu bình an cho mng,… =>
các qttq đều chỉ tiếp nhận ở bề mặt còn cốt lõi vấn là của VN
- tín ngưỡng: sự ảnh hưởng lớn nhất là nho giáo
Bị những ảnh hưởng như coi trọng nam giới, quan niệm quân tử, trung quân, hiếu quốc -> ở VN: trong nam
khinh nữ chỉ ở bề mặt, vẫn có mẫu hệ, con gái vx rất đc tôn trọng (Trai mà chi, gái mà chi/Sinh con có nghĩa
có nghì là hơn; con gái rượu); trung quân là trung với nước; hiếu cha mẹ còn hiếu với dân.
+ vì sao kh bị ảnh hưởng lớn: vì phạm vi ảnh hưởng nhỏ, chỉ những tầng lớp trên mới đc tiếp xúc với nho
giáo, nhân dân nghèo kh có tiền học chữ nho nên kh hiểu đc nho giáo mà ảnh hưởng. rồi nhân dân sống trong
làng đc bao bọc bởi lũy tre – mãng chắn xâm lấn vh…
-> biến đổi vh vn trong gltb vs tq có rõ ràng nhưng vx giữ đc giá trị vh truyền thống vn
=> hệ quả: có sự tiếp nhận văn tự hán, du nhập nho giáo, lão giáo, phogn tục tấp quán./ có sự thay đổi tổ
chức hành chính, coi trọng học hành thi cử, chọn người tài/ đời sống vc, tt of ng Việt trở nên phong phú hơn/
cho thấy ý thức gìn giữ vh vn luôn tồn tại.
* nguyên nhân vh vn luôn tồn tại suốt nghìn năm bắc thuộc
- ng việt trc đó đã có vh đông sơn
- phạm vi ảnh hưởng ít, lớp trên
- đức “khoan hòa” of ng việt trong giao lưu, tiếp biến vh với vh phương bắc. 3.4 Nhận xét:
Giao lưu tiếp biến văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là sự giao lưu, tiếp biến liên tục
qua nhiều thời kì của lịch sử và còn mãi về sau. Không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam rất lớn. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại và phát
triển, khẳng định bản sắc văn hóa của mình. Những tiếp thu của nhân dân ta hoàn toàn mang
tính sáng tạo, những tinh hoa của văn hóa bên ngoài đã được bản địa hóa phù hợp với cuộc
sống của người Việt. Những yếu tố ngoại lai đó trở thành chất xúc tác thúc đẩy những yếu tố
nội tại và làm cho văn hóa Việt Nam phát triển phong phú mà không làm mất đi bản sắc. liên
hệ thực tiễn hòa nhập nhưng kh hào tan, vai trò giới trẻ
4. Trình bày diện mạo văn hoá Đại Việt thời Lý - Trần.
4.1. Bối cảnh lịch sử:
- Triều Lý được bắt đầu từ khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 kết thúc
năm 1225, trải qua 9 đời vua. Sau khi Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh,
triều Trần được lập nên bắt đầu năm 1225 kéo dài đến năm 1400, trải qua 13 đời vua. Lý-
Trần là hai triều đại tồn tại dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Xây dựng nhà nước
pk trung ương tập quyền. thực hiện nền độc lập tự chủ sau 1000 năm mất nước. là thời kỳ vh
đông sơn đc phục hưng mạnh mẽ.
- Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển
hưng thịnh bậc nhất của dân tộc ta. Triều Lý (1009 - 1226) và thời Trần (1226 - 1400) là hai
triều đại lớn trong lịch sử dân tộc ta, đây được xem là giai đoạn lịch sử oanh liệt nhất thời
trung đại, giai đoạn mà dân tộc đã vươn lên mạnh mẽ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Ở thời Lý - Trần,
nhà nước phong kiến củng cố và phát triển chế độ trung ương tập quyền, nhiều cải cách về
chính trị, kinh tế, quân sự được áp dụng đã đem lại thành quả rực rỡ về nhiều mặt. Trên cơ sở
kinh tế - chính trị đó, văn hóa, tư tưởng của dân tộc cũng được phát triển mạnh mẽ. 2 thời đại
nối tiếp nhau gần 4 thế kỷ và thể hiện nhiều nét tương đồng về văn hóa. Văn hóa Lý Trần mở
đầu cho thời kỳ văn hóa Đồng Việt và là thời kì đạt được nhiều thành tựu cơ bản, góp phần
khởi điểm bản sắc văn hóa dân tộc.
4.2 Đặc trưng văn hóa:
a) Văn hóa vật chất:
*Những công trình nổi bật:
- Thành tựu lớn nhất của thời kì này là xây dựng được kinh thành Thăng Long. Kinh đô
Thăng Long được xây dựng bên sông Hồng, nơi trung tâm trời đất.
- Những ngôi chùa được xây dựng rất nhiều, thường gắn với nước non, sông núi, mây trời.
Một số ngôi chùa nổi tiếng được xây dựng ở thời kì này như: Chùa Diên Hựu (Một Cột),
chùa Phật Tích, chùa Yên Từ…
* chùa một cột là biểu tượng của hoa sen vươn lên giữa hồ nước hình vuông. Vua Lý Thái Tông (1028 –
1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen đưa tay dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho
các quần thần nghe. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng một ngôi chùa trên cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu
mang dáng bông sen nở nên gọi là “Liên Hoa đài”, trong chùa tạc pho tượng Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen
như nhà vua đã gặp trong mộng. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa tụng kinh, niệm Phật cầu chúc
cho vua sống lâu nên gọi là chùa Diên Hựu.
- Văn Miếu - Quốc Từ Giám được khởi công xây dựng từ thời nhà Lý (1070) là một quần thể
kiến trúc tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của Nho giáo vào nước ta. *Kiến trúc:
- Kiến trúc Phật giáo thời Lý - Trần luôn tạo ra một không gian kiến trúc thâm nghiêm phù
hợp với triết lý phật giáo
- Hình tượng đặc trưng là con rồng thời Lý - Trần thể hiện tín ngưỡng thờ nước, cầu mong
mưa thuận gió hòa. Rồng thời Lý - Trần: thể hiện tín ngưỡng thời nước (vh noogn ngh và vh
đông sơn). Sự kết hợp đặc điểm của các con bò sát: rắn, trăn, cá sấu và sư tử -> sự uyển
chuyển, sức mạnh. Con rồng thân dài, uốn khúc theo hình sin đều đặn, thân kh có vẩy, đầu sư
tử mũi to mắt lồi, có bờm, mào lửa dài. Rồng đại diện cho sm dân tộc, sm vương quyền, đồng
nghĩa vs SUN, sm vũ trụ mây mưa sấm chớp phù hộ đất nc thái bình,…
- Các nghề thủ công mĩ nghệ phát triển, các sản phẩm gốm nhiều màu sắc, họa tiết trang trí
đặc sặc được những người thợ khéo tay đời Lý ràm ra. an nam tứ đại khí( 4 hiện vật bằng
đồng lớn nhất của an nam) ở giai đoạn này tất: chuông quy điền (thăng long); tháp báo thiên
(thăng long); vạc phổ minh ( nam định); tượng phật chùa Quỳnh lâm (quảng ninh) => nghệ
thuật đúc đồng rất tinh xảo b) Văn hóa tinh thần:
- thời lý – trần tam giáo đồng nguyên là sự cùng tồn tại kết hợp hài hòa của 3 tôn giáo: Phật-
Đạo-Nho. Trong thời Lý - Trần, tam giáo đồng nguyên vừa là đường lối, chính sách của nhà
cầm quyền, vừa là một thực tiễn xã hội, phản ánh thế cân bằng văn hóa. Thế cân bằng đó thực
ra không bền, mà ở trong một biên độ dao động. Trong các giai tầng xã hội bên trên, ở thời
Lý, cán cân lệch về Phật giáo, đến thời Trần, cán cân chuyển sang Nho giáo. Trong khối quần
chúng bình dân bên dưới, ảnh hưởng của Phật, Đạo hòa quyện cùng các tín ngưỡng dân gian
luôn luôn chiếm ưu thế, ảnh hưởng của Nho còn khá khiêm tốn. *Đạo Phật:
- Phật giáo phát triển khắp mọi nơi, tư tưởng giáo lý Phật giáo ngấm sâu vào suy nghĩ, tình
cảm và cuộc sống của mọi tầng lớp dân chúng
- Các làng quê chỗ nào cũng có chùa, nhà sư là tầng lớp trí thức có uy tín với dân chúng.
Ngôi chùa trở thành trung tâm văn hóa ở kinh đô và các xóm làng, vừa là trung tâm dạy học,
vừa là nơi hội họp dân chúng, tổ chức lễ hội
- Phật giáo triều Lý là một cơ cấu giáo dục hoàn chỉnh, trung ương có Đại sư - một chức vụ
cao cấp. Ở chùa có tăng trụ trì, đồng thời kiêm việc dạy học, truyền bá kinh sách
- Tư tưởng chính trị và tâm linh tín ngưỡng của người dân Đại Việt thời Lý - Trần là sự kết
hợp hài hòa giữa Nho - Phật - Đạo *Nho giáo:
- Vào nửa đầu thế kỷ XI, dưới triều vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) giặc giã nổi lên khắp
nơi. Nhà vua và các nhà tư tưởng đã đã nhận hạn chế của Phật giáo và tính ưu việt của triết lý
Nho giáo trong việc trị quốc. Chính vì vậy, Nho học được du nhập mạnh mẽ hơn, dần dần
phát huy ảnh hưởng đến đời sống xã hội cùng Phật giáo và Lão giáo
*Văn hóa giáo dục thời Lý:
- Vua Lý Nhân Tông không ngừng mở mang học tập, thi cử và coi đây là việc hệ trọng của quốc gia
- Năm 1075, vua mở khoa thi Nho học đầu tiên. Nho giáo ngày càng được đề cao, Nho học ngày càng được suy tôn
- Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho mở Quốc Tử Giám để đón nhận con em các quý tốc,
quan lại cao cấp vào đây học. Đây là trường đại học đầu tiên của nước ta
=> Ở triều Lý, nền văn hóa giáo dục từ nguyên sơ đã phát triển lên một tầm cao hơn, về vật
chất lẫn tinh thần. Một tầng lớp nho sĩ được đào tạo theo ý thức hệ nho giáo bắt đầu xuất
hiện, đó là những con người xuất sắc về trí tuệ, phẩm chất, tài năng. Giáo dục, thi cử trở
thành lĩnh vực trọng yếu xây dựng nền tảng chính trị, tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện các nhiệm vụ của nhà nước phong kiến. Chỉ có thông qua giáo dục, thi cử một cách
nghiêm túc, vai trò trị quốc của giai cấp phong kiến mới được khẳng định
*Văn hóa giáo dục thời Trần:
- Năm 1232, vua Trần Thái Tông mở kỳ thi đại khoa đầu tiên dưới triều Trần
- Năm 1267, vua Trần Thánh Tông cho chọn những nho sinh hay chữ để bổ vào các quán,
sảnh, viện, công bằng với tất cả những người có tài, văn hay chữ tốt
- Năm 1304, vua Trần Anh Tông tổ chức và cải cách kỳ thi Thái học theo thể lệ mới, quy chế
thi vô cùng nghiêm ngặt. Từ đây các nhân tại được trọng dụng và gắn bó hơn với triều đình phong kiến
- Vua Trần Nhuận Tông đã tiếp tục cải tạo và đưa việc thi tuyển vào nề nếp chặt ché hơn
trước, vua quy định lệ thi 3 cấp: thi Hương, thi Hội, thi Đình
=> Bước sang thời Trần, nhìn chung việc học hành thi cử đã tiến bộ hơn triều Lý. Hệ thống
trường học đã được thiết lập và mở rộng từ trung ương đến địa phương, thể lệ thi cử ngày
càng chặt chẽ và chất lượng. Tầng lớp trí thức ở nước ta thời kỳ này tiếp thu Nho học và biến
nó theo tinh thần dân tộc, khẳng định truyền thống Việt Nam, cốt cách Việt Nam ngang tầm
với các quốc gia láng giềng. *Quân sự:
- Trong thời đại Lý - Trần, nghệ thuật quân sự đã phát triển thành một nền văn hóa quân sự
với các nguyên tắc, nguyên lý chặt chẽ được thể hiện qua sách vở và thực hiện trong các trận
đánh quân xâm lược như: kế sách: Tiên phát - Chế nhân, sách Binh Thư yếu lược. Trong 3
lần đụng độ với giặc Nguyên Mông, Trung Quốc, Trần Quốc Tuấn đã đề ra kế sách Rút lui
chiến lược trong cả 3 lần để bảo toàn lực lượng, làm hao tổn ý chí, sức mạnh của kẻ địch
- Văn hóa quân sự thời đại này là tư tưởng quân sự của người phương Nam chống lại người
phương Bắc, của dân cư nông nghiệp chiến đấu với người du mục, của chính nghĩa đấu tranh
với phi nghĩa, của ít địch nhiều, của yếu chống mạnh *Tinh thần yêu nước:
Tinh thần yêu nước thiết tha là đặc điểm nổi bật của thời đại Lý Trần, tinh thần yêu nước ấy
luôn luôn được thể hiện qua các tác phẩm văn học, sử học, trong mỗi bài thơ, bài hịch, bài
chiếu của các nhà sư, nho sĩ, tướng quân hoặc vua chúa 4.3 Đánh giá chung:
- Ở thời đại Lý - Trần, đạo Phật phát triển rõ nét. Rất nhiều ngôi chùa được xây dựng vẫn giữ
nguyên giá trị văn hóa đến thời điểm hiện tại. Một số ngôi chùa được xây dựng thành khu du
lịch văn hóa tâm linh, giúp quảng bá nền văn hóa và nét đẹp của Việt Nam với bạn bè quốc
tế, là niềm tự hào của người Việt Nam
- Tín ngưỡng sùng bái đạo Phật cũng là một nét đẹp văn hóa. Đi chùa vào dịp lễ Tết là một
tục lệ không thể thiếu của nhân dân
- Văn hóa giáo dục thời Lý - Trần có những bước phát triển vượt bậc, là tiền đề, nền móng
cho nền giáo dục nước ta hiện nay
=> Những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của thời đại Lý - Trần là tài sản quý báu của
dân tộc. Do đó thế hệ trẻ phải không ngừng tìm hiểu văn hóa nước nhà, giữ gìn và phát triển
văn hóa ngày càng phong phú, giàu đẹp.
5. Trình bày đặc điểm hệ thống tín ngưỡng Việt Nam.
5.1 Khái niệm tín ngưỡng:
- Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh vật thiêng, một số các
loại cây hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm.
- tín ngưỡng xh sớm hơn tôn giáo, gắn với sự ra đời của xh loài người. bắt đầu bằng những lễ nghi truyền
thống gắn vs ptsx như cầu mưa, cầu gió-> niềm tin của con người gửi gắm vào sức mạnh tự nhiên.-> tin là
vạn vật hữu linh. Niềm tin này xphat khi con ng biết đạt vị trí của mình trong mqh thiên-địa-nhân.
+ Tín ngưỡng la niềm tin tự phát, gắn liền với buổi đầu bình minh của lsu loài người, kh xác định rõ thời điểm ra đời,
+ kh có giáo lý, quy định tổ chức chặt chẽ (vì niềm tin thì khác nhau, cách biểu hiện cx khác nhau -> cơ cấu tchuc kh chặt chẽ)
+ kh có hệ thống kinh sách cụ thể
+ đc sáng tạo bởi tầng lớp bình dân
+ nơi hành lễ tùy tiện: miếu, am, điếm,…
+ gắn với bản sắc dân tộc- sức sống biểu hiện ẩn tàng, tinh tế, khó nắm bắt -> có sự trùi sụp theo time.
+ xh vs mọi thứ xung quanh, ở từng vùng miền khác nhau sẽ có những tín ngưỡng khác nhau (vd
- Tín ngưỡng xâm nhập vào thiết chế tổ chức nhà nước, là hệ tư tưởng chính trị, nhịp cầu giao
lưu tiếp biến, là môi trường đào tạo hiền tài, là con đường giải phóng sức sáng tạo để thức
đẩy nghệ thuật phát triển. Tín ngưỡng làm phong phú đời sống tâm hồn của mỗi người và
cộng đồng xã hội bằng những sinh hoạt tinh thần đặc trưng. Tín ngưỡng vừa là sản phẩm vừa
là biểu hiện của văn hóa.
- Không phải tín ngưỡng nào cũng giống nhau. Phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt, thói quen
hay quan niệm từng vùng miền sẽ ảnh hưởng tới tín ngưỡng vùng đó.
Ví dụ, những người nông dân Bắc Bộ xưa tin thờ Thành Hoàng Làng. Hay vùng Sóc Sơn thờ
Thánh Gióng như một vị anh hùng, ông tổ nghề…
5.2 Đặc điểm của tín ngưỡng:
Trong đời sống văn hóa Việt Nam, hệ thống tín ngưỡng về cơ bản bao gồm: tín ngưỡng thờ
các thần tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của
văn hóa Việt Nam đều mang đặc trưng của văn hóa nông nghiệp, đó là:
- Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
- Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời - Đất; Tiên - Rồng. ông đồng - bà đồng
- Đề cao phụ nữ: thể hiện ở nhiều nữ thần như Mẫu Tam phủ (Bà Trời - Đất - Nước), Mẫu Tứ
phủ (Bà Mây - Mưa - Sấm - Chớp)
- Giao thoa, tiếp biến với các tôn giáo ngoại lai: hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải
độc thần như trong nhiều tôn giáo khác
5.3 Các nhóm tín ngưỡng:
a) Tín ngưỡng thờ các thần tự nhiên:
- Từ xa xưa, người Việt cổ đã thờ thần mặt trời - vị thần làm ra ánh sáng, hơi ấm, làm ra mưa
thuận gió hòa, phù trợ cho cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước
- Ngoài thờ cây, người Việt cũng thờ một số loài động vật. Tiêu biểu nhất là tín ngưỡng thờ
Rồng. Hình ảnh con rồng là hình ảnh biểu trưng, ước lệ được cấu thành từ 3 con vật có thật
trong đời sống tự nhiên: rắn nước, cá sống và loài chim sống ở vùng sông nước
Ngoài ra, nhân dân miền duyên hải thờ cá Ông (cá voi cứu người bị nạn trên biển), đồng bào
Nam Bộ thờ Ông cả Cọp (con hổ)...
=> Đó là bởi vì gắn bó với môi trường tự nhiên của vùng sông nước mênh mang, con người
muốn tìm một điểm tựa tâm linh để củng cố niềm tin và sức mạnh cho chính mình.
b) Tín ngưỡng phồn thực:
- Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực được thể hiện bằng hai hình thức: thờ các hình ảnh sinh
thực khí và tôn vinh hành vi tính giao. Nó hóa thân vào trong các trò chơi, trong tập tục, điêu khắc, văn chương…
- Khi đi vào văn hóa Chăm Pa, tín ngưỡng được thể hiện bằng hai hình tượng điêu khắc
Linga và Yoni - biểu trương cho đấng sáng tạo, sinh sôi, nảy nở
=> Thể hiện ước nguyện chính đáng và phác thực của những cư dân nông nghiệp cổ cầu cho
mùa màng bội thu, con người và vật nuôi sinh sôi nảy nở, khỏe mạnh; tự nó mang tinh thần
nhân văn sâu sắc, niềm lạc quan của con người
c) Tín ngưỡng thờ Mẫu:
- Trong văn hóa Việt Nam truyền thống, tín ngưỡng thờ Mẫu không đồng nhất với tín ngưỡng
thờ thần nữ. Tục thờ thần nữ đá có mặt ở Việt Nam từ xa xưa với nhiều hình ảnh thuộc Nhiên thần và Nhân thần.
Ví dụ: thờ Mẹ Âu Cơ - một hình tượng người Mẹ sinh ra con Rồng cháu Tiên, thờ Bà Dâu,
Bà Tướng, Bà Đậu, Bà Giản - vốn là những Nhiên thần phù trợ cho cuộc sống của cư dân
nông nghiệp. Còn Nhân thần bao gồm những vị nữ thần trong huyền thoại và trong lịch sử
như: mẹ Âu Cơ, mẹ Gióng, Hai Bà Trưng…
- Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ đó. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ một thứ tín ngưỡng phổ
quát rộng hơn là thờ thần nữ, thờ tính Nữ mà mức độ cao nhất là tính Mẫu - mẹ. tính mẫu thể
hiện sự sinh sôi, chở che, nuôi dưỡng, lưu giữ. Là lòng bai dung, nhân từ, hiền hòa. -> kết
tinh cao của sự đề cao ng phụ nữ trong vh việt nam. ví dụ như đặt tên đất, tên làng, tên núi,
tên sông hễ có tên người Nam là phải có tên người Nữ (Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà
Điểm… phật giáo ở ấn độ là phật ông về vn là quan âm thánh mẫu, phật bà nghìn mắt nghìn
tay; 4 bà tứ pháp, “con dại cái mang”)
- ngày nay thờ mẫu vẫn còn duy trì và phát triển ở vn. Việc hầu bóng cx dc nghiên cứu rất kỹ
lưỡng tránh mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh. ở vn bao giờ cx dành cho phụ nữ 1 tình cảm
đặc biệt, lòng biết ơn, niềm kính trọng. ở đâu có nữ ở đó bớt bạo lực, nhẹ nhàng hơn…đạo
mẫu là tín ngưỡng có vẻ đẹp cao nhất của vh vn
d) Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
- Cơ sở xuất phát của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ niềm tin về sự bất tử của linh
hồn: tin rằng con người có phần hồn và phần xác, khi chết đi con người chỉ chết về thể xác,
còn phần hồn thì sống mãi. Ông bà ở nơi chín suối nhưng vẫn thường xuyên về phù hộ độ trì
cho con cháu. Cơ sở xã hội rất quan trọng đối với người Việt đó là đạo lý “uống nước nhớ
nguồn”, là lòng tri ân của con cháu đối với ông bà tổ tiên đã tạo dựng hình hài và vóc dáng,
ban tặng cho con người sự sống.
- Bàn thờ tổ tiên trong gian đình người Việt thường được thắp hương, cúng lễ vào dịp giỗ kỵ
và vào ngày Tết. Thái độ thành kính của con người cho thấy thờ cúng tổ tiên không chỉ xuất
phát từ niềm tin vào sự bất tử của linh hồn, mà cốt lõi nằm ở chính đạo lý “uống nước nhớ
nguồn” của người Việt, biểu hiện tri ân đối với ông bà, cha mẹ.
- “đất có thổ công, sông có hà bá” -> thờ thần thổ công cùng thờ cúng tổ tiên. Vì thổ công
ssinhj đoạt phúc họa trong gdinh.
+ tổ tiên ở giữa, bàn thờ thổ công ở bên trái(hướng đông hướng mặt trời). thổ thần địa vị kém
với nhưng có quyền lực hơn nhân thần đc gọi là “đệ nhất gia chi chủ”
+ bàn thờ luôn có hương và nước (âm dương), lễ tết đc trưng ngũ quả (nhân quả, nhân sinh),
mâm cúng cb rất công phu-> thành kính.
- 3 cấp độ: gia đình(tổ tiên gđ), dòng họ (tổ tiên cả dòng họ), nhà nước (vua hùng)
+ giỗ tổ hùng vương (dù ai đi ngược,…) đã thể hiện chiều sâu gt vh cộng đồng của con ng
VN. Thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với vua hùng dựng nc giữ nc -> sự kết nối gđ, gia tộc và dân tộc.
Ví dụ, Giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành ngày giỗ trọng đại của cả dân tộc. Dù ở phương trời
nào, người Việt Nam đều nhớ đến ngày giỗ Tổ. Đền Hùng trở thành nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao vua Hùng
=> Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên là tín ngưỡng thiêng liêng, thể hiện tính nhân bản của người
Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn của người sống với người đã khuất.
e) Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng Làng:
- Nơi thờ thần Thành Hoàng Làng là đình làng, vốn có nguồn gốc từ đình dịch, đình trạm,
đình quán, về sau được linh thiêng hóa, trở thành nơi vị thần quyết định phúc họa cho cả làng
- Thần Thành Hoàng Làng vốn không phải là Nhiên thần mà là Nhân thần, có nguồn gốc gần
gũi với đời sống con người, là những người có công lập làng, ông tổ nghề đã đem đến sức sống cho làng.
=> Điều này cho thấy lòng tri ân của dân làng đối với những người đã mở làng, truyền nghề cho dân làng.
5.3. đặc trưng of tín ngưỡng VN
- tôn trọng, găn bó mật thiết con người với tự nhiên, đề cao tính nữ
- phản ánh đậm nét nguyên lý âm dương (tn phồn thực)-> khát vọng sinh sôi,, pt -> trường tồn của dân tộc
- tính cộng đồng, tổng hợp, dân chủ. (mqh 2 chiều của con ng và thần linh..)
5.4. liên hệ thực tiễn và vai trò sinh viên
6. Trình bày ý nghĩa văn hoá của lễ hội truyền thống Việt Nam.
6.1. khái niệm và đặc điểm lhtt.
Căn nguyên: Kh ai dám chắc lễ hội vn từ bảo giờ nma dựa vào cứ liệu lsu cta có thể thấy lh xh từ thời đông
sơn, do thời đs cta cấy lúa 1 vụ và thu hoạch vào mùa thu nên thời đs có những lễ hội diễn ra từ mùa thu. lhtt
vn gắn bó chặt chẽ vs lối sống của cư dân nghiep lúa nc do dd mtruong tự nhiên của vn phù hợp vưới pt ngln
cho nên có nhiều loại hình lễ hội đều có ng gốc haowcj căn nguyên hoặc liên hệ chatej chẽ vs đk sx nnln
- khái niệm lễ hội truyền thống vn: là hình thức sinh hoạt vh của con ng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh,
nhu cầu thể hiện, khẳng định mình và ước vọng về 1 cs tốt đẹp cho cá nhân, gia đình, cộng đồng.
- cấu trúc của lễ hội: lễ + hội
+ lễ: thực hiện hệ thống nghi lễ nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh (biểu hiện ngưỡng mô, biết ơn với nvat đc
phụng thờ, cầu xin ước mơ 1 cs no đủ…); các nghi thức trong phần lễ có tính hệ thống, sắp xếp theo trật tự
có mối liên kết chặt chẽ với nhau (các nghi thức cơ banrL lễ rước nước, lễ mộc dục, lễ gia quan, lễ rước, đại tế, lễ rèm…)
+ hội: là hdong vhoa mang ý nghĩa thực tiễn nhằm biểu hiên lòng thành kính viwus biểu tượng dc tôn thờ, và
đáp ứng nhu cầu giải trí, sinh hoạt vh cộng đồng. các thành tố của phần hội : trò diễn, trò chơi, văn nghệ, thi tài ẩm thực…
- đặc điểm lễ hội: lh là sinh hoạt vh gắn với 1 cộng đồng dân cư nhất định (mang sắc thái riêng của mỗi công
đồng dân tộc, diễn ra trong không gian cộng đồng: làng, vùng miền, nước…)
- các loại hình lễ hội: (Do đk tự nhiên, và trí thức chưa pt mà cha ông chưa thể lý giải những hiện tượng và thờ hóa chúng)
+ lễ hội nghề nghiệp: lh nông ng, lễ hội nghề khác
+ lễ hội kỷ niệm các anh hùng dân tộc: các ahung dtoc trong sự ng dựng nc và giữ nc, thể hiện niềm biết ơn…
+ lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo: thờ thần, thờ mẫu.. hội chùa, thờ phật..
6.2. ý nghĩa lễ hội ttvn: 5 ý nghĩa
6.2.1. lh chứa đựng nhiều gtri lịch sử, tích tụ vô số lớp vh: ls hình hành lễ hội có thể gắn vs sự hình thành
lãng xã hoặc gắn vs 1 nv lsu cụ thể, gắn vs cộng đồng làng, cư dân nên nhìn vô lh có thể tháy đc ls làng xã,
nhìn ra lh vùng miền cx thế nhìn rộng ra thấy đc ls dân tộc. lớp vh: lễ hội là 1 bức tranh tổng hợp tích tụ
những lớp lang vh từ đời này sangd dời khác cả vh vc lẫn vhtt (phân tích các sản vật dâng cúng trong lễ) đặc
trưng vh trang phục khi có sự khác biệt của ng làm lễ vs ng đi xem hội…
6.2.2. lh thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, và sinh hoạt vh cộng đồng: ở lh mng đc tham gia phần lễ thiêng liêng,
đc làm các hđọng thờ cúng, thể hiện niềm tin của mk,….
6.2.3, ý nghĩa cộng đồng, cộng cảm sâu sắc: tất cả mng trong làng đều đc tham gia lễ hội gắn vs các hđ của
nó như cb cho lễ hội và tg, dc thoả thuê đắm mk vào phần lễ và vui chơi hết mk ở phần hội. all đều tập hợp
và hướng vọng về phía nvat thờ và tích cực tham gia các trò chơi của lễ hội… Chính tôn giáo tín ngưỡng, các
nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”,
đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu. Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về cội
nguồn. Hơn thế hướng về cội nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ
nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Thực hiện các nghi thức trong lễ hội, con người biểu hiện lòng biết ơn
với trời đất, thần linh, các anh hùng dân tộc đã có công giúp họ trong cuộc sống và trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước.
6.2.4. mang ý nghĩa dân chủ, nhân bản và gt thẩm mỹ cao: trong bối cảnh làng xã xưa có sự phân bt giữa dân
chính cư (ở làng 3 đời trở nên) với dân ngụ cư(nơi khác -> kh có gốc gác) kh đc ở trong làng mà phải ở rìa
lãng kh đc hưởng các quyền lợi ở làng như kh đc cấp đất chia ruộng,… nhưng rieng ở lễ hội thì kh phân biệt
mà all mng đều đc tgia từ phần cb lễ hội đến khi lh diễn ra.
Gt thẩm mĩ thể hiện trong cả vc và tt như lễ vật lúc nào cx đẹp nhất để dâng lên, hay quần áo của những ng đi
lễ hội cx đẹp nhất,…
6.2.5. góp phần vào vc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc vh dân tộc. lh mang đậm nét đẹp vh người vn, và
những lễ hội cho đến bh vx giữ. Nhưng nét đẹp đó. Nhìn vào lễ hội là thấy đc bản sắc vh vn sâu sắc…
6.3. liên hệ làm gì và cần làm ntn để phát huy ý nghĩa lễ hội hiện nay. Đối với văn hóa Việt Nam, lễ hội càng
có giá trị đặc biệt. Nó không chỉ là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ sáng tạo và hưởng thụ giá trị
văn hóa, nó không chỉ là bảo tàng lịch sử văn hóa dân tộc mà còn là sức mạnh của văn hóa nội sinh để chống
lại sự đồng hóa về phương diện văn hóa, để bảo vệ bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.
7. Trình bày những đặc trưng văn hoá trang phục của Việt Nam.
7.1 Khái niệm trang phục, văn hóa trang phục:

- Khái niệm trang phục: Trang phục là khái niệm chỉ các loại đồ mặc như quần áo, đồ đội như
mũ khăn nón, đồ đi như giày dép guốc, những trang phục như khăn quàng thắt lưng cùng các
đồ trang sức. Chức năng chủ yếu của trang phục là nhằm bảo vệ thân thể con người và để làm đẹp cho con người.
- Khái niệm văn hóa trang phục: Văn hóa trang phục là văn hóa mặc, là sự tổng hợp những
cách mặc, sử dụng phụ kiện… Thông qua đó con người có thể gửi gắm những quan niệm về
thẩm mĩ, nhân sinh, vũ trụ; thể hiện phong cách riêng của một cộng đồng dân tộc.
7.2. Phân loại và vai trò của văn hóa trang phục: *Phân loại:
- Theo chủng loại và chức năng chia thành trang phục mặc thường ngày, lễ hội, thể thao,
đồng phục, bảo hộ lao động, biểu diễn nghệ thuật…
- Theo mục đích: ban đầu con người dùng lá cây, vỏ cây, da thú…. thô sơ để che thân nhưng
sau này con người đã biết sử dụng trang phục với chất liệu quý hiếm làm đẹp cho bản thân
- Theo giới tính: trang phục phụ nữ thường mềm mại diêm dúa hơn trang phục đàn ông; theo
lứa tuổi: trang phục trẻ em thường giản dị, gọn gàng, nhiều màu sắc, phù hợp với tính cách hiếu động của trẻ em
*Vai trò của văn hóa trang phục:
- Nói đến văn hóa trang phục là nói đến văn hóa mặc của con người. Nhưng con người không
chỉ biết mặc cho ấm mà còn biết cách mặc cho đẹp, nên vấn đề mặc chính là vấn đề của văn
hóa. Đằng sau trang phục là thị hiếu thẩm mỹ, là quan niệm sống, là sự thể hiện trình độ nhận
thức trong văn hóa ứng xử
- Cái mặc là cái bên ngoài nhưng đôi khi lại là hình thức phản ánh nội dung bởi nó tạo ấn
tượng sâu sắc ngay trong lần đầu tiên gặp mặt. Đôi khi thành bại của công việc phụ thuộc vào
chính ấn tượng ban đầu này cho nên sự chỉn chu, lịch sự trong ăn mặc là thước đo nhận thức văn hóa con người
7.3 Đặc trưng văn hóa trang phục Việt Nam:
- Tính nông nghiệp truyền thống: vhtpvn chịu ảnh hưởng của mttn nhiều cụ thể ở chất liệu, kiểu dáng và màu sắc
+ Về chất liệu, trang phục của người Việt chủ yếu được chế tác từ các loại cây cối như tơ cây
chuối, cây gai, bông, nuôi tằm lấy kén dệt vải. Về màu sắc, người Việt thường dùng màu nâu
hoặc đen, màu gần với màu bùn đất, phù hợp với công việc lao động đồng án.
+ Ngay từ buổi đầu lịch sử, người Việt đã biết tận dụng các chất liệu tự nhiên để tạo nên
trang phục cho mình. Các chất liệu ban đầu bao gồm vỏ cây, lá cây, sợi dây rừng… Sau này,
người ta dùng cây gai, trồng dâu nuôi tằm lấy kén dệt vải.
+ chất liệu: gốc tự nhiên sợi tơ tằm, sợi tơ chuối, bông, đay, lanh, mỏng nhẹ thoáng vì…
+ kiểu dáng: rộng. đồ phụ nữ: yếm, váy. Áo tứ thân dài. Đồ đàn ông: khố, quấn lá tọa
+ màu sắc: nâu đen chàm, sẩm tối, vì…
+ Sau này, họ bắt đầu biết tạo ra màu sắc cho trang phục để làm đẹp cho chính mình. Kỹ
thuật nhuộm màu sắc được tận dụng và chế biến từ tự nhiên: màu đen từ lá tre đốt mà thành,
màu xanh từ lá cây, nhựa cây hoặc rỉ đồng, màu vàng từ gạch non hoặc cây dành dành… - Tính linh hoạt:
+ Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặt phía trên, đồ mặt phía dưới, đồ
đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Theo mục đích, có trang phục lao động và trang phục lễ
hội. Theo giới tính có sự phân biệt giữa trang phục nam và trang phục nữ. Văn hóa trang
phục vô cùng linh hoạt, người ta mặc đồ phù hợp với hoàn cảnh, tính chất nghề nghiệp, môi trường sinh hoạt…
+ Trong trang phục, người Việt Nam đã ứng xử rất linh hoạt để ứng phó với môi trường tự
nhiên, còn luôn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người. Và sự linh hoạt, tinh tế ấy vẫn
được người Việt giữ gìn và phát triển đến ngày nay. - Tính thẩm mỹ:
+ Con người không chỉ biết mặc cho ấm mà còn biết mặc cho đẹp. Các trang phục được may
theo những tiêu chuẩn quy định, đảm bảo kỹ thuật, tuy nhiên vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ.
Ví dụ áo yếm của phụ nữ đã xuất hiện từ lâu, sau đó được cách tân dần và trở thành trang
phục tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ.
+ Văn hóa mặc của người Việt ít nhiều chịu tác động và thay đổi khi tiếp xúc với văn hóa
Trung Quốc. Thế nhưng, người Việt đã rất tinh tế và linh hoạt khi tiếp nhận những yếu tố văn
hóa ngoại sinh, làm phong phú và độc đáo thêm cho văn hóa trang phục dân tộc mà không bị
mất đi quan điểm thẩm mỹ mang tính thời đại.
- Thể hiện địa vị xã hội:
+ Trang phục còn là dấu hiệu bên ngoài để nhận thấy vị trí xã hội của con người, chỉ rõ đẳng
cấp, nguồn gốc xuất thân của người mặc trang phục: “Hơn nhau tấm áo manh quần/ Thả ra
bóc trần, ai cũng như ai.”
+ Người xưa dùng chất liệu, màu sắc để phân biệt tầng lớp xã hội. Ví dụ, tầng lớp quý tộc
thường mặc trang phục bằng chất liệu cao cấp như: gấm, vóc, đoạn sa… trong khi thường dân
sử dụng chất liệu thô sơ. Về màu sắc: trong quá khứ, màu vàng được sử dụng khá phổ biến,
và chỉ dành cho vua chúa để thể hiện uy quyền
Tuy nhiên, văn hóa trang phục hiện nay không có sự phân biệt giai cấp, thể hiện sự công bằng trong xã hội.
=> tóm lại tphuc của ng việt thể hiện rõ dấu ấn nôn nghiệp trong chất liệu, sự thích ứng vs mttn, đk sx, thể hiện cá tính dân tộc…
- vde gìn giữ trang phục tt ng việt trong xu thế hội nhập ngày nay.. (liên hệ thực tiễn, sinh viên,…)
8. Trình bày những đặc điểm của gia đình người Việt truyền thống. 8.1 Khái niệm gia đình:
- Gia đình là một thực thể xã hội, một giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu
tinh thần đặc biệt thiêng liêng của con người.
- Có thể hiểu gia đình là một cộng đồng người được hình thành và phát triển trên cơ sở hôn
nhân, huyết thống, pháp lý và có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và sinh
hoạt tinh thần
. Điều tiết hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình là những quy định
đã trở thành chuẩn mực đạo đức, đó chính là gia quy.
8.2 Khái niệm văn hóa gia đình:
- Văn hóa gia đình là một dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng , Văn hóa gia đình gồm tổng
thể những hoạt động sống cùng gia đình, bị chi phối bởi các chuẩn mực xã hội và dc các
thành viên trong gdinh chấp nhận, chia sẻ, thực hiện
8.3 Đặc điểm của gia đình người Việt truyền thống:
- Tính chất tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp:
+ Do nền sản xuất tiểu nông, gia đình người Việt cổ là một đơn vị sản xuất nhỏ. Kinh tế tiểu
nông là nền kinh tế tự cấp tự túc, bên cạnh nghề nông đóng vai trò chủ đạo là các nghề thủ
công phục vụ cho sản xuất và nhu cầu sinh hoạt gia đình. có sự phân chia vai trò lao động
trong gđ (vd chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa) ngoài ra những lúc nông nhàn gđ ng việt làm
nghề thủ công và buôn bán nhỏ (vợ làm là chủ yếu) 5 canh… nuôi đủ 5 con với 1 chồng”
Trong xã hội cổ truyền đã có sự khẳng định lao động chính và sự phân công lao động trong
gia đình: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
+ Trong hoạt động kinh tế của xã hội truyền thống, cùng với sản xuất nông nghiệp là một số
nghề thủ công hoạt buôn bán nhỏ. Hoạt động này được chia đều cho cả nam và nữ: “Đàn bà
không biết dệt là đàn bà nhác/ Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư”.
+ Còn hoạt động thương nghiệp cũng chỉ dừng lại ở mức độ bán một số nông sản và mua sắm
những vật dụng thiết yếu nhằm đảm bảo nhu cầu sinh hoạt gia đình.
- Gắn bó với dòng họ:
+ Gia đình người Việt trong xã hội cổ truyền có mối quan hệ mật thiết với dòng họ. Đối với
người Việt, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Con chú con bác chẳng khác gì nhau”. Sự
liên minh dòng họ không chỉ theo đuổi mục đích kinh tế mà là sự liên kết khẳng định sức
mạnh dòng họ và thực hiện chức năng thờ cúng Tổ tiên - giá trị tâm linh mà mỗi gia đình, gia tộc tôn thờ.
+ gđ ng việt tiến hành các hđ tâm linh đc biểu hiện cụ thể ở tín ngưỡng thoqf cúng tổ tiên, thờ thổ công => ý
nghĩa + thờ thổ công (bên trái – hướng đông, thờ riêng, vì gắn vs hướng mt mọc, đón nhận những sinh khí
trong lành cho 1 khởi đàu mới, mang đến ự sinh sôi nảy nở,… thể hiện sự mong muốn đón nhận những gì tốt
đẹp cho gđ) thổ công tuy có địa vị kém hơn nhân thần nhưng có quyên lực lớn hơn vì la fng trông coi canh
giữ cho phần đất âm của gia cũ để xua đuổi những ma giữ gây tai họa cho gia chủ. Tên cúng cơm thường xổ
thiếu 1 nét khi nào về phải nói đúng tên.
+ Gia đình quan trọng giáo dục con cái theo những thang bậc và chuẩn mực giá trị văn hóa
gia đình, giáo dục tri thức và nhân cách để mỗi thành viên sẽ làm rạng danh gia tộc, cho cộng
đồng dân tộc. Gia lễ không chỉ là nếp nhà mà còn là chuẩn mực văn hóa, ảnh hưởng tới tương
quan xóm làng, tạo lập phép đối nhân xử thế của mỗi người trong đời sống cộng đồng. Từ đó
mới thấy mối quan hệ giữa gia đình và gia tộc là rất chặt chẽ, mở rộng ra là mối quan hệ giữa
gia đình và dân tộc thông qua tộc, xóm làng.
+ gđ thực hiện các hđ giáo dục và hình thành nhân cách cho con người (thai giáo: khi bắt đầu có bầu thì cha
mẹ đã cư xử hòa nhã hơn, tránh va chạm xung đột, bồi bổ không sát sinh mà nhờ hàng xóm giết hộ,…trong
time mang bầu thường xuyên hát, kể chuyển, cho con, “cây xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để phức
cho con…”) cha mẹ giáo dục con trong suốt cuộc đơi con người (từ bé đến lớn, khi về nhà vx phải giữ nề nếp
gia phong gia đình,…. Nội dung giáo dục rất đa dạng phong phú (gd về nhập thân vh : gọi bố ông bà cha mẹ,
biết ứng xử “anh em như thể tay chân,…: giáo dục đối nhân xử thế,…dạy đỗ cách làm ăn,;…) vai trò giáo
dục của ng mẹ “con hư tại mẹ cháu hư tại bà.
+ Trong xã hội truyền thống, xã hội Việt Nam là một xã hội mang tính chất mẫu hệ. Nhưng
rồi cùng sự vận động của lịch sử, vai trò của người đàn ông ngày càng được khẳng định. Kết
quả là gia đình người Việt truyền thống mang tính chất phụ quyền trong đó vai trò của người
đàn ông được quy định do họ là nhân tố quan trọng của lực lượng sản xuất và vị thế của họ
trong gia đình, đời sống xã hội
+ Người Việt quan niệm “con gái là con người ta”, sinh con trai mới nối tiếp được dòng họ
trong xã hội đã chuyển hóa từ mẫu hệ sang phụ quyền
- Đề cao vai trò của phụ nữ: người phụ nữ trong gia đình là người lao động chính, cũng đồng
thời là người mẹ, người vợ và người thầy đảm nhiệm chức năng giáo dục, tâm lý tình cảm
+ Vai trò của người phụ nữ được khẳng định trước hết ở thiên chức làm vợ, làm mẹ trong đời
sống gia đình. Là vợ, phải chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ, mọi gian truân và niềm hạnh phúc
với chồng. Trong đời sống tinh thần, phụ nữ là chỗ dựa tinh thần, động viên khích lệ tinh thần
chồng, bảo vệ sự yên ấm gia đình
Để hoàn thành thiên chức làm mẹ, người phụ nữ phải cố gắng, hy sinh nhiều. Vai trò làm mẹ
của người phụ nữ không chỉ thể hiện ở công lao sinh thành chín tháng mang nặng đẻ đau mà
còn thể hiện ở việc nuôi dạy con cái.
+ Người phụ nữ trong gia đình còn thực hiện chức năng giáo dục bởi rất nhiều lý do. Khi
vắng mặt người chồng, người đàn bà sẽ ở nhà gánh vác hậu phương, nuôi con cái. Người phụ
nữ với khả năng chịu thương chịu khó trở thành người thầy đầu tiên cho con qua những câu
hát ru, huyền thoại, cổ tích… Những đứa trẻ tiếp nhận bài học vỡ lòng, coi người phụ nữ là
bảo tàng tri thức kinh nghiệm, hiếu biết
+ Người phụ nữ là cầu nối giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình của mình vớ
họ hàng. Người phụ nữ phái rất khéo léo khi giải quyết các tình huống tâm lý phát sinh trong
quan hệ với bố mẹ chồng, chị chồng, em chồng, hàng xóm,...
+ Xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp lúa nước dẫn đến vai trò bình đẳng của người phụ
nữ trong hoạt động kinh tế “chồng cày vợ cấy”, người phụ nữ cũng chính là người quản lý
kinh tế gia đình, không chỉ “nuôi cái cùng con”, hi sinh cho chồng mà khi đất nước cần,
người phụ nữ sẵn sàng hi sinh, dâng hiến “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
- loại hình: gia đình hạt nhân phổ biến xh xưa vì xưa khi ở riêng sẽ đc làng cắt đất cho nên phải hưởng cái đó + gđ nhỏ
+gđ lớn (kh phổ biến vì dkd vc y tế chưa phát triển nên tuoir thọ của ng việt thường ngắn
8.4 Liên hệ những biến đổi trong gia đình hiện nay:
Dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: phát triển của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu thế toàn cầu hóa, chủ trương,
chính sách của Đảng về Nhà nước và gia đình,... gia đình Việt Nam đã có những biến đổi về
quy mô, kết cấu, các chức năng cũng như quan hệ gia đình,...
- Sự biến đổi về quy mô gia đình: quy mô gia đình ngày càng giảm. Do nhiều tác động trong
đó phải kể đến vai trò của Nhà nước trong cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch nhưng năm
1980, 1990. Gia đình hạt nhân, gia đình 2 thế hệ ngày càng phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay.
- Biến đổi các chức năng của gia đình:
+ Trong xã hội truyền thống, nhu cầu về con gái thể hiện ở việc càng đông con càng tốt, phải
có con trai. Hiện nay, nhu cầu đông con trong các gia đình đã giảm, một số gia đình cũng
không còn coi trọng việc nhất thiết phải có con trai
+ Gia đình truyền thống chủ yếu giáo dục đạo đức, nhân cách cho con cái thì gia đình hiện
nay còn chú trọng giáo dục kỹ năng, chuyên môn, đầu tư học hành cho con cái
- Quan hệ giữa vợ và chồng: trong gia đình truyền thống luôn tồn tại sự bất bình đẳng giữa vợ
và chồng. Trong gia đình Việt Nam hiện nay, sự bình đẳng giữa vợ và chồng đã dần được thể hiện
- Quan hệ giữa cha mẹ và con cái: trong gia đình truyền thống, cha mẹ có uy quyền tuyệt đối
với con cái, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Tuy nhiên, trong gia đình hiện nay, mối quan hệ
giữa cha mẹ và con cái đã dân chủ hơn, con cái được lựa chọn, bày tỏ ý kiến cá nhân…
9. Trình bày những đặc điểm của lễ Tết Việt Nam.
9.1 Khái quát hệ thống lễ Tết Việt Nam:
a) Khái niệm và cơ sở hình thành:
- Quan niệm về lễ Tết của người Việt:
+ Tết là biến âm của từ “tiết” (thời tiết, mùa tiết)
+ Lễ Tết là việc tổ chức những nghi lễ theo một khuôn mẫu nhất định, vào các thời điểm của
tự nhiên theo các chu kỳ: xuân, hạ, thu, đông
+ Lễ Tết của người Việt chủ yếu tính theo lịch âm
- Cơ sở hình thành: - Nhu cầu tâm linh:
+ Tết đọc chệch của thời tiết mà ra. Mà mùa vụ thì phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên
người nông dân gửi gắm vào lễ Tết lòng tôn kính và tri ân các vị thần linh có liên quan đến
mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Mặt trời, thần Nước… Lòng tôn kính ấy biểu hiện
qua phần Lễ thiêng liêng với những thức dâng xuất phát từ tấm lòng thành kính.
- Đặc trưng của nghề nông nghiệp lúa nước:
+ Các pho truyền thuyết và bằng chứng lịch sử chỉ rõ, nhà nước Văn Lang với Kinh Dương
Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ được suy tôn là thủy tổ của người Việt, lập nên triều đại
của vua Hùng. Ngay từ thời hồng hoang lịch sử ấy, hoàng từ Lang Liêu đã dùng gạo nếp kết
tinh từ đất trời làm bánh chưng dân lên vua cha. Kể từ đó, triết lí trời tròn đất vuông là hệ
vòng quay bốn mùa xuân hạ thu đông, hương thơm lúa nếp tành tinh hoa văn hóa của nền văn minh lúa nước. - Nhu cầu giải trí:
+ Tết là cuộc hành hương về với cội nguồn, về với nơi chôn rau cắt rốn, về với gia đình, với
cộng đồng dân tộc và dân tộc. Tết là ngày đoàn tụ xóa đi khoảng cách không gian và thời
gian, hóa giải hờn dỗi để kết nối tình thân.
+ Những ngày Tết luôn tràn ngập niềm vui, hân hoan trong khát vọng sum vầy. Người Việt
tin Tết vui vẻ thì cả năm sẽ tốt đẹp.
=> lễ tết là sinh hoạt vh cổ truyền của cộng đồng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, nhu cầu
ẩm thực và các nhu cầu khác của con người.
- cấu trúc lễ tết:
+ lễ: thực hiện các nghi lễ (chủ yếu trong gia đình) nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh (thờ cúng tổ tiên, ông bà
+ tết: ăn tết và các sinh hoạt khác
- hệ thống lễ tết of ng việt:
1 ăm có nhị thập tứ tiết khí (24 tết): tết nguyên đán, tết khai hạ, tết thượng nguyên (rằm tháng
giêng), tết hàn thực, tết thanh minh, tết đoan ngọ, tết trung thu, tết trùng cửu, tết trùng thập, tết táo quân,…
b) Giới thiệu, phân tích một số lễ Tết tiêu biểu:
- Trong văn hóa Việt Nam, chúng ta có đến 12 cái Tết trong năm. Trong 12 cái Tết đó thì Tết
Nguyên đán là lễ Tết quan trọng nhất. Nó diễn ra vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu
một năm mới theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
+ Tết Nguyên Đán được bắt đầu từ Tết Táo quân vào 23 tháng Chạp với rất nhiều lễ nghi
mang nhiều ý nghĩa, và Tết chỉ thực sự kết thúc bằng Tết Khai Hạ vào mùng 7 tháng Giêng
+ Tết Nguyên Đán có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn của cuộc sống, biểu
hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Tết Nguyên Đán đánh dấu thời khắc
chuyển giao đất trời, ẩn chứa những ý nghĩa thiêng liêng trong tâm linh mỗi người Việt.
9.2 Đặc điểm của lễ Tết Việt Nam:
- từ “ăn” trong ăn tết: phải ăn thì mơi tồn tại và ptrien, thể hiện mong muốn no đủ, ăn là ông
bà tổ tiên ăn trc -> mk ăn sau-> lòng biết ơn. Ăn lộc, ăn sum vầy, đoàn tụ gđinh.
- Cấu trúc: lễ và tết, gắn liền với thời tiết, thời vụ
+ Con người Việt Nam vốn thuận theo sự vận hành vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt
các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nên lễ Tết Nguyên Đán có ý nghĩa đặc biệt, đặc biệt đối với xã
hội mà nền kinh tế dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính.
+ Mùa vụ phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời Tiết nên người nông dân gửi gắm vào Lễ Tết sự
tôn kính với các thần có liên quan đến mùa màng. Lòng tôn kính ấy được biểu hiện qua phần
Lễ trang trọng và linh thiêng với những thức dân xuất phát từ lòng thành.
- Mang dấu ấn và bản sắc riêng, thể hiện tính cộng đồng, cộng cảm
+ Lễ Tết thể hiện mối cộng cảm sâu sắc của mỗi người với gia tộc và xóm làng trong tính
cộng đồng, hàm chứa niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh về những điều tốt
đẹp mà con người khao khát hướng tới.
+ Tết là cuộc hành hương hướng về cộng đồng gia tộc và dân tộc. Tết là dịp đoàn tụ, xỏa bỏ
đi khoảng cách thời gian không gian, xóa bỏ thù hận, hóa giải giận hời để lối sống duy tình
trở thành đạo lý dân tộc.
+ Trong những ngày Tết, con người luôn vui vẻ với truy cầu cả năm sẽ tốt đẹp. Niềm tin này
khiến Lễ Tết trở thành Tết của niềm lạc quan, hy vọng. Đó là phẩm chất tốt đẹp của dân tộc
Lạc Việt, là sức mạnh nội sinh giúp văn hóa Việt Nam trường tồn phát triển.
9.3. liên hệ với lễ tết hiện nay và vai trò gìn giữ giới trẻ.