TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
*****
Đề Tài Thảo Luận
NGHIÊN CỨU CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 - 2009
NHÓM 7
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHAN THẾ CÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ HỌC PHẦN: 1KIVM29A2
HÀ NỘI, THÁNG 10/2023
1
Lời cảm ơn
Kinh tế một môn học cùng quan trọng cho các trương trình đào
tạo cao học, các lớp lãnh đạo quản lý, qua kiến thức này chúng ta hiểu được tầm
quan trọng của các chính sách tài khóa và chi tiết từng biến số trong nền kinh tế để
điều hành thúc đẩy cả một nền kinh tế của đất nước như nào .
Trong quá trình học tập bộ môn kinh tế mô trương trình đào tạo sau đại
học của trường Đại học Thương Mại chúng em cùng cảm kích biết ơn các thầy
trong khoa đặc biệt là PGS.TS Phan Thế Công đã giảng dạy giúp chúng em tiếp
thu kiến thức một cách hiệu quả, giúp chúng em hiểu được bản chất của nền kinh
tế vận hành như nào , các chính sách tài khóa của Chính Phủ để mỗi cá nhân chúng
em mở mang kiến thức còn áp dụng được vào công việc hàng ngày một cách
hiệu quả hơn . Cuối cùng chúng em chúc thầy sức khỏe hạnh phúc luôn luôn
tràn đầy nhiệt huyết để dẫn dắt các lứa học trò tiếp theo xây dựng một thế hệ vững
mạnh tương lai cho đất nước
2
Phụ lục 1:
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌP NHÓM THẢO LUÂIN
Học phần: Kinh tế vĩ mô
LRp: CH29AQTKD.N1 NhSm: 07
ST
T
the
o
da
nh
sXc
h
Họ và tên
học viên
MZ HỌC
VIÊN LRp
Tên
nhS
m
thả
o
luâ I
n
S\ bu^i
họp nhSm
thảo luận
Đi_m tự
đXnh giX
của cXc
cX nhân
Đi_
m
trươ
ng
nhS
m
châ
m
GiX
o
viê
n
kết
luậ
n
G
hi
ch
u
S\
bu^i
họp
nhS
m
tên
Đi_
m
K
ý
n
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9 )(10) (11) (1
2)
64 Nguyễn
Thành Trung
23AM0101
064
CH29AQTK
D.N1
Nhó
m 7 38 8
65
Nguyễn
Công
Trường
23AM0101
065
CH29AQTK
D.N1
Nhó
m 7 3
10 10
66 Phan Thị
Thanh Vân
23AM0101
066
CH29AQTK
D.N1
Nhóm 7 39 9
67 Vương Duy
Việt
23AM0101
067
CH29AQTK
D.N1
Nhóm 7 39 9
68 Nguyễn Th
Vinh
23AM0101
068
CH29AQTK
D.N1
Nhóm 7 39 9
70 Trần Văn Vỹ 23AM0101
070
CH29AQTK
D.N1
Nhóm 7 38 8
71
Ketsana
Laomouaxio
ng
23AM0101
071
CH29AQTK
D.N1
Nhó
m 7 3
8 8
72 Đoàn Quỳnh
Trang
23AHTTS
07
CH29AQTK
D.N1
Nhóm 7 310 10
H nô i, ngày tháng năm 20
XXc nhâ In của thư ký XXc nhâ In của nhSm trương
3
MỤC LỤC
Lời cảm ơn........................................................................................................................2
Lời mơ đầu........................................................................................................................5
Chương 1: Một s\ khXi niệm về kinh tế và khủng hoảng kinh tế.................................6
1. Khái niệm về kinh tế................................................................................................6
2. Khái niệm về khủng hoảng kinh tế...........................................................................6
Chương 2: Khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2009..........................7
1. Mô tả tình hu\ng thực tế diễn ra khủng hoảng tại Việt Nam trong năm 2008 -
2009................................................................................................................................ 7
2. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng................................................................8
3. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam...............................................................9
3.1. Tác động đến xuất nhập khẩu............................................................................9
3.2. Tác động đến thị trường tiền tệ........................................................................11
3.3. Đầu cơ và biến động giá cả..............................................................................12
3.4. Lạm phát..........................................................................................................14
3.5. Tác động của luồng vốn vào ròng đến nền kinh tế Việt Nam..........................15
3.6. Tác động đến thị trường chứng khoán.............................................................16
4. Chính sXch của chính phủ giải quyết khủng hoảng...........................................16
5. CXc kết luận và phXt hiện qua nghiên cứu, chỉ rõ cXc phần: Ưu và nhược
đi_m, khS khăn/hạn chế, thXch thức, cXc phXt hiện của vân đề nghiên cứu...........20
Chương 3: Phương hưRng và cXc giải phXp.................................................................23
1. Đánh giá và nhận xét..............................................................................................23
2. Các giải pháp đóng góp..........................................................................................25
4
Lời mơ đầu
Kinh tế học là một môn khoa học hội giúp con người kiểu về cách thức vận
hành của nền kinh tế nói chung và các chủ thể tham gia nền kinh tế nói riêng. Kinh
tế học tập chung vào việc giải quyết các nguồn lực hạn chế trong tự nhiên để cải
tạo vận hành để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người trong xã hội . Chính
vì sự quan trọng cấp thiết này và các lợi ích về sự hiểu biết trong khi nghiên cứu bộ
môn kinh tế học nhóm em đã chọn chủ đề thảo luận về Muốn Tăng trưởng kinh
tế Có phải chấp nhận thâm hụt ngân sách Nhà nước “ và đưa ra giải pháp tối ưu để
khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Các số liệu được nhóm nghiên
cứu chi tiết từ năm 2020 đến năm 2022
5
Chương 1: Một s\ khXi niệm về kinh tế và khủng hoảng kinh tế
1. KhXi niệm về kinh tế
Kinh tế một lĩnh vực , , cũng như sản xuất phân phối thương mại tiêu
dùng hàng hóa dịch vụ . Tổng thể, nó được định nghĩa là một lĩnh vực xã hội tập
trung vào các hoạt động, tranh luận các biểu hiện vật chất gắn liền với việc sản
xuất, sử dụng quản các . Một nền kinh tế mộtnguồn tài nguyên khan hiếm
tập hợp các quá trình liên quan đến , , giáo dục, phát triển công nghệ,văn hóa giá trị
lịch sử, , , tổ chức hội cấu trúc chính trị hệ thống luật pháp tài nguyên thiên
nhiên làm các yếu tố chính. Những yếu tố này cung cấp bối cảnh, nội dung và thiết
lập các điều kiện thông số một nền kinh tế vận hành. Nói cách khác, lĩnh
vực kinh tế một lĩnh vực hội bao gồm các hoạt động giao dịch của con
người có liên quan với nhau mà không đứng riêng lẻ.
2. KhXi niệm về khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế một giai đoạn suy thoái kéo dài, liên tục trong hoạt
động kinh tế một hoặc nhiều nền kinh tế. Đây một cuộc suy thoái kinh tế
nghiêm trọng hơn , sự chậm lại của hoạt động kinh tế trongsuy thoái kinh tế
quá trình của một bình thường.chu kỳ kinh doanh
Khủng hoảng kinh tế được đặc trưng bởi độ đại của chúng, bởi tỷ lệ thất
nghiệp gia tăng bất thường, giảm khả năng cung cấp tín dụng (thường do một số
hình thức hoặc ), sản lượng thu hẹp khi ngườikhủng hoảng tài chính ngân hàng
mua cạn kiệt và nhà cung cấp cắt giảm sản xuất và đầu tư, hơn thế nữa baophá sản
gồm các vụ vỡ nợ chủ quyền, giảm đáng kể lượng thương mạithương mại
(đặc biệt ), cũng như biến động giá trị tiền tệ tương đối nhiềuthương mại quốc tế
biến động (thường do ). giá, , phá giá tiền tệ Giảm phát khủng hoảng tài chính thị
6
trường chứng khoán sụp đổ ngân hàng thất bại cũng những yếu tố phổ biến
của suy thoái vốn thường không xảy ra trong thời kỳ suy thoái.
Chương 2: Khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2009
1. ttình hu\ng thực tế diễn ra khủng hoảng tại Việt Nam trong năm
2008 - 2009
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã tác động mạnh mẽ và đa
chiều lên nền kinh tế và xã hội của Việt Nam.Tình hình kinh tế của Việt Nam trong
năm 2008 chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu, xuất
phát từ sự sụt giảm mạnh của thị trường nhà ở và thị trường tài chính tại Mỹ. Cuộc
khủng hoảng tồi tệ bắt đầu từ năm 2008, làm chao đảo thế giới suốt nửa thập kỷ
qua. Bối cảnh này, cộng với những vấn đề nội tại khiến kinh tế Việt Nam ngày
càng khó khăn và chưa thể thoát khỏi đáy suy thoái.
T\c độ tăng trương kinh tế suy giảm:
Trước khủng hoảng, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, với tỷ
suất tăng trưởng GDP hàng năm đạt khoảng 7-8% từ năm 2004 đến 2007 .Tuy
nhiên, sau khi khủng hoảng bùng phát, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống
khoảng 5-6% vào năm 2009.
Sụt giảm xuât khẩu và đầu tư trực tiếp nưRc ngoài:
Tăng trưởng xuất khẩu chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng. Các thị trường
xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu Nhật Bản sụt giảm nhu cầu
hàng hóa.Sản lượng xuất khẩu của Việt Nam giảm từ 17,6% tăng trưởng năm 2007
xuống chỉ còn 0,1% tăng trưởng vào năm 2009 .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giảm từ
31,6 tỷ USD năm 2008 xuống chỉ còn 21,3 tỷ USD vào năm 2009. Đầu nước
ngoài (FDI) cũng giảm do tác động tiêu cực từ khủng hoảng. Các nhà đầu quốc
tế trở nên cẩn trọng hơn, đặt chú trọng đến việc giảm rủi ro và đảm bảo lợi nhuận.
7
Thị trường chứng khoXn sụt giảm:
Thị trường chứng khoán tại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ khủng hoảng.
Chỉ số VN-Index đã giảm từ mức khoảng 900 điểm vào đầu năm 2008 xuống còn
khoảng 250 điểm vào cuối năm 2008.
Tăng tỷ lệ thât nghiệp:
Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ khoảng 4,4% vào năm 2008 lên khoảng 4,8% vào năm
2009.
Biện phXp khắc phục kịp thời của chính phủ:
Chính phủ đã triển khai gói kích thích kinh tế trị giá 8,4 tỷ USD để thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế hỗ trợ các ngành công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề.
Ngoài ra, chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp khắc phục khác như cắt giảm lãi
suất, đẩy mạnh đầu tư công và ưu đãi thuế để kích thích tăng trưởng.
Chính phủ đã thực hiện các biện pháp tăng cường quản ngân hàng tài
chính để đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính. Điều này bao gồm kiểm soát
nợ xấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính đảm bảo sự tin
cậy của thị trường tài chính.
Tóm lại, tình hình kinh tế Việt Nam trong năm 2008 chịu tác động sâu
tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến sự suy giảm tăng trưởng, xuất
khẩu và đầu tư, cùng với áp lực lạm phát và tăng tỷ lệ thất nghiệp.
2. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng
Mặc không phải một yếu tố bên ngoài ảnh hưởng thường xuyên
hoặc không là yếu tố quyết định nhưng các cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ trên
phạm vi thế giới luôn gây ra những tác động nhất định đến các nền kinh tế là thành
viên của nó. Khủng hoảng tài chính, khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng
đến hầu hết các nền kinh tế. Sự ảnh hưởng của khủng hoảng đến các nền kinh tế là
khác nhau, phụ thuộc vào mức độ hội nhập của nền kinh tế đối với nền kinh tế toàn
cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó
8
Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 - 2009 tại Việt Nam đến từ nước Mỹ, tiềm
ẩn từ cuối năm 2007, bùng phát vào cuối 2008, bắt đầu từ khủng hoảng nhà đất, lan
sang hệ thống tài chính, sang kinh tế thực, sang lĩnh vực lao động việc làm, lan
sang các nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này xảy ra trong điều kiện Việt
Nam vừa mới gia nhập WTO từ đầu năm 2007
rất nhiều nguyên nhân làm có kinh tế bị khủng hoảng. Dưới đây là những
nguyên nhân chính có tác động mạnh mẽ nhất mà chúng tôi đã liệt kê.
Chính sách tín dụng của nền kinh tế Mỹ không đạt chuẩn.
Nhà nước chưa thật sự nghiêm ngặt trong quá trình quản lý, đặc biệt
trong ngành bất động sản.
Các cuộc khủng hoảng về kinh tế của Mỹ cũng tác động không nhỏ đến
kinh tế của các nước trong và ngoài khu vực.
Thị trường tài chính còn tồn tại nhiều nợ xấu dẫn đến mất kiểm soát
quan trọng hơn là nhiều ngân hàng phá sản.
Lạm phát tăng nhanh, làm cho nền kinh tế suy thoái.
Thị trường chứng khoán luôn biến động về giá cả, nhiều nhà đầu
tham lam mạnh tay chi tiền. Cuối cùng, không những không lợi
nhuận mà còn phải vay thế chấp ngân hàng để bù thua lỗ.
3. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chịu tác động của khủng hoảng là tháng
08/2008 hồi phục quý I/2010. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam thể
hiện qua các chỉ số sau của nền kinh tế.
3.1. TXc động đến xuât nhập khẩu
Tác động của khủng hoảng tài chính đến xuất khẩu nhanh nhất đây
lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với biến động trên thị trường thế giới. Nhìn chung,
xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động rất lớn bởi lẽ: (i) Việt Nam một
9
trong một số nước độ mở ngoại thương khá lớn; (ii) Trước khủng hoảng, Việt
Nam nằm trong top 50 quốc gia kim ngạch xuất khẩu nhập khẩu hàng đầu
thế giới với xuất khẩu đứng hàng thứ 50, chiếm tỷ trọng 0,3% tổng kim ngạch xuất
khẩu toàn cầu nhập khẩu đứng hàng thứ 41, chiếm tỷ trọng 0,4% tổng kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa toàn cầu. Thêm vào đó kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam với các ớc Mỹ, Nhật, châu Âu lên đến 52%, riêng Mỹ chiếm đến 20,8%
(Bảng 1). Ðây những nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của suy thoái kinh tế, cầu
đầu tiêu dùng giảm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam.
Bảng 1: Tỷ trọng xuât nhập khẩu theo cXc đ\i tXc thương mại của Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2011
(Đơn vị: %)
Số liệu thống kê cho thấy xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2007 tăng đều
qua các tháng (bảng 2), nhưng qua năm 2008 chỉ tăng đến tháng 07/2008 sau đó
giảm dần; sang năm 2009, kim ngạch xuất khẩu tăng trong hai tháng đầu năm
nhưng vẫn chưa bằng trước lúc giảm năm 2008. Ngoài ra, theo Tổng cục Hải quan,
giá xuất khẩu bình quân một số mặt hàng chủ lực như dầu, cao su, gạo, cà phê, hạt
điều, đậu đều đi xuống; nhiều đơn hàng xuất khẩu vào Mỹ, EU, Nhật như dệt may,
10
tiêu, điều, gỗ giảm 20 - 30%; việc kết hợp đồng xuất khẩu mới gặp khó khăn;
nhiều hợp đồng xuất khẩu bị hoãn hoặc lùi sang năm 2009. Số liệu về kim ngạch
xuất khẩu năm 2009 cho thấy một số dấu hiệu tích cực nhưng về bản chất việc cải
thiện này chỉ vẻ bên ngoài, kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu do xuất khẩu
vàng. Ðến hết quý I năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mới ổn định trở lại mức trước
khủng hoảng.
Nhập khẩu cũng chịu tác động của khủng hoảng do: (i) Việt Nam phải nhập
từ 70 - 80% nguyên nhiên vật liệu để sản xuất chế biến hàng xuất khẩu. Xuất
khẩu giảm kéo theo nhập khẩu giảm; (ii) suy thoái kinh tế toàn cầu làm cho giá yếu
tố đầu vào như dầu mỏ, các sản phẩm hóa dầu, phôi thép thép xây dựng, các
thiết bị công nghệ cũng bị giảm mạnh kéo theo kim ngạch nhập khẩu giảm. Tuy
nhiên, nhờ tác động của gói kích thích kinh tế triển khai từ tháng 02/2009, nhập
siêu đã tăng trở lại từ tháng 03/2009. Hệ quảnhập siêu của Việt Nam ngày càng
nghiêm trọng hơn. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn
cầu điều này hoàn toàn không lợi dù Việt Nam chủ yếu nhập liệu sản xuất
thâm hụt cán cân thương mại hiện đang ở mức rất cao, khi các luồng tiền vào để bù
đắp đều khả năng bị cắt giảm thì việc cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt
khả năng gây bất ổn định rất nguy hiểm như tăng nợ và giảm dự trữ ngoại tệ.
3.2. TXc động đến thị trường tiền tệ
Phản ứng của thị trường tín dụng Việt Nam khá tiêu cực, trước tiên khan
hiếm nguồn tín dụng. NHNN “bơm” trở lại lưu thông 33.000 tỷ đồng ngay
trong tháng 3/2008, nhưng trong quá trình tái cấu các khoản tín dụng đáp
ứng yêu cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương mại (NHTM)
khước từ phần lớn các yêu cầu tín dụng của doanh nghiệp. Thêm vào đó, lạm phát
gia tăng cũng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao theo nguyên “lãi suất dương”. Liên
tiếp trong tháng 5 và 6-2008, lãi suất cơ bản được nâng lên 12%, rồi 14%. Với biên
11
độ dao động cho phép là 150%. thời điểm, lãi suất huy động vượt trên
20%/năm. Với đầu vào như vậy, doanh nghiệp nhu cầu sử dụng vốn phải chấp
nhận mức lãi suất rất cao để tồn tại. Không ít đơn vị sản xuất kinh doanh chấp nhận
dùng “thuốc độc tín dụng” để tồn tại. Tăng trưởng tín dụng sau khi tăng cao tới
54% trong năm 2007 đã giảm xuống còn 24% trong năm 2008. Tuy lãi suất đi
xuống từ tháng 7-2008, nhưng tăng trưởng tín dụng giảm mạnh trong nửa cuối
năm. Nếu trong nửa đầu năm 2008, tăng trưởng tín dụng hằng tháng luôn dao động
từ 2% - 5% thì tốc độ tăng của tháng 7 chỉ còn 0,7% và tiếp tục giảm xuống 0,56%
trong tháng 8-2008.
Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7-2008 cũng chứng kiến sự biến động mạnh
mẽ trong tương quan giữa đồng Việt Nam đô la Mỹ (USD). Tỷ giá trên thị
trường tự do tỷ giá bình quân ngân hàng mức chênh lệch rất lớn. Khoảng
cuối tháng 3 đầu tháng 4-2008, nhu cầu sử dụng USD rất thấp. Tỷ giá tự do thấp
hơn tỷ giá niêm yết chính thức. Sang tháng 5, đặc biệt vào nửa cuối tháng 6-2008,
giá USD trên thị trường tự do những lúc tăng cao đột biến. Khoảng cách giữa
hai hình thức tỷ giá dao động từ 3.000 đồng đến 3.500 đồng/USD.
3.3. Đầu cơ và biến động giX cả
Bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động đã tạo môi trường thuận lợi cho
các hoạt động đầu quốc tế. Các nhà ngân hàng tập đoàn đa quốc gia với tài
sản hàng nghìn tỉ USD đang thao túng thị trường giao dịch hàng hóa thiết yếu
đầu vào sản xuất quan trọng. Lần lượt dầu thô, lương thực, vàng trở thành đối
tượng tập trung đầu cơ cao Tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia sẽ trở thành
mục tiêu kế tiếp, theo một kịch bản xấu. Tình trạng này đã dẫn đến những hệ lụy
sau:
Việc tăng giá xăng dầu: xăng dầu là vật tư thiết yếu của sản xuất và hàng hóa
quan trọng trong đời sống. Chính phủ Việt Nam từ lâu vẫn duy trì sự điều tiết chặt
12
chẽ thông qua thuế và quy định giá. Đến ngày 21-7-2008, trước áp lực giá tăng kỷ
lục của thị trường thế giới, giá bán lẻ xăng A92 tại Việt Nam có sự điều chỉnh lớn,
tăng tới trên 30%, từ 14.500 đồng/lít lên mức 19.000 đồng/lít.
Giá vng lên xuống thất thường: Ở Việt Nam, vàng là hàng hóa đặc biệt, vừa
hình thức tiết kiệm được ưa thích, vừa là phương tiện thanh toán phổ biến. Năm
2008, mức độ tăng giảm của giá vàng tương đối lớn. Trong tháng 2 3-2008, chỉ
số giá vàng liên tiếp tăng 11 và 13 điểm phần trăm. Hai tháng tiếp theo, chỉ số giá
vàng giảm tổng cộng 13 điểm phần trăm. Tháng 7-2008, chỉ số giá vàng tăng cao
nhất trong 10 tháng đầu năm, mức 220,46 điểm phần trăm. Nhưng đến hết tháng
9-2008, chỉ số giá vàng lại tụt xuống 200 điểm
“Sốt”giá lương thực: Nạn đầu cũng khiến giá lương thực tăng nhanh từ
tháng 4 đến tháng 6-2008. Trong ba tháng, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lần
lượt tăng 23,6%, 40,4% 26,7%. So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu của tháng 4-
2008 đã tăng gấp hơn hai lần. Giá gạo xuất khẩu của tháng 6-2008 tăng cao nhất,
có lúc lên đến 1.005 USD/tấn.
13
Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt
(trong đó Việt Nam) đã lựa chọn giải pháp tạm ngừng xuất khẩu để quan sát.
Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực để duy trì ổn định
giá cả và bảo đảm an ninh lương thực. Thực tế này dẫn tới hai hiệu ứng đồng thời:
(I) giá lương thực tiếp tục bị đẩy lên cao; (II) hành động “bơm thêm tiền để
mua lương thực của các chính phủ khiến tình hình lạm phát ở nhiều quốc gia càng
thêm trầm trọng.
3.4. Lạm phXt
Lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Cuối tháng 6-
2008, chỉ số giá so với kỳ gốc 2005 144,30%. Trong quý III-2008, tốc độ tăng
CPI giảm dần. Tính cả quý, CPI chỉ tăng 4,18 điểm phần trăm. Từ tháng 10-2008,
xuất hiện dấu hiệu giảm phát khi CPI giảm xuống 148,2% so với mức 148,48%
của tháng trước.
14
3.5. TXc động của luồng v\n vào ròng đến nền kinh tế Việt Nam
Nhờ vào chính sách nới lỏng các rào cản đầu tư, đẩy mạnh mở cửa thị
trường vốn tự do hóa thị trường tài chính, luồng vốn vào ròng của Việt Nam
tăng khá nhanh qua từng năm đặc biệt tăng mạnh từ năm 2007 (Hình 2).Trong
cấu luồng vốn vào, vốn đầu trực tiếp (FDI) vẫn dòng vốn chiếm tỷ trọng
lớn tăng trưởng tương đối ổn định. Vốn đầu gián tiếp (FPI) chỉ bắt đầu xuất
hiện từ năm 2005 nhưng đã cho thấy sự linh hoạt nguy hiểm của đối với
luồng chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế. FPI tăng mạnh vào năm 2007 (6,243
triệu USD) khi TTCK Việt Nam bùng nổ cùng lúc Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của WTO, rồi nhanh chóng đảo chiều vào năm 2008 (-578 triệu USD)
khi bong bóng chứng khoán vỡ và giảm hẳn vào năm 2009. Vốn đầu khác (OI),
với phần lớn tín dụng tài sản ngân hàng, dòng vốn đang ngày càng chiếm
tỷ trọng cao trong cán cân tài khoản vốn.
15
Tuy nhiên, luồng v\n vào cũng cS những tXc động đXng chu ý:
Thứ nhất, luồng vốn vào ròng ạt gây áp lực lên cung tiền khiến lạm phát
gia tăng. Lượng vốn đầu gián tiếp ạt đổ vào trong nửa cuối năm 2007 quý
I/2008 đã dẫn tới tình trạng tỷ giá hối đoái giảm và để giữ ổn định tỷ giá,
NHNN đã thực hiện các giao dịch can thiệp trên thị trường ngoại hối. Hậu quả
lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế tăng lên nhanh chóng
3.6. TXc động đến thị trường chứng khoXn
Sự vận động lên xuống của các chỉ số chứng khoán cũng như giá các loại cổ
phiếu tác động ngày càng lớn hơn tới đời sống hội. Đến cuối năm 2008, giá
trị các chỉ số chứng khoán giảm tới 70% so với đầu năm. Ngay một số cổ phiếu
thuộc nhóm “blue-chip” còn mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%)
FPT (- 78%).
Nửa đầu năm 2008, chỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng. Đầu tháng 1-
2008, Vn-Index còn trên 900 điểm, tới đầu tháng 6-2008, hàn thử biểu kinh tế lần
đầu rơi xuống dưới ngưỡng 400 điểm. Thị trường tiếp tục giằng co trong quý III-
2008. Từ sau tháng 10-2008, thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm. Tới ngày
11-12-2008, Vn-Index chỉ còn 288 điểm. Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm.
Trước đó, thị trường Nội thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống
97,61 điểm khi kết thúc phiên giao dịch ngày 27-11-2008.
4. Chính sXch của chính phủ giải quyết khủng hoảng
Giải phXp khắc phục và vượt qua khủng hoảng kinh tế hiệu quả
Khủng hoảng tài chính kinh tế gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Dễ thấy nhất
đó người lao động thất nghiệp, nhân dân đói kém, các doanh nghiệp phá sản,
kinh tế đất nước giảm sút trầm trọng,… Để giải quyết được các vấn đề đó, cá nhân,
16
tổ chức quan nhà nước cần đưa ra các biện pháp ngăn chặn ngay khi xuất
hiện. Đồng thời, có giải pháp để vượt qua khủng hoảng nhanh chóng và hiệu quả.
Giải phXp ngăn ngừa khủng hoảng xảy ra
Mở ra các tài sản giao dịch trên sàn chứng khoán uy tín và hợp pháp như:
HNX, Hose hay Upcom,…
Khi thị trường có biến động về kinh tế, bạn nên sử dụng các CFD để đảm
bảo lợi nhuận thu về nếu xảy ra khủng hoảng.
Mua cổ phiếu để đầu từ những công ty đại chúng uy tín lâucổ phần
năm.
CXch khắc phục nền kinh tế hiệu quả khi khủng hoảng
Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, mỗi nhân, doanh nghiệp cả nhà nước
phải thật bình tĩnh. Tìm hiểu các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng và vạch ra
phương hướng xử lý nhanh chóng, tốt nhất. Dưới đây là một số cách khắc phục ban
đầu:
Nhà nước cần nâng cao giá trị hàng hóa, sản phẩm kể cả thị trường trong
nướcquốc tế. Trước hết, nhanh chóng khai thác thị trường trong nước,
tìm ra những cơ hội mới để xây dựng, phát triển và vươn xa hơn.
Giám sát chặt chẽ đối với các chính sách đầu trên thị trường chứng
khoán, địa ốc, ngoại tệ,…. Bởi vì, đây là những thị trường tiên phong luôn
đứng đầu và thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia.
17
Nền kinh tế nước nhà phát triển theo hướng bền vững, không nên chạy
đua với kinh tế thế giới như vậy khủng hoảng sẽ dễ dàng xảy ra. Hơn nữa,
bên cạnh kim ngạch xuất khẩu sản xuất cũng cần quan tâm đến hạ tầng
giao thông, đô thị,…
Mỗi người đều chung tay góp sức xây dựng nền công nghiệp hóa, hiện đại
hóa phát triển.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự khủng
hoảng trong lĩnh vực tài chính, bao gồm bảo hiểm, tín dụng, , diễn rachứng khoán
từ năm 2007 cho tới năm 2008, khởi nguồn từ Mỹ.
Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 được cho rằng
liên quan tới việc các tổ chức tài chính trong thị trường bất động sản tại Mỹ khi
họ bắt đầu đưa ra các khoản vay thế chấp mạo hiểm nhằm giải cứu người mua bất
động sản. Hình thức vay thế chấp nhắm vào những người mua nhà thu nhập
thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng với sự bùng nổ bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ.
Yếu tố chủ chốt gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính do sự phát
triển nhanh chóng của các sản phẩm tài chính kiểu săn mồi, nhằm vào những đối
tượng người mua nhà thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin. Đứng đầu
những tchức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman Brothers sự
sụp đổ của ngân hàng này đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng.
Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai
các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp dụng chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu.
TXc động của cuộc khủng hoảng kinh tế 2008
Tuy nhiên, những giải pháp chính sách tài khóa đó đã quá muộn, cuộc
khủng hoảng kinh tế 2008 lan rộng ra các nước trên thế giới, đặc biệtLiên minh
Châu Âu như Đức, Anh, Pháp cũng như các quốc gia khác. Cuộc khủng hoảng này
18
đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu với hơn 10.000 tỷ USD đã bị cuốn
trôi, hơn 30 triệu người thất nghiệp, gia tăng tỷ lệ vô gia cư và tự tử.
Ngoài ra, còn rất nhiều những tác động tiêu cực do cuộc khủng hoảng này
gây ra như:
Bear Stearns một trong những ngân hàng đầu lớn nhất tại phố Wall
đã lên tiếng cầu cứu và được JPMorgan Chase mua lại với giá 30 tỷ USD.
Ngân hàng Lehman Brothers tuyên bố phá sản đây là ngân hàng đầu
được thành lập từ năm 1844. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu hơn 160
năm của Mỹ là dấu hiệu cho việc bán tháo lớn nhất trong lịch sử tài chính
Mỹ.
Thị trường chứng khoán tại Hong Kong Thượng Hải sụt giảm xuống
mức 4,5 – 5,4%. Giá trị tài sản của một quỹ thị trường tiền tệ giảm dưới 1
USD/Cổ phiếu. Hơn 140 tỷ USD rút khỏi quỹ bởi các nhà đầu tư Mỹ.
Khủng hoảng kinh tế 2008 ảnh hương đến Việt Nam như thế nào?
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền
kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, vào thời điểm năm 2007 – 2008, nền kinh tế Việt
Nam vẫn còn hạn chế về độ mở, do vậy khủng hoảng kinh tế 2008 Việt Nam
được cho là không đáng kể nhưng vẫn có một số điểm đáng chú ý.
Về thương mại
Hoa Kỳ, Nhật Bản các nước Châu Âu những thị trưởng xuất khẩu lớn
quan trọng đối với Việt Nam. Vào đầu năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài
chính bùng nổ, đã xuất hiện xu hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại thời điểm đó.
Do suy thoái kinh tế, cầu tiêu dùng tại Hoa Kỳ giảm mạnh, trong 9 tháng
đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, giảm gần
19
10% so với năm 2007. Các mặt hàng xuất khẩu ảnh hưởng nhiều nhất là may mặc,
cá basa, cà phê, gạo, giày da…
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản
EU cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi người tiêu dùng của các nước này phải cắt giảm
chi tiêu, dẫn đến nhu cầu hàng nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh, chỉ còn
16,5% tại thị trường EU.
Về đầu tư nưRc ngoài
Cuộc khủng hoảng kinh tế sự ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI và quỹ viện trợ phát triển chính thức ODA. Tổng vốn FDI có xu hướng chững
lại, các dự án đăng ký mới không tăng, vào tháng 10/2008, số dự án đăng ký mới là
68 dự án, giảm mạnh so với 9 tháng đầu năm là 885 dự án. Khả năng giải ngân vốn
ODA trong năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, tốc độ giải ngân không
được như dự báo trước.
Về hoạt động tài chính và thị trường tiền tệ
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 khiến cho tỷ giá hối đoái và lãi suất USD
sự thay đổi nhẹ do ảnh hưởng từ tâm người dân. Về thị trường tiền tệ, đặc
biệt thị trường chứng khoán, lượng vốn đầu gián tiếp vào thị trường chứng
khoán nước ta xu hướng suy giảm. VNIndex giảm liên tục lập đáy xuống
dưới 350 điểm.
5. CXc kết luận phXt hiện qua nghiên cứu, chỉ cXc phần: Ưu
nhược đi_m, khS khăn/hạn chế, thXch thức, cXc phXt hiện của vân đề
nghiên cứu
Ưu đi_m:
Đào tạo lao động cS chât lượng: Trong bối cảnh khủng hoảng, sự tập trung
vào đầu vào giáo dục đào tạo lao động đã giúp nước ta tạo ra một lực lượng
lao động trình độ cao hơn. Điều này đã cung cấp cho các doanh nghiệp những
nguồn nhân lực chất lượng để nâng cao hiệu suất cạnh tranh. “Trong giai đoạn
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ***** Đề Tài Thảo Luận
NGHIÊN CỨU CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 - 2009 NHÓM 7
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHAN THẾ CÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH MÃ HỌC PHẦN: 1KIVM29A2 HÀ NỘI, THÁNG 10/2023 1 Lời cảm ơn
Kinh tế vĩ mô là một môn học vô cùng quan trọng cho các trương trình đào
tạo cao học, các lớp lãnh đạo quản lý, qua kiến thức này chúng ta hiểu được tầm
quan trọng của các chính sách tài khóa và chi tiết từng biến số trong nền kinh tế để
điều hành thúc đẩy cả một nền kinh tế của đất nước như nào .
Trong quá trình học tập bộ môn kinh tế vĩ mô trương trình đào tạo sau đại
học của trường Đại học Thương Mại chúng em vô cùng cảm kích biết ơn các thầy
cô trong khoa đặc biệt là PGS.TS Phan Thế Công đã giảng dạy giúp chúng em tiếp
thu kiến thức một cách hiệu quả, giúp chúng em hiểu được bản chất của nền kinh
tế vận hành như nào , các chính sách tài khóa của Chính Phủ để mỗi cá nhân chúng
em mở mang kiến thức mà còn áp dụng được vào công việc hàng ngày một cách
hiệu quả hơn . Cuối cùng chúng em chúc thầy sức khỏe hạnh phúc và luôn luôn
tràn đầy nhiệt huyết để dẫn dắt các lứa học trò tiếp theo xây dựng một thế hệ vững
mạnh tương lai cho đất nước 2 Phụ lục 1:
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌP NHÓM THẢO LUÂIN
Học phần: Kinh tế vĩ mô LRp: CH29AQTKD.N1 NhSm: 07 Đi_m tự S\ bu^i ST họp nhSm đXnh giX Đi_ T Tên GiX thảo luận của cXc m the nhS cX nhân o G m trươ viê hi o Họ và tên MZ HỌC ng S\ da học viên VIÊN LRp thả K nhS n ch bu^i nh o kết u Ký Đi_ ý luâ I m họp luậ sXc tên m tê châ nhS h n n m n m (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9 )(10) (11) (1 2) 64 Nguyễn 23AM0101 CH29AQTK Nhó m 7 38 8 Thành Trung 064 D.N1 Nguyễn Nhó 10 10 65 Công 23AM0101 CH29AQTK 065 D.N1 m 7 3 Trường 66 Phan Thị 23AM0101 CH29AQTK Nhó m 7 39 9 Thanh Vân 066 D.N1 67 Vương Duy 23AM0101 CH29AQTK Nhó m 7 39 9 Việt 067 D.N1 68 Nguyễn Thị 23AM0101 CH29AQTK Nhó m 7 39 9 Vinh 068 D.N1 70 Trần Văn Vỹ 23AM0101 CH29AQTK Nhó m 7 38 8 070 D.N1 Ketsana Nhó 8 8 71 Laomouaxio 23AM0101 CH29AQTK 071 D.N1 m 7 3 ng 72 Đoàn Quỳnh 23AHTTS CH29AQTK Nhó m 7 310 10 Trang 07 D.N1 H nôi, ngày tháng năm 20 XXc nhâ In của thư ký
XXc nhâ In của nhSm trương 3 MỤC LỤC
Lời cảm ơn........................................................................................................................2
Lời mơ đầu........................................................................................................................5
Chương 1: Một s\ khXi niệm về kinh tế và khủng hoảng kinh tế.................................6
1. Khái niệm về kinh tế................................................................................................6
2. Khái niệm về khủng hoảng kinh tế...........................................................................6
Chương 2: Khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2009..........................7
1. Mô tả tình hu\ng thực tế diễn ra khủng hoảng tại Việt Nam trong năm 2008 -
2009................................................................................................................................ 7
2. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng................................................................8
3. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam...............................................................9
3.1. Tác động đến xuất nhập khẩu............................................................................9
3.2. Tác động đến thị trường tiền tệ........................................................................11
3.3. Đầu cơ và biến động giá cả..............................................................................12
3.4. Lạm phát..........................................................................................................14
3.5. Tác động của luồng vốn vào ròng đến nền kinh tế Việt Nam..........................15
3.6. Tác động đến thị trường chứng khoán.............................................................16
4. Chính sXch của chính phủ giải quyết khủng hoảng...........................................16
5. CXc kết luận và phXt hiện qua nghiên cứu, chỉ rõ cXc phần: Ưu và nhược
đi_m, khS khăn/hạn chế, thXch thức, cXc phXt hiện của vân đề nghiên cứu...........20
Chương 3: Phương hưRng và cXc giải phXp.................................................................23
1. Đánh giá và nhận xét..............................................................................................23
2. Các giải pháp đóng góp..........................................................................................25 4 Lời mơ đầu
Kinh tế học là một môn khoa học xã hội giúp con người kiểu về cách thức vận
hành của nền kinh tế nói chung và các chủ thể tham gia nền kinh tế nói riêng. Kinh
tế học tập chung vào việc giải quyết các nguồn lực hạn chế trong tự nhiên để cải
tạo và vận hành nó để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người trong xã hội . Chính
vì sự quan trọng cấp thiết này và các lợi ích về sự hiểu biết trong khi nghiên cứu bộ
môn kinh tế học nhóm em đã chọn chủ đề thảo luận về “ Muốn Tăng trưởng kinh
tế Có phải chấp nhận thâm hụt ngân sách Nhà nước “ và đưa ra giải pháp tối ưu để
khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Các số liệu được nhóm nghiên
cứu chi tiết từ năm 2020 đến năm 2022 5
Chương 1: Một s\ khXi niệm về kinh tế và khủng hoảng kinh tế 1. KhXi niệm về kinh tế
Kinh tế là một lĩnh vực sản xuất, phân phối và thương mại, cũng như tiêu dùng hàng hóa và dịch
vụ. Tổng thể, nó được định nghĩa là một lĩnh vực xã hội tập
trung vào các hoạt động, tranh luận và các biểu hiện vật chất gắn liền với việc sản
xuất, sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên khan hiếm. Một nền kinh tế là một
tập hợp các quá trình liên quan đến văn hóa, giá trị, giáo dục, phát triển công nghệ,
lịch sử, tổ chức xã hội, cấu trúc chính trị, hệ thống luật pháp và tài nguyên thiên
nhiên làm các yếu tố chính. Những yếu tố này cung cấp bối cảnh, nội dung và thiết
lập các điều kiện và thông số mà một nền kinh tế vận hành. Nói cách khác, lĩnh
vực kinh tế là một lĩnh vực xã hội bao gồm các hoạt động và giao dịch của con
người có liên quan với nhau mà không đứng riêng lẻ.
2. KhXi niệm về khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là một giai đoạn suy thoái kéo dài, liên tục trong hoạt
động kinh tế ở một hoặc nhiều nền kinh tế. Đây là một cuộc suy thoái kinh tế
nghiêm trọng hơn là suy thoái kinh tế, là sự chậm lại của hoạt động kinh tế trong
quá trình của một chu kỳ kinh doanh bình thường.
Khủng hoảng kinh tế được đặc trưng bởi độ đại của chúng, bởi tỷ lệ thất
nghiệp gia tăng bất thường, giảm khả năng cung cấp tín dụng (thường do một số
hình thức khủng hoảng tài chính hoặc ngân hàng), sản lượng thu hẹp khi người
mua cạn kiệt và nhà cung cấp cắt giảm sản xuất và đầu tư, hơn thế nữa phá sản bao
gồm các vụ vỡ nợ có chủ quyền, giảm đáng kể lượng thương mại và thương mại
(đặc biệt là thương mại quốc tế), cũng như biến động giá trị tiền tệ tương đối nhiều
biến động (thường do phá giá tiền tệ). Giảm phát giá, khủng hoảng tài chính, thị 6
trường chứng khoán sụp đổ và ngân hàng thất bại cũng là những yếu tố phổ biến
của suy thoái vốn thường không xảy ra trong thời kỳ suy thoái.
Chương 2: Khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2009 1.
Mô tả tình hu\ng thực tế diễn ra khủng hoảng tại Việt Nam trong năm 2008 - 2009
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã tác động mạnh mẽ và đa
chiều lên nền kinh tế và xã hội của Việt Nam.Tình hình kinh tế của Việt Nam trong
năm 2008 chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu, xuất
phát từ sự sụt giảm mạnh của thị trường nhà ở và thị trường tài chính tại Mỹ. Cuộc
khủng hoảng tồi tệ bắt đầu từ năm 2008, làm chao đảo thế giới suốt nửa thập kỷ
qua. Bối cảnh này, cộng với những vấn đề nội tại khiến kinh tế Việt Nam ngày
càng khó khăn và chưa thể thoát khỏi đáy suy thoái.
T\c độ tăng trương kinh tế suy giảm:
Trước khủng hoảng, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, với tỷ
suất tăng trưởng GDP hàng năm đạt khoảng 7-8% từ năm 2004 đến 2007 .Tuy
nhiên, sau khi khủng hoảng bùng phát, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống khoảng 5-6% vào năm 2009.
Sụt giảm xuât khẩu và đầu tư trực tiếp nưRc ngoài:
Tăng trưởng xuất khẩu chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng. Các thị trường
xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản sụt giảm nhu cầu
hàng hóa.Sản lượng xuất khẩu của Việt Nam giảm từ 17,6% tăng trưởng năm 2007
xuống chỉ còn 0,1% tăng trưởng vào năm 2009 .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giảm từ
31,6 tỷ USD năm 2008 xuống chỉ còn 21,3 tỷ USD vào năm 2009. Đầu tư nước
ngoài (FDI) cũng giảm do tác động tiêu cực từ khủng hoảng. Các nhà đầu tư quốc
tế trở nên cẩn trọng hơn, đặt chú trọng đến việc giảm rủi ro và đảm bảo lợi nhuận. 7
Thị trường chứng khoXn sụt giảm:
Thị trường chứng khoán tại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ khủng hoảng.
Chỉ số VN-Index đã giảm từ mức khoảng 900 điểm vào đầu năm 2008 xuống còn
khoảng 250 điểm vào cuối năm 2008.
Tăng tỷ lệ thât nghiệp:
Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ khoảng 4,4% vào năm 2008 lên khoảng 4,8% vào năm 2009.
Biện phXp khắc phục kịp thời của chính phủ:
Chính phủ đã triển khai gói kích thích kinh tế trị giá 8,4 tỷ USD để thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ các ngành công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề.
Ngoài ra, chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp khắc phục khác như cắt giảm lãi
suất, đẩy mạnh đầu tư công và ưu đãi thuế để kích thích tăng trưởng.
Chính phủ đã thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý ngân hàng và tài
chính để đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính. Điều này bao gồm kiểm soát
nợ xấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính và đảm bảo sự tin
cậy của thị trường tài chính.
Tóm lại, tình hình kinh tế Việt Nam trong năm 2008 chịu tác động sâu và
tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến sự suy giảm tăng trưởng, xuất
khẩu và đầu tư, cùng với áp lực lạm phát và tăng tỷ lệ thất nghiệp.
2. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng
Mặc dù không phải là một yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng thường xuyên
hoặc không là yếu tố quyết định nhưng các cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ trên
phạm vi thế giới luôn gây ra những tác động nhất định đến các nền kinh tế là thành
viên của nó. Khủng hoảng tài chính, khủng hoảng kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng
đến hầu hết các nền kinh tế. Sự ảnh hưởng của khủng hoảng đến các nền kinh tế là
khác nhau, phụ thuộc vào mức độ hội nhập của nền kinh tế đối với nền kinh tế toàn
cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó 8
Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 - 2009 tại Việt Nam đến từ nước Mỹ, tiềm
ẩn từ cuối năm 2007, bùng phát vào cuối 2008, bắt đầu từ khủng hoảng nhà đất, lan
sang hệ thống tài chính, sang kinh tế thực, sang lĩnh vực lao động việc làm, lan
sang các nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này xảy ra trong điều kiện Việt
Nam vừa mới gia nhập WTO từ đầu năm 2007
Có rất nhiều nguyên nhân làm có kinh tế bị khủng hoảng. Dưới đây là những
nguyên nhân chính có tác động mạnh mẽ nhất mà chúng tôi đã liệt kê.
●Chính sách tín dụng của nền kinh tế Mỹ không đạt chuẩn.
●Nhà nước chưa thật sự nghiêm ngặt trong quá trình quản lý, đặc biệt là
trong ngành bất động sản.
●Các cuộc khủng hoảng về kinh tế của Mỹ cũng tác động không nhỏ đến
kinh tế của các nước trong và ngoài khu vực.
●Thị trường tài chính còn tồn tại nhiều nợ xấu dẫn đến mất kiểm soát và
quan trọng hơn là nhiều ngân hàng phá sản.
●Lạm phát tăng nhanh, làm cho nền kinh tế suy thoái.
●Thị trường chứng khoán luôn biến động về giá cả, nhiều nhà đầu tư vì
tham lam mà mạnh tay chi tiền. Cuối cùng, không những không có lợi
nhuận mà còn phải vay thế chấp ngân hàng để bù thua lỗ.
3. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chịu tác động của khủng hoảng là tháng
08/2008 và hồi phục là quý I/2010. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam thể
hiện qua các chỉ số sau của nền kinh tế.
3.1. TXc động đến xuât nhập khẩu
Tác động của khủng hoảng tài chính đến xuất khẩu là nhanh nhất vì đây là
lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với biến động trên thị trường thế giới. Nhìn chung,
xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động rất lớn bởi lẽ: (i) Việt Nam là một 9
trong một số nước có độ mở ngoại thương khá lớn; (ii) Trước khủng hoảng, Việt
Nam nằm trong top 50 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng đầu
thế giới với xuất khẩu đứng hàng thứ 50, chiếm tỷ trọng 0,3% tổng kim ngạch xuất
khẩu toàn cầu và nhập khẩu đứng hàng thứ 41, chiếm tỷ trọng 0,4% tổng kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa toàn cầu. Thêm vào đó kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam với các nước Mỹ, Nhật, châu Âu lên đến 52%, riêng Mỹ chiếm đến 20,8%
(Bảng 1). Ðây là những nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của suy thoái kinh tế, cầu
đầu tư và tiêu dùng giảm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Bảng 1: Tỷ trọng xuât nhập khẩu theo cXc đ\i tXc thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011 (Đơn vị: %)
Số liệu thống kê cho thấy xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2007 tăng đều
qua các tháng (bảng 2), nhưng qua năm 2008 chỉ tăng đến tháng 07/2008 sau đó
giảm dần; sang năm 2009, kim ngạch xuất khẩu có tăng trong hai tháng đầu năm
nhưng vẫn chưa bằng trước lúc giảm năm 2008. Ngoài ra, theo Tổng cục Hải quan,
giá xuất khẩu bình quân một số mặt hàng chủ lực như dầu, cao su, gạo, cà phê, hạt
điều, đậu đều đi xuống; nhiều đơn hàng xuất khẩu vào Mỹ, EU, Nhật như dệt may, 10
tiêu, điều, gỗ giảm 20 - 30%; việc ký kết hợp đồng xuất khẩu mới gặp khó khăn;
nhiều hợp đồng xuất khẩu bị hoãn hoặc lùi sang năm 2009. Số liệu về kim ngạch
xuất khẩu năm 2009 cho thấy một số dấu hiệu tích cực nhưng về bản chất việc cải
thiện này chỉ là vẻ bên ngoài, kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu do xuất khẩu
vàng. Ðến hết quý I năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mới ổn định trở lại mức trước khủng hoảng.
Nhập khẩu cũng chịu tác động của khủng hoảng do: (i) Việt Nam phải nhập
từ 70 - 80% nguyên nhiên vật liệu để sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu. Xuất
khẩu giảm kéo theo nhập khẩu giảm; (ii) suy thoái kinh tế toàn cầu làm cho giá yếu
tố đầu vào như dầu mỏ, các sản phẩm hóa dầu, phôi thép và thép xây dựng, các
thiết bị công nghệ cũng bị giảm mạnh kéo theo kim ngạch nhập khẩu giảm. Tuy
nhiên, nhờ tác động của gói kích thích kinh tế triển khai từ tháng 02/2009, nhập
siêu đã tăng trở lại từ tháng 03/2009. Hệ quả là nhập siêu của Việt Nam ngày càng
nghiêm trọng hơn. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu điều này hoàn toàn không có lợi dù Việt Nam chủ yếu nhập tư liệu sản xuất vì
thâm hụt cán cân thương mại hiện đang ở mức rất cao, khi các luồng tiền vào để bù
đắp đều có khả năng bị cắt giảm thì việc cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt có
khả năng gây bất ổn định rất nguy hiểm như tăng nợ và giảm dự trữ ngoại tệ.
3.2. TXc động đến thị trường tiền tệ
Phản ứng của thị trường tín dụng Việt Nam khá tiêu cực, trước tiên là khan
hiếm nguồn tín dụng. Dù NHNN có “bơm” trở lại lưu thông 33.000 tỷ đồng ngay
trong tháng 3/2008, nhưng trong quá trình tái cơ cấu các khoản tín dụng và đáp
ứng yêu cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương mại (NHTM)
khước từ phần lớn các yêu cầu tín dụng của doanh nghiệp. Thêm vào đó, lạm phát
gia tăng cũng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao theo nguyên lý “lãi suất dương”. Liên
tiếp trong tháng 5 và 6-2008, lãi suất cơ bản được nâng lên 12%, rồi 14%. Với biên 11
độ dao động cho phép là 150%. Có thời điểm, lãi suất huy động vượt trên
20%/năm. Với đầu vào như vậy, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn phải chấp
nhận mức lãi suất rất cao để tồn tại. Không ít đơn vị sản xuất kinh doanh chấp nhận
dùng “thuốc độc tín dụng” để tồn tại. Tăng trưởng tín dụng sau khi tăng cao tới
54% trong năm 2007 đã giảm xuống còn 24% trong năm 2008. Tuy lãi suất đi
xuống từ tháng 7-2008, nhưng tăng trưởng tín dụng giảm mạnh trong nửa cuối
năm. Nếu trong nửa đầu năm 2008, tăng trưởng tín dụng hằng tháng luôn dao động
từ 2% - 5% thì tốc độ tăng của tháng 7 chỉ còn 0,7% và tiếp tục giảm xuống 0,56% trong tháng 8-2008.
Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7-2008 cũng chứng kiến sự biến động mạnh
mẽ trong tương quan giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ (USD). Tỷ giá trên thị
trường tự do và tỷ giá bình quân ngân hàng có mức chênh lệch rất lớn. Khoảng
cuối tháng 3 đầu tháng 4-2008, nhu cầu sử dụng USD rất thấp. Tỷ giá tự do thấp
hơn tỷ giá niêm yết chính thức. Sang tháng 5, đặc biệt vào nửa cuối tháng 6-2008,
giá USD trên thị trường tự do có những lúc tăng cao đột biến. Khoảng cách giữa
hai hình thức tỷ giá dao động từ 3.000 đồng đến 3.500 đồng/USD.
3.3. Đầu cơ và biến động giX cả
Bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động đã tạo môi trường thuận lợi cho
các hoạt động đầu cơ quốc tế. Các nhà ngân hàng và tập đoàn đa quốc gia với tài
sản hàng nghìn tỉ USD đang thao túng thị trường giao dịch hàng hóa thiết yếu và
đầu vào sản xuất quan trọng. Lần lượt dầu thô, lương thực, và vàng trở thành đối
tượng tập trung đầu cơ cao Tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia sẽ trở thành
mục tiêu kế tiếp, theo một kịch bản xấu. Tình trạng này đã dẫn đến những hệ lụy sau:
Việc tăng giá xăng dầu: xăng dầu là vật tư thiết yếu của sản xuất và hàng hóa
quan trọng trong đời sống. Chính phủ Việt Nam từ lâu vẫn duy trì sự điều tiết chặt 12
chẽ thông qua thuế và quy định giá. Đến ngày 21-7-2008, trước áp lực giá tăng kỷ
lục của thị trường thế giới, giá bán lẻ xăng A92 tại Việt Nam có sự điều chỉnh lớn,
tăng tới trên 30%, từ 14.500 đồng/lít lên mức 19.000 đồng/lít.
Giá v ng lên xuống thất thường: Ở Việt Nam, vàng là hàng hóa đặc biệt, vừa
là hình thức tiết kiệm được ưa thích, vừa là phương tiện thanh toán phổ biến. Năm
2008, mức độ tăng giảm của giá vàng tương đối lớn. Trong tháng 2 và 3-2008, chỉ
số giá vàng liên tiếp tăng 11 và 13 điểm phần trăm. Hai tháng tiếp theo, chỉ số giá
vàng giảm tổng cộng 13 điểm phần trăm. Tháng 7-2008, chỉ số giá vàng tăng cao
nhất trong 10 tháng đầu năm, ở mức 220,46 điểm phần trăm. Nhưng đến hết tháng
9-2008, chỉ số giá vàng lại tụt xuống 200 điểm
“Sốt”giá lương thực: Nạn đầu cơ cũng khiến giá lương thực tăng nhanh từ
tháng 4 đến tháng 6-2008. Trong ba tháng, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lần
lượt tăng 23,6%, 40,4% và 26,7%. So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu của tháng 4-
2008 đã tăng gấp hơn hai lần. Giá gạo xuất khẩu của tháng 6-2008 tăng cao nhất,
có lúc lên đến 1.005 USD/tấn. 13
Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt
(trong đó có Việt Nam) đã lựa chọn giải pháp tạm ngừng xuất khẩu để quan sát.
Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực để duy trì ổn định
giá cả và bảo đảm an ninh lương thực. Thực tế này dẫn tới hai hiệu ứng đồng thời:
(I) giá lương thực tiếp tục bị đẩy lên cao; và (II) hành động “bơm” thêm tiền để
mua lương thực của các chính phủ khiến tình hình lạm phát ở nhiều quốc gia càng thêm trầm trọng. 3.4. Lạm phXt
Lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Cuối tháng 6-
2008, chỉ số giá so với kỳ gốc 2005 là 144,30%. Trong quý III-2008, tốc độ tăng
CPI giảm dần. Tính cả quý, CPI chỉ tăng 4,18 điểm phần trăm. Từ tháng 10-2008,
xuất hiện dấu hiệu giảm phát khi CPI giảm xuống 148,2% so với mức 148,48% của tháng trước. 14
3.5. TXc động của luồng v\n vào ròng đến nền kinh tế Việt Nam
Nhờ vào chính sách nới lỏng các rào cản đầu tư, đẩy mạnh mở cửa thị
trường vốn và tự do hóa thị trường tài chính, luồng vốn vào ròng của Việt Nam
tăng khá nhanh qua từng năm và đặc biệt tăng mạnh từ năm 2007 (Hình 2).Trong
cơ cấu luồng vốn vào, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vẫn là dòng vốn chiếm tỷ trọng
lớn và tăng trưởng tương đối ổn định. Vốn đầu tư gián tiếp (FPI) chỉ bắt đầu xuất
hiện từ năm 2005 nhưng đã cho thấy sự linh hoạt và nguy hiểm của nó đối với
luồng chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế. FPI tăng mạnh vào năm 2007 (6,243
triệu USD) khi TTCK Việt Nam bùng nổ cùng lúc Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của WTO, rồi nhanh chóng đảo chiều vào năm 2008 (-578 triệu USD)
khi bong bóng chứng khoán vỡ và giảm hẳn vào năm 2009. Vốn đầu tư khác (OI),
với phần lớn là tín dụng và tài sản ngân hàng, là dòng vốn đang ngày càng chiếm
tỷ trọng cao trong cán cân tài khoản vốn. 15
Tuy nhiên, luồng v\n vào cũng cS những tXc động đXng chu ý:
Thứ nhất, luồng vốn vào ròng ồ ạt gây áp lực lên cung tiền khiến lạm phát
gia tăng. Lượng vốn đầu tư gián tiếp ồ ạt đổ vào trong nửa cuối năm 2007 và quý
I/2008 đã dẫn tới tình trạng tỷ giá hối đoái giảm và để giữ ổn định tỷ giá,
NHNN đã thực hiện các giao dịch can thiệp trên thị trường ngoại hối. Hậu quả là
lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế tăng lên nhanh chóng
3.6. TXc động đến thị trường chứng khoXn
Sự vận động lên xuống của các chỉ số chứng khoán cũng như giá các loại cổ
phiếu có tác động ngày càng lớn hơn tới đời sống xã hội. Đến cuối năm 2008, giá
trị các chỉ số chứng khoán giảm tới 70% so với đầu năm. Ngay một số cổ phiếu
thuộc nhóm “blue-chip” còn có mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%) và FPT (- 78%).
Nửa đầu năm 2008, chỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng. Đầu tháng 1-
2008, Vn-Index còn trên 900 điểm, tới đầu tháng 6-2008, hàn thử biểu kinh tế lần
đầu rơi xuống dưới ngưỡng 400 điểm. Thị trường tiếp tục giằng co trong quý III-
2008. Từ sau tháng 10-2008, thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm. Tới ngày
11-12-2008, Vn-Index chỉ còn 288 điểm. Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm.
Trước đó, thị trường Hà Nội thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống
97,61 điểm khi kết thúc phiên giao dịch ngày 27-11-2008.
4. Chính sXch của chính phủ giải quyết khủng hoảng
Giải phXp khắc phục và vượt qua khủng hoảng kinh tế hiệu quả
Khủng hoảng tài chính kinh tế gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Dễ thấy nhất
đó là người lao động thất nghiệp, nhân dân đói kém, các doanh nghiệp phá sản,
kinh tế đất nước giảm sút trầm trọng,… Để giải quyết được các vấn đề đó, cá nhân, 16
tổ chức và cơ quan nhà nước cần đưa ra các biện pháp ngăn chặn ngay khi xuất
hiện. Đồng thời, có giải pháp để vượt qua khủng hoảng nhanh chóng và hiệu quả.
Giải phXp ngăn ngừa khủng hoảng xảy ra
●Mở ra các tài sản giao dịch trên sàn chứng khoán uy tín và hợp pháp như: HNX, Hose hay Upcom,…
●Khi thị trường có biến động về kinh tế, bạn nên sử dụng các CFD để đảm
bảo lợi nhuận thu về nếu xảy ra khủng hoảng.
●Mua cổ phiếu để đầu tư từ những công ty cổ phần đại chúng uy tín lâu năm.
CXch khắc phục nền kinh tế hiệu quả khi khủng hoảng
Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, mỗi cá nhân, doanh nghiệp và cả nhà nước
phải thật bình tĩnh. Tìm hiểu các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng và vạch ra
phương hướng xử lý nhanh chóng, tốt nhất. Dưới đây là một số cách khắc phục ban đầu:
●Nhà nước cần nâng cao giá trị hàng hóa, sản phẩm kể cả thị trường trong
nước và quốc tế. Trước hết, nhanh chóng khai thác thị trường trong nước,
tìm ra những cơ hội mới để xây dựng, phát triển và vươn xa hơn.
●Giám sát chặt chẽ đối với các chính sách đầu tư trên thị trường chứng
khoán, địa ốc, ngoại tệ,…. Bởi vì, đây là những thị trường tiên phong luôn
đứng đầu và thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia. 17
●Nền kinh tế nước nhà phát triển theo hướng bền vững, không nên chạy
đua với kinh tế thế giới như vậy khủng hoảng sẽ dễ dàng xảy ra. Hơn nữa,
bên cạnh kim ngạch xuất khẩu sản xuất cũng cần quan tâm đến hạ tầng giao thông, đô thị,…
●Mỗi người đều chung tay góp sức xây dựng nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự khủng
hoảng trong lĩnh vực tài chính, bao gồm bảo hiểm, tín dụng, chứng khoán, diễn ra
từ năm 2007 cho tới năm 2008, khởi nguồn từ Mỹ.
Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 được cho rằng
là liên quan tới việc các tổ chức tài chính trong thị trường bất động sản tại Mỹ khi
họ bắt đầu đưa ra các khoản vay thế chấp mạo hiểm nhằm giải cứu người mua bất
động sản. Hình thức vay thế chấp nhắm vào những người mua nhà có thu nhập
thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng với sự bùng nổ bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ.
Yếu tố chủ chốt gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính là do sự phát
triển nhanh chóng của các sản phẩm tài chính kiểu săn mồi, nhằm vào những đối
tượng người mua nhà có thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin. Đứng đầu
những tổ chức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman Brothers – sự
sụp đổ của ngân hàng này đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng.
Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai
các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp dụng chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu.
TXc động của cuộc khủng hoảng kinh tế 2008
Tuy nhiên, những giải pháp và chính sách tài khóa đó đã quá muộn, cuộc
khủng hoảng kinh tế 2008 lan rộng ra các nước trên thế giới, đặc biệt là Liên minh
Châu Âu như Đức, Anh, Pháp cũng như các quốc gia khác. Cuộc khủng hoảng này 18
đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu với hơn 10.000 tỷ USD đã bị cuốn
trôi, hơn 30 triệu người thất nghiệp, gia tăng tỷ lệ vô gia cư và tự tử.
Ngoài ra, còn rất nhiều những tác động tiêu cực do cuộc khủng hoảng này gây ra như:
●Bear Stearns – một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất tại phố Wall
đã lên tiếng cầu cứu và được JPMorgan Chase mua lại với giá 30 tỷ USD.
●Ngân hàng Lehman Brothers tuyên bố phá sản – đây là ngân hàng đầu tư
được thành lập từ năm 1844. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư hơn 160
năm của Mỹ là dấu hiệu cho việc bán tháo lớn nhất trong lịch sử tài chính Mỹ.
●Thị trường chứng khoán tại Hong Kong và Thượng Hải sụt giảm xuống
mức 4,5 – 5,4%. Giá trị tài sản của một quỹ thị trường tiền tệ giảm dưới 1
USD/Cổ phiếu. Hơn 140 tỷ USD rút khỏi quỹ bởi các nhà đầu tư Mỹ.
Khủng hoảng kinh tế 2008 ảnh hương đến Việt Nam như thế nào?
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền
kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, vào thời điểm năm 2007 – 2008, nền kinh tế Việt
Nam vẫn còn hạn chế về độ mở, do vậy khủng hoảng kinh tế 2008 ở Việt Nam
được cho là không đáng kể nhưng vẫn có một số điểm đáng chú ý. Về thương mại
Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Châu Âu là những thị trưởng xuất khẩu lớn
và quan trọng đối với Việt Nam. Vào đầu năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài
chính bùng nổ, đã xuất hiện xu hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ – thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại thời điểm đó.
Do suy thoái kinh tế, cầu tiêu dùng tại Hoa Kỳ giảm mạnh, trong 9 tháng
đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, giảm gần 19
10% so với năm 2007. Các mặt hàng xuất khẩu ảnh hưởng nhiều nhất là may mặc,
cá basa, cà phê, gạo, giày da…
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản và
EU cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi người tiêu dùng của các nước này phải cắt giảm
chi tiêu, và dẫn đến nhu cầu hàng nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh, chỉ còn
16,5% tại thị trường EU. Về đầu tư nưRc ngoài
Cuộc khủng hoảng kinh tế có sự ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI và quỹ viện trợ phát triển chính thức ODA. Tổng vốn FDI có xu hướng chững
lại, các dự án đăng ký mới không tăng, vào tháng 10/2008, số dự án đăng ký mới là
68 dự án, giảm mạnh so với 9 tháng đầu năm là 885 dự án. Khả năng giải ngân vốn
ODA trong năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, và tốc độ giải ngân không
được như dự báo trước.
Về hoạt động tài chính và thị trường tiền tệ
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 khiến cho tỷ giá hối đoái và lãi suất USD
có sự thay đổi nhẹ do ảnh hưởng từ tâm lý người dân. Về thị trường tiền tệ, đặc
biệt là thị trường chứng khoán, lượng vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng
khoán nước ta có xu hướng suy giảm. VNIndex giảm liên tục và lập đáy xuống dưới 350 điểm.
5. CXc kết luận và phXt hiện qua nghiên cứu, chỉ rõ cXc phần: Ưu và
nhược đi_m, khS khăn/hạn chế, thXch thức, cXc phXt hiện của vân đề nghiên cứu Ưu đi_m:
Đào tạo lao động cS chât lượng: Trong bối cảnh khủng hoảng, sự tập trung
vào đầu tư vào giáo dục và đào tạo lao động đã giúp nước ta tạo ra một lực lượng
lao động có trình độ cao hơn. Điều này đã cung cấp cho các doanh nghiệp những
nguồn nhân lực chất lượng để nâng cao hiệu suất và cạnh tranh. “Trong giai đoạn 20