BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬ
P CÁ NHÂN Ở VIỆT
NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Đỗ Thị Hoa
NHÓM THỰC HIỆN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
HÀ NỘI - 2023
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ST
T
Ký hiệu chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
TNCN
Thu nhập cá nhân
2
NTT
Người nộp thuế
3
NSNN
Ngân sách Nhà nước
4
GTGC
Giảm trừ gia cảnh
5
QLT
Quản lý thuế
6
MTKD
Môi trường kinh doanh
7
CNTT
Công nghệ thông tin
8
HĐĐT
Hóa đơn điện tử
9
DN
Doanh nghiệp
10
HĐND
Hội đồng nhân dân
11
UBND
Ủy ban nhân dân
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Để bảo đảm ổn định kinh tế - hội, phát triển bền vững hội nhập tích cực. Trong
tình hình kinh tế quốc tế hiện nay, việc hoàn thiện chính sách tài chính, đặc biệt hệ thống
chính sách thuế, đặc biệt thuế thu nhập nhân rất cần thiết để thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ phân bổ nguồn lực, đồng thời cũng thể giải quyết tốt các mối quan hệ khác nhau.
giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng và công bằng xã hội và giảm nghèo.
Ở các nước phát triển, sắc thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện khá lâu và đang thực hiện
phổ biến tại hầu khắp các nước trên thế giới. Trong tổng thu ngân sách nhà nước, tỉ trọng
của thuế cá nhân đối với tổng thu ngân sách nhà nước chiếm khá cao khoảng 30 – 40%,
khi trên 50% Hoa Kỳ, Nhật, Canada, Autralia, New Zealand các quốc gia đang phát
triển như Thái Lan, Philipin chiếm khoảng 15 30% . Chính sách thuế thu nhập nhân
là chính sách thuế có nội hàm phức tạp nhất đối với ngành thuế và vấn đề quản lí thuế thu
nhập nhân được xem vấn đcấp bách đối với mọi quốc gia. Bởi vì, thuế không chỉ
gắn với nội dung quy định của chính sách thuế còn gắn với môi trường chính trị, kinh
tế, văn hoá khi chính sách thuế được áp dụng thực hiện.
vậy, pháp luật thuế thu nhập cá nhân và quản thuế thu nhập nhân luôn có nh
chất đặc biệt, đặc biệt tập trung vào Việt Nam. Từ năm 1990, hệ thống chính sách thuế của
Việt Nam bắt đầu cải cách toàn diện, việc ban hành Luật Quản thuế. Năm 2006 đánh
dấu bước đầu hoàn thiện công tác quản thuế tổng thể, đặc biệt là quản thuế thu nhập
nhân. Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập nhân số 04/2007/QH12 ban hành ngày
21/11/2007. hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, dựa trên Quy định số 1 Nghị định
35/2001/PL-UBTVQH10 về thuế thu nhập đối với nhóm thu nhập cao (19/05/2001). Sau
gần 10 năm thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2012,
2014, bổ sung một số quy định nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế thu nhập nhân, bảo
đảm phù hợp với sự phát triển kinh tế, hội. Đảm bảo công bằng trong điều chỉnh thu
nhập cho mọi tầng lớp hội. Đảm bảo huy động hợp thu nhập của người dân khuyến
khích mọi người.
Hiện nay, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nói chung còn bộc lộ một số hạn chế,
bất cập như chính sách chồng chéo, việc thực thi chính sách chưa hiệu quả, hiệu quả của
quan quản lý chưa cao, việc thực thi chính sách còn cồng kềnh, kiểm soát còn tồn tại
vấn đề trong việc công khai chính sách thuế thu nhập cá nhân tới các tổ chức, cơ quan. Vai
trò của nhân trong hội chưa mạnh, việc tin học hóa quản thuế thu nhập nhân
chưa được hoàn thiện gây nhiều bất tiện cho người dân, khi người dân thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế... làm giảm hiệu quả của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong cộng đồng.
4
Dựa trên cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thực trạng thi hành pháp luật
quản lý thuế thu nhập nhân ở Việt Nam cũng như từ nhiều vấn đề phát sinh trong thực
tế về việc thi hành pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân. Chúng tôi quyết định nghiên
cứu đề tài: “ Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” để khắc phục những hạn
chế, tồn tại bất cập trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
thể thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề Pháp luật quản lý thuế thu nhập nhân
các chính sách thuế tại Việt Nam khá phổ biến, thể nêu ra một số ng trình nghiên
cứu cụ thể như sau:
+ Luận văn thạc sĩ: “ Quản lí thuế thu nhập cá nhân ở cục thuế tỉnh Hà Nam”. Năm
2016 của tác giả Nguyễn Văn Nam.
+ Luận văn thạc sĩ Luật học: “ Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
- thực trạng và giải pháp.” Năm 2015 của tác giả Trần Thị Thu Huyền.
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế của Đỗ Tuyết Minh (2009) với đề tài: “Thanh tra, kiểm tra
Thuế TNCN ở Chi cục Thuế quận Ba Đình”.
+ Bài viết: Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương
hướng hoàn thiện của ThS. Trần Vũ Hải, đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2007.
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế: “ Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập thuế cá
nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”. Năm 2013 do tác giả Trần Công Thành viết.
+ Luận văn thạc sĩ Luật học: “ Pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động
chuyển nhượng bất động sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”. Năm 2020 của tác giả Lê Thị
Diệu Linh.
Các đề tài nghiên cứu trên đã nêu lên được những thành công chỉ ra được hạn chế
trong Pháp luật quản thuế thu nhập cá nhân, đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn về Pháp luật quản thuế thu nhập nhân tại Việt Nam. Nhìn chung,
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên không còn mang tính chất cập nhật, do vậy không
thể phản ánh được những vấn đề phát sinh hiện nay. Bộ máyp pháp luật quản thuế nói
chung và quản thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã những thay đổi hoàn thiện hơn để
phù hợp với tình hình phát hiện hiện nay của đất nước. thế màTuy nhiên , những công
trình nghiên cứu trước đây không còn mang “ tính thời sự” nữa. Và hơn thế, từ khi có Luật
số 71/2014/QH13 thì đã không có nhiều các bài nghiên cứu sâu về đề tài Pháp luật quản lí
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.
5
Dựa trên những đóng p của các dự án nghiên cứu trước đây về Luật thuế thu nhập,
công trình này tiếp tục giải quyết các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc áp dụng Pháp
luật quản thuế thu nhập nhân trong giai đoạn này. Từ đó, chúng tôi đề xuất các giải
pháp giúp đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác quản thuế nói chung và pháp luật quản
lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích của đề tài.
Dựa trên sở làm những vấn đề luận thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về
quản lý thuế thu nhập nhân ở Việt Nam so với pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân
của các nước trên thế giới. Từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục được
những hạn chế, những tồn tại bất cập để hoàn thiện được các quy định pháp luật về quản lí
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Để có thể đạt được mục đích trên, ta cần làm các nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau
đây:
+ Đầu tiên đó là tìm hiểu những vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân và
pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
+ Thứ hai đó là đưa ra thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân và thực
tiễn thực hiện tại Việt Nam.
+ Cuối cùng đó là kết luận và đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản
lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay đồng thời hoàn thiện các quy định về chủ
thể tham gia quản lý thuế thu nhập cá nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
+ Nghiên cứu về các quy định, các vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân và
pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
+ Nghiên cứu về thực trạng pháp luật về quản thuế thu nhập nhân thực tiễn
hiện nay tại Việt Nam từ đó đưa ra được những giải pháp khắc phục những hạn chế vướng
mắc về pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
+ Về nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu tập chung vào giải quyết các vấn đề lý luận
thực tiễn pháp lý vpháp luật quản lí thuế thu nhập nhân tại Việt Nam. Từ đó, đưa
ra được những giải pháp giải quyết các vấn đề pháp luật về quản thuế thu nhập cá nhân
đồng thời nâng cao hiệu quả quản lí thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
6
+ Về không gian thời gian nghiên cứu: Công trình nghiên cứu các vấn đề về pháp
luật quản thuế thu nhập nhân thực tiễn triển khai quản thuế thu nhập nhân
trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian 10 năm (từ năm 2013-2022).
5. Câu hỏi nghiên cứu.
+ Những vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân là gì?
+ Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân là gì?
+ Thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là gì?
+ Hãy nêu những thực tiễn thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam?
+ Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và bất cập trong pháp luật quản lý thuế thu
nhập cá nhân là gì?
+ Những phát hiện thông qua nghiên cứu là gì?
+ Từ đó hãy nêu ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá
nhân ở Việt Nam?
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận được sử dụng để thực hiện đề tài này là phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin.
Phương phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
+ Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, . ..
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: nghiên cứu thực tế thi hành của luật thuế
TNCN thông qua các số liệu, thống kê thu thập được.
+ Phương pháp hệ thống: xem pháp luật về thuế TNCN là một bộ phận cấu thành của
pháp luật về thuế đã được nghiên cứu.
+ Phương pháp so sánh: Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam
pháp luật nước ngoài về thuế thu nhập nhân ta sẽ rút ra những kinh nghiệm những
bài học nhằm chỉnh sửa các quy định pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta nhờ đó mà nâng cao được hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Mặc dù các phương pháp được lựa chọn và ưu tiên dựa trên nội dung nghiên cứu
nhưng điều này không có nghĩa là quá trình nghiên cứu chỉ diễn ra độc lập. Các tác giả
7
8
Thuế thu nhập cá nhân ra đời từ rất lâu trong lịch sử thuế khóa và được coi là loại thuế
quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Theo nhiều nguồn tài liệu cho
thấy nó được ra đời lần đầu tại Anh vào năm 1799 như một nguồn thu tạm thời nhằm
trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng kể từ năm 1942.
Sau đó, việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân dần được các nước lớn mạnh thời bấy giờ áp
dụng như Nhật (1887), Đức (1899), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922),...và hiện
nay nó đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu, được hơn 180 nước trên thế giới áp
dụng và Việt Nam cũng là một trong số đó.
Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập cá nhân là thuế lợi tức lương bổng năm 1962.
, Ssau đó, từ năm 1972 được chuyển thành thuế thu nhập cá nhân. Ủy ban thường vụ
Quốc hội lần đầu tiên thông qua “Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu
nhập cao” vào ngày 27/12/1990 và chính thức có hiệu lực ngày 01/04/1991. Pháp lệnh
này được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và cuối cùng được thay thế bằng Luật Thuế thu nhập
cá nhân 2007, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Hệ thống văn bản bao gồm 03 Luật (Luật
số 04/2007/QH12; Luật số 26/2012/QH13; Luật số 71/2014/QH13); 03 Nghị định hướng
dẫn; 02 văn bản hợp nhất và 08 Thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính ban hành. Đứng
trước yêu cầu của sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó đã trải qua
các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2012, năm 2014 và hiện vẫn đang còn hiệu lực pháp
luật.
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu, đánh vào tiền lương, tiền
công, thu nhập từ đầu tư, kinh doanh và các loại thu nhập khác của cá nhân. Những người
có thu nhập cao phải trả mức thuế cao hơn so với những người có thu nhập thấp.
Căn cứ theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007:
1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy
định tại mục 3 phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư
trú có thu nhập chịu thuế quy định tại mục 3 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
2. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính
theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có
nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
3. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại mục (2) điều
này.
1.1.2 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân.
9
Quản thuế nói chung và quản thuế thu nhập cá nhân nói riêng là lĩnh vực quản
chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước. Vì vậy, để hiểu bản chất khái niệm
thế nào là quản lý thuế thu nhập cá nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” là gì.
- Về khái niệm quản lý:
Xuất phát điểm của các ngành khoa học khác nhau thì quan điểm về định nghĩa quản
lý sẽ được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Theo thuật ngữ pháp lý, “Quản lý
được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra của tổ chức, để thực hiện hoạt động quản lý cần phải có tổ chức
và quyền uy”. Dưới góc độ nghiên cứu của C.Mác thì “Quản lý lại là nhằm phối hợp các
lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất”. Nhưng theo
cách tiếp cận của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý thì “Quản lý là sự tác động chỉ
huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành động của con người để chúng phát triển phù
hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trú của người quản lý”. Từ
những khái niệm trên, ta có thể hiểu chung “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý
lên đối tượng bị quản lý để thực hiện được mục tiêu quản lý”.
- Về khái niệm quản lý thuế và quản lý thuế thu nhập cá nhân:
Quản lý thuế (Tax management) là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp để đảm
bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế, cơ quan thu thuế và các tổ chức cá nhân có
liên quan trong quá trình thu, nộp thuế. Bao gồm cả việc xây dựng chính sách thuế, ban
hành pháp luật về thuế, xác định phương pháp và công cụ quản lý hành thu một cách
đúng đắn, hiệu quả. Có thể nói, quản lý thuế là quá trình cơ quan quản lý tác động đến
người nộp thuế nhằm đảm bảo họ chuyển giao nguồn tài chính của mình vào quỹ ngân
sách nhà nước thông qua việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế. Nội dung quản lý
bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm
thuế, không thu thuế; khoanh tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt;
miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không tính tiền chậm nộp, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền
thuế nợ; quản lý thông tin NNT; quản lý hóa đơn, chứng từ; thực hiện các biện pháp
phòng chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế,...
Từ khái niệm chung, thể xác định rằng bản chất cách tiếp cận khái niệm quản
thuế thu nhập nhân cũng giống như khái niệm quản thuế. Quản thuế thu nhập
nhân quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp quản c động
lên quan hệ phát sinh trong quá trình quản làm cho chúng vận động theo đúng quỹ đạo
mong muốn của các nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá
nhân. ĐOẠN DƯỚI ĐẶC ĐIỂM HAY CÁI VẬY EM ƠI. ???? NẾU ĐẶC
ĐIỂM THÌ CẦN ĐÁNH MỤC. THỨ 2, MỤC NÀY QUẢN THUẾ TNCN THÌ
10
ĐẶC ĐIỂM EM NÊU LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ TNCN HAY ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ
TNCN. NHÓM ĐỂ Ý NỘI DUNG PHẢI ĐI THEO NỘI DUNG CỦA MỤC LỤC.
+ Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu.
Thuế TNCN thuế trực thu do người chịu thuế cũng người nộp thuế và khó thể
chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác. Việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu
trừ trực tiếp từ thu nhập của nhân đó không thông qua hành vi tiêu dung hoặc chỉ
thể trung gian khác. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan
trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong
hội. Thuế TNCN được điều tiết trực tiếp o thu nhập, tài sản của nhân có xem xét
tình trạng, hoàn cảnh, điều kiện, khả năng đóng góp của người nộp nên giảm bớt được sự
chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư.
+ Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân.
Con người tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhau. Mục đích của việc phân loại
thu nhập là cơ sở cho việc phân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng
như đặt ra các chế hành thu hiệu quả. Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những
khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm
soát được. Như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo được tính khả thi, công bằng và
đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.
+ Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất
lũy tiến từng phần.
Thuế suất lũy tiến được hiểu việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm
đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ
yếu được áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương thu nhập
từ kinh doanh. Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính chất lũy tiến cao. Vì thế thu nhập
nhân đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế thuế suất của thường được thiết kế
theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm báo tính công bằng giữa các đối tượng trả thuế.
Việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó phần thu nhập
tăng lên càng cao thì phải tính thuế suất càng cao.
+ Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và phức tạp
Đặc điểm này của thuế TNCN được thể hiện các quy định về thu nhập chịu thuế, thu
nhập chịu thuế không thường xuyên thay đổi theo biến động của nền kinh tế trong từng
thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có những sự
thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động lớn
đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường.
Đặc điểm này của thuế TNCN được thể hiện các quy định về thu nhập chịu thuế, thu
nhập chịu thuế không thường xuyên thay đổi theo biến động của nền kinh tế trong từng
11
thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có những sự
thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động lớn
đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường.
+ Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật
quốc gia và luật quốc tế
Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng với công dân nước
mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh
thổ quốc gia đó. Để tránh được tình trạng thu thuế hai lần trên một đối tượng chịu thuế, các
hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia và cũng là nguồn luật điều
chỉnh quan hệ thuế TNCN.
1.2 ĐÂU???
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
THẾ NÀO LÀ KHÁI NIỆM???
MỤC NÀY KO NÓI TỚI THẨM QUYỀN HAY TRÌNH TỰ
Pháp luật về quản lý thuế TNCN là tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước để
ra để điều chỉnh các quan hệ hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Khoản 2 – Điều 2 Luật quản lý thuế 2019 nhận định các chủ thể tham gia quản lý thuế
bao gồm:
+ Cơ quan thuế: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế, Chi cục Thuế khu vực.
+ Cơ quan hải quan: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Cục kiểm tra sau thông quan,
Chi cục Hải quan.
+ Công chức quản lý thuế: công chức thuế, công chức hải quan.
+ Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Bản chất quan hệ quản lý thuế TNCN có tính chất hành chính nên các nhà làm luật rất
coi trọng các quy định thủ tục hành chính. Chủ thể quản lý phải đảm bảo bao quát hết các
giai đoạn trong quá trình quản lý, từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng, bao gồm:
+ Thủ tục đăng ký thuế: Tại cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền, người nộp thuế sẽ
được cấp mã số thuế để quản lý.
+ Thủ tục kê khai, tính thuế, nộp thuế: Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể
nộp thuế, đẩy mạnh cơ chế “tự khai, tự tính, tự nộp” đối với NNT và cơ chế “hậu kiểm”
đối với cơ quan quản lý.
+ Thủ tục quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế: Đây là thủ tục đóng vai trò rất quan
trọng trong quá trình quản lý. Thực tế, có nhiều trường hợp NNT có phát sinh số thuế nộp
thừa hoặc nộp thiếu, dẫn đến việc Nhà nước phải hoàn thuế hoặc truy thu thuế.
+ Thủ tục xét miễn, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt hoặc cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế.
12
+ Thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp: Đây là
những nội dung cụ thể của công tác quản lý cần được Nhà nước quan tâm và thể chế hóa
bằng pháp luật.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
NHÓM VIẾT THÀNH ĐOẠN CÓ MẤY VAI TRÒ CHỨ KO LIỆT KÊ NHÉ
Thực hiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được hiểu là quá trình
hoạt động có mục đích của các cơ quan có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định
pháp luật, đưa pháp luật về quản lý thuế TNCN vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật. Do đó pháp luật đóng vai
trò quan trọng trong quản lý thuế thu nhập cá nhân.
1. Quy định và hướng dẫn: Pháp luật quy định các quy tắc và quy định liên quan đến
thuế thu nhập cá nhân. Nó cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách nh thuế, các khoản
miễn thuế, các khoản giảm trừ và các quy định khác liên quan đến thuế thu nhập
nhân.
2. Thu thập thuế: Pháp luật quy định quy trình và quy định liên quan đến việc thu thập
thuế thu nhập nhân. xác định các nguồn thuế, các phương pháp thu thuế
các quy định về báo cáo thuế.
3. Kiểm tra tuân thủ: Pháp luật cũng đảm bảo việc kiểm tra tuân thủ các quy
định về thuế thu nhập nhân. thiết lập các quan kiểm tra thuế và quy định
các biện pháp kiểm tra và xử lý vi phạm thuế.
4. Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế: Pháp luật bảo vệ quyền lợi của người nộp
thuế bằng cách đảm bảo rằng quy trình thuế được thực hiện theo đúng quy định
công bằng. Nó cũng cung cấp các quyền và quyền lợi của người nộp thuế, bao gồm
quyền kháng cáo và quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp thuế.
5. Định trách nhiệm trách nhiệm của các bên liên quan: Pháp luật xác định
trách nhiệm và trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan thuế và các bên liên quan
khác. Nó đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong việc quản lý thuế thu nhập
nhân.
Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia. Hơn nữa, nó
còn góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Ngoài ra, thuế thu nhập còn
có tác dụng điều tiết kinh tế vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng có lợi cho
xã hội. Khi xã hội phát triển ổn định và bền vững thì mọi người đều được hưởng lợi. Do
đó, để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quản lý thuế thu nhập cá nhân, pháp luật
về quản lý thuế là vô cùng cần thiết.
1.2.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
13
VIẾT THEO ĐOẠN NỘI DUNG RÕ RÀNG, KO LIỆT KÊ
Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế thu nhập cá nhân giữa
Nhà nước với người nộp thuế. Đây là công cụ đảm bảo cho việc thực hiện thuế được đầy
đủ, chính xác, hiệu quả, góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, điều tiết thu nhập giữa
các tầng lớp và đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế.
Theo Điều 4 Luật quản lý thuế, nội dung quản lý thuế bao gồm:
+ Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế.
+ Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế.
+ Khoanh tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp,
tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ.
+ Quản lý thông tin người nộp thuế.
+ Quản lý hóa đơn, chứng từ.
+ Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi
phạm pháp luật về thuế.
+ Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.
+ Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
+ Hợp tác quốc tế về thuế.
+ Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế.
Cụ thể, với thực tế chế NNT tự khai tự nộp thuế trong hoạt động quản thuế
TNCN Việt Nam hiện nay, pháp luật quản thuế TNCN cần chú trọng các nội dung
sau:
1. Quản lý đối tượng nộp thuế TNCN, trong đó cụ thể là xác định đối tượng nộp thuế,
thông tin NNT.
- Về đối tượng nộp thuế, pháp luật thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới
hiện nay xác định đối tượng nộp thuế TNCN dựa trên hai nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc đánh thuế theo cư trú: cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế với mọi
khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn nếu không cư trú thì cá nhân sẽ
chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh từ nước đó.
+ Nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập: cá nhân cư trú phải chịu thuế
thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập phát sinh ở nước đó.
- Về thông tin NNT, pháp luật quy quy định cơ quan quản lý phải chịu trách nhiệm
trong việc khai thác, sử dụng thông tin của NNT.
2. Quản lý tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập cá nhân của NNT.
14
Thông qua tuyên truyền để hỗ trợ NNT nhằm chuyển tài chính sách thuế đến người
nộp thuế, từng bước nâng cao nhận thức ý thức chấp hành pháp luật thuế của cộng
đồng dân cư, tạo lập mối quan hệ bình đẳng giữa quan quản thuế và người nộp
thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giám sát hoạt động thi hành pháp luật thuế TNCN, phát
hiện các vi phạm để ngăn chặn kịp thời, xử lý vi phạm, răn đe các hành vi vi phạm pháp
luật về thuế TNCN. Xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN là xem xét, quyết định áp dụng
các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với NNT vi phạm pháp luật thuế TNCN nhằm đảm
bảo tính răn đe của chế tài xử phạt, góp phần giảm thiểu vi phạm có thể xảy ra.
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế TNCN là công việc nắm bắt trực tiếp thực trạng nợ
thuế TNCN và thực hiện các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế thu hồi số nợ của NNT.
3. Quản lý nghĩa vụ của NNT TNCN thông qua các thủ tục như đăng ký thuế và cấp
mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế TNCN.
Đăng ký thuế và cấp mã số thuế là việc NNT thực hiện khai bảo sự hiện diện của mình
và nghĩa vụ phải nộp thuế với cơ quan quản lý thuế.
Tự khai, tự nộp thuế là việc NNT chủ động, tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình
theo quy định của pháp luật.
Quyết toán thuế TNCN là việc kiểm tra lại tổ chu nhập và tính toán phần thuế thu nhập
cá nhân phải nộp dựa trên gia cảnh và thu nhập.
1.3 Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới
- ở đây em nêu rất nhiều nước, vậy các nước quy định về khái niệm quản lý
thuế thu nhập cá nhân và pháp luật về QLTTNCN như thế nào, em tìm và đưa vào
phần khái niệm ở trên.
- Với các nước, nhóm cần thống nhất sẽ chia thành mấy ý để viết thành mấy
đoạn để tương quan PL giữa các nước thống nhất, tránh lan man.
Trong bối cảnh nền kinh tế không ngừng phát triển và thay đổi, vấn đề thuế thu nhập
cá nhân luôn nhận được sự quan tâm không chỉ của những chính trị gia mà còn người dân
của mỗi nước. Thuế thu nhập cá nhân không chỉ là nghĩa vụ của công nhân đối với quốc
gia mà còn thể hiện định hướng phát triển của mỗi quốc gia đó. Hiện nay, đã có hơn 180
quốc gia áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Mỗi quốc gia lại có những đặc điểm, quy định
thuế, thuế suất và các khoản miễn giảm khác nhau. Dưới đây là pháp luật về quản lý thuế
thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới.
1.3.1. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ.
15
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY
VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Theo luật pháp Mỹ, thuế thu nhập cá nhân là thuế được tính trên tổng thu nhập của một
cá nhân hoặc một hộ gia đình trong một năm tài chính. Tổng thu nhập bao gồm tiền
lương, tiền công, tiền tip, tiền bán bất động sản, tiền trúng số, tiền lãi từ đầu tư… Thuế
thu nhập cá nhân ở Mỹ được áp dụng theo hệ thống lũy tiến, tức là mức thuế càng cao khi
thu nhập càng cao. Người có thu nhập thấp có thể được miễn hoặc giảm thuế, trong khi
người có thu nhập cao có thể phải đóng tới 40-50% tổng thu nhập.
Thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ được quản lý bởi Cục Thuế Thu Nhập Liên Bang
(Internal Revenue Service - IRS). Hệ thống thuế này áp dụng trên toàn quốc và thuế thu
nhập cá nhân được tính dựa trên thu nhập của cá nhân, bao gồm thu nhập từ công việc,
đầu tư, và các nguồn khác.
Thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ được chia thành ba cấp: cấp liên bang, cấp tiểu bang và
cấp địa phương. Cấp liên bang là cấp cao nhất và áp dụng cho tất cả người lao động trên
toàn quốc. Cấp tiểu bang và cấp địa phương là cấp thấp hơn và áp dụng tùy theo từng
bang và khu vực. Các tiểu bang có mức thuế cao nhất bao gồm California, Hawaii,
Oregon, Minnesota và New Jersey. Có một số bang và khu vực không áp dụng hoặc áp
dụng rất thấp thuế thu nhập cá nhân, ví dụ như Florida.
Mỹ vận hành một hệ thống thuế trên toàn thế giới. Vậy nên, bất kỳ khoản thu nhập nào
kiếm được với tư cách là cư dân Mỹ, dù nguồn ở trong hay bên ngoài nước Mỹ, đều phải
chịu thuế của chính phủ Mỹ. Mỹ có một hệ thống thuế thu nhập cá nhân liên bang và thuế
thu nhập cá nhân của từng tiểu bang. Thuế thu nhập cá nhân được tính dựa trên thu nhập
của cá nhân và có các khoản miễn giảm, loại thuế và thuế suất khác nhau dành cho các
mức thu nhập khác nhau. Theo Bảng tính thuế thu nhập cá nhân từ Sở Thuế vụ Mỹ, hiện
tại có bảy khung thuế suất lũy tiến áp dụng cho thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ, từ 10-37%.
Thuế dao động giữa các tiểu bang, với tỷ lệ thường từ 0% đến hơn 13% (năm 2020).
Chính quyền liên bang Mỹ áp dụng mức thuế suất cao nhằm khuyến khích công dân Mỹ
tái đầu tư vào nền kinh tế.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân Mỹ bao gồm nhiều khoản miễn giảm, loại thuế và
khấu trừ, như loại thuế trẻ em, loại thuế hôn nhân, và các khoản miễn giảm cho việc tiêu
dùng nhất định hoặc đóng góp vào quỹ hưu trí, quỹ từ thiện hay quỹ bảo hiểm.
Người dân Hoa Kỳ phải tự kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng năm thông qua các mẫu
khai thuế của IRS. Theo quy định các cá nhân đang sinh sống tại Mỹ phải tiến hành khai
thu nhập trước ngày 15/4 với Sở thuế vụ. Bên cạnh đó, đồng thời phải tiến hành khai thuế
cho tiểu bang, thuế thành phố hoặc cục thuế ở địa phương. Nếu người dân không tuân thủ
luật thuế, họ có thể bị phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
16
1.3.2. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Úc
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY
VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Hằng năm, những người đang đi làm ở Canada phải có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá
nhân cho Chính phủ (bao gồm cả sinh viên đang đi làm). Người nhập cư Canada cũng sẽ
có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Chính phủ Canada, bao gồm các khoản thu
nhập từ: Công việc, tiền lương, kinh doanh, lợi nhuận từ đầu tư và các nguồn thu thu
nhập khác.
Thuế thu nhập cá nhân của Úc được quản lý bởi Cơ quan Thuế Canada (Canada
Revenue Agency - CRA). Theo đó, người nhập cư cần phải đăng ký mã số thuế cá nhân
và gửi tờ khai thuế hàng năm cho Cơ quan thu thuế của Canada.
Canada có hệ thống thuế thu nhập cá nhân liên bang và thuế thu nhập cá nhân của từng
tỉnh bang hoặc lãnh thổ. Hệ thống này áp dụng thuế trên thu nhập của cá nhân, bao gồm
thu nhập từ công việc, đầu tư và các nguồn khác không phải từ việc làm hay kinh doanh.
Có nhiều mức thuế khác nhau. Trong khi đó, thuế tỉnh bang là một loại thuế thu nhập
được liên kết với thuế suất liên bang. Ngoại lệ duy nhất là bang Quebec. Quebec áp dụng
quy định khác về thu nhập chịu thuế vì Quebec tài trợ cho nhiều loại dịch vụ mà nơi khác
không có. Thuế thu nhập cá nhân ở Canada sẽ do cá nhân tự khai, dù cho là vợ hay chồng
cũng sẽ không khai chung.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân của Canada cung cấp các khoản miễn giảm và loại
thuế cho những người có trẻ em, người đã kết hôn, người độc thân, và những người có
trách nhiệm gia đình khác. Mỗi năm, người dân Canada phải khai thuế thu nhập cá nhân
của họ thông qua việc điền vào mẫu khai thuế. Ngày hạn chót để nộp khai thuế thường
vào cuối tháng 4 hàng năm. Nếu người dân không tuân thủ luật thuế, họ có thể bị phạt
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc mất quyền lợi trong tương lai.
1.3.3. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Singapore
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY
VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Theo pháp luật Singapore, tất cả thu nhập có nguồn gốc phát sinh từ lãnh thổ
Singapore đều phải chịu thuế thu nhập của quốc gia này. Singapore sử dụng một hệ thống
thuế thu nhập cá nhân cơ bản với mức thuế thu nhập phẳng (flat tax rate). Điều này có
nghĩa rằng tất cả thu nhập cá nhân được tính thuế dựa trên một mức thuế thu nhập cố
định, không phân biệt giữa thuế thu nhập từ lương công việc, lợi tức đầu tư, hay thu nhập
khác.
17
Thuế thu nhập cá nhân ở Singapore được quản lý bởi Cơ quan Thuế Thu Nhập
Singapore (Inland Revenue Authority of Singapore - IRAS).
Mức thuế thu nhập cá nhân tại Singapore thường rất thấp so với nhiều quốc gia khác.
Mức thuế thu nhập cá nhân được xác định dựa trên mức thuế thu nhập cố định, và các
người nước ngoài có thể được áp dụng thuế thu nhập cá nhân thấp hơn thông qua chế độ
"Non-Resident Tax Rate."
Ở Singapore, mức thuế thu nhập cá nhân sẽ được xác định dựa vào tình trạng cư trú,
theo đó có hai trường hợp như sau: Đối tượng cư trú cho mục đích thuế và đối tượng
không cư trú cho mục đích thuế. Với đối tượng cư trú cho mục đích thuế, mức thuế suất
từ 0-22%. Nếu có mặt tại Singapore ít hơn 183 ngày thì được xem là đối tượng không cư
trú cho mục đích thuế . Trong trường hợp này, mức thuế thu nhập cá nhân áp dụng lên thu
nhập của bạn như sau: Nếu thời gian có mặt tại Singapore không quá 60 ngày thì mức
thuế suất là 0%, trừ một số trường hợp.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân ở Singapore đơn giản, với ít loại thuế và khoản miễn
giảm. Tuy nhiên, khoản miễn giảm cho trẻ em, người già và các khoản miễn giảm khác.
Người dân và cư dân có nghĩa vụ tự khai thuế và gửi báo cáo thuế thu nhập cá nhân
hàng năm tới IRAS. Hạn chót nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân là ngày 15 tháng 4 đối
với nộp hồ sơ giấy và ngày 18 tháng 4 đối với nộp hồ sơ điện tử. Nếu cá nhân là chủ
doanh nghiệp có sử dụng người lao động, thời hạn nộp thuế cho nhân viên là ngày 15
tháng 3. Singapore áp dụng các biện pháp trừng phạt và hình phạt cho việc vi phạm luật
thuế, bao gồm việc không tuân thủ khai thuế hoặc cố ý trình bày thông tin sai lệch. Mức
phạt thuế thu nhập đối với việc cố tình sai phạm trong khai báo thuế thu nhập cá nhân ở
Singapore cho người nước ngoài là sẽ bị phạt gấp 4 lần số tiền trốn thuế và có thể bị phạt
tù tùy theo tính chất, mức độ của sai phạm.
1.3.4. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc
Luật Thuế TNCN sửa đổi của Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã hợp nhất
bốn loại thu nhập lao động (bao gồm tiền lương và tiền công, tiền công cho các dịch vụ
cá nhân, thù lao của tác giả và tiền bản quyền), thành một loại thu nhập tính
18
thuế; đồng thời tăng khấu trừ thuế tiêu
chuẩn cho thu nhập hợp nhất từ 42.000
RMB/năm lên 60.000 RMB/năm.
Thuế thu nhập cá nhân ở Tr
ung Quốc được quản lý bởi Cục Thuế Trung ương (State
Administration of Taxation - SAT
)
cùng với các cơ quan thuế địa phương. S
AT có
nhiệm vụ ban hành chính sách thu
ế, hướng dẫn thi hành luật, và giám sát
việc thuế thu
nhập cá nhân.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quố
c là hệ thống thuế suất biến đổi, áp dụng
theo biểu thuế luỹ tiến từ 3-45% thu nhập
. Có một loạt các mức thuế thu nhập cá
nhân
với các khoản miễn giảm và kho
ản khấu trừ thay đổi tùy thu nhập của cá nhân
Mức thuế thu nhập cá nhân tại
Trung Quốc có thể khá thấp so với một số quốc gia
khác. Có những khoản miễn giảm và
loại thuế khấu trừ được cung cấp cho ngư
ời dân
Trung Quốc, chẳng hạn như miễn giảm cho
trẻ em, người già, và một số loại
chi tiêu cụ
thể như giáo dục và y tế. Mức thuế
thu nhập cá nhân thay đổi tùy thu nhập. Các
khoản
miễn giảm và thuế suất có thể t
hay đổi theo thời gian và chính sách thu
ế của chính phủ
Trung Quốc.
Người dân Trung Quốc có nhiệm vụ tự khai
thuế và gửi báo cáo thuế thu nhập c
á
nhân hàng năm tới cơ quan thuế đị
a phương hoặc trực tuyến thông qua hệ thống đi
ện tử.
Thời hạn khai báo thuế thu nhập cá
nhân ở Trung Quốc thường là từ 1 tháng sau khi kết
thúc năm tài chính cho đến ngày 30 tháng
4
của năm tài chính tiếp theo. T
hời hạn này
áp dụng cho cả công dân Trung Quốc và
người nước ngoài có thu nhập tại Trung Quốc
.
Thông thường, người phải tự khai báo thu
ế thu nhập cá nhân và gửi báo cáo thuế cho
quan thuế địa phương.
Vi phạm liên quan đến thuế thu nhập cá
nhân có thể dẫn đến hình phạt v
à trừng phạt,
bao gồm việc không tuân thủ kh
ai thuế hoặc cố ý trình bày thông tin sai lệch. Hì
nh phạt
và trừng phạt cụ thể phụ thuộc v
ào mức độ vi phạm và tình hình cụ thể của từ
ng trường
hợp, từ phạt tiền, khi
ếu nại đến truy cứu trách nhiệm hình sự và kho
ản nợ thuế trong
tương lai.
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
2.1.1. Về đăng ký thuế TNCN
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế khai báo đầy đủ thông tin của người nộp thuế
theo biểu mẫu quy định và nộp tờ kê khai cho cơ quan quản lý thuế nhằm bước đầu thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổng Cục thuế là cơ
quan có thẩm quyền thực hiện kê khai thuế và cấp mã số thuế. Hiện nay, Việt Nam đang
thực hiện theo hình thức tự kê khai và nộp thuế.
Các thủ tục về đăng ký thuế TNCN được trình bày rõ ràng thông quatại Thông tư
111/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN và Chương III Luật Qquản lý thuế năm
2019 số 38/2019/QH14.
Theo đó, các đối tượng đăng ký thuế bao gồm 3 nhóm: Tổ chức cá nhân trả thu nhập;
Các cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN; Người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh.
Khoản 3 Điều 30 Luật Quản lý thuế 2019 quy định mỗi cá nhân được cấp một mã số
thuế riêng để cơ quan quản lý nhà nước giám sát. Người nộp thuế chỉ sử dụng một mã số
thuế duy nhất trong suốt thời gian kinh doanh, từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn
hoạt động. Mã số thuế đã cấp không được sử dụng lại để cấp cho người nộp thuế khác,
điều này đảm bảo việc đóng thuế TNCN diễn ra hiệu quả, công bằng, minh bạch, giảm
thiểu được các tình trạng gian lận về thuế.
Việc đăng ký thuế bao gồm:
+ Đăng ký thuế lần đầu;
+ Thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế;
+ Thông báo khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh;
+ Chấm dứt hiệu lực mã số thuế; + Khôi phục mã
số thuế.
Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng trách nhiệm đăng ký, nộp thuế TNCN nhưng
công tác quản lý thuế vẫn còn khó khăn đối với cá nhân có hoạt động kinh doanh bán
hàng online. Khi kinh doanh trên các nền tảng xã hội, các cá nhân có thể kinh doanh
chính thống hoặc không chính thống vì vậy việc đăng ký kinh doanh có thể là bắt buộc
hoặc không. Chương V Luật Quản lý thuế 2019 cũng có nội dung về ấn định thuế trong
trường hợp chủ thể kinh doanh không đăng ký, khai thuế… Tuy nhiên, đối với cơ quan
quản lý thuế thì rất khó để xác định được thu nhập chịu thuế của đối tượng này do việc
thanh toán hầu hết là tiền mặt, không qua ngân hàng nên không xác định rõ doanh thu và
thông tin cá nhân kinh doanh vượt ngưỡng rất khó để xác định.
20
Năm 2022, cơ quan thuế đẩy mạnh công tác tuyên truyền ứng dụng eTax Mobile, cung
cấp các tiện ích đối với chức năng nộp thuế điện tử. Thống kê đến ngày 31/12/2022, số
lượng NNT sử dụng app là gần 352 nghìn người; số lượng NNT đăng ký tài khoản qua
app gần 420 nghìn người với tổng số giao dịch nộp thuế thành công qua app là 115 nghìn
giao dịch. Theo Tổng cục Thuế ghi nhận số tiền tương ứng nộp qua ứng dụng này là
381,4 tỷ đồng; trong đó các tỉnh có số lượng giao dịch thành công nhiều nhất là Hà Nội,
Hồ Chí Minh, Gia Lai, Quảng Ngãi, Thanh Hóa. Cùng với đó, tích hợp các dịch vụ trực
tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia đã cung cấp cho NNT là các cá nhân 1,67 triệu tài
khoản điện tử. Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế đã tiếp cận tổng số 1,17 triệu tờ
khai.
2.1.2. Về kê khai thuế TNCN
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng cơ chế tự khai, tự tính thuế để thu và quản lý các
loại thuế bao gồm cả thuế TNCN. Để cơ quan thuế có thể nắm bắt đầy đủ thông tin, quản
lý thuế của từng đối tượng nộp thuế theo từng khoảng thời gian cụ thể thì cần yêu cầu đối
tượng nộp thuế thực hiện kê khai thuế theo đúng luật định. Tuỳ thuộc vào từng đối tượng
khác nhau sẽ yêu cầu kê khai thuế thu nhập khác nhau, để đảm bảo cho quá trình kê khai
thu nộp thuế được thuận lợi hơn.
Nguyên tắc khai thuế có hiệu lực pháp lý cao hơn, nổi bật là đối với hoạt động kinh
doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được
thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà
cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai
thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Khoản 4 Điều 42
Luật quản lý thuế 2019). Mặc dù đây chỉ là nguyên tắc định hướng nhưng nguyên tắc
này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý thuế tiếp cận quốc tế.
Thời gian khai thuế được quy định rõ ràng giúp NNT và công tác quản lý thuế xác định
thời hạn thu, nộp thuế được thuận lợi hơn. Chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo
tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng và chậm nhất là
ngày cuối cùng của tháng đầu của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế đối với
trường hợp khai và nộp theo quý được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 44 Luật Quản lý
thuế 2019.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế qua các hình
thức như: Nhận hồ sơ trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế; Nhận hồ sơ gửi qua đường bưu
chính; Nhận hồ sơ điện tử qua cổng giao dịch điện tử của cơ quan quản lý thuế. (Khoản 4
Điều 48 Luật quản lý thuế 2019). Có thể thấy, cơ quan quản lý thuế đã đưa ra nhiều
phương án giúp cho NNT có thể chủ động, linh hoạt trong việc kê khai, nộp thuế.

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬ P CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : Đỗ Thị Hoa NHÓM THỰC HIỆN :
SINH VIÊN THỰC HIỆN : HÀ NỘI - 2023
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ST
Ký hiệu chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ T 1 TNCN Thu nhập cá nhân 2 NTT Người nộp thuế 3 NSNN Ngân sách Nhà nước 4 GTGC Giảm trừ gia cảnh 5 QLT Quản lý thuế 6 MTKD Môi trường kinh doanh 7 CNTT Công nghệ thông tin 8 HĐĐT Hóa đơn điện tử 9 DN Doanh nghiệp 10 HĐND Hội đồng nhân dân 11 UBND Ủy ban nhân dân 2 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Để bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, phát triển bền vững và hội nhập tích cực. Trong
tình hình kinh tế quốc tế hiện nay, việc hoàn thiện chính sách tài chính, đặc biệt là hệ thống
chính sách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân là rất cần thiết để thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ phân bổ nguồn lực, đồng thời cũng có thể giải quyết tốt các mối quan hệ khác nhau.
giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng và công bằng xã hội và giảm nghèo.
Ở các nước phát triển, sắc thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện khá lâu và đang thực hiện
phổ biến tại hầu khắp các nước trên thế giới. Trong tổng thu ngân sách nhà nước, tỉ trọng
của thuế cá nhân đối với tổng thu ngân sách nhà nước chiếm khá cao khoảng 30 – 40%, có
khi trên 50% ở Hoa Kỳ, Nhật, Canada, Autralia, New Zealand và các quốc gia đang phát
triển như Thái Lan, Philipin chiếm khoảng 15 – 30% . Chính sách thuế thu nhập cá nhân
là chính sách thuế có nội hàm phức tạp nhất đối với ngành thuế và vấn đề quản lí thuế thu
nhập cá nhân được xem là vấn đề cấp bách đối với mọi quốc gia. Bởi vì, thuế không chỉ
gắn với nội dung quy định của chính sách thuế mà còn gắn với môi trường chính trị, kinh
tế, văn hoá khi chính sách thuế được áp dụng thực hiện.
Vì vậy, pháp luật thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân luôn có tính
chất đặc biệt, đặc biệt tập trung vào Việt Nam. Từ năm 1990, hệ thống chính sách thuế của
Việt Nam bắt đầu cải cách toàn diện, việc ban hành Luật Quản lý thuế. Năm 2006 đánh
dấu bước đầu hoàn thiện công tác quản lý thuế tổng thể, đặc biệt là quản lý thuế thu nhập
cá nhân. Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ban hành ngày
21/11/2007. Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, dựa trên Quy định số 1 Nghị định
35/2001/PL-UBTVQH10 về thuế thu nhập đối với nhóm thu nhập cao (19/05/2001). Sau
gần 10 năm thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2012,
2014, bổ sung một số quy định nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân, bảo
đảm phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội. Đảm bảo công bằng trong điều chỉnh thu
nhập cho mọi tầng lớp xã hội. Đảm bảo huy động hợp lý thu nhập của người dân và khuyến khích mọi người.
Hiện nay, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nói chung còn bộc lộ một số hạn chế,
bất cập như chính sách chồng chéo, việc thực thi chính sách chưa hiệu quả, hiệu quả của
cơ quan quản lý chưa cao, việc thực thi chính sách còn cồng kềnh, kiểm soát và còn tồn tại
vấn đề trong việc công khai chính sách thuế thu nhập cá nhân tới các tổ chức, cơ quan. Vai
trò của cá nhân trong xã hội chưa mạnh, việc tin học hóa quản lý thuế thu nhập cá nhân
chưa được hoàn thiện gây nhiều bất tiện cho người dân, khi người dân thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế... làm giảm hiệu quả của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong cộng đồng. 3
Dựa trên cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thực trạng thi hành pháp luật
quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam cũng như từ nhiều vấn đề phát sinh trong thực
tế về việc thi hành pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân. Chúng tôi quyết định nghiên
cứu đề tài: “ Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” để khắc phục những hạn
chế, tồn tại bất cập trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
và các chính sách thuế tại Việt Nam là khá phổ biến, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Luận văn thạc sĩ: “ Quản lí thuế thu nhập cá nhân ở cục thuế tỉnh Hà Nam”. Năm
2016 của tác giả Nguyễn Văn Nam.
+ Luận văn thạc sĩ Luật học: “ Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
- thực trạng và giải pháp.” Năm 2015 của tác giả Trần Thị Thu Huyền.
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế của Đỗ Tuyết Minh (2009) với đề tài: “Thanh tra, kiểm tra
Thuế TNCN ở Chi cục Thuế quận Ba Đình”.
+ Bài viết: Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương
hướng hoàn thiện của ThS. Trần Vũ Hải, đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2007.
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế: “ Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập thuế cá
nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”. Năm 2013 do tác giả Trần Công Thành viết.
+ Luận văn thạc sĩ Luật học: “ Pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động
chuyển nhượng bất động sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”. Năm 2020 của tác giả Lê Thị Diệu Linh.
Các đề tài nghiên cứu trên đã nêu lên được những thành công và chỉ ra được hạn chế
trong Pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân, đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn về Pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Nhìn chung,
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên không còn mang tính chất cập nhật, do vậy mà nó không
thể phản ánh được những vấn đề phát sinh hiện nay. Bộ máyp pháp luật quản lí thuế nói
chung và quản lí thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã có những thay đổi hoàn thiện hơn để
phù hợp với tình hình phát hiện hiện nay của đất nước. Vì thế màTuy nhiên , những công
trình nghiên cứu trước đây không còn mang “ tính thời sự” nữa. Và hơn thế, từ khi có Luật
số 71/2014/QH13 thì đã không có nhiều các bài nghiên cứu sâu về đề tài Pháp luật quản lí
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. 4
Dựa trên những đóng góp của các dự án nghiên cứu trước đây về Luật thuế thu nhập,
công trình này tiếp tục giải quyết các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc áp dụng Pháp
luật quản lí thuế thu nhập cá nhân trong giai đoạn này. Từ đó, chúng tôi đề xuất các giải
pháp giúp đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác quản lý thuế nói chung và pháp luật quản
lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích của đề tài.
Dựa trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về
quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam so với pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân
của các nước trên thế giới. Từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục được
những hạn chế, những tồn tại bất cập để hoàn thiện được các quy định pháp luật về quản lí
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Để có thể đạt được mục đích trên, ta cần làm các nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau đây:
+ Đầu tiên đó là tìm hiểu những vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân và
pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
+ Thứ hai đó là đưa ra thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân và thực
tiễn thực hiện tại Việt Nam.
+ Cuối cùng đó là kết luận và đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản
lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay đồng thời hoàn thiện các quy định về chủ
thể tham gia quản lý thuế thu nhập cá nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
+ Nghiên cứu về các quy định, các vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân và
pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
+ Nghiên cứu về thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn
hiện nay tại Việt Nam từ đó đưa ra được những giải pháp khắc phục những hạn chế vướng
mắc về pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
+ Về nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu tập chung vào giải quyết các vấn đề lý luận
và thực tiễn pháp lý về pháp luật quản lí thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Từ đó, đưa
ra được những giải pháp giải quyết các vấn đề pháp luật về quản lí thuế thu nhập cá nhân
đồng thời nâng cao hiệu quả quản lí thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam. 5
+ Về không gian và thời gian nghiên cứu: Công trình nghiên cứu các vấn đề về pháp
luật quản lý thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân
trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian 10 năm (từ năm 2013-2022).
5. Câu hỏi nghiên cứu.
+ Những vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân là gì?
+ Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân là gì?
+ Thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là gì?
+ Hãy nêu những thực tiễn thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam?
+ Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và bất cập trong pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân là gì?
+ Những phát hiện thông qua nghiên cứu là gì?
+ Từ đó hãy nêu ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam?
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận được sử dụng để thực hiện đề tài này là phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin.
Phương phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
+ Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, . ..
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: nghiên cứu thực tế thi hành của luật thuế
TNCN thông qua các số liệu, thống kê thu thập được.
+ Phương pháp hệ thống: xem pháp luật về thuế TNCN là một bộ phận cấu thành của
pháp luật về thuế đã được nghiên cứu.
+ Phương pháp so sánh: Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và
pháp luật nước ngoài về thuế thu nhập cá nhân ta sẽ rút ra những kinh nghiệm và những
bài học nhằm chỉnh sửa các quy định pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta nhờ đó mà nâng cao được hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Mặc dù các phương pháp được lựa chọn và ưu tiên dựa trên nội dung nghiên cứu
nhưng điều này không có nghĩa là quá trình nghiên cứu chỉ diễn ra độc lập. Các tác giả 6 7
Thuế thu nhập cá nhân ra đời từ rất lâu trong lịch sử thuế khóa và được coi là loại thuế
quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Theo nhiều nguồn tài liệu cho
thấy nó được ra đời lần đầu tại Anh vào năm 1799 như một nguồn thu tạm thời nhằm
trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng kể từ năm 1942.
Sau đó, việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân dần được các nước lớn mạnh thời bấy giờ áp
dụng như Nhật (1887), Đức (1899), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922),...và hiện
nay nó đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu, được hơn 180 nước trên thế giới áp
dụng và Việt Nam cũng là một trong số đó.
Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập cá nhân là thuế lợi tức lương bổng năm 1962.
, Ssau đó, từ năm 1972 được chuyển thành thuế thu nhập cá nhân. Ủy ban thường vụ
Quốc hội lần đầu tiên thông qua “Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu
nhập cao” vào ngày 27/12/1990 và chính thức có hiệu lực ngày 01/04/1991. Pháp lệnh
này được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và cuối cùng được thay thế bằng Luật Thuế thu nhập
cá nhân 2007, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Hệ thống văn bản bao gồm 03 Luật (Luật
số 04/2007/QH12; Luật số 26/2012/QH13; Luật số 71/2014/QH13); 03 Nghị định hướng
dẫn; 02 văn bản hợp nhất và 08 Thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính ban hành. Đứng
trước yêu cầu của sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó đã trải qua
các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2012, năm 2014 và hiện vẫn đang còn hiệu lực pháp luật.
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu, đánh vào tiền lương, tiền
công, thu nhập từ đầu tư, kinh doanh và các loại thu nhập khác của cá nhân. Những người
có thu nhập cao phải trả mức thuế cao hơn so với những người có thu nhập thấp.
Căn cứ theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007:
1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy
định tại mục 3 phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư
trú có thu nhập chịu thuế quy định tại mục 3 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
2. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính
theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có
nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
3. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại mục (2) điều này.
1.1.2 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân. 8
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng là lĩnh vực quản lý
chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước. Vì vậy, để hiểu rõ bản chất khái niệm
thế nào là quản lý thuế thu nhập cá nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” là gì.
- Về khái niệm quản lý:
Xuất phát điểm của các ngành khoa học khác nhau thì quan điểm về định nghĩa quản
lý sẽ được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Theo thuật ngữ pháp lý, “Quản lý
được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt
được mục tiêu đã đề ra của tổ chức, để thực hiện hoạt động quản lý cần phải có tổ chức
và quyền uy”.
Dưới góc độ nghiên cứu của C.Mác thì “Quản lý lại là nhằm phối hợp các
lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất”.
Nhưng theo
cách tiếp cận của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý thì “Quản lý là sự tác động chỉ
huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành động của con người để chúng phát triển phù
hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trú của người quản lý”.
Từ
những khái niệm trên, ta có thể hiểu chung “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý
lên đối tượng bị quản lý để thực hiện được mục tiêu quản lý”.
- Về khái niệm quản lý thuế và quản lý thuế thu nhập cá nhân:
Quản lý thuế (Tax management) là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp để đảm
bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế, cơ quan thu thuế và các tổ chức cá nhân có
liên quan trong quá trình thu, nộp thuế. Bao gồm cả việc xây dựng chính sách thuế, ban
hành pháp luật về thuế, xác định phương pháp và công cụ quản lý hành thu một cách
đúng đắn, hiệu quả. Có thể nói, quản lý thuế là quá trình cơ quan quản lý tác động đến
người nộp thuế nhằm đảm bảo họ chuyển giao nguồn tài chính của mình vào quỹ ngân
sách nhà nước thông qua việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế. Nội dung quản lý
bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm
thuế, không thu thuế; khoanh tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt;
miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không tính tiền chậm nộp, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền
thuế nợ; quản lý thông tin NNT; quản lý hóa đơn, chứng từ; thực hiện các biện pháp
phòng chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế,...
Từ khái niệm chung, có thể xác định rằng bản chất và cách tiếp cận khái niệm quản lý
thuế thu nhập cá nhân cũng giống như khái niệm quản lý thuế. Quản lý thuế thu nhập cá
nhân là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp quản lý tác động
lên quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý làm cho chúng vận động theo đúng quỹ đạo
mong muốn của các nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá
nhân. ĐOẠN DƯỚI LÀ ĐẶC ĐIỂM HAY CÁI GÌ VẬY EM ƠI. ???? NẾU LÀ ĐẶC
ĐIỂM THÌ CẦN ĐÁNH MỤC. THỨ 2, MỤC NÀY LÀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN THÌ 9
ĐẶC ĐIỂM EM NÊU LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ TNCN HAY ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ
TNCN. NHÓM ĐỂ Ý NỘI DUNG PHẢI ĐI THEO NỘI DUNG CỦA MỤC LỤC.
+ Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu.
Thuế TNCN là thuế trực thu do người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể
chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác. Việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu
trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dung hoặc chỉ
thể trung gian khác. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan
trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong
xã hội. Thuế TNCN được điều tiết trực tiếp vào thu nhập, tài sản của cá nhân có xem xét
tình trạng, hoàn cảnh, điều kiện, khả năng đóng góp của người nộp nên giảm bớt được sự
chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư.
+ Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân.
Con người tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhau. Mục đích của việc phân loại
thu nhập là cơ sở cho việc phân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng
như đặt ra các cơ chế hành thu hiệu quả. Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những
khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm
soát được. Như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới đảm bảo được tính khả thi, công bằng và
đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.
+ Thứ ba, việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần.
Thuế suất lũy tiến được hiểu là việc áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm
đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Theo đó, hiện nay thuế TNCN chủ
yếu được áp dụng thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương và thu nhập
từ kinh doanh. Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính chất lũy tiến cao. Vì thế thu nhập
cá nhân đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường được thiết kế
theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm báo tính công bằng giữa các đối tượng trả thuế.
Việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập
tăng lên càng cao thì phải tính thuế suất càng cao.
+ Thứ tư, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và phức tạp
Đặc điểm này của thuế TNCN được thể hiện ở các quy định về thu nhập chịu thuế, thu
nhập chịu thuế không thường xuyên thay đổi theo biến động của nền kinh tế trong từng
thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có những sự
thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động lớn
đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường.
Đặc điểm này của thuế TNCN được thể hiện ở các quy định về thu nhập chịu thuế, thu
nhập chịu thuế không thường xuyên thay đổi theo biến động của nền kinh tế trong từng 10
thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có những sự
thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động lớn
đến mức sống của dân cư và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường.
+ Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật
quốc gia và luật quốc tế
Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng với công dân nước
mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh
thổ quốc gia đó. Để tránh được tình trạng thu thuế hai lần trên một đối tượng chịu thuế, các
hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia và cũng là nguồn luật điều
chỉnh quan hệ thuế TNCN. 1.2 ĐÂU???
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
THẾ NÀO LÀ KHÁI NIỆM???
MỤC NÀY KO NÓI TỚI THẨM QUYỀN HAY TRÌNH TỰ
Pháp luật về quản lý thuế TNCN là tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước để
ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Khoản 2 – Điều 2 Luật quản lý thuế 2019 nhận định các chủ thể tham gia quản lý thuế bao gồm:
+ Cơ quan thuế: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế, Chi cục Thuế khu vực.
+ Cơ quan hải quan: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Cục kiểm tra sau thông quan, Chi cục Hải quan.
+ Công chức quản lý thuế: công chức thuế, công chức hải quan.
+ Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Bản chất quan hệ quản lý thuế TNCN có tính chất hành chính nên các nhà làm luật rất
coi trọng các quy định thủ tục hành chính. Chủ thể quản lý phải đảm bảo bao quát hết các
giai đoạn trong quá trình quản lý, từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng, bao gồm:
+ Thủ tục đăng ký thuế: Tại cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền, người nộp thuế sẽ
được cấp mã số thuế để quản lý.
+ Thủ tục kê khai, tính thuế, nộp thuế: Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể
nộp thuế, đẩy mạnh cơ chế “tự khai, tự tính, tự nộp” đối với NNT và cơ chế “hậu kiểm”
đối với cơ quan quản lý.
+ Thủ tục quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế: Đây là thủ tục đóng vai trò rất quan
trọng trong quá trình quản lý. Thực tế, có nhiều trường hợp NNT có phát sinh số thuế nộp
thừa hoặc nộp thiếu, dẫn đến việc Nhà nước phải hoàn thuế hoặc truy thu thuế.
+ Thủ tục xét miễn, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt hoặc cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế. 11
+ Thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp: Đây là
những nội dung cụ thể của công tác quản lý cần được Nhà nước quan tâm và thể chế hóa bằng pháp luật.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
NHÓM VIẾT THÀNH ĐOẠN CÓ MẤY VAI TRÒ CHỨ KO LIỆT KÊ NHÉ
Thực hiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được hiểu là quá trình
hoạt động có mục đích của các cơ quan có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định
pháp luật, đưa pháp luật về quản lý thuế TNCN vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật. Do đó pháp luật đóng vai
trò quan trọng trong quản lý thuế thu nhập cá nhân.
1. Quy định và hướng dẫn: Pháp luật quy định các quy tắc và quy định liên quan đến
thuế thu nhập cá nhân. Nó cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách tính thuế, các khoản
miễn thuế, các khoản giảm trừ và các quy định khác liên quan đến thuế thu nhập cá nhân.
2. Thu thập thuế: Pháp luật quy định quy trình và quy định liên quan đến việc thu thập
thuế thu nhập cá nhân. Nó xác định các nguồn thuế, các phương pháp thu thuế và
các quy định về báo cáo thuế.
3. Kiểm tra và tuân thủ: Pháp luật cũng đảm bảo việc kiểm tra và tuân thủ các quy
định về thuế thu nhập cá nhân. Nó thiết lập các cơ quan kiểm tra thuế và quy định
các biện pháp kiểm tra và xử lý vi phạm thuế.
4. Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế: Pháp luật bảo vệ quyền lợi của người nộp
thuế bằng cách đảm bảo rằng quy trình thuế được thực hiện theo đúng quy định và
công bằng. Nó cũng cung cấp các quyền và quyền lợi của người nộp thuế, bao gồm
quyền kháng cáo và quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp thuế.
5. Định rõ trách nhiệm và trách nhiệm của các bên liên quan: Pháp luật xác định rõ
trách nhiệm và trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan thuế và các bên liên quan
khác. Nó đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong việc quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia. Hơn nữa, nó
còn góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Ngoài ra, thuế thu nhập còn
có tác dụng điều tiết kinh tế vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng có lợi cho
xã hội. Khi xã hội phát triển ổn định và bền vững thì mọi người đều được hưởng lợi. Do
đó, để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quản lý thuế thu nhập cá nhân, pháp luật
về quản lý thuế là vô cùng cần thiết.
1.2.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 12
VIẾT THEO ĐOẠN NỘI DUNG RÕ RÀNG, KO LIỆT KÊ
Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế thu nhập cá nhân giữa
Nhà nước với người nộp thuế. Đây là công cụ đảm bảo cho việc thực hiện thuế được đầy
đủ, chính xác, hiệu quả, góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, điều tiết thu nhập giữa
các tầng lớp và đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế.
Theo Điều 4 Luật quản lý thuế, nội dung quản lý thuế bao gồm:
+ Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế.
+ Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế.
+ Khoanh tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp,
tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ.
+ Quản lý thông tin người nộp thuế.
+ Quản lý hóa đơn, chứng từ.
+ Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi
phạm pháp luật về thuế.
+ Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.
+ Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
+ Hợp tác quốc tế về thuế.
+ Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế.
Cụ thể, với thực tế cơ chế NNT tự kê khai tự nộp thuế trong hoạt động quản lý thuế
TNCN ở Việt Nam hiện nay, pháp luật quản lý thuế TNCN cần chú trọng các nội dung sau:
1. Quản lý đối tượng nộp thuế TNCN, trong đó cụ thể là xác định đối tượng nộp thuế, thông tin NNT. -
Về đối tượng nộp thuế, pháp luật thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới
hiện nay xác định đối tượng nộp thuế TNCN dựa trên hai nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc đánh thuế theo cư trú: cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế với mọi
khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn nếu không cư trú thì cá nhân sẽ
chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh từ nước đó.
+ Nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập: cá nhân cư trú phải chịu thuế
thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập phát sinh ở nước đó. -
Về thông tin NNT, pháp luật quy quy định cơ quan quản lý phải chịu trách nhiệm
trong việc khai thác, sử dụng thông tin của NNT.
2. Quản lý tính tuân thủ pháp luật thuế thu nhập cá nhân của NNT. 13
Thông qua tuyên truyền để hỗ trợ NNT nhằm chuyển tài chính sách thuế đến người
nộp thuế, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật thuế của cộng
đồng dân cư, tạo lập mối quan hệ bình đẳng giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giám sát hoạt động thi hành pháp luật thuế TNCN, phát
hiện các vi phạm để ngăn chặn kịp thời, xử lý vi phạm, răn đe các hành vi vi phạm pháp
luật về thuế TNCN. Xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN là xem xét, quyết định áp dụng
các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với NNT vi phạm pháp luật thuế TNCN nhằm đảm
bảo tính răn đe của chế tài xử phạt, góp phần giảm thiểu vi phạm có thể xảy ra.
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế TNCN là công việc nắm bắt trực tiếp thực trạng nợ
thuế TNCN và thực hiện các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế thu hồi số nợ của NNT.
3. Quản lý nghĩa vụ của NNT TNCN thông qua các thủ tục như đăng ký thuế và cấp
mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế TNCN.
Đăng ký thuế và cấp mã số thuế là việc NNT thực hiện khai bảo sự hiện diện của mình
và nghĩa vụ phải nộp thuế với cơ quan quản lý thuế.
Tự khai, tự nộp thuế là việc NNT chủ động, tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình
theo quy định của pháp luật.
Quyết toán thuế TNCN là việc kiểm tra lại tổ chu nhập và tính toán phần thuế thu nhập
cá nhân phải nộp dựa trên gia cảnh và thu nhập.
1.3 Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới -
ở đây em nêu rất nhiều nước, vậy các nước quy định về khái niệm quản lý
thuế thu nhập cá nhân và pháp luật về QLTTNCN như thế nào, em tìm và đưa vào
phần khái niệm ở trên.
-
Với các nước, nhóm cần thống nhất sẽ chia thành mấy ý để viết thành mấy
đoạn để tương quan PL giữa các nước thống nhất, tránh lan man.
Trong bối cảnh nền kinh tế không ngừng phát triển và thay đổi, vấn đề thuế thu nhập
cá nhân luôn nhận được sự quan tâm không chỉ của những chính trị gia mà còn người dân
của mỗi nước. Thuế thu nhập cá nhân không chỉ là nghĩa vụ của công nhân đối với quốc
gia mà còn thể hiện định hướng phát triển của mỗi quốc gia đó. Hiện nay, đã có hơn 180
quốc gia áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Mỗi quốc gia lại có những đặc điểm, quy định
thuế, thuế suất và các khoản miễn giảm khác nhau. Dưới đây là pháp luật về quản lý thuế
thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới.
1.3.1. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ. 14
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY LÀ
VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Theo luật pháp Mỹ, thuế thu nhập cá nhân là thuế được tính trên tổng thu nhập của một
cá nhân hoặc một hộ gia đình trong một năm tài chính. Tổng thu nhập bao gồm tiền
lương, tiền công, tiền tip, tiền bán bất động sản, tiền trúng số, tiền lãi từ đầu tư… Thuế
thu nhập cá nhân ở Mỹ được áp dụng theo hệ thống lũy tiến, tức là mức thuế càng cao khi
thu nhập càng cao. Người có thu nhập thấp có thể được miễn hoặc giảm thuế, trong khi
người có thu nhập cao có thể phải đóng tới 40-50% tổng thu nhập.
Thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ được quản lý bởi Cục Thuế Thu Nhập Liên Bang
(Internal Revenue Service - IRS). Hệ thống thuế này áp dụng trên toàn quốc và thuế thu
nhập cá nhân được tính dựa trên thu nhập của cá nhân, bao gồm thu nhập từ công việc,
đầu tư, và các nguồn khác.
Thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ được chia thành ba cấp: cấp liên bang, cấp tiểu bang và
cấp địa phương. Cấp liên bang là cấp cao nhất và áp dụng cho tất cả người lao động trên
toàn quốc. Cấp tiểu bang và cấp địa phương là cấp thấp hơn và áp dụng tùy theo từng
bang và khu vực. Các tiểu bang có mức thuế cao nhất bao gồm California, Hawaii,
Oregon, Minnesota và New Jersey. Có một số bang và khu vực không áp dụng hoặc áp
dụng rất thấp thuế thu nhập cá nhân, ví dụ như Florida.
Mỹ vận hành một hệ thống thuế trên toàn thế giới. Vậy nên, bất kỳ khoản thu nhập nào
kiếm được với tư cách là cư dân Mỹ, dù nguồn ở trong hay bên ngoài nước Mỹ, đều phải
chịu thuế của chính phủ Mỹ. Mỹ có một hệ thống thuế thu nhập cá nhân liên bang và thuế
thu nhập cá nhân của từng tiểu bang. Thuế thu nhập cá nhân được tính dựa trên thu nhập
của cá nhân và có các khoản miễn giảm, loại thuế và thuế suất khác nhau dành cho các
mức thu nhập khác nhau. Theo Bảng tính thuế thu nhập cá nhân từ Sở Thuế vụ Mỹ, hiện
tại có bảy khung thuế suất lũy tiến áp dụng cho thuế thu nhập cá nhân ở Mỹ, từ 10-37%.
Thuế dao động giữa các tiểu bang, với tỷ lệ thường từ 0% đến hơn 13% (năm 2020).
Chính quyền liên bang Mỹ áp dụng mức thuế suất cao nhằm khuyến khích công dân Mỹ
tái đầu tư vào nền kinh tế.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân Mỹ bao gồm nhiều khoản miễn giảm, loại thuế và
khấu trừ, như loại thuế trẻ em, loại thuế hôn nhân, và các khoản miễn giảm cho việc tiêu
dùng nhất định hoặc đóng góp vào quỹ hưu trí, quỹ từ thiện hay quỹ bảo hiểm.
Người dân Hoa Kỳ phải tự kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng năm thông qua các mẫu
khai thuế của IRS. Theo quy định các cá nhân đang sinh sống tại Mỹ phải tiến hành khai
thu nhập trước ngày 15/4 với Sở thuế vụ. Bên cạnh đó, đồng thời phải tiến hành khai thuế
cho tiểu bang, thuế thành phố hoặc cục thuế ở địa phương. Nếu người dân không tuân thủ
luật thuế, họ có thể bị phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. 15
1.3.2. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Úc
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY
LÀ VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Hằng năm, những người đang đi làm ở Canada phải có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá
nhân cho Chính phủ (bao gồm cả sinh viên đang đi làm). Người nhập cư Canada cũng sẽ
có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Chính phủ Canada, bao gồm các khoản thu
nhập từ: Công việc, tiền lương, kinh doanh, lợi nhuận từ đầu tư và các nguồn thu thu nhập khác.
Thuế thu nhập cá nhân của Úc được quản lý bởi Cơ quan Thuế Canada (Canada
Revenue Agency - CRA). Theo đó, người nhập cư cần phải đăng ký mã số thuế cá nhân
và gửi tờ khai thuế hàng năm cho Cơ quan thu thuế của Canada.
Canada có hệ thống thuế thu nhập cá nhân liên bang và thuế thu nhập cá nhân của từng
tỉnh bang hoặc lãnh thổ. Hệ thống này áp dụng thuế trên thu nhập của cá nhân, bao gồm
thu nhập từ công việc, đầu tư và các nguồn khác không phải từ việc làm hay kinh doanh.
Có nhiều mức thuế khác nhau. Trong khi đó, thuế tỉnh bang là một loại thuế thu nhập
được liên kết với thuế suất liên bang. Ngoại lệ duy nhất là bang Quebec. Quebec áp dụng
quy định khác về thu nhập chịu thuế vì Quebec tài trợ cho nhiều loại dịch vụ mà nơi khác
không có. Thuế thu nhập cá nhân ở Canada sẽ do cá nhân tự khai, dù cho là vợ hay chồng cũng sẽ không khai chung.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân của Canada cung cấp các khoản miễn giảm và loại
thuế cho những người có trẻ em, người đã kết hôn, người độc thân, và những người có
trách nhiệm gia đình khác. Mỗi năm, người dân Canada phải khai thuế thu nhập cá nhân
của họ thông qua việc điền vào mẫu khai thuế. Ngày hạn chót để nộp khai thuế thường
vào cuối tháng 4 hàng năm. Nếu người dân không tuân thủ luật thuế, họ có thể bị phạt
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc mất quyền lợi trong tương lai.
1.3.3. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Singapore
PHẦN NÀY NÓI TỚI PHÁP LUẬT NHƯNG CÔ KO THẤY VĂN BẢN Ở ĐÂY LÀ
VĂN BẢN NÀO????? NĂM BAO NHIÊU VÀ NGUỒN TRÍCH DẪN
Theo pháp luật Singapore, tất cả thu nhập có nguồn gốc phát sinh từ lãnh thổ
Singapore đều phải chịu thuế thu nhập của quốc gia này. Singapore sử dụng một hệ thống
thuế thu nhập cá nhân cơ bản với mức thuế thu nhập phẳng (flat tax rate). Điều này có
nghĩa rằng tất cả thu nhập cá nhân được tính thuế dựa trên một mức thuế thu nhập cố
định, không phân biệt giữa thuế thu nhập từ lương công việc, lợi tức đầu tư, hay thu nhập khác. 16
Thuế thu nhập cá nhân ở Singapore được quản lý bởi Cơ quan Thuế Thu Nhập
Singapore (Inland Revenue Authority of Singapore - IRAS).
Mức thuế thu nhập cá nhân tại Singapore thường rất thấp so với nhiều quốc gia khác.
Mức thuế thu nhập cá nhân được xác định dựa trên mức thuế thu nhập cố định, và các
người nước ngoài có thể được áp dụng thuế thu nhập cá nhân thấp hơn thông qua chế độ "Non-Resident Tax Rate."
Ở Singapore, mức thuế thu nhập cá nhân sẽ được xác định dựa vào tình trạng cư trú,
theo đó có hai trường hợp như sau: Đối tượng cư trú cho mục đích thuế và đối tượng
không cư trú cho mục đích thuế. Với đối tượng cư trú cho mục đích thuế, mức thuế suất
từ 0-22%. Nếu có mặt tại Singapore ít hơn 183 ngày thì được xem là đối tượng không cư
trú cho mục đích thuế . Trong trường hợp này, mức thuế thu nhập cá nhân áp dụng lên thu
nhập của bạn như sau: Nếu thời gian có mặt tại Singapore không quá 60 ngày thì mức
thuế suất là 0%, trừ một số trường hợp.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân ở Singapore đơn giản, với ít loại thuế và khoản miễn
giảm. Tuy nhiên, có khoản miễn giảm cho trẻ em, người già và các khoản miễn giảm khác.
Người dân và cư dân có nghĩa vụ tự khai thuế và gửi báo cáo thuế thu nhập cá nhân
hàng năm tới IRAS. Hạn chót nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân là ngày 15 tháng 4 đối
với nộp hồ sơ giấy và ngày 18 tháng 4 đối với nộp hồ sơ điện tử. Nếu cá nhân là chủ
doanh nghiệp có sử dụng người lao động, thời hạn nộp thuế cho nhân viên là ngày 15
tháng 3. Singapore áp dụng các biện pháp trừng phạt và hình phạt cho việc vi phạm luật
thuế, bao gồm việc không tuân thủ khai thuế hoặc cố ý trình bày thông tin sai lệch. Mức
phạt thuế thu nhập đối với việc cố tình sai phạm trong khai báo thuế thu nhập cá nhân ở
Singapore cho người nước ngoài là sẽ bị phạt gấp 4 lần số tiền trốn thuế và có thể bị phạt
tù tùy theo tính chất, mức độ của sai phạm.
1.3.4. Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc
Luật Thuế TNCN sửa đổi của Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã hợp nhất
bốn loại thu nhập lao động (bao gồm tiền lương và tiền công, tiền công cho các dịch vụ
cá nhân, thù lao của tác giả và tiền bản quyền), thành một loại thu nhập tính 17
thuế; đồng thời tăng khấu trừ thuế tiêu chuẩn cho thu nhập hợp nhất từ 42.000
RMB/năm lên 60.000 RMB/năm.
Thuế thu nhập cá nhân ở Tr ung Quốc được quản lý bởi Cục Thuế Trung ương (State
Administration of Taxation - SAT ) cùng với các cơ quan thuế địa phương. S AT có
nhiệm vụ ban hành chính sách thu ế, hướng dẫn thi hành luật, và giám sát việc thuế thu nhập cá nhân.
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quố c là hệ thống thuế suất biến đổi, áp dụng
theo biểu thuế luỹ tiến từ 3-45% thu nhập . Có một loạt các mức thuế thu nhập cá nhân
với các khoản miễn giảm và kho ản khấu trừ thay đổi tùy thu nhập của cá nhân .
Mức thuế thu nhập cá nhân tại Trung Quốc có thể khá thấp so với một số quốc gia
khác. Có những khoản miễn giảm và loại thuế khấu trừ được cung cấp cho ngư ời dân
Trung Quốc, chẳng hạn như miễn giảm cho trẻ em, người già, và một số loại chi tiêu cụ
thể như giáo dục và y tế. Mức thuế thu nhập cá nhân thay đổi tùy thu nhập. Các khoản
miễn giảm và thuế suất có thể t hay đổi theo thời gian và chính sách thu ế của chính phủ Trung Quốc.
Người dân Trung Quốc có nhiệm vụ tự khai thuế và gửi báo cáo thuế thu nhập c á
nhân hàng năm tới cơ quan thuế đị a phương hoặc trực tuyến thông qua hệ thống đi ện tử.
Thời hạn khai báo thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc thường là từ 1 tháng sau khi kết
thúc năm tài chính cho đến ngày 30 tháng 4 của năm tài chính tiếp theo. T hời hạn này
áp dụng cho cả công dân Trung Quốc và người nước ngoài có thu nhập tại Trung Quốc .
Thông thường, người phải tự khai báo thu ế thu nhập cá nhân và gửi báo cáo thuế cho cơ quan thuế địa phương.
Vi phạm liên quan đến thuế thu nhập cá nhân có thể dẫn đến hình phạt v à trừng phạt,
bao gồm việc không tuân thủ kh ai thuế hoặc cố ý trình bày thông tin sai lệch. Hì nh phạt
và trừng phạt cụ thể phụ thuộc v ào mức độ vi phạm và tình hình cụ thể của từ ng trường
hợp, từ phạt tiền, khi ếu nại đến truy cứu trách nhiệm hình sự và kho ản nợ thuế trong tương lai. 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
2.1.1. Về đăng ký thuế TNCN

Đăng ký thuế là việc người nộp thuế khai báo đầy đủ thông tin của người nộp thuế
theo biểu mẫu quy định và nộp tờ kê khai cho cơ quan quản lý thuế nhằm bước đầu thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổng Cục thuế là cơ
quan có thẩm quyền thực hiện kê khai thuế và cấp mã số thuế. Hiện nay, Việt Nam đang
thực hiện theo hình thức tự kê khai và nộp thuế.
Các thủ tục về đăng ký thuế TNCN được trình bày rõ ràng thông quatại Thông tư
111/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN và Chương III Luật Qquản lý thuế năm 2019 số 38/2019/QH14.
Theo đó, các đối tượng đăng ký thuế bao gồm 3 nhóm: Tổ chức cá nhân trả thu nhập;
Các cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN; Người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh.
Khoản 3 Điều 30 Luật Quản lý thuế 2019 quy định mỗi cá nhân được cấp một mã số
thuế riêng để cơ quan quản lý nhà nước giám sát. Người nộp thuế chỉ sử dụng một mã số
thuế duy nhất trong suốt thời gian kinh doanh, từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn
hoạt động. Mã số thuế đã cấp không được sử dụng lại để cấp cho người nộp thuế khác,
điều này đảm bảo việc đóng thuế TNCN diễn ra hiệu quả, công bằng, minh bạch, giảm
thiểu được các tình trạng gian lận về thuế.
Việc đăng ký thuế bao gồm:
+ Đăng ký thuế lần đầu;
+ Thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế;
+ Thông báo khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh;
+ Chấm dứt hiệu lực mã số thuế; + Khôi phục mã số thuế.
Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng trách nhiệm đăng ký, nộp thuế TNCN nhưng
công tác quản lý thuế vẫn còn khó khăn đối với cá nhân có hoạt động kinh doanh bán
hàng online. Khi kinh doanh trên các nền tảng xã hội, các cá nhân có thể kinh doanh
chính thống hoặc không chính thống vì vậy việc đăng ký kinh doanh có thể là bắt buộc
hoặc không. Chương V Luật Quản lý thuế 2019 cũng có nội dung về ấn định thuế trong
trường hợp chủ thể kinh doanh không đăng ký, khai thuế… Tuy nhiên, đối với cơ quan
quản lý thuế thì rất khó để xác định được thu nhập chịu thuế của đối tượng này do việc
thanh toán hầu hết là tiền mặt, không qua ngân hàng nên không xác định rõ doanh thu và
thông tin cá nhân kinh doanh vượt ngưỡng rất khó để xác định. 19
Năm 2022, cơ quan thuế đẩy mạnh công tác tuyên truyền ứng dụng eTax Mobile, cung
cấp các tiện ích đối với chức năng nộp thuế điện tử. Thống kê đến ngày 31/12/2022, số
lượng NNT sử dụng app là gần 352 nghìn người; số lượng NNT đăng ký tài khoản qua
app gần 420 nghìn người với tổng số giao dịch nộp thuế thành công qua app là 115 nghìn
giao dịch. Theo Tổng cục Thuế ghi nhận số tiền tương ứng nộp qua ứng dụng này là
381,4 tỷ đồng; trong đó các tỉnh có số lượng giao dịch thành công nhiều nhất là Hà Nội,
Hồ Chí Minh, Gia Lai, Quảng Ngãi, Thanh Hóa. Cùng với đó, tích hợp các dịch vụ trực
tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia đã cung cấp cho NNT là các cá nhân 1,67 triệu tài
khoản điện tử. Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế đã tiếp cận tổng số 1,17 triệu tờ khai.
2.1.2. Về kê khai thuế TNCN
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng cơ chế tự khai, tự tính thuế để thu và quản lý các
loại thuế bao gồm cả thuế TNCN. Để cơ quan thuế có thể nắm bắt đầy đủ thông tin, quản
lý thuế của từng đối tượng nộp thuế theo từng khoảng thời gian cụ thể thì cần yêu cầu đối
tượng nộp thuế thực hiện kê khai thuế theo đúng luật định. Tuỳ thuộc vào từng đối tượng
khác nhau sẽ yêu cầu kê khai thuế thu nhập khác nhau, để đảm bảo cho quá trình kê khai
thu nộp thuế được thuận lợi hơn.
Nguyên tắc khai thuế có hiệu lực pháp lý cao hơn, nổi bật là đối với hoạt động kinh
doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được
thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà
cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai
thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Khoản 4 Điều 42
Luật quản lý thuế 2019). Mặc dù đây chỉ là nguyên tắc định hướng nhưng nguyên tắc
này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý thuế tiếp cận quốc tế.
Thời gian khai thuế được quy định rõ ràng giúp NNT và công tác quản lý thuế xác định
thời hạn thu, nộp thuế được thuận lợi hơn. Chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo
tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng và chậm nhất là
ngày cuối cùng của tháng đầu của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế đối với
trường hợp khai và nộp theo quý được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế qua các hình
thức như: Nhận hồ sơ trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế; Nhận hồ sơ gửi qua đường bưu
chính; Nhận hồ sơ điện tử qua cổng giao dịch điện tử của cơ quan quản lý thuế. (Khoản 4
Điều 48 Luật quản lý thuế 2019). Có thể thấy, cơ quan quản lý thuế đã đưa ra nhiều
phương án giúp cho NNT có thể chủ động, linh hoạt trong việc kê khai, nộp thuế. 20