lOMoARcPSD| 61463864
Cơ sở văn hóa
1 Phong tục cưới hỏi
Gắn liền với tín ngưỡng phong tục. Đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống
hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo. Phong tục có trong
mọi mặt đời sống, đây tập trung xem xét ba nhóm chủ yếu: phong tục hôn nhân,
tang ma, lễ Tết và lễ hội
Phong tục hôn nhân
Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải việc hai người lấy nhau
mà là việc "hai họ" dựng vợ gả chồng cho con cái. Vì vậy, đây là dịp hai họ xác lập
mối quan hệ, trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi. Hôn nhân là một công cụ duy nhất
thiêng liêng để duy trì dòng dõi phát triển nguồn nhân lực. Để đáp ứng nhu
cầu nhân lực của nghề trồng lúa, khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông
nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ. Kén dâu, lấy vợ
thì phải chọn người Lưng chữ cụ, chữ tâm, phải Đàn thắt đáy lưng ong, Vừa
khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con. ng lực sinh đẻ của người phụ nữ còn thể
nhìn thấy qua gia đình họ: Mua heo chọn nái, lấy gái chọn ng; Ăn mày nơi cả thể,
làm rể nơi nhiều con; Lấy con xem nạ (nạ = mẹ). Hướng tới mục đích sinh đẻ là tục
“giã cối đón dâu” tục trải chiếu cho lễ hợp cẩn: gia đình nhờ một người phụ nữ
đứng tuổi, đông con, phúc hậu, vợ chồng song toàn vào trải chiếu cho dâu chú rể:
chiếu trải phải một đôi - một ngửa, một sấp (một âm một dương) úp vào nhau. Không
chỉ duy trì dòng giống, người con tương lai còn trách nhiệm làm lợi cho gia đình.
Con gái phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng;
con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang cho gia đình nhà vợ.
Theo phong tục, khi lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng bên gái một khoản "lệ phí"
gọi "cheo" thì đám cưới mới được công nhận hợp pháp. Ca dao, tục ngữ
những câu: Nuôi lợn thì phải vớt bèo, Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ
mười heo, không cheo cũng mất; Lấy vợ không cheo, tiền gieo xuống suối. Người
cùng làng lấy nhau thì nộp ít (có tính tượng trưng), gọi cheo nội; lấy vợ ngoài làng
thì cheo rất nặng, gấp đôi gấp ba cheo nội, gọi là cheo ngoại.
Trước lễ cưới, còn phải thực hiện lễ vấn danh (ngày nay gọi chạm ngõ, hay lễ
dạm) xem đôi trai gái hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi. Để
cho quan hệ vợ chồng được bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương
có tục trao cho nhau nắm đất và gói muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn
với đất đai - làng xóm; gói muối lời chúc cho tình nghĩa giữa hai người mặn
lOMoARcPSD| 61463864
thủy chung. Sau này, thay cho đất muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn một loại
bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là bánh su sê (tên đọc chệch đi của phu thê): Bánh “phu
thê” (vchồng) hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau. Đó chính
biểu tượng của triết âm dương (vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng, nhân
đậu vàng, rắc vừng đen, khuôn xanh, buộc lạt đỏ), biểu tượng cho svẹn toàn,
hòa hợp - hòa hợp của đất trời và của con người. Khi làm lễ hợp cẩn, còn có tục hai
vợ chồng ăn chung một đĩa cơm nếp, uống chung một chén rượu: ý nghĩa của tục
này cũng cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn với nhau: đính nhau như cơm
nếp say nhau như say rượu. Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu cũng rất được chú ý.
Mẹ chồng, nàng dâu vốn hay mâu thuẫn những chuyện không đâu, chẳng qua
do cả hai đều cảm thấy tình cảm của người con - người chồng đã không dành trọn
cho mình. vậy khi dâu mới bước vào nhà, tục mẹ chồng ôm bình vôi
lánh sang nhà hàng xóm. Trong gia đình nông nghiệp Việt Nam, người phụ nữ được
xem là nội tướng; người mẹ chồng lánh đi là có ý nhượng quyền "nội tướng" tương
lai cho con dâu để cho trong gia đình trên thuận dưới hòa. Nhưng đó là trong tương
lai, còn hiện tại thì chưa, cho nên mẹ chồng mới ôm theo chiếc bình i - biểu tượng
quyền lực của người phụ nữ.
2 Văn hóa bắc b
3.2.3. Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 3.2.3.1.
Đặc điểm tự nhiên và xã hội
a. Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng ,
sông Mã, là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây -
Đông và Bắc - Nam và là cầu nối các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc, Trung Bộ.
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ - cái nôi văn hóa của lịch sử dân tộc, bao gồm
địa phận các tỉnh: Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình,
thành phố Nội, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.
* Địa hình
Châu thổ Bắc Bộ địa hình núi xen lẫn đồng bằng hoặc thung lũng, thấp
bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 - 15 m giảm
dần đến độ cao mặt biển.
lOMoARcPSD| 61463864
Toàn vùng có địa hình cao thấp không đều.
* Khí hậu
Khí hậu vùng Châu thổ Bắc Bộ thật độc đáo. Đây vùng duy nhất Việt
Nam có mùa đông lạnh thực sự với ba tháng có nhiệt độ dưới 18o C, do đó mà dạng
khí hậu bốn mùa với mỗi mùa mang đặc trưng tương đối rõ rệt.
* Sông ngòi
Ở châu thổ Bắc Bộ, mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, gồm các sông lớn như
sông
Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng hệ thống mương máng tưới tiêu dày đặc.
Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai a khô và mưa nên thuỷ chế của
các dòng sông, nhất là sông Hồng cũng hai mùa rõ rệt: mùa cạn, dòng chảy nhỏ
và mùa lũ dòng chảy lớn, nước đục.
Ngoài khơi, thuỷ triều vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhật triều, mỗi ngày một
lần nước lên và một lần nước xuống. b. Môi trường xã hội
dân đồng bằng Bắc Bộ là dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước,
làm nông nghiệp một cách thuần tuý. Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ biết đắp
đê, lấn biển trồng lúa, đánh cá ở ven biển.
Tận dụng ao, hồ đầm để khai thác thuỷ sản một phương thức được người
nông dân rất chú trọng.
Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đã làm thêm nghề thủ công. Một số nghề
có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, nghề luyện kim, đúc đồng...
Họ sống quần tụ thành làng. Làng đơn vhội, scủa nông thôn Bắc
Bộ, tế bào sống của sở xã hội Việt. Chính điều này đã tạo nên sự gắn giữa con
người với con người trong cộng đồng làng quê. Do đó, cần hiểu “làng” không chỉ
tồn tại dựa trên các mối quan hệ hội còn hình thành trên nền tảng những di
sản văn hóa và gắn bó các quan hệ tâm linh, chuẩn mực xã hội, đạo đức.
3.2.3.2. Đặc điểm văn hóa
a. Văn hoá vật chất
* Ăn
lOMoARcPSD| 61463864
Cơ cấu bữa ăn của người dân Bắc Bộ: cơm, rau, (chủ yếu là nước ngọt).
Bên cạnh đó, trong bữa ăn còn có thêm thành phần thịt, mỡ để giữ nhiệt cho cơ thể.
Các gia vị tính chất cay, chua, đắng không xuất hiện nhiều trong bữa ăn
của người Bắc Bộ.
* Mặc
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng một sự lựa chọn, thích ứng với thiên
nhiên châu thổ Bắc Bộ là màu nâu.
Đàn ông với y phục đi làm chiếc quần toạ, áo cánh màu nâu sồng. Đàn
bà cũng chiếc váy thâm, chiếc áo nâu. Ngày hội hè, lễ tết thì trang phục này có khác
hơn: đàn với chiếc áo i mớ ba mớ bảy, đàn ông quần trắng, áo dài the, chít khăn
đen. Ngày nay y phục của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ đãsự thay đổi khá
nhiều.
*
Nhà thường loại nhà không chái, hình thức nhà kèo phát triển, sdụng
vật liệu nhẹ.
Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu
bền chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn muốn hoà hợp với cảnh quan. Thường trồng cây
cối xung quanh nơi cư trú, tạo bóng mát cho ngôi nhà.
* Di tích
Các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá hữu hình tồn tại khắp các địa phương
như: đình, đền, chùa, miếu ... Nhiều di tích nổi tiếng như: Đền Hùng, khu vực Cổ
Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu, chùa Hương, chùa Tây Phương, đình
Tây Đằng,... b. Văn hoá tinh thần
Kho tàng văn học dân gian rất phong phú. Từ thần thoại đến truyền thuyết, từ
tục ngữ đến ca dao, từ truyện cười đến truyện trạng, mỗi thể loại đều dung chứa một
tầm dày dặn và mang nét riêng của Bắc Bộ.
Nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá đa dạng mang một sắc thái vùng
đậm nét.
Đó là hát quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát trầu văn, hát chèo, múa rối,...
lOMoARcPSD| 61463864
Văn hoá tín ngưỡng: là tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành
Hoàng làng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ nghề... Các tín ngưỡng này tiềm ẩn trong tâm
thức con người và tồn tại trong lễ hội.
Lễ hội đồng bằng Bắc Bộ khá dày đặc theo vòng quay của thiên nhiên và
mùa vụ. Các lễ hội ấy đều là lễ hội nông nghiệp. c. Văn hoá giáo dục
Vùng châu thổ Bắc Bộ “nơi phát sinh nền văn hoá bác học”. Sự phát triển
của giáo dục, truyền thống trọng người có chữ đã trở thành nhân tố tác động tạo ra
tầng lớp trí thức ở đồng bằng Bắc Bộ.
+ Thời tự chủ, Thăng Long với vai trò một kinh đô cũng đảm nhận vị tmột trung
tâm giáo dục.
+ Thời kì Đại Việt, số người đi học, thi đỗ vùng đồng bằng miền Bắc tính theo tỉ lệ
dân số thì cao hơn rất nhiều so với vùng khác.
+Thời thuộc Pháp, Hà Nội nơi có các sở giáo dục, khoa học thu hút các trí thức
mọi vùng.
+ Thời hiện đại đồng bằng Bắc Bộ nơi đầu mối các trung tâm đào tạo nghiên
cứu khoa học.
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nơi diễn ra quá trình tiếp biến văn hoá lâu
dài và với nội dung phong phú hơn cả. Vì vậy Bắc Bộ là cội nguồn văn hoá của mọi
vùng.
Vùng văn hoá Bắc Bộ thể chia ra làm nhiều tiểu bang văn hoá khác nhau
mà đặc thù của các vùng văn hoá này không làm phá vỡ những đặc điểm chung của
toàn vùng. 3 Văn hóa giao tiếp
Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, thể thấy người
Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè. Sự tồn tại đồng thời hai tính cách
trái ngược nhau này bắt nguồn từ hai đặc tính bản của làng xã Việt Nam tính
cộng đồng nh tự trị. Người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao tiếp, nhưng đó là khi
thấy mình đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, còn khi đã vượt ra khỏi
phạm vi của cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì
người Việt Nam, ngược lại, lại tỏ ra rụt rè.
Xét về quan hệ giao tiếp, người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm - lấy sự yêu sự ghét -
làm nguyên tắc ứng xử, sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân
lOMoARcPSD| 61463864
nhắc giữa tình với thì tình được đặt cao hơn lí. Với đối tượng giao tiếp, người Việt
Nam thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá. Tuổi tác, quê quán, trình độ học
vấn, địa vị hội, tình trạng gia đình… những vấn đề người Việt Nam thường
quan tâm. Do nh cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan m
đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh.
Tính cộng đồng còn khiến cho người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp,
đặc điểm trọng danh dự. Danh dự được người Việt Nam gắn với năng lực giao
tiếp: Lời nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, được truyền đến tai nhiều
người, tạo nên tai tiếng.
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ trọng shòa thuận. Lối
giao tiếp ưa tế nhị khiến người Việt Nam thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”,
không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây.
tạo nên một thói quen đắn đo cân nhắc càng khi nói năng: Ăn nhai, nói nghĩ;
Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột nghe; Người khôn ăn nói nữa chừng,
Để cho kẻ dại nữa mừng nữa lo,...Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người
Việt Nam nhược điểm thiếu tính quyết đoán. Để tránh phải quyết đoán, đồng
thời để không làm mất lòng ai, để giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam
rất hay cười. Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người
Việt; có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864 Cơ sở văn hóa 1 Phong tục cưới hỏi
Gắn liền với tín ngưỡng là phong tục. Đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã
hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo. Phong tục có trong
mọi mặt đời sống, ở đây tập trung xem xét ba nhóm chủ yếu: phong tục hôn nhân,
tang ma, lễ Tết và lễ hội Phong tục hôn nhân
Hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau
mà là việc "hai họ" dựng vợ gả chồng cho con cái. Vì vậy, đây là dịp hai họ xác lập
mối quan hệ, trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi. Hôn nhân là một công cụ duy nhất
và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực. Để đáp ứng nhu
cầu nhân lực của nghề trồng lúa, khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông
nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ. Kén dâu, lấy vợ
thì phải chọn người Lưng chữ cụ, vú chữ tâm, phải là Đàn bà thắt đáy lưng ong, Vừa
khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con. Năng lực sinh đẻ của người phụ nữ còn có thể
nhìn thấy qua gia đình họ: Mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng; Ăn mày nơi cả thể,
làm rể nơi nhiều con; Lấy con xem nạ (nạ = mẹ). Hướng tới mục đích sinh đẻ là tục
“giã cối đón dâu” và tục trải chiếu cho lễ hợp cẩn: gia đình nhờ một người phụ nữ
đứng tuổi, đông con, phúc hậu, vợ chồng song toàn vào trải chiếu cho cô dâu chú rể:
chiếu trải phải một đôi - một ngửa, một sấp (một âm một dương) úp vào nhau. Không
chỉ duy trì dòng giống, người con tương lai còn có trách nhiệm làm lợi cho gia đình.
Con gái phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng;
con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang cho gia đình nhà vợ.
Theo phong tục, khi lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng xã bên gái một khoản "lệ phí"
gọi là "cheo" thì đám cưới mới được công nhận là hợp pháp. Ca dao, tục ngữ có
những câu: Nuôi lợn thì phải vớt bèo, Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ
mười heo, không cheo cũng mất; Lấy vợ không cheo, tiền gieo xuống suối. Người
cùng làng lấy nhau thì nộp ít (có tính tượng trưng), gọi là cheo nội; lấy vợ ngoài làng
thì cheo rất nặng, gấp đôi gấp ba cheo nội, gọi là cheo ngoại.
Trước lễ cưới, còn phải thực hiện lễ vấn danh (ngày nay gọi là chạm ngõ, hay lễ
dạm) xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi. Để
cho quan hệ vợ chồng được bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương
có tục trao cho nhau nắm đất và gói muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn
bó với đất đai - làng xóm; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa hai người mặn lOMoAR cPSD| 61463864
mà thủy chung. Sau này, thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại
bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là bánh su sê (tên đọc chệch đi của phu thê): Bánh “phu
thê” (vợ chồng) hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau. Đó chính
là biểu tượng của triết lí âm dương (vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng, nhân
đậu vàng, rắc vừng đen, khuôn lá xanh, buộc lạt đỏ), biểu tượng cho sự vẹn toàn,
hòa hợp - hòa hợp của đất trời và của con người. Khi làm lễ hợp cẩn, còn có tục hai
vợ chồng ăn chung một đĩa cơm nếp, uống chung một chén rượu: ý nghĩa của tục
này cũng là cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau: đính nhau như cơm
nếp và say nhau như say rượu. Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu cũng rất được chú ý.
Mẹ chồng, nàng dâu vốn hay mâu thuẫn vì những chuyện không đâu, chẳng qua là
do cả hai đều cảm thấy tình cảm của người con - người chồng đã không dành trọn
cho mình. Vì vậy mà khi cô dâu mới bước vào nhà, có tục mẹ chồng ôm bình vôi
lánh sang nhà hàng xóm. Trong gia đình nông nghiệp Việt Nam, người phụ nữ được
xem là nội tướng; người mẹ chồng lánh đi là có ý nhượng quyền "nội tướng" tương
lai cho con dâu để cho trong gia đình trên thuận dưới hòa. Nhưng đó là trong tương
lai, còn hiện tại thì chưa, cho nên mẹ chồng mới ôm theo chiếc bình vôi - biểu tượng
quyền lực của người phụ nữ. 2 Văn hóa bắc bộ
3.2.3. Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 3.2.3.1.
Đặc điểm tự nhiên và xã hội a. Đặc điểm tự nhiên * Vị trí địa lý 
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng ,
sông Mã, là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây -
Đông và Bắc - Nam và là cầu nối các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc, Trung Bộ. 
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ - cái nôi văn hóa của lịch sử dân tộc, bao gồm
địa phận các tỉnh: Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình,
thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. * Địa hình 
Châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen lẫn đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và
bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 - 15 m giảm
dần đến độ cao mặt biển. lOMoAR cPSD| 61463864 
Toàn vùng có địa hình cao thấp không đều. * Khí hậu 
Khí hậu vùng Châu thổ Bắc Bộ thật độc đáo. Đây là vùng duy nhất ở Việt
Nam có mùa đông lạnh thực sự với ba tháng có nhiệt độ dưới 18o C, do đó mà dạng
khí hậu bốn mùa với mỗi mùa mang đặc trưng tương đối rõ rệt. * Sông ngòi 
Ở châu thổ Bắc Bộ, mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, gồm các sông lớn như sông
Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng hệ thống mương máng tưới tiêu dày đặc. 
Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mưa nên thuỷ chế của
các dòng sông, nhất là sông Hồng cũng có hai mùa rõ rệt: mùa cạn, dòng chảy nhỏ
và mùa lũ dòng chảy lớn, nước đục. 
Ngoài khơi, thuỷ triều vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhật triều, mỗi ngày có một
lần nước lên và một lần nước xuống. b. Môi trường xã hội 
Cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước,
làm nông nghiệp một cách thuần tuý. Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ biết đắp
đê, lấn biển trồng lúa, đánh cá ở ven biển. 
Tận dụng ao, hồ đầm để khai thác thuỷ sản là một phương thức được người
nông dân rất chú trọng. 
Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đã làm thêm nghề thủ công. Một số nghề
có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, nghề luyện kim, đúc đồng... 
Họ sống quần tụ thành làng. Làng là đơn vị xã hội, là cơ sở của nông thôn Bắc
Bộ, tế bào sống của cơ sở xã hội Việt. Chính điều này đã tạo nên sự gắn bó giữa con
người với con người trong cộng đồng làng quê. Do đó, cần hiểu “làng” không chỉ
tồn tại dựa trên các mối quan hệ xã hội mà còn hình thành trên nền tảng những di
sản văn hóa và gắn bó các quan hệ tâm linh, chuẩn mực xã hội, đạo đức. 3.2.3.2. Đặc điểm văn hóa a. Văn hoá vật chất * Ăn lOMoAR cPSD| 61463864 
Cơ cấu bữa ăn của người dân Bắc Bộ: cơm, rau, cá (chủ yếu là cá nước ngọt).
Bên cạnh đó, trong bữa ăn còn có thêm thành phần thịt, mỡ để giữ nhiệt cho cơ thể. 
Các gia vị có tính chất cay, chua, đắng không xuất hiện nhiều trong bữa ăn của người Bắc Bộ. * Mặc 
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích ứng với thiên
nhiên châu thổ Bắc Bộ là màu nâu. 
Đàn ông với y phục đi làm là chiếc quần lá toạ, áo cánh màu nâu sồng. Đàn
bà cũng chiếc váy thâm, chiếc áo nâu. Ngày hội hè, lễ tết thì trang phục này có khác
hơn: đàn bà với chiếc áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông quần trắng, áo dài the, chít khăn
đen. Ngày nay y phục của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều. * Ở 
Nhà ở thường là loại nhà không chái, hình thức nhà vì kèo phát triển, sử dụng vật liệu nhẹ. 
Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu
bền chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn muốn hoà hợp với cảnh quan. Thường là trồng cây
cối xung quanh nơi cư trú, tạo bóng mát cho ngôi nhà. * Di tích 
Các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá hữu hình tồn tại ở khắp các địa phương
như: đình, đền, chùa, miếu ... Nhiều di tích nổi tiếng như: Đền Hùng, khu vực Cổ
Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu, chùa Hương, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng,... b. Văn hoá tinh thần 
Kho tàng văn học dân gian rất phong phú. Từ thần thoại đến truyền thuyết, từ
tục ngữ đến ca dao, từ truyện cười đến truyện trạng, mỗi thể loại đều dung chứa một
tầm dày dặn và mang nét riêng của Bắc Bộ. 
Nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá đa dạng và mang một sắc thái vùng đậm nét.
Đó là hát quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát trầu văn, hát chèo, múa rối,... lOMoAR cPSD| 61463864 
Văn hoá tín ngưỡng: là tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành
Hoàng làng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ nghề... Các tín ngưỡng này tiềm ẩn trong tâm
thức con người và tồn tại trong lễ hội. 
Lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ khá dày đặc theo vòng quay của thiên nhiên và
mùa vụ. Các lễ hội ấy đều là lễ hội nông nghiệp. c. Văn hoá giáo dục 
Vùng châu thổ Bắc Bộ là “nơi phát sinh nền văn hoá bác học”. Sự phát triển
của giáo dục, truyền thống trọng người có chữ đã trở thành nhân tố tác động tạo ra
tầng lớp trí thức ở đồng bằng Bắc Bộ.
+ Thời tự chủ, Thăng Long với vai trò là một kinh đô cũng đảm nhận vị trí một trung tâm giáo dục.
+ Thời kì Đại Việt, số người đi học, thi đỗ vùng đồng bằng miền Bắc tính theo tỉ lệ
dân số thì cao hơn rất nhiều so với vùng khác.
+Thời thuộc Pháp, Hà Nội là nơi có các cơ sở giáo dục, khoa học thu hút các trí thức mọi vùng.
+ Thời hiện đại đồng bằng Bắc Bộ là nơi đầu mối các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học. 
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ là nơi diễn ra quá trình tiếp biến văn hoá lâu
dài và với nội dung phong phú hơn cả. Vì vậy Bắc Bộ là cội nguồn văn hoá của mọi vùng. 
Vùng văn hoá Bắc Bộ có thể chia ra làm nhiều tiểu bang văn hoá khác nhau
mà đặc thù của các vùng văn hoá này không làm phá vỡ những đặc điểm chung của
toàn vùng. 3 Văn hóa giao tiếp
Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có thể thấy người
Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè. Sự tồn tại đồng thời hai tính cách
trái ngược nhau này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính
cộng đồng và tính tự trị. Người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao tiếp, nhưng đó là khi
thấy mình đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, còn khi đã vượt ra khỏi
phạm vi của cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì
người Việt Nam, ngược lại, lại tỏ ra rụt rè.
Xét về quan hệ giao tiếp, người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm - lấy sự yêu sự ghét -
làm nguyên tắc ứng xử, sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân lOMoAR cPSD| 61463864
nhắc giữa tình với lí thì tình được đặt cao hơn lí. Với đối tượng giao tiếp, người Việt
Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá. Tuổi tác, quê quán, trình độ học
vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình… là những vấn đề người Việt Nam thường
quan tâm. Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm
đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh.
Tính cộng đồng còn khiến cho người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có
đặc điểm là trọng danh dự. Danh dự được người Việt Nam gắn với năng lực giao
tiếp: Lời nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, nó được truyền đến tai nhiều
người, tạo nên tai tiếng.
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận. Lối
giao tiếp ưa tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”,
không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây. Nó
tạo nên một thói quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ;
Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nữa chừng,
Để cho kẻ dại nữa mừng nữa lo,...Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người
Việt Nam có nhược điểm thiếu tính quyết đoán. Để tránh phải quyết đoán, và đồng
thời để không làm mất lòng ai, để giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam
rất hay cười. Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người
Việt; có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất.