Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 145
Nội dung
Trong bài này, người học sẽ được nghiên
cứu 4 nội dung chính:
Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh
hoàn h c trảo (CTHH) các đặ ưng của thị
trường CTHH và của các hãng CTHH.
Phân tích các đ iều kiện l a chọ n m c
sản lượng tối ưu của hãng CTHH
trong ngắn h n. ạn và dài hạ
Xác đị nh l i nhuận của hãng CTHH
trong ngắn h n. ạn và dài hạ
Phân tích đường cung củ a hãng và c a
ngành CTHH trong ngắn hạn và dài hạn.
Mục tiêu Hướng dẫn học
Phân biệt được hãng CTHH, thị trường
hãng CTHH, và các đặc trưng của thị
trường CTHH.
Chứng minh được điều ki n t ối đa hóa
lợi nhuận của hãng CTHH.
Xác định được khả năng sinh lợi của
hãng CTHH, tìm điểm hòa vố đn, iểm
đ óng c a sản xu t c a hãng CTHH
trong ngắn h n. ạn và dài hạ
Xác định được đường cung của hãng
trong ngắn hạn và của ngành CTHH.
Thời lượng học
8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận.
Đọc giáo trình và tài liệu liên quan
trước lúc nghe giảng và thực hành.
Sử d ng t t các phương pháp và công
cụ trong toán học (bao gồm kiến thức
đạ đểi s và hình h c lớp 12) phân
tích và nghiên cứu bài học.
Thực hành thường xuyên và liên tục
các bài tập v n d hi ụng để ểu được lý
thuyết và bài tập thực hành.
BÀI 5: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
146 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Các nhà kinh t ng cế cho rằng thị trườ ạnh tranh hoàn hảo có khả nă ng mang l i lợ i ích l n nhất
cho cộ đồng ng, ngoại trừ đặ các trường hợp c biệt (thường nhằm mang lại sự phát triển và công
b iằng xã hội, như kéo đ ện v ng h u ngề miền núi chẳ ạn) bởi trong đó có rất nhiề ười mua, người
bán và họ không đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả c đồ a sản phẩm. Sản phẩm là ng nhất, ngu n
tài nguyên có khả năng di độ ng hoàn hảo và các t ch c kinh tế ế có ki n th c t t về điều kiện thị
trường. Do đó các nhân tố tham gia thị trường sẽ sản xuấ t và mua bán dựa trên giá c cân b ng
giữa tổng nguồn cung ứng và tổng nhu cầu. Thị trường từ đó có thể phục vụ t ng s lượng cao
nhất với chi phí thấp nhất; có thể t đ iều chỉnh, mang lại l i ích công b ng gi a các ngành ngh
và nhân t tham gia.
Vậy thị tr thường canh tranh hoàn hảo có thể ấy trong thực tế hay không? Lý thuyết này được áp
dụng thực tiễn qua việc xây dựng thị trường c p hạnh tranh tự do với sự can thiệ ợp lý của Chính
phủ. Chính phủ hướng tới s hoàn hảo bằng cách tìm ra các biệ n pháp can thi p phù hợp. H
cung cấp ngu n sồn thông tin thị trường y , đầ đủ đặt ra các chế tài để ngăn chặ ự phá hoại bất công,
hỗ trợ mang lại sự dịch chuyể n cân b ng về ế tài nguyên giữ địa các khu v c, xác nh các k ho ch
khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới,… nhằm liên t p thục nâng cấ ị trường và tránh những thiếu
sót mà thị trường này mang lại. Trong nội dung bài 5, chúng ta sẽ nghiên cứu về thị trường cạnh
tranh hoàn hảo (CTHH) để thấy được đặc trưng c ng nhủa thị trường này cũ ư các quyết định của
các hãng CTHH cả trong ngắn h n. ạn và dài hạ
5.1. Đặc trưng c ng của thị trườ ạnh tranh hoàn hảo
5.1.1. Khái niệm thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Khi nghe tới thuật ngữ cạnh tranh c biđặ ệt là cạnh tranh kinh tế, chúng ta sẽ có sự liên hệ
thực tế và cho rằng: cạnh tranh kinh tế là s thự ganh đua giữa các chủ ể kinh tế (nhà sản
xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ng y nh ng vười tiêu dùng, thương nhân) nhằm giành lấ ị thế
trong sản xu u lất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ để thu được nhiề ợi ích nhất
cho mình với các hình thức mà chúng ta có thể ư thấy nh : cạnh tranh v giá, cạnh tranh
phi giá cả như khuyến mại, qu ch vảng cáo, dị ụ sau bán...
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phố i với nhau hoặc có thể x y ra
giữa người sản xu n xuất với người tiêu dùng khi người sả ất muốn bán hàng hóa, dịch vụ
với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
Nhưng thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà chúng ta sẽ nghiên cứu là thị trường trong đó
có nhiều người mua, nhiều người bán và không người mua, người bán nào có thể ảnh
hưởng ng. đến giá cả thị trườ
Ví d n, ph ng,… ụ: Th ng các mị trườ ặt hàng nông sả ế liệu, video cho thuê, đĩa trắ
Mặc dù thuật ngữ “cạnh tranh” có xuất hiện nhưng cạnh tranh giữa các hãng trong thị
trường cạnh tranh hoàn hảo khác hẳn với khái niệm về cạnh tranh nói chung mà chúng ta
thường thấy. Vì họ ũ không cạnh tranh thông qua giá và c ng không có ý đị đnh ánh bại
những . đối thủ của mình thông qua doanh số Để có thể lý giải rõ về điều này chúng ta sẽ
đ đặ ư đ i vào nghiên c u các c tr ng c a thị trường CTHH. Qua ó, chúng ta sẽ phân bi t rõ
được thị trường CTHH và hãng CTHH.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 147
5.1.2. Đặc trưng c ng CTHH ủa thị trườ
Đặc trư ng quan tr ng nhất c a thị trường cạnh tranh
hoàn hảo là mỗi một hãng trong một th tr ường cạnh
tranh hoàn hảo đều cư x ư nh một người chấp nhận
giá. Các hãng cạnh tranh chấp nhận mức giá thị
trường c n phủa sả ẩm, mức giá được xác định bởi
đ điểm giao c a đườ đường cung và ng cầu ã cho.
Hành vi nhận giá này là dấu hi u c ủa một th tr ường
cạnh tranh. Trong tất cả các cấu trúc thị trường khác –
độ độ c quyền, cạnh tranh độc quyền và c quyền nhóm, các hãng có được s c mạnh đặt
giá c ở một mứ độ nào đó. Ba đặc trư địng xác nh cạ nh tranh hoàn h o:
 Các hãng cạ nh tranh hoàn hảo là nh ng người chấp nhận giá bởi vì m i một hãng cá
biệt trên trên thị trường là quá nhỏ so với toàn bộ thị trường nên hãng không thể gây
ảnh hưởng đến giá thị trường của hàng hoá hay d ch vụ hãng sả n xu t ra khi thay đổi
sản lượng của hãng. Tất nhiên, nếu tất cả các nhà sản xuất hành động cùng nhau,
những thay đổi về số lượ ường chắ c ch n sẽ tác độ đếng n giá thị tr ng. Nh ng nư ếu là
cạnh tranh hoàn hảo thì mỗi nhà sản xuất là quá nhỏ nên sự thay đổi của từng nhà sản
xuất sẽ ng. đều không quan trọ
 Tất cả các hãng sản xuất một loại hàng hoá đồ đượ ng nhất hay c tiêu chu n hoá hoàn
hảo. S n ph ng c o gi ng v ẩm của một hãng này trong một th tr ườ ạnh tranh hoàn hả ới
sản phẩm của mọi hãng khác. Điều kiện này đảm bảo r ng nh ng ng ười mua bàng
quan v m, cho dù là ới hãng sản xu ng s n phất ra sản phẩm họ mua. Nh ự khác biệt sả
thực hay ảo, là không thể x o. ảy ra trong cạnh tranh hoàn hả
 Việc gia nhập và rút lui khỏ i th trường cạnh tranh
hoàn hảo là không hạn chế. Không hề có những
rào cản nào ngăn cản các hãng mới gia nhập thị
trường và không có điề ău gì ng n cản các hãng đang
tồn tại trên thị trường rút lui khỏi thị trường.
Mặc dù có tồn tại thuật ngữ “tính cạnh tranh”, nhưng
các hãng cạnh tranh hoàn hảo không nhận thấy bất kỳ
sự c nh tranh nào giữ a h ; đ đ iều ó có nghĩa là không t n t i sự c ếnh tranh trực ti p nào
giữa các hãng. Khái niệm cạnh tranh hoàn hảo về mặt lý thuyết hoàn toàn trái ngược với
khái niệm cạnh tranh nói chung được thừa nhận. Bởi vì các hãng trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo s n xu n ph ất các sả ẩm giống nhau và đứng trước một mức giá do thị
trường quyết định, nên các nhà quản lý của các hãng cạnh tranh hoàn hảo không có sự
khích lệ nào để “đ đố ánh bại nh ng i th c a h ” bằng doanh s vì m i m t hãng có th
bán mọi thứ mà hãng muốn. Các hãng chấp nhận giá không thể c nh tranh b ng bất kỳ
một loại chiến lược định giá nào.
Các thị trường không hoàn toàn đáp ứng đủ c ba đi u kiện đã được nêu ra với cạnh
tranh hoàn hảo l n gi ng cại thường gầ ống với thị trườ ạnh tranh hoàn hảo nên các hãng cư
xử nh hư thể ọ là những nhà cạnh tranh hoàn hảo. Những nhà quản lý trong lớp MBA cho
các viên chức cao cấp đã được tham khảo như đã giới thiệu trong phần mở đầu của bài
này không hoạt i động trong những thị trường c o, nh ng h phạnh tranh hoàn hả ư đối
mặt với một số lượng đủ lớn các hãng sả n xuất hàng hoá g n như tương tự nhau trên
Cuộc đua chưa thấy điểm dừng
Cạnh tranh hoàn hảo
Một cấu trúc thị trường tồn tại khi
(1) các hãng là người chấp nhận
giá, (2) tất cả các hãng sản xuất
một sản phẩm đồng nhất, và (3)
việc gia nhập và rút lui là không
hạn chế.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
148 ECO101_Bai5_v2.3014106226
thị trường. Trong đ ó s h ế n ch gia nh p yế u ớt không lớn, và do v y họ tự xem bản
thân như là những người chấp nhận giá. Mặ c dù chúng tôi s chỉ cho các bạ n th y trong
phần tiếp theo và trong chương tiếp theo, nhưng mức độ cạnh tranh các nhà quản lý phải
đối mặt được phản ánh trong hệ s đị đ co dãn c a cầu c a hãng. Các quyết nh t i a hoá
lợi nhuận được phát triển trong chương này được áp dụng ngay cả với các hãng không
hoàn toàn cạnh tranh hay cạnh tranh hoàn hảo.
5.2. Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo
Hãng CTHH không có sức mạnh thị trường, là người “chấp nhận giá”. Hãng không thể
bán v bán với giá cao hơn mức giá trên thị trường và không có lý do để ới mức giá thấp
hơn m ng. N n s n phức giá thị trườ ếu hãng bán với giá cao hơ ẽ không ai mua sả ẩm của
hãng, vì sản phẩm c mua của các hãng cũ ng gi ng h t và người tiêu dùng sẽ ủa hãng
khác. Khi hãng bán giá thấp hơn vì số lượng cung ứ ng c a hãng là rất nh so với cầu th
trường. Hãng bán với giá thấp hơn sẽ bị thiệ t, l i nhuận gi m. Hãng phải ho t động tại
mức giá được ấn định trên thị trường nhưng hãng có thể bán bất cứ mức sản lượng nào
mà hãng muốn ở m đ ư đ c giá th trường. Do ó nh chúng ta ã phân tích t mối quan hệ
giữa giá và doanh thu biên. Đường c ng cầu của hãng là đườ ầu nằm ngang và trùng với
đường doanh thu biên và doanh thu bình quân như đồ thị.
Hình 5.1. Đường cầ ườu củ a hãng CTHH và c a th tr ng CTHH
Mức giá được xác định ở đây là mức giá cân bằng của thị trường. Do hãng CTHH là
hãng chấp nhận giá thị trường.
Ghi nhớ
Đường cầ u c a một hãng c nh tranh ch p nhận giá là đường nằm ngang hay hoàn toàn co dãn ở mức
giá được xác định bởi điểm giao của các đường cung và đường cầu thị trường. Vì doanh thu cận biên
bằng với giá của một hãng cạnh tranh, nên đường cầu cũng đồng thời là đường doanh thu cận biên
(nghĩa là D = MR). Các hãng chấp nhận giá có thể bán mọi thứ h mu n ở mứ c giá thị trường. M i đơn
vị được bán thêm sẽ làm tăng tổng doanh thu thêm một lượng bằng với giá bán.
5.3. Xác định l n c n hợi nhuậ ủa hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắ ạn
5.3.1. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận
Qua vi u kiệc phân tích nội dung bài 4, chúng ta có điề ện chung cho tất cả các loại hình
doanh nghi nh tranh hoàn hệp: MR = MC. Đối với hãng cạ ảo, như chúng ta đã phân tích
trong th thuị trường CTHH là hãng ch ng bán ra không phấp nh n lận giá và sả ượ ộc vào
giá. Nên i hãng CTHH giá và doanh thu cđối vớ ận biên trùng nhau. Vì vậy, đối với hãng
cạnh tranh hoàn hảo thì điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng sẽ là: P = MC.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 149
C, R
MC
O
Q
MR =AR=P
Q
*
Q
1
Q
2
A
B
Q
3
s
3
s
2
s
1
Tốiđahóal
Tốiđahóalợinhuận
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH
Qua vi p tệc phân tích tương tự trường hợ ối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp. Đối
với hãng CTHH, không phải mọi mức sản l u tượng có P = MC, hãng CTHH đề ối đa hóa
lợi nhuận. Mà hãng tối đa hóa lợi nhuận tại điểm mà đường doanh thu biên cắt với chi
phí biên khi MC có độ dốc dương hay đang đi lên. Trên đồ th thị chúng ta có thể ấy được
điểm A. Ngoài cách chứng minh thông qua hình học chúng ta có thể minh chứng
thông qua khảo sát đồ thị hàm lợi nhuận. Chúng ta sẽ công nhận các kết quả nghiên cứu
trước của các nhà kinh tế v n v . đường chi phí TC mà chúng ta vẫ
TC = aQ3 – bQ2 + cQ + d
Trong đó chúng ta hoàn toàn giải thích được về d ếu của các tham số khi ti n hành khảo
sát hàm lợi nhuận hệ số a > 0 do hàm MC là hàm bậ c hai có hình lòng ch o. Ngoài ra,
với hình dạng của đường MC, ta có MC đạt cực trị tại Q = 2b/(3a) do Q > 0, a > 0 nên
b > 0. Ngoài ra đường MC không cắt trục hoành điều này cho thấy phương trình MC = 0
là vô nghi – 3a.c < 0. Vệm và chúng ta xác định được dấu của c > 0 thông qua ∆’ = b2 ậy
c > 3a/b. Hệ s d mang dấu dương thể hi p. ện cho chi phí cố định trong doanh nghiệ
0
C
Q
MC= 3aQ2-2bQ+c
2
3
b
a
Hình 5.3.
Đường chi phí cận biên
Qua vi u cệc xem xét dấ ủa các hệ số chúng ta có thể khảo sát hàm lợi nhuận và tìm ra
được đ đ đồiểm t i a hóa lợi nhuận qua thị sau:
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
150 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Q
1
Q
*
Q
2
TC
TR
C,R
Q
C,R
π
Q
0
MR=P=AR
MC
π
max
π
min
BA
Hình 5.4.
Xác định l n cợi nhuậ ực đại của hãng CTHH
Ngoài ra chúng ta có, lợi nhuận của hãng CTHH:
 = TR – TC = P.Q – TC
Đ để điều kiện c n t i a hóa lợi nhuận (πmax):
ddTC
PPMC0PMC
dQ dQ
 
Đ để điều kiện đủ t i a hóa lợi nhuận là:
2
2
ddMC dMC
00
dQ dQ dQ


Qua những chứng minh trên, chúng ta khẳng định được rằng hãng CTHH chỉ t đi a hóa
lợi nhuận khi MC cắt P (P = MC) tại nhánh MC đang đi lên hay MC có độ dốc dương.
Về m t ý nghĩa kinh tế không hãng nào với giá bán v n được n định, khi sản xu t chi
phí biên giảm đi mà lại dừng sản xuất. MC gi m đ i h còn có th ng lợi nhu n trên
mỗi đơn v s n xu ất ra.
5.3.2. Khả năng sinh lợi của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
a. Xét giá th ng Pị trườ 0 > ATCmin
Khi giá thị trường P nh n l0 > ATCmin ta xác đị được mức sả ượng trên thị trường là Q*.
Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: *
0
*
0OP EQ
TR P Q S
Tổng chi phí của hãng là *
*
OABQ
TC ATC Q S
**
0
0ABEP
OP EQ OABQ
TR TC S S S 0
Vậy lợi nhuận mà hãng thu được (khi giá thị trường P0 > ATCmin) là dương hay hãng
kinh doanh có lãi, tức là hãng có lợi nhuận kinh tế dương.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 151
0
C
Q
Q
*
P=MR
P
0
AB
E
MC
TC
LN
Hãng lãi
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P
0
> ATC
min
b. Xét giá th ng Pị trườ 0 = ATCmin
Khi giá thị trường P0 = ATCmin ta xác định được m c s ản lượng trên thị trường là Q*.
Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: *
0
*
OP EQ
TR P Q S
Tổng chi phí của hãng là *
0
*
OP EQ
TC ATC Q S   = TR – TC = 0. Lợ i nhu n mà
hãng thu được bằng 0 hay hãng hòa vốn.
Đ i m E là đi m hòa v n v i mức giá thị trường P0 = ATCmin  PH/vốn = ATCmin. Mà
ATCmin khi ATC = MC. Vậy hãng hòa vốn khi mức giá thị trường P0 = ATCmin.
C
P
0
0
Q* Q
P = MR
ATC
MC
Hàng hóa vốn
C
Acmin
Hình 5.6.
Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P
0
= ATC
min
c. Xét giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin
Khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin ta xác đị đượnh c m c s ản lượng trên thị
trường là Q*. Doanh thu của hãng c o là: TR = P × Qạnh tranh hoàn hả * = *
0
OP EQ
S
Tổng chi phí của hãng là TC = ATC × Q* =
*
OABQ
S
= TR – TC = ** 0
0ABEP
OP EQ OABQ
SS S< 0.
ATC
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
152 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Vậy khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin thì hãng bị lỗ.
Khi b n xuị lỗ hãng có tiếp tục sả ất?
So sánh phần thua lỗ và chi phí cố định:
Chi phí biến đổi t i m ức sản l ng Qượ *: *
***
OMNQ
TVC AVC Q NQ Q S
Chi phí cố định: ABNMTFC TC TVC S
Nếu hãng sản xuất thì hãng lỗ 0
ABEP
S. Nế u ng ng s n xu t hãng b thua lỗ bằng chi phí
cố định là 0
ABNM ABEP
SS.
Do đó, hãng vẫn tiếp tục sản xuất để tối thi t t i mểu hóa lỗ. Doanh thu khi sản xuấ ức sản
lượng Q* bằng *
0
OP EQ
S bù đắp được cho toàn bộ chi phí biến đổi và mộ t phần chi phí c
đị đểnh. Hãng sẽ ế ti p tụ c s n xuất mứ c l là nhỏ nhất và hãng chỉ bị thua lỗ một phần chi
phí cố định. Trong trường hợp này, hãng tối đa hóa lợi nhuận hàm ý phải tối thiểu hóa
thua lỗ.
AVC
AC
0
C
Q
Q
*
P=MR
MC
AB
E
N
M
P
0
Tốithiểu
lỗ
Hình 5.7. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường AVC
min
< P
0
< ATC
min
d. Xét giá thị trường PAVCmin
Giả sử giá thị trường 0min
PAVC. Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là:
TR = P × Q* = *
0
OP EQ
S. T ng chi phí c a hãng là TC = ATC × Q* = *
OABQ
S
  = TR – TC = ** 0
0ABEP
OP EQ OABQ
SS S < 0
Hãng bị lỗ phần diện tích 0
ABEP
S . So sánh phần thua lỗ với chi phí cố định:
Chi phí biến đổi tại mức sản l ng Qượ *: *
0
***
OP EQ
TVC AVC Q EQ Q S
 Chi phí cố định: 0
ABEP
TFC TC TVC S = phần thua lỗ nếu hãng tiếp tục sản xuất.
Do đó, hãng lỗ toàn bộ chi phí cố định.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 153
C
A
P0
0
Q* Q
AVC
MC
ATC
B
P = MR
Điểm đóng cửa AVCmin
Lỗ toàn bộ FC
E
Hình 5.8.
Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P
0
= AVC
min
Giả sử lúc này giá thị trường giảm xuố ng P0 < AVCmin thì hãng không chỉ l toàn bộ chi
phí cố định mà còn mất một phần chi phí biến đổi. Chúng ta bắt đầu t0min PAVCthì
hãng bắt đầu tính đến việc đóng cửa. Vì thế, E là điểm đóng cửa của hãng. Sở d gĩ ọi E là
đ đ iểm óng c a vì nếu giá nh n mức giá E hay P < AVCmin, khi đó hãng không chỉ
bị lỗ hết chi phí cố định mà một phần của chi phí biến đổi.
AVC
AC
0
C
Q
Q
*
P=MR
MC
AB
E
P
0
Hình 5.9.
Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường
P
0
< AVC
min
Vậy hãng cạnh tranh không sản xu p hất nếu giá thấ ơn
chi phí biến đổi trung bình tối thiểu. Khi sản xuất, hãng
tối đa hóa lợi nhuận b ng vi ệc lựa chọn mức sản lượng ở
đ ó giá bằng chi phí biên, ở m c sản lượng này, lợi nhu n
là số dương nếu giá cao hơn chi phí trung bình. Hãng có
thể s n xu t và chỉ lỗ trong ngắ ến h n. Tuy nhiên, n u
hãng dự kiến sẽ tiếp tục bị lỗ trong dài hạn thì nên rời bỏ kinh doanh.
Đ ế đóng c a được dùng để chỉ quy t định ngắn hạn trong ó doanh nghi p không s n xu t
gì cả trong một thời kỳ nhất i. định do điều kiện hiện tại c trủa thị ường không thuận lợ
Rời bỏ được dùng để chỉ quyết định dài hạn của doanh nghiệp v vi ệc rút khỏi thị
trường. Quyết định ngắn hạn và dài hạn khác nhau vì hầu hết các doanh nghiệp không
thể tránh c chi phí cđượ ố định trong ngắn h n hạn nhưng trong dài hạ ọ l i làm được đi u
đ đ ó. Nghĩa là doanh nghiệp tạm thời óng c a vẫn chịu chi phí c định trong khi doanh
nghiệp rời b t kiỏ thị tr tiường có thể ế ệm được cả chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Đóng cửa
Điề đ u ki n trong ó m t hãng
sản xuất sản lượng bằng 0
nhưng vẫn c n ph ải thanh
toán những đầu vào cố định.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
154 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Các chi phí nghiên cứu và phát triể n có nh hưởng đến giá dược ph m?
Vào tháng 8 năm 1997, chính quyền Clinton tuyên bố rằng các công ty dược được yêu cầu
phải ki m tra xem li i d ệu những loạ ược phẩm h bán cho ng ười lớn cũng an toàn và hiệu
quả v em và buới trẻ ộc phải ghi những liều chỉ định cho trẻ em trên nhãn. Người ta đã ước
tính được rằng những yêu c u m n d ới có thể làm tăng chi phí phát triể ược phẩm lên hơn
200 triệu đôla hàng năm. Một cựu quan ch c c a C c quản lý Th c phẩ m và Dược ph m
(FDA) trong một bài xã luận trên tờ Wall Street, lưu ý rằng quy định này có thể làm đình lại
việc giới thiệu các loại dược phẩm mới và rằng “luật lệ c a Chính ph đặt ra nh ng khoản
chi phí khổng lồ cho việc phát triển dược phẩm, những chi phí được chuyển qua cho người
tiêu dùng gánh chịu dưới những mức giá cao hơn.”a
Một nhà kinh tế nổi tiế ếng, trong mộ ưt b c th ti p theo gửi cho WSJ, đồng tình rằng những
yêu c làm tầu nghiêm ngặt hơn sẽ ăng nh u dững chi phí nghiên cứ tính trên mỗi đơn v
sản phẩm được giới thiệub. Tuy nhiên, ông không đồng ý rằng những chi phí phát triển
dược phẩm được gia tăng sẽ được chuyển qua cho ngườ ưới tiêu dùng gánh chịu d i những
mức giá cao hơn. Ông chỉ ra, “Gần như t t c các chi phí nghiên cứu và phát triển dược
phẩm đã phát sinh trước khi có sự chấp thuận của FDA và trước khi liều thuốc đầu tiên
từng được bán”. Những chi phí như v y sẽ ph i là những chi phí cố định hay chi phí chìm
và không n các quyảnh hưởng đế ết định giá hay sản lượng của hãng. “Giá trị c a một s n
phẩm tuỳ thuộc vào khả nă ng sản phẩm được ch p nhận trên thị trường và các chi phí s n
xuất ra một đơn vị sản lượng khác, nhưng không hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc liệu sản
phẩm đó được phát minh ra hoặc là sau mộ t n lực lâu dài và gian khổ hoặc là xảy ra m t
cách tình cờ ngay trong l u tiên”. ần thử đầ
Theo bức thư, việc đặt giá sản phẩm là dựa trên các điều kiện tương lai dự kiến và không
phải dựa vào những điều kiện trong quá khứ, mặc dù những chi phí nghiên cứu dự tính
thể ảnh hưởng đến ngân sách nghiên cứu và do đó ảnh hưởng đến số lượng s n ph ẩm mới
trong t c giá phương lai. Nh không nh h n mững chi phí đó sẽ ưởng đế ải trả cho các sản
phẩm vừa mới được phát minh.
Câu trả l i này tăng thêm s nhấn m nh c a chúng ta trong bài này là các chi phí chìm,
vừa phát sinh, và các chi phí cố định, nh c thanh toán dù cho quyững chi phí cần phải đượ ết
đị đưnh nào được a ra, không cầ n được quan tâm đế địn trong các quyết nh giá c và sản
lượng. Tuy nhiên, còn có nhiều điều hơn trong câu chuyện này, những điều sẽ được chúng
tôi tiếp tục đề cập trong khung minh họa 11.2 sau khi chúng tôi giớ i thiệ ếu lý thuy t v
hãng trong dài hạn.
a
Henry I.Miller, “FDA Loves Kids So Much, It’ll Make You Sick,
”The Wall Street Journal, Aug.18,1997.
b
William S.Comanor, “Higher Price Means Better Medicine,”
The Wall Street Journal, Sept.9,1997
5.3.3. Đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Đường cung củ a hãng cạ ế nh tranh hoàn hảo cho bi t hãng s s n xuấ t bao nhiêu s n ph m
ở m i m c giá. Xét m t hãng cạ ếnh tranh hoàn h o quy t định m c sản lượng cung ng
cho thị trường như thế nào? Vì hãng cạnh tranh là ng p nh n giá nên MR = P. Tười chấ ại
bất kỳ m đ c giá nào cho trướ ược, sản l ng t i a hóa lợi nhu n c a hãng cạnh tranh hoàn
hảo cũng được xác định bởi giao điể m c a đường giá cả và đường chi phí cận biên.
Với mức giá P1: ta P = MC t i A: s n lượng Q1. Với mức giá P2: ta có P = MC tại B:
sản lượng Q2. Điểm A và B phn ánh tùy thuộc vào mức giá trên thị trường là bao nhiêu
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 155
hãng sẽ sẵn sàng cung ứng tại mỗ Đi m c giá. iểm A, B hay các điểm nằ m trên MC ph n
ánh lượng hàng hóa mà hãng sẵn sàng cung ứng với từng mức giá. Tuy nhiên, hãng chỉ
sản xuất tại điểm hãng đóng cửa trở lên, tức giá tại mức giá P < AVC min thì sản lượng
t iối đa hóa lợi nhuận = 0. Do đó, cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo xuất phát từ đ ểm
hãng đóng cửa. Vậy đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo là 1 phần đường MC tính
t iừ đ ểm đóng cửa trở lên.
0
C
Q
D
1
=MR
1
D
2
=MR
2
A
B
P
1
P
2
MC
Q
1
Q
2
Điểmđóng cửa
Hình 5.10.
Đường cung của hãng cạ nh tranh hoàn hảo (đường MC) trong ng n h n
5.3.4. Đường cung của ngành cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Ngay nh ng CTHH bao gư khái niệm, chúng ta có thể thấy thị trườ ồm rất nhiều hãng.
Lượng cung của thị trường là tổng lượng cung của tất cả doanh nghiệp tham gia thị
trường. Do đó, đường cung của thị trường là đường t ng h p theo chi ều ngang các
đường cung củ a t t cả các doanh nghi p tham gia thị trường.
Giả sử ngành có hai hãng CTHH có hai đường cung của mỗi hãng tương ứng là MC1
và MC2 được thể hi n trên đồ thị. T i mức giá P1 thì hãng 1 b t đầu cung c p s n phẩm
(Q0 = 0), còn hãng 2 chưa cung cấp sản phẩm. Do đó, tổng s ng tản lượng trên thị trườ ại
mức giá P1 là 0, đường cung thị trường xuất phát từ đ iểm (0, P1).
Tại mức giá 5, hãng 1 cung ứng 2, hãng 2 cung ứng 0. Do đó, tổng sản lượng trên thị
trường tại mức giá 5 là 2, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (2,5). Tại mức giá 6,
hãng 1 cung ng 3, hãng 2 cung ứng 1. Do đó, tổng s n l ượng trên thị trường tại mức giá
6 là 4, đường cung thị tr i mường xuất phát từ điểm (4,6). Tạ ức giá 7, hãng 1 cung ứng
4 hãng hai cung ng 2 vì v ậy ng đường cung thị trườ đi qua điểm (6,7). Trong mứ c giá t
3 < P < 5 chỉ có hãng 1 cung ứng, vì vậy mà đường cung thị trường ở mức giá này là
đườ đường cung củ a hãng 1. Khi m c giá lớ ơn h n 5, ng cung của thị trường sẽ tho i hơn
đường cung củ a hai hãng và lượng cung c a th trường tại mỗi m c giá b ng tổng lượng
cung của hai hãng. Nối các điểm tìm được ta có đường cung thị trường MCTT như trên
đồ thị.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
156 ECO101_Bai5_v2.3014106226
0 1 2 3 4 5 6
MC
TT
0 1 2 3 4 5 0 1 2 3
8
7
6
5
4
3
2
1
MC
2
8
7
6
5
4
3
2
1
8
7
6
5
4
3
2
1
MC
1
P
Q
P
Q
P
Q
Q
TT
= Q
1
+ Q
2
Hình 5.11.
Đường cung của ngành cạ nh tranh hoàn h o trong ng n h n
5.4. Xác định l n cợi nhuậ ủa hãng cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
5.4.1. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể thay a mình, do đổi tất cả các đầu vào củ đó không
có chi phí cố định trong dài hạn. Tổng chi phí biến đổi giờ đây cũng chính là tổng chi
phí của hãng. Để l ưa ch n m c sản lượng t i u để s n xu t, các hãng sẽ ph i so sánh
giữa t c tổng doanh thu có đượ ừ việc bán toàn bộ sản ph n xuẩm sả ất ra và tổng chi phí để
sản xuất ra mức sản l ó t nh n tượng đ ương tự ư điều kiệ ối đa hóa lợi nhuận của hãng trong
ngắn h u kiạn. Điề ện tối đa hóa lợi nhuậ n trong dài h n:
P = MR = LMC
Trong dài hạn, hãng CTHH sẽ điều chỉnh quy mô sao cho:
SMC = LMC = P
Nếu P > LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế dương.
Nếu P = LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Nếu P < LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế âm, sẽ có động cơ rời bỏ ngành.
0
LMC
LAC
Q
2
P,C
R,
π
Q
π=0
P
1
=MR
1
P
2
=MR
2
P
3
=MR
3
π>0
π<0
Hình 5.12.
T iối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài h n khi giá th ị trường thay đổ
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 157
Ngoài việc nghiên cứu điều kiện tối đa hóa lợi nhuận c n, chúng ta sủa hãng trong dài hạ
nghiên cứu khả nă ng sinh lời của hãng trong dài h n. Trong dài h n, doanh nghi p có
khả năng thay đổi được tất cả các đầu vào, kể cả quy mô sản xuất. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo, ta luôn có giả định rằng các hãng có thể t do gia nhậ p ho c r i b
ngành. Vì vậy, hãng có thể là người bắt đầu sả n xu t (gia nh p ngành) ho c a đóng cử
sản xuất (rút khỏi ngành).
0
LMC
LAC
Q
2
Q
1
Q
MC
AC
P=MR
P,C
R,
π
A
π
NH
π
DH
B
E
F
Q
4
Q
3
Hình 5.13. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn h n và dài h ạn
Trong ngắn h n s n l ng Qạn hãng lựa chọ ượ 1 t iại đ ểm A: P = MC. Tại Q1 có:
TR = P × Q1 = 1
OPAQ
S và TC = AC × Q1 = 1
OCBQ
S
πNH = TR – TC = 11
OPAQ OCBQ
SS = SPABC NH
max = SPABC
Trong dài hạn hãng lựa chọn mức sản l ng Qượ 3, tại E có: P = LMC
TR = P × Q3 = 3
OPEQ
Svà TC = AC × Q1 = C’ × Q3 = 3
OC FQ
S
πDH = TR – TC = 3
OPEQ
S 3
OC FQ
S= SPEFC’ DH
max = SPEFC’.
Vì SPABC < SPEFC’ Lợi nhuận trong dài hạn l n h ơn trong ngắn hạn.
Do thời gian trong dài hạn n đủ để 2 đầu vào biế đổi nên hãng dễ l a ch n quy mô sản
xuất, vì vậy hãng CTHH trong dài hạn có ưu thế hơn trong ngắn hạn.
5.4.2. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành
Cân bằng c n cạnh tranh dài hạ ủa ngành là trạng thái mà các hãng không chỉ t đi a được
lợi nhuận của mình mà ở đó còn không có sự gia nhập hay rút lui khỏi thị trường của các
hãng (lợi nhuận kinh tế của hãng ph ng 0). ải bằ
Giả s ban đầu th trường cân bằ ng t i E1 với mức giá thị trường là P1, xác định được
đường cầ u của hãng c nh tranh hoàn h o là D1. Ở mức giá P1, doanh nghiệ p c nh tranh
hoàn hảo thu được lợi nhuận kinh tế cao. Điều này sẽ kích thích các hãng mới gia nhập
ngành này. Khi đó cung thị trường tăng làm cho giá giảm.
Khi giá giảm các hãng sẽ điều chỉnh quy mô của mình để có thể đạt i được lợi nhuận tố
đ đ đa (sả n lượng bán gi m i, theo lu t cung do đường cung c a hãng là LMC t iểm đóng
cửa đi lên).
P
C
C’
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
158 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Khi các hãng tiếp t u, các hãng s p t nh s n lục gia nhập ngành nhiề ẽ tiế ục điều chỉ ượng
của mình đến khi hãng tối đa hóa lợi nhuận với toàn bộ lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Quá trình gia nhập của hãng sẽ dừng ở đường cung S’ và trạng thái cân bằng mới được
thiết lập tại mức giá P2. Vì tại m đ đ c giá P2 ã đạt được 2 iề u ki n c a tr ng thái cân bằng
dài hạn là:
Hãng tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn: P = LMC.
Hãng có lợi nhuận kinh tế b . ằng 0: P = LACmin
AC
P
Q
Q* Q
1
*
D
2
=MR
2
MC
P
Q
Q
0
P
1
P
2
E
LMC
LAC
D
SS’
P
1
P
2
E
1
E
2
D
1
=MR
1
π>0
Thịtrường CTHH Hãng CTHH
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành
Như v y, trong tr ng thái cân b ng dài h n củ a ngành l i nhu n kinh tế của hãng trong
dài hạn và ngắn h ng minh ạn đều bằng 0 và chúng ta hoàn toàn chứ được tại trạng thái
cân bằng dài hạn P = LMC = LACmin = MC = ATCmin. Đây chính là điều kiện quan
trọng để xem xét ngành có đạt cân bằng dài hạn hay không.
Những nhà s n xu ất chip châu Á (mộ ăt l n n a) đương đầu với khó kh n?
Bạn đang tìm ki t cách ếm mộ đầu tư vào một nền kinh tế m i, công nghệ cao? V i ch vài t
đôla, bạn có thể mua một nhà máy chế tạo hiện đại để sản xuấ t các con chip bán d n. Bạn
có thể là người đầu tiên trong ngành của bạn sở h u mộ t “xưởng đúc” – m t nhà sản xu t
chất bán dẫn tạo ra các con chip để bán cho các bên thứ ba. Nếu bạn quyết định thực hiện
một hoạt động đầu tư như vậ y, thì b n cần ph i quyết định liệ u s sản xuất các con chip
bộ
nhớ chung (các con chip lưu giữ các chương trình và dữ liệu) hay các con chip logic chuyên
biệt (các con chip “tư duy” trong các sản phẩm tiêu dùng khác nhau). Với một trong hai loại
con chip bán dẫn, việc đầu tư vào một xưởng sản xuất có vẻ như là một điều ch n vắc chắ ới
bạn. Xét cho cùng, cầu về các con chip sẽ tăng mạ ănh trong những n m tớ i và, v i 2 t đôla
để tham gia kinh doanh, dù sao liệu sẽ có thể có bao nhiêu sự ganh đua? Nhìn b ngoài có
vẻ là nhiều, nhưng hoá ra lại là vậy.
Một bài báo gần đây trên tờ
Business Week
mô tả các nhà sản xuất chip châu Á đã bắt đầu
sắm sửa lu bù, đổ hàng tỷ đôla vào những nhà máy chế t o mớ ăi ch trong n m ngoái. “L n
cuối cùng các nhà sản xuất chip châu Á chi tiêu quá nhiều là vào giữa những năm 90. Kết
quả th thật bi thảm: năng suất dư ừa quá mức, một sự sụt giảm mạnh trong hàng xuất khẩu,
và phá s a các hãng mản tài chính củ ới gia nhập vay n u.” Thợ nhiề ật may, đó khó có thể là
loại tin tức bạn đang tìm kiếm, vì vậy bạn quyết định gọi cho nhà tư vấn đầu tư của bạn để
xem bà ta nghĩ gì về việc đầu tư vào một xưởng sản xuất chip. Bà ta bảo bạn không phải lo
2
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 159
lắng; sự sụt giảm thảm hại về giá c a chất bán d n đưa tr lại nhữ ư ũng ngày “x a c ” khi mọi
người đều sản xuất các con chip bộ nhớ. Với việc không có cách nào phân biệt được những
con chip bộ nhớ DRAM chung, các nhà sản xuất chip châu Á đã bán một hàng hoá công
nghệ cao trên một th tr ường cạnh tranh hoàn hảo. Bà ta b o bạ n, “Các nhà s n xu t chip
châu Á cũng có thể đang bán bột n t sước cam hay dạ dày bò. Với mộ ản phẩm đồng nhất và
không có rào cản gia nhập, các xưởng sản xuất châu Á đang trở thành một ví dụ (giáo khoa)
nữa về những nhà cạnh tranh hoàn hảo những người tạo ra thua lỗ kinh tế trong quá trình
chẳng thu được chút lợi nhuận nào trong trạng thái cân bằng dài hạn.”
Có lẽ vào khoảng thời gian này mọi thứ sẽ khác. Theo tờ
Business Week
, “Hiện giờ, phần lớn
việc chi tiêu là cho các con chip logic được sử d ng trong các đi n thoại không dây, bộ thu
phát tín hiệu, và vô số các thiết bị số khác, nhữ ng thiết b có nhu cầu r t cao khi việc sử
dụng Internet bùng nổ.” Quả thật, các xưởng sản xuất những con chip chuyên biệt đã chứng
kiến sự tă ng mạnh mẽ trong các kho n lợi nhu n. Một số nhà sản xuất chip vừ a t bỏ sản
xuất các con chip bộ nhớ để chuyển sang những con chip logic chuyên biệt hiện mang lại
nhiều l n h n nh n v nhợi nhuậ ơn. “Hiện chúng ta g ư phá sả ới sản phẩm bộ ớ,” Tổng giám đốc
điều hành (CEO) của Chartered Semiconductor, một nhà sản xuất con chip lớ n do Chính ph
kiểm soát ở Singapore nói.
Mặc dù nhà tư vấn đầu tư c ưa bạn dường nh sẵn sàng cho việ c đầu tư ti n của bạn vào
một nhà máy sản xuất chip ở ư đ châu Á nh ng, bạn ang bắt đầu lo ngại sau khi đọc bài báo
trên tờ
Business Week
. Bạn biết rằng các khoản lợi nhuận cao với các con chip logic s ế ti p
tục thu hút nhiều hơn các nhà sản xuất m i. C ăn cứ vào s lượng các nhà máy mới đang
được xây dự ng, các m c giá thành một tỷ đôla của các nhà máy chế tạo rõ ràng là ít hay
không có rào cản gia nhập. Mặc dù các con chip logic dễ dàng phân biệt hơn so với các con
chip bộ nh nhớ thông thường thế ưng bạn lo lắng việc các nhà thiết kế thiết kế các sả n ph m
tiêu dùng ở Lucent Technologies, Motorola, Micron, và tập đoàn Broadcom có thể tìm kiếm
những phương thức sử dụng các con chip logic chung, “có sẵn” thay vì các con chip đặt làm
theo yêu cầu. Rốt cuộc, có lẽ các con chip logic có th trở thành các hàng hoá giống như đã
từng xảy ra với các con chip bộ nhớ ũ. B n c ng nhậ n th y r ng, khi không có các rào cản gia
nhập, thậm chí sự phân biệt sản phẩm cũng không thể b o vệ các kho n lợi nhuận nếu có
đủ số hãng gia nhậ p thị trường s n xuấ t chip logic. (B n nhận thấy tình huống này giống với
một kiểu trạng thái cân bằng dài h n x ảy ra dưới cạnh tranh độc quyền, chúng ta sẽ xem
xét điều này trong bài tiếp theo).
Như bài báo cảnh báo, “Vẫn có một nguy c là trong nơ ỗi tuyệt vọng theo đuổ i nh ng ngách
thị trường đem lại nhi i nhuều lợ ận của thập kỷ tới của họ (tức là, các con chip logic đặt làm),
các nhà chế t o châu Á sẽ lặ p l i những sai l m củ a nh ng năm 90. Quá nhi u nhà sản xuất
có thể phải chen chúc nhau trong ngành kinh doanh chế tạo và các con chip đa phương tiện,
các m i. “Vì vức giá h i cho m ọi ngườ ậy, sau khi m ưi th được xem xét thì, dường nh việc
đầu tư vào một nhà máy chế t o hiện đại th c s là r i ro. Thậ t tồi tệ khi b n đã hy v ng
việc đầu tư vào nền kinh tế mới sẽ ế cho phép bạn bỏ qua “kinh t h c già c i” củ a các th
trường cạnh tranh. Có lẽ n mền Kinh tế i rốt cuộc cũng không “m n nhới” đế ư vậy.
Nguồn: Bruce Einhorn, Moon Ihlwan, Michael Shari, và Sebastian Moffett, “Fat City for Asia’s
Chipmakers,” BusinessWeek, 20 tháng Ba 2000, trang 131–134.
5.4.3. Đường cung của ngành cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
Trong dài hạn, cung của ngành không được xác định bằng cách cộng theo chiều ngang
đườ đường cung của các hãng trong ngành. Hình dáng ng cung dài hạ n c a ngành ph
thuộc vào ngành có chi phí không đổi hay chi phí tăng:
a. Ngành có chi phí không đổi
Khi có các hãng mới gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành không làm thay đổi giá của yếu tố
đầ đổu vào đ điều ó làm cho chi phí dài hạn không i.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
160 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Giả s thị trường cạnh tranh hoàn hả o ở trạng thái cân b ng với m c giá P1 = LACmin.
Giả s do cầu tă ng lên làm dịch chuy n đường c u sang ph i t D1 đến D2, làm cho giá
sản phẩm tăng từ P1 2 đến P . Điều này làm cho các hãng trong ngành đều thu được lợi
nhuận kinh tế dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào th trường, cung
tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S 1 2 sang S , làm cho giá sả n ph m giảm
xuống cho đến khi trở về mức giá ban đầu P1. Thị trường chuyển từ đ i m cân bằng E1
sang điểm cân bằng mới E3. Làm các hãng trong ngành chỉ thu được l i nhuậ ến kinh t
bằng = 0 và thị trường cân bằng trở l i. Vì v y đường cung dài h n của ngành có chi phí
không đổi là một đường nằ m ngang ở mức giá b ng chi phí bình quân dài h n tối thiểu.
Đường cung trong dài hạn SL củ đ đa ngành i qua hai iểm E1 và E3.
P
Q
P
Q
P1
P2
D2
S1S2
P1
P2
E1
E2
Thịtrường CTHH Hãng CTHH
D2=MR2
E
LMC
D1=MR1
LAC
D1
E3SL
Hình 5.15. Đường cung dài hạ n của ngành c nh tranh hoàn h o có chi phí không đổi
Ví d nh n xu ư ngành sả ất băng đĩa của nước ta. Với giá bán là 6000 đồng/đĩa trắng chất
lượng tốt, 4000 đồng/đĩa trắng bình thường. Việc các hãng tham gia vào sản xuất băng
đĩ đầ địa không ảnh hưởng tớ i giá đầu vào. Vì m c giá u vào đĩa trắng được cố nh, nó rất
nhiều. Đầu vào về máy tính để sao và ghi đĩa cũng không bị tăng lên khi các hãng gia
nhập vào ngành. Mỗi hãng sẽ đầu tư s l ượ ượng chiế c máy và s n xu t ra số l ng đĩa như
nhau. Vì thế chi phí bình quân trên một đĩa là không thay đổi. Ở Việt Nam các đĩa sao
thường bán với giá 8000 đồ đĩng/ a.
b. Ngành có chi phí tăng
Khi các hãng mới tham gia vào ngành làm tăng giá của các yếu tố đầu vào làm chi phí
dài hạn t n xuăng lên. Ví dụ, ngành sả ất đồ gỗ th công m nghệ khi có nhi u hãng tham
gia s c sẽ phát sinh việ ử dụng lao độ động có tay nghề . Vì v y, s làm giá thuê lao ng có
tay nghề tăng lên khi có nhiều hãng tham gia vào sản xuất mặt hàng này.
Giả sử ban đầu thị trường cạ nh tranh hoàn h o ở trạng thái cân bằng tại E1 với mức giá
P1 = LAC1min. Do cầ u tăng lên làm dịch chuy n đường c u sang ph i từ D1 2 đến D , làm
cho giá sản phẩm tăng từ P1 đến P2. Điều này làm cho các hãng trong ngành đều thu
được lợ ếi nhuận kinh t dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào thị
trường, cung tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S1 sang S2. Tuy nhiên, khi các
hãng mới vào và mở r ng sả ăn lượng, cầ ău đầu vào t ng làm t ng giá c a m t s hoặc tất
cả các đầu vào. Đường chi phí trung bình dài hạn tăng từ LAC1 lên LAC2.
Điể m cân b ng mới trên thị trường là E3 v i giá cân bằ ng dài h n m i P3 = LAC2 min.
Mức giá này cao hơn mức giá cân bằng ban đầu. Do đó, cân bằng dài hạn E3 nằm trên
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 161
đường cung dài hạn củ a ngành. Trong ngành chi phí tă ng, đường cung dài h n c a ngành
là đường d n xu n l n nh ng phốc lên. Ngành sả ất ra sả ượng cao hơ ư ải ở giá cao hơn để bù
đắ đầp chi phí u vào tăng.
P
Q
P
Q
P
1
P
3
D
2
S
1
S
2
P
1
P
2
E
1
E
2
Thịtrường CTHH Hãng CTHH
D
2
LMC
1
D
1
LAC
1
D
1
E
3
S
L
P
2
D
3
P
3
LAC
2
LMC
2
Hình 5.16.
Đường cung dài hạn của ngành cạnh tranh hoàn hảo có chi phí tăng
c. Ngành có chi phí giảm
Khi các hãng mới tham gia vào ngành làm cho ngành có thể khai thác được lợi thế theo
quy mô của hãng cung ứng n đầu vào hoặc ứng dụng công nghệ mới, dẫ đến giảm giá của
các yếu t n giố đầu vào làm chi phí dài hạ ảm xuống.
Ví dụ: Có nhiều hãng tham gia vào việc cung cấp nước sạch ở nông thôn (có sự liên kết
với nhau) chi phí về l đp đặt hệ th ng ng nước t i t ng nhà c a ngành sẽ gi m i. Vì
mỗi hãng vào vẫn sử d đng hệ th ng ó, không thể m i hãng m t đường ng. Vì vậy chi
phí của ngành giảm đi.
Giả sử ban đầu thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở trạng thái cân bằng tại E1 với mức giá
P1 = LAC1min. Giả s do cầ ă u t ng lên làm dịch chuy n đường c u sang ph i t D1 đến
D2, làm cho giá sản ph ng tẩm tă ừ P1 2 đến P . Đ i u này làm cho các hãng trong ngành đều
thu được lợi nhuận kinh tế dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào thị
trường, cung tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S1 2 sang S . Khi ngành trở nên
lớn hơn thì có thể tranh thủ được lợi thế quy mô lớn để mua được một số đầu vào rẻ hơn.
Do đó, đường chi phí trung bình dài hạn c n xuủa các hãng dịch chuyể ống dưới và giá thị
trường c n phủa sả ẩm giảm. Giá thị trường thấp h n xu p h n tơn và chi phí sả ất thấ ơ ạo ra
cân bằng dài hạn m n l ng lới với nhiều hãng hơn, sả ượ ớn h p h n. Vì vơn và giá thấ ơ ậy,
trong ngành chi phí giảm, đường cung dài h c xuạn c ng dủa ngành là đườ ống.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
162 ECO101_Bai5_v2.3014106226
P
Q
P
Q
P1
P3
D2
S1S2
P1
P2
E1
E2
Thịtrường CTHH Hãng CTHH
D2
D1
LAC1
D1
E3
SL
P2
D3P3
LAC2
Hình 5.17.
Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giảm
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
ECO101_Bai5_v2.301416226 163
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Các hãng cạnh tranh hoàn hảo là những ng p nh n xuười chấ ận giá. Tất cả các hãng sả ất m t lo ại
hàng hoá đồng nhất hay được tiêu chuẩn hoá hoàn hảo. Sản phẩm của một hãng này trong một
thị trường c o giạnh tranh hoàn hả ống với sản phẩm của mọi hãng khác. Việc gia nhập và rút lui
khỏi thị trường c n cạnh tranh hoàn hảo là không hạn chế. Không hề có những rào cản nào ngă ản
các hãng mới gia nhập thị trường và không có điề u gì ngăn c n các hãng đang tồn tại trên thị
trường rút lui khỏi thị trường.
Đường cầu củ a m t hãng cạnh tranh là mộ ũt đường nằm ngang c ng là đường doanh thu cận biên
của hãng. Trong ngắn hạn, nếu hãng lựa chọn sản xuất, lợi nhuận được tối đa hoá bằng việc sản
xuất mức sản l ng t ng bượ ại đó giá thị trườ ng chi phí c n biên P = MC, do đ i u ki n t ối đa hóa
lợi nhuận của một hãng bất kỳ là MR = MC.
Khi giá thị trường l n h ơn ATCmin, hãng sẽ lựa chọ n m c sản lượng t i ư u Q* th a mãn điều
kiện P0 = MC, hãng s dẽ thu được lợi nhuận kinh tế ương.
Khi giá thị trường b ng v ới ATCmin, hãng sẽ l ư đ a ch n mức sản lượng t i u Q* th a mãn i u
kiện P0 = MC, hãng sẽ hòa vốn. Điểm hòa vốn x u cảy ra tại điểm cực tiể ủa ATC. Khi giá thị
trường nằm giữa ATCminAVCmin, hãng sẽ l ư đa ch n m c sản lượng t i u Q* th a mãn iều
kiện P0 = MC, hãng s b l v ốn. Thua lỗ trong trường hợp này được tối thiểu hoá.
Khi giá thị trường P = AVCmin, nếu hãng sản xuất, hãng sẽ s n xu t tạ i m c s n lượng Q* và s
bị thua lỗ là toàn bộ đ ũ chi phí c định TFC. Nếu hãng óng c a sả n xu t, hãng c ng sẽ bị mất toàn
bộ chi phí cố định. Nếu giá thấp hơn AVCmin tại m đc sản lượng ó P = MC, thì nhà quản lý
nên đóng cửa hãng và không sản xu óng cất. Khi hãng đ ửa, hãng mất chi phí cố định của hãng
)( TFC
. Do hãng đóng c ng dửa khi giá giảm xuố ưới AVCmin nên điểm tối thiểu trên đường
AVC là giá đóng cửa của hãng.
Đường cung ngắ n h n củ a m t hãng ch p nh n giá là đường chi phí c n biên n m trên đường chi
phí biến đổi bình quân tối thiểu của hãng. Nếu mức giá thị trường thấp hơn AVCmin thì sản lượng
được cung cấ p là 0, không tuân theo luật cung. Đường cung trong ng n hạn của một ngành cạnh
tranh (hoặc c thu ủa thị trường cạnh tranh) có thể được bằng cách cộng theo chiều ngang tất cả
các đường cung của t a mất cả các hãng trong ngành. Cung ngắn h n c ột ngành cạnh tranh
thường dốc lên.
Đ điều kiện t i a hóa lợi nhuận trong dài h n: P = MR = LMC = SMC. Các hãng CTHH s hòa
vốn trong dài hạn.
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
164 ECO101_Bai5_v2.3014106226
BÀI TẬP THỰC HÀNH
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Phân tích và lấy một ví dụ minh họa về m t hãng cạ nh tranh hoàn h o và chỉ rõ cách th c
hãng này lựa chọn s n l n h ượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắ ạn.
2. Phân tích và lấy một ví dụ minh họa về m t hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách th c
hãng này lựa chọn s n l ượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong dài hạn.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích các đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo và hãng cạnh tranh hoàn hảo. Lấy
một ví dụ về mộ t thị trường cạ nh tranh hoàn h o trong th c tế.
2. Vì sao đường c u c o l ủa hãng cạnh tranh hoàn hả ại chính là đường doanh thu cận biên, và
cũng chính là đường doanh thu trung bình.
3. Tại sao các hãng cạnh tranh hoàn hảo lựa chọn mức sản l ng tượ ối ưu để t đi a hóa lợi nhuận
thỏa mãn điều ki ng bện giá thị trườ ằng chi phí cận biên.
4. Tại sao hãng cạnh tranh hoàn hảo lại không định được giá bán mà phải chấp nh n bán theo
giá thị trường?
5. Phân tích khả năng sinh lợi của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn và dài hạn.
6. Phân tích cách thức xác đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn.
7. Trong trường hợp nào hãng cạnh tranh hoàn hảo bị thua lỗ nhưng vẫn nên tiếp tục sản xuất?
Vì sao?
8. Chỉ rõ cách xây dựng đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo đối với ngành có chi phí
không đổi và ngành có chi phí tăng trong dài hạn.
CÂU HỎI ĐÚNG/SAI
1. Đối với hãng CTHH, khi giá hàng hóa trên thị đ trường tăng lên, hãng mu n t i a hóa l i
nhuận thì hãng nên tăng sản l ng bán ra. ượ
2. Đường cầu củ a hãng cạ nh tranh hoàn h o là đường n m ngang, song song với tr c hoành.
3. Đ iề u ki n để hãng c nh tranh hoàn h o s l ưa ch n mức s n lượng t i u để t đi a hóa lợi
nhuận là giá thị trường bằng chi phí cận biên.
4. Đối vớ i hãng cạ nh tranh hoàn h o, đường c u trùng v i đường doanh thu cận biên.
5. Trong ng n, nắn hạ ếu hãng cạnh tranh hoàn hảo b óng c n xuị thua lỗ thì nên đ ửa sả ất ngay.
6. Trong thị trường c n l ng sạnh tranh hoàn hảo, khi một hãng đơ ẻ gia tă ản lượng sẽ làm cho
cung trên thị trường t u tăng lên và giá của hàng hóa giảm xuống (giả định các yế ố khác
không đổi).
7. Chi phí chìm không tác độ đếng n việc l a ch i nhu ọn sản l ng tượ ối i ưu để tố đa hóa lợ n.
8. Trong ng nh tranh hoàn hắn hạn, hãng cạ ảo nên đóng c ng s n xu u lửa, ngừ ất nế ợi nhuận kinh
tế của hãng nhỏ hơn 0.

Preview text:

Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
BÀI 5: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO Nội dung
Trong bài này, người học sẽ được nghiên cứu 4 nội dung chính:
Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh
hoàn hảo (CTHH) các đặc trưng của thị
trường CTHH và của các hãng CTHH.
Phân tích các điều kiện lựa chọn mức
sản lượng tối ưu của hãng CTHH
trong ngắn hạn và dài hạn.
Xác định lợi nhuận của hãng CTHH
trong ngắn hạn và dài hạn.
Phân tích đường cung của hãng và của
ngành CTHH trong ngắn hạn và dài hạn. Mục tiêu Hướng dẫn học
Phân biệt được hãng CTHH, thị trường
Đọc giáo trình và tài liệu liên quan
hãng CTHH, và các đặc trưng của thị
trước lúc nghe giảng và thực hành. trường CTHH.
Sử dụng tốt các phương pháp và công
Chứng minh được điều kiện tối đa hóa
cụ trong toán học (bao gồm kiến thức
lợi nhuận của hãng CTHH.
đại số và hình học lớp 12) để phân
Xác định được khả năng sinh lợi của
tích và nghiên cứu bài học.
hãng CTHH, tìm điểm hòa vốn, điểm
Thực hành thường xuyên và liên tục đóng cửa sả ấ n xu t của hãng CTHH
các bài tập vận dụng để hiểu được lý
trong ngắn hạn và dài hạn.
thuyết và bài tập thực hành.
Xác định được đường cung của hãng
trong ngắn hạn và của ngành CTHH. Thời lượng học
8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận. ECO101_Bai5_v2.301416226 145
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Các nhà kinh tế cho rằng thị trường cạnh tranh hoàn hảo có khả năng mang lại lợi ích lớn nhất
cho cộng đồng, ngoại trừ các trường hợp đặc biệt (thường nhằm mang lại sự phát triển và công bằng xã hội, như kéo i
đ ện về miền núi chẳng hạn) bởi trong đó có rất nhiều người mua, người
bán và họ không đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm. Sản phẩm là đồng nhất, nguồn
tài nguyên có khả năng di động hoàn hảo và các tổ chức kinh tế có kiến thức tốt về điều kiện thị
trường. Do đó các nhân tố tham gia thị trường sẽ sản xuất và mua bán dự ả a trên giá c cân bằng
giữa tổng nguồn cung ứng và tổng nhu cầu. Thị trường từ đó có thể phục vụ tổng số lượng cao
nhất với chi phí thấp nhất; có thể tự đ
iều chỉnh, mang lại lợi ích công bằng giữa các ngành nghề và nhân t tham gia. ố
Vậy thị trường canh tranh hoàn hảo có thể thấy trong thực tế hay không? Lý thuyết này được áp
dụng thực tiễn qua việc xây dựng thị trường cạnh tranh tự do với sự can thiệp hợp lý của Chính
phủ. Chính phủ hướng tới sự hoàn hảo bằng cách tìm ra các biện pháp can thiệp phù hợp. Họ
cung cấp nguồn thông tin thị trường đầy ,
đủ đặt ra các chế tài để ngăn chặn sự phá hoại bất công,
hỗ trợ mang lại sự dịch chuyển cân bằng về tài nguyên giữa các khu vực, xác định các kế ạ ho ch
khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới,… nhằm liên tục nâng cấp thị trường và tránh những thiếu
sót mà thị trường này mang lại. Trong nội dung bài 5, chúng ta sẽ nghiên cứu về thị trường cạnh
tranh hoàn hảo (CTHH) để thấy được đặc trưng của thị trường này c ng nh ũ ư các quyết định của
các hãng CTHH cả trong ngắn hạn và dài hạn.
5.1. Đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
5.1.1. Khái niệm thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Khi nghe tới thuật ngữ cạnh tranh đặc biệt là cạnh tranh kinh tế, chúng ta sẽ có sự liên hệ
thực tế và cho rằng: cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các ch th ủ ể kinh tế (nhà sản
xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân) nhằm giành lấy những vị thế
trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình với các hình thức mà chúng ta có thể thấ ư
y nh : cạnh tranh về giá, cạnh tranh
phi giá cả như khuyến mại, quảng cáo, dịch vụ sau bán...
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể ả x y ra
giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ
với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
Nhưng thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà chúng ta sẽ nghiên cứu là thị trường trong đó
có nhiều người mua, nhiều người bán và không người mua, người bán nào có thể ảnh
hưởng đến giá cả thị trường.
Ví dụ: Thị trường các mặt hàng nông sản, phế liệu, video cho thuê, đĩa trắng,…
Mặc dù thuật ngữ “cạnh tranh” có xuất hiện nhưng cạnh tranh giữa các hãng trong thị
trường cạnh tranh hoàn hảo khác hẳn với khái niệm về cạnh tranh nói chung mà chúng ta
thường thấy. Vì họ không cạnh tranh thông qua giá và cũng không có ý định đánh bại
những đối thủ của mình thông qua doanh s .
ố Để có thể lý giải rõ về điều này chúng ta sẽ
đi vào nghiên cứu các đặc trưng của thị trường CTHH. Qua đó, chúng ta sẽ phân biệt rõ
được thị trường CTHH và hãng CTHH. 146 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
5.1.2. Đặc trưng của thị trường CTHH
Đặc trưng quan trọng nhất của thị trường cạnh tranh
hoàn hảo là mỗi một hãng trong một thị trường cạnh
tranh hoàn hảo đều cư xử ư
nh một người chấp nhận
giá. Các hãng cạnh tranh chấp nhận mức giá thị
trường của sản phẩm, mức giá được xác định bởi
điểm giao của đường cung và đường cầu đã cho.
Hành vi nhận giá này là dấu hiệu của một thị trường
Cuộc đua chưa thấy điểm dừng
cạnh tranh. Trong tất cả các cấu trúc thị trường khác –
độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm, các hãng có được sức mạnh đặt
giá ở một mức độ nào đó. Ba đặc trưng xác định cạnh tranh hoàn hảo:
Các hãng cạnh tranh hoàn hảo là những người chấp nhận giá bởi vì mỗi một hãng cá
biệt trên trên thị trường là quá nhỏ so với toàn bộ thị trường nên hãng không thể gây
ảnh hưởng đến giá thị trường của hàng hoá hay dịch vụ hãng sả ấ n xu t ra khi thay đổi
sản lượng của hãng. Tất nhiên, nếu tất cả các nhà sản xuất hành động cùng nhau,
những thay đổi về số lượng chắc chắn sẽ tác động đến giá thị trường. Nhưng nếu là
cạnh tranh hoàn hảo thì mỗi nhà sản xuất là quá nhỏ nên sự thay đổi của từng nhà sản
xuất sẽ đều không quan tr ng. ọ
Tất cả các hãng sản xuất một loại hàng hoá đồng nhất hay được tiêu chuẩn hoá hoàn
hảo. Sản phẩm của một hãng này trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo gi ng v ố ới
sản phẩm của mọi hãng khác. Điều kiện này đảm bảo rằng những người mua bàng
quan với hãng sản xuất ra sản phẩm họ mua. Những sự khác biệt sản phẩm, cho dù là
thực hay ảo, là không thể xảy ra trong cạnh tranh hoàn hảo.
Việc gia nhập và rút lui khỏi thị trường cạnh tranh Cạnh tranh hoàn hảo
hoàn hảo là không hạn chế. Không hề có những
Một cấu trúc thị trường tồn tại khi
rào cản nào ngăn cản các hãng mới gia nhập thị
(1) các hãng là người chấp nhận
trường và không có điều gì ngăn cản các hãng đang giá, (2) tất cả các hãng sản xuất
tồn tại trên thị trường rút lui khỏi thị trường.
một sản phẩm đồng nhất, và (3)
việc gia nhập và rút lui là không
Mặc dù có tồn tại thuật ngữ “tính cạnh tranh”, nhưng hạn chế.
các hãng cạnh tranh hoàn hảo không nhận thấy bất kỳ
sự cạnh tranh nào giữa họ; điều đó có nghĩa là không tồn tại sự cạnh tranh trực tiếp nào
giữa các hãng. Khái niệm cạnh tranh hoàn hảo về mặt lý thuyết hoàn toàn trái ngược với
khái niệm cạnh tranh nói chung được thừa nhận. Bởi vì các hãng trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo sản xuất các sản phẩm giống nhau và đứng trước một mức giá do thị
trường quyết định, nên các nhà quản lý của các hãng cạnh tranh hoàn hảo không có sự
khích lệ nào để “đánh bại những đối thủ của họ” bằng doanh số vì mỗi một hãng có thể
bán mọi thứ mà hãng muốn. Các hãng chấp nhận giá không thể cạ ằ nh tranh b ng bất kỳ
một loại chiến lược định giá nào.
Các thị trường không hoàn toàn đáp ứng đủ cả ba điều kiện đã được nêu ra với cạnh
tranh hoàn hảo lại thường gần giống với thị trường cạnh tranh hoàn hảo nên các hãng cư
xử như thể họ là những nhà cạnh tranh hoàn hảo. Những nhà quản lý trong lớp MBA cho
các viên chức cao cấp đã được tham khảo như đã giới thiệu trong phần mở đầu của bài
này không hoạt động trong những thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nhưng h ph ọ ải đối
mặt với một số lượng đủ lớn các hãng sản xuất hàng hoá gần như tương tự nhau trên ECO101_Bai5_v2.301416226 147
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
thị trường. Trong đó sự hạn chế gia nhập yếu ớt không lớn, và do vậy họ tự xem bản
thân như là những người chấp nhận giá. Mặc dù chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy trong
phần tiếp theo và trong chương tiếp theo, nhưng mức độ cạnh tranh các nhà quản lý phải
đối mặt được phản ánh trong hệ số co dãn của cầu của hãng. Các quyết định tối đa hoá
lợi nhuận được phát triển trong chương này được áp dụng ngay cả với các hãng không
hoàn toàn cạnh tranh hay cạnh tranh hoàn hảo.
5.2. Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo
Hãng CTHH không có sức mạnh thị trường, là người “chấp nhận giá”. Hãng không thể
bán với giá cao hơn mức giá trên thị trường và không có lý do để bán với mức giá thấp
hơn mức giá thị trường. Nếu hãng bán với giá cao hơn sẽ không ai mua sản phẩm của
hãng, vì sản phẩm của các hãng cũng giố ệ
ng h t và người tiêu dùng sẽ mua của hãng
khác. Khi hãng bán giá thấp hơn vì số lượng cung ứng của hãng là rất nhỏ so với cầu thị
trường. Hãng bán với giá thấp hơn sẽ bị thiệt, lợi nhuận giảm. Hãng phải hoạt động tại
mức giá được ấn định trên thị trường nhưng hãng có thể bán bất cứ mức sản lượng nào
mà hãng muốn ở mức giá thị trường. Do đó như chúng ta đã phân tích từ mối quan hệ
giữa giá và doanh thu biên. Đường cầu của hãng là đường cầu nằm ngang và trùng với
đường doanh thu biên và doanh thu bình quân như đồ thị.
Hình 5.1. Đường cầu của hãng CTHH và của thị trường CTHH
Mức giá được xác định ở đây là mức giá cân bằng của thị trường. Do hãng CTHH là
hãng chấp nhận giá thị trường. Ghi nhớ
Đường cầu của một hãng cạnh tranh chấp nhận giá là đường nằm ngang hay hoàn toàn co dãn ở mức
giá được xác định bởi điểm giao của các đường cung và đường cầu thị trường. Vì doanh thu cận biên
bằng với giá của một hãng cạnh tranh, nên đường cầu cũng đồng thời là đường doanh thu cận biên
(nghĩa là D = MR). Các hãng chấp nhận giá có thể bán mọi thứ họ muốn ở mức giá thị trường. Mỗi đơn
vị được bán thêm sẽ làm tăng tổng doanh thu thêm một lượng bằng với giá bán.
5.3. Xác định lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
5.3.1. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận
Qua việc phân tích nội dung bài 4, chúng ta có điều kiện chung cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp: MR = MC. Đối với hãng cạnh tranh hoàn hảo, như chúng ta đã phân tích
trong thị trường CTHH là hãng chấp nhận giá và sản lượng bán ra không ph thu ụ ộc vào
giá. Nên đối với hãng CTHH giá và doanh thu cận biên trùng nhau. Vì vậy, đối với hãng
cạnh tranh hoàn hảo thì điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng sẽ là: P = MC. 148 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo C, R MC Tốiđahóalỗ s3 B MR =AR=P A s2 s1 Tốiđahóalợinhuận O Q Q3 Q2 Q* Q1
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH
Qua việc phân tích tương tự trường hợp tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp. Đối
với hãng CTHH, không phải mọi mức sản lượng có P = MC, hãng CTHH đều tối đa hóa
lợi nhuận. Mà hãng tối đa hóa lợi nhuận tại điểm mà đường doanh thu biên cắt với chi
phí biên khi MC có độ dốc dương hay đang đi lên. Trên đồ thị chúng ta có thể thấy được
là điểm A. Ngoài cách chứng minh thông qua hình học chúng ta có thể minh chứng
thông qua khảo sát đồ thị hàm lợi nhuận. Chúng ta sẽ công nhận các kết quả nghiên cứu
trước của các nhà kinh tế về đường chi phí TC mà chúng ta vẫn vẽ. TC = aQ3 – bQ2 + cQ + d
Trong đó chúng ta hoàn toàn giải thích được về dấu của các tham số khi tiến hành khảo
sát hàm lợi nhuận hệ số a > 0 do hàm MC là hàm bậc hai có hình lòng chảo. Ngoài ra,
với hình dạng của đường MC, ta có MC đạt cực trị tại Q = 2b/(3a) do Q > 0, a > 0 nên
b > 0. Ngoài ra đường MC không cắt trục hoành điều này cho thấy phương trình MC = 0
là vô nghiệm và chúng ta xác định được dấu của c > 0 thông qua ∆’ = b2 – 3a.c < 0. Vậy
c > 3a/b. Hệ số d mang dấu dương thể hiện cho chi phí c
ố định trong doanh nghiệp. C MC= 3aQ2-2bQ+c 0 2b Q 3a
Hình 5.3. Đường chi phí cận biên
Qua việc xem xét dấu của các hệ số chúng ta có thể khảo sát hàm lợi nhuận và tìm ra
được điểm tối đa hóa lợi nhuận qua đồ thị sau: ECO101_Bai5_v2.301416226 149
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo C,R TR TC Q C,R π MC BA MR=P=AR π max 0 Q Q1 Q* Q2 πmin
Hình 5.4. Xác định lợi nhuận cực đại của hãng CTHH
Ngoài ra chúng ta có, lợi nhuận của hãng CTHH: = TR – TC = P.Q – TC
Điều kiện cần để tối đa hóa lợi nhuận (πmax): C T dd C M P 0 C M PP dQ dQ 2 C M C d M dd
Điều kiện đủ để tối đa hóa lợi nhuận là: 00 2 dQ dQ dQ
Qua những chứng minh trên, chúng ta khẳng định được rằng hãng CTHH chỉ tối đa hóa
lợi nhuận khi MC cắt P (P = MC) tại nhánh MC đang đi lên hay MC có độ dốc dương.
Về mặt ý nghĩa kinh tế không hãng nào với giá bán vẫn được ấn định, khi sả ấ n xu t chi
phí biên giảm đi mà lại dừng sản xuất. Vì MC giảm đi họ còn có thể tăng lợi nhuận trên
mỗi đơn vị sản xuất ra.
5.3.2. Khả năng sinh lợi của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
a. Xét giá thị trường P0 > ATCmin
Khi giá thị trường P0 > ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q*.
Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: * TR P Q S * 0OP EQ 0
Tổng chi phí của hãng là * TC A TC Q S * OABQ TR TC S S S 0 ** O 0 P A E B Q EP OABQ 0
Vậy lợi nhuận mà hãng thu được (khi giá thị trường P0 > ATCmin) là dương hay hãng
kinh doanh có lãi, tức là hãng có lợi nhuận kinh tế dương. 150 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo C MC Hãng có lãi ATC P E P=MR 0 LN AB TC 0 Q* Q
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P 0 > ATC min
b. Xét giá thị trường P0 = ATCmin
Khi giá thị trường P0 = ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q*.
Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: * TR P Q S * O 0 P EQ
Tổng chi phí của hãng là * TC ATC Q = T S R – T * C = 0. Lợi nhuận mà O 0 P EQ
hãng thu được bằng 0 hay hãng hòa vốn.
Điểm E là điểm hòa vốn với mức giá thị trường P0 = ATCmin PH/vốn = ATCmin. Mà
ATCmin khi ATC = MC. Vậy hãng hòa vốn khi mức giá thị trường P0 = ATCmin. C MC Hàng hóa vốn ATC P = MR C P0 Acmin 0 Q* Q
Hình 5.6. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P = ATC 0 min
c. Xét giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin
Khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin ta xác định được mức sản lượng trên thị
trường là Q*. Doanh thu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: TR = P × Q* = * S OP0EQ
Tổng chi phí của hãng là TC = ATC × Q* = S * OABQ < 0. = TR – TC = SS S **0 0ABEP OP EQ OABQ ECO101_Bai5_v2.301416226 151
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Vậy khi giá thị trường AVCmin < P0 < ATCmin thì hãng bị lỗ.
Khi bị lỗ hãng có tiếp tục sản xuất?
So sánh phần thua lỗ và chi phí cố định:
Chi phí biến đổi tại mức sản lượng Q*: * ** * TVC AV C Q NQ Q S OMNQ
Chi phí cố định: TFC TC TV C S ABNM
Nếu hãng sản xuất thì hãng l ế ỗ u 0N n S
g .ừng sản xuất hãng bị thua lỗ bằng chi phí ABEP cố địn.h là SS 0 ABNM ABEP
Do đó, hãng vẫn tiếp tục sản xuất để tối thiểu hóa lỗ. Doanh thu khi sản xuất tại mức sản lượng Q* bằng * S
bù đắp được cho toàn bộ chi phí biến đổi và một phần chi phí cố O 0 P EQ
định. Hãng sẽ tiếp tục sản xuất để mức lỗ là nhỏ nhất và hãng chỉ bị thua lỗ một phần chi
phí cố định. Trong trường hợp này, hãng tối đa hóa lợi nhuận hàm ý phải tối thiểu hóa thua lỗ. C MC AC Tốithiểu lỗ AB AVC E P=MR P0 M N 0 Q* Q
Hình 5.7. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường AVC min < P 0 < ATC min
d. Xét giá thị trường P ≤ AVCmin Giả sử gián thị .t rư D ờ i o n a g n h t 0 Phm A V
C u của hãng cạnh tranh hoàn hảo là: TR = P × Q ổ * n g= Tc S
hi. phí * của hãng là TC = ATC × Q* = * S O 0 P EQ OABQ < = 0 TR – TC = SS S **0 0ABEP OP EQ OABQ
Hãng bị lỗ phần diện tích S
0 . So sánh phần thua lỗ với chi phí cố định: ABEP
Chi phí biến đổi tại mức sản lượng Q*: * * * * TVC A VC Q EQ Q S OP EQ 0
Chi phí cố định: TFC TC TV C = ph S
ần thu0a lỗ nếu hãng tiếp tục sản xuất. ABEP
Do đó, hãng lỗ toàn bộ chi phí cố định. 152 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo C MC ATC A B AVC Lỗ toàn bộ FC P = MR P 0 E Điểm đóng cửa AVCmin 0 Q* Q
Hình 5.8. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P = AVC 0 min
Giả sử lúc này giá thị trường giảm xuống P0 < AVCmin thì hãng không chỉ lỗ toàn bộ chi
phí cố định mà còn mất một phần chi phí biến đổi. Chúng nta bắt đitầ hu ì từ 0m PA V C
hãng bắt đầu tính đến việc đóng cửa. Vì thế, E là điểm đóng cửa của hãng. Sở dĩ gọi E là
điểm đóng cửa vì nếu giá nhỏ hơn mức giá ở E hay P < AVCmin, khi đó hãng không chỉ
bị lỗ hết chi phí cố định mà một phần của chi phí biến đổi. C MC AC AB AVC P P=MR 0 E 0 Q* Q
Hình 5.9. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH khi giá thị trường P < AVC 0 min
Vậy hãng cạnh tranh không sản xuất nếu giá thấp hơn
chi phí biến đổi trung bình tối thiểu. Khi sản xuất, hãng Đóng cửa
tối đa hóa lợi nhuận bằng việc lựa chọn mức sản lượng ở
Điều kiện trong đó một hãng
sản xuất sản lượng bằng 0
đó giá bằng chi phí biên, ở mức sản lượng này, lợi nhuận
nhưng vẫn cần phải thanh
là số dương nếu giá cao hơn chi phí trung bình. Hãng có
toán những đầu vào cố định.
thể sản xuất và chỉ lỗ trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu
hãng dự kiến sẽ tiếp tục bị lỗ trong dài hạn thì nên rời bỏ kinh doanh.
Đóng cửa được dùng để chỉ quyết định ngắn hạn trong đó doanh nghiệp không sản xuất
gì cả trong một thời kỳ nhất định do điều kiện hiện tại của thị trường không thuận lợi.
Rời bỏ được dùng để chỉ quyết định dài hạn của doanh nghiệp về việc rút khỏi thị
trường. Quyết định ngắn hạn và dài hạn khác nhau vì hầu hết các doanh nghiệp không
thể tránh được chi phí cố định trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn họ lại làm được điều
đó. Nghĩa là doanh nghiệp tạm thời đóng cửa vẫn chịu chi phí cố định trong khi doanh
nghiệp rời bỏ thị trường có thể tiết kiệm được cả chi phí cố định và chi phí biến đổi. ECO101_Bai5_v2.301416226 153
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Các chi phí nghiên cứu và phát triển có ảnh hưởng đến giá dược phẩm?
Vào tháng 8 năm 1997, chính quyền Clinton tuyên bố rằng các công ty dược được yêu cầu
phải kiểm tra xem liệu những loại dược phẩm họ bán cho người lớn cũng an toàn và hiệu
quả với trẻ em và buộc phải ghi những liều chỉ định cho trẻ em trên nhãn. Người ta đã ước
tính được rằng những yêu cầu mới có thể làm tăng chi phí phát triển dược phẩm lên hơn
200 triệu đôla hàng năm. Một cựu quan chức của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
(FDA) trong một bài xã luận trên tờ
Wall Street, lưu ý rằng quy định này có thể làm đình lại
việc giới thiệu các loại dược phẩm mới và rằng “luật lệ của Chính phủ đặt ra những khoản
chi phí khổng lồ cho việc phát triển dược phẩm, những chi phí được chuyển qua cho người
tiêu dùng gánh chịu dưới những mức giá cao hơn.”a
Một nhà kinh tế nổi tiếng, trong một bức thư tiếp theo gửi cho
WSJ, đồng tình rằng những
yêu cầu nghiêm ngặt hơn sẽ làm tăng những chi phí nghiên cứu dự tính trên mỗi đơn vị
sản phẩm được giới thiệub. Tuy nhiên, ông không đồng ý rằng những chi phí phát triển
dược phẩm được gia tăng sẽ được chuyển qua cho người tiêu dùng gánh chịu dưới những
mức giá cao hơn. Ông chỉ ra, “Gần như tất cả các chi phí nghiên cứu và phát triển dược
phẩm đã phát sinh trước khi có sự chấp thuận của FDA và trước khi liều thuốc đầu tiên
từng được bán”. Những chi phí như vậy sẽ phải là những chi phí cố định hay chi phí chìm
và không ảnh hưởng đến các quyết định giá hay sản lượng của hãng. “Giá trị của một sản
phẩm tuỳ thuộc vào khả năng sản phẩm được chấp nhận trên thị trường và các chi phí sản
xuất ra một đơn vị sản lượng khác, nhưng không hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc liệu sản
phẩm đó được phát minh ra hoặc là sau một nỗ lực lâu dài và gian khổ hoặc là xảy ra một
cách tình cờ ngay trong lần thử đầu tiên”.
Theo bức thư, việc đặt giá sản phẩm là dựa trên các điều kiện tương lai dự kiến và không
phải dựa vào những điều kiện trong quá khứ, mặc dù những chi phí nghiên cứu dự tính có
thể ảnh hưởng đến ngân sách nghiên cứu và do đó ảnh hưởng đến số lượng sản phẩm mới
trong tương lai. Những chi phí đó sẽ không ảnh hưởng đến mức giá phải trả cho các sản
phẩm vừa mới được phát minh.
Câu trả lời này tăng thêm sự nhấn mạnh của chúng ta trong bài này là các chi phí chìm,
vừa phát sinh, và các chi phí cố định, những chi phí cần phải được thanh toán dù cho quyết
định nào được đưa ra, không cần được quan tâm đến trong các quyết định giá cả và sản
lượng. Tuy nhiên, còn có nhiều điều hơn trong câu chuyện này, những điều sẽ được chúng
tôi tiếp tục đề cập trong khung minh họa 11.2 sau khi chúng tôi giới thiệu lý thuyết về hãng trong dài hạn.
a Henry I.Miller, “FDA Loves Kids So Much, It’ll Make You Sick,
”The Wall Street Journal, Aug.18,1997.
bWilliam S.Comanor, “Higher Price Means Better Medicine,”
The Wall Street Journal, Sept.9,1997
5.3.3. Đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo cho biết hãng sẽ sản xuất bao nhiêu sản phẩm
ở mỗi mức giá. Xét một hãng cạnh tranh hoàn hảo quyết định mức sản lượng cung ứng
cho thị trường như thế nào? Vì hãng cạnh tranh là người chấp nhận giá nên MR = P. Tại
bất kỳ mức giá nào cho trước, sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn
hảo cũng được xác định bởi giao điểm của đường giá cả và đường chi phí cận biên.
Với mức giá P1: ta có P = MC tại A: sản lượng Q1. Với mức giá P2: ta có P = MC tại B:
sản lượng Q2. Điểm A và B phản ánh tùy thuộc vào mức giá trên thị trường là bao nhiêu 154 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
hãng sẽ sẵn sàng cung ứng tại mỗi mức giá. Điểm A, B hay các điểm nằm trên MC phản
ánh lượng hàng hóa mà hãng sẵn sàng cung ứng với từng mức giá. Tuy nhiên, hãng chỉ
sản xuất tại điểm hãng đóng cửa trở lên, tức giá tại mức giá P < AVC min thì sản lượng
tối đa hóa lợi nhuận = 0. Do đó, cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo xuất phát từ điểm
hãng đóng cửa. Vậy đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo là 1 phần đường MC tính
từ điểm đóng cửa trở lên. C MC P2 B D =MR 2 2 P1 A Điểmđóng cửa D1=MR1 0 Q1 Q2 Q
Hình 5.10. Đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo (đường MC) trong ngắn hạn
5.3.4. Đường cung của ngành cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
Ngay như khái niệm, chúng ta có thể thấy thị trường CTHH bao gồm rất nhiều hãng.
Lượng cung của thị trường là tổng lượng cung của tất cả doanh nghiệp tham gia thị
trường. Do đó, đường cung của thị trường là đường tổng hợp theo chiều ngang các
đường cung của tất cả các doanh nghiệp tham gia thị trường.
Giả sử ngành có hai hãng CTHH có hai đường cung của mỗi hãng tương ứng là MC1
và MC2 được thể hiện trên đồ thị. Tại mức giá P1 thì hãng 1 bắt đầu cung cấp sản phẩm
(Q0 = 0), còn hãng 2 chưa cung cấp sản phẩm. Do đó, tổng sản lượng trên thị trường tại
mức giá P1 là 0, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (0, P1).
Tại mức giá 5, hãng 1 cung ứng 2, hãng 2 cung ứng 0. Do đó, tổng sản lượng trên thị
trường tại mức giá 5 là 2, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (2,5). Tại mức giá 6,
hãng 1 cung ứng 3, hãng 2 cung ứng 1. Do đó, tổng sản lượng trên thị trường tại mức giá
6 là 4, đường cung thị trường xuất phát từ điểm (4,6). Tại mức giá 7, hãng 1 cung ứng
4 hãng hai cung ứng 2 vì vậy đường cung thị trường đi qua điểm (6,7). Trong mức giá từ
3 < P < 5 chỉ có hãng 1 cung ứng, vì vậy mà đường cung thị trường ở mức giá này là
đường cung của hãng 1. Khi mức giá lớn hơn 5, đường cung của thị trường sẽ thoải hơn
đường cung của hai hãng và lượng cung của thị trường tại mỗi mức giá bằng tổng lượng
cung của hai hãng. Nối các điểm tìm được ta có đường cung thị trường MCTT như trên đồ thị. ECO101_Bai5_v2.301416226 155
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo QTT = Q1 + Q2 P P P MC1 MC 2 8 MC 8 8 TT 7 7 7 6 6 6 5 5 5 4 4 4 3 3 3 2 2 2 1 1 1 0 1 2 3 4 5 6 0 1 2 3 4 5 0 1 2 3 Q Q Q
Hình 5.11. Đường cung của ngành cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn
5.4. Xác định lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
5.4.1. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của mình, do đó không
có chi phí cố định trong dài hạn. Tổng chi phí biến đổi giờ đây cũng chính là tổng chi
phí của hãng. Để lựa chọn mức sản lượng tối ưu để sản xuất, các hãng sẽ phải so sánh
giữa tổng doanh thu có được từ việc bán toàn bộ sản phẩm sản xuất ra và tổng chi phí để
sản xuất ra mức sản lượng đó tương tự như điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng trong
ngắn hạn. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn: P = MR = LMC
Trong dài hạn, hãng CTHH sẽ điều chỉnh quy mô sao cho: SMC = LMC = P
Nếu P > LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế dương.
Nếu P = LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Nếu P < LACmin hãng có lợi nhuận kinh tế âm, sẽ có động cơ rời bỏ ngành. P,C R, π LMC LAC P1=MR1 π>0 π<0 π=0 P2=MR2 P3=MR3 0 Q2 Q
Hình 5.12. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong dài hạn khi giá thị trường thay đổi 156 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Ngoài việc nghiên cứu điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng trong dài hạn, chúng ta sẽ
nghiên cứu khả năng sinh lời của hãng trong dài hạn. Trong dài hạn, doanh nghiệp có
khả năng thay đổi được tất cả các đầu vào, kể cả quy mô sản xuất. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo, ta luôn có giả định rằng các hãng có thể tự do gia nhập hoặc rời bỏ
ngành. Vì vậy, hãng có thể là người bắt đầu sản xuất (gia nhập ngành) hoặc đóng cửa
sản xuất (rút khỏi ngành). P,C R, π LMC AC LAC A E P πNH P=MR C πDH B C’ F MC 0 Q2 Q Q 4 Q 3 Q 1
Hình 5.13. Tối đa hóa lợi nhuận của hãng CTHH trong ngắn hạn và dài hạn
Trong ngắn hạn hãng lựa chọn sản lượng Q1 tại điểm A: P = MC. Tại Q1 có: TR = P × Q1 = S 1 và TC = AC × Q S OPAQ 1 = 1 OCBQ πNH = TR – TC = SS 11 max = SPABC OPAQ OCBQ = SPABC NH
Trong dài hạn hãng lựa chọn mức sản lượng Q3, tại E có: P = LMC
TR = P × Q3 = Svà 3TC = AC × Q S OPEQ 1 = C’ × Q3 = 3 OC FQ πDH = TR – TC = S – 3 OPEQ 3 SOC=F QSPEFC’ DH max = SPEFC’.
Vì SPABC < SPEFC’ Lợi nhuận trong dài hạn lớn hơn trong ngắn hạn.
Do thời gian trong dài hạn đủ để 2 đầu vào biến đổi nên hãng dễ lựa chọn quy mô sản
xuất, vì vậy hãng CTHH trong dài hạn có ưu thế hơn trong ngắn hạn.
5.4.2. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành
Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành là trạng thái mà các hãng không chỉ tối đa được
lợi nhuận của mình mà ở đó còn không có sự gia nhập hay rút lui khỏi thị trường của các
hãng (lợi nhuận kinh tế của hãng phải bằng 0).
Giả sử ban đầu thị trường cân bằng tại E1 với mức giá thị trường là P1, xác định được
đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là D1. Ở mức giá P1, doanh nghiệp cạnh tranh
hoàn hảo thu được lợi nhuận kinh tế cao. Điều này sẽ kích thích các hãng mới gia nhập
ngành này. Khi đó cung thị trường tăng làm cho giá giảm.
Khi giá giảm các hãng sẽ điều chỉnh quy mô của mình để có thể đạt được lợi nhuận tối
đa (sản lượng bán giảm đi, theo luật cung do đường cung của hãng là LMC từ điểm đóng cửa đi lên). ECO101_Bai5_v2.301416226 157
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Khi các hãng tiếp tục gia nhập ngành nhiều, các hãng sẽ tiếp tục điều chỉnh sản lượng
của mình đến khi hãng tối đa hóa lợi nhuận với toàn bộ lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Quá trình gia nhập của hãng sẽ dừng ở đường cung S’ và trạng thái cân bằng mới được
thiết lập tại mức giá P2. Vì tại mức giá P2 đã đạt được 2 điều kiện của trạng thái cân bằng dài hạn là:
Hãng tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn: P = LMC.
Hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0: P = LACmin. Thịtrường CTHH Hãng CTHH P P SS’ LMC AC LAC E1 P1 P1 E D1=MR 1 2 π>0 P2 P2 D2=MR2 E MC D Q Q 0 Q* Q 1* Q 2
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành
Như vậy, trong trạng thái cân bằng dài hạn của ngành lợi nhuận kinh tế của hãng trong
dài hạn và ngắn hạn đều bằng 0 và chúng ta hoàn toàn chứng minh được tại trạng thái
cân bằng dài hạn P = LMC = LACmin = MC = ATCmin. Đây chính là điều kiện quan
trọng để xem xét ngành có đạt cân bằng dài hạn hay không.
Những nhà sản xuất chip châu Á (một lần nữa) đương đầu với khó khăn?
Bạn đang tìm kiếm một cách đầu tư vào một nền kinh tế mới, công nghệ cao? Với chỉ vài tỷ
đôla, bạn có thể mua một nhà máy chế tạo hiện đại để sản xuất các con chip bán dẫn. Bạn
có thể là người đầu tiên trong ngành của bạn sở hữu một “xưởng đúc” – một nhà sản xuất
chất bán dẫn tạo ra các con chip để bán cho các bên thứ ba. Nếu bạn quyết định thực hiện
một hoạt động đầu tư như vậy, thì bạn cần phải quyết định liệu sẽ sản xuất các con chip bộ
nhớ chung (các con chip lưu giữ các chương trình và dữ liệu) hay các con chip logic chuyên
biệt (các con chip “tư duy” trong các sản phẩm tiêu dùng khác nhau). Với một trong hai loại
con chip bán dẫn, việc đầu tư vào một xưởng sản xuất có vẻ như là một điều chắc chắn với
bạn. Xét cho cùng, cầu về các con chip sẽ tăng mạnh trong những năm tới và, với 2 tỷ đôla
để tham gia kinh doanh, dù sao liệu sẽ có thể có bao nhiêu sự ganh đua? Nhìn bề ngoài có
vẻ là nhiều, nhưng hoá ra lại là vậy.
Một bài báo gần đây trên tờ
Business Week mô tả các nhà sản xuất chip châu Á đã bắt đầu
sắm sửa lu bù, đổ hàng tỷ đôla vào những nhà máy chế tạo mới chỉ trong năm ngoái. “Lần
cuối cùng các nhà sản xuất chip châu Á chi tiêu quá nhiều là vào giữa những năm 90. Kết
quả thật bi thảm: năng suất dư thừa quá mức, một sự sụt giảm mạnh trong hàng xuất khẩu,
và phá sản tài chính của các hãng mới gia nhập vay nợ nhiều.” Thật may, đó khó có thể là
loại tin tức bạn đang tìm kiếm, vì vậy bạn quyết định gọi cho nhà tư vấn đầu tư của bạn để
xem bà ta nghĩ gì về việc đầu tư vào một xưởng sản xuất chip. Bà ta bảo bạn không phải lo 158 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
lắng; sự sụt giảm thảm hại về giá của chất bán dẫn đưa trở lại những ngày “xưa cũ” khi mọi
người đều sản xuất các con chip bộ nhớ. Với việc không có cách nào phân biệt được những
con chip bộ nhớ DRAM chung, các nhà sản xuất chip châu Á đã bán một hàng hoá công
nghệ cao trên một thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Bà ta bảo bạn, “Các nhà sản xuất chip
châu Á cũng có thể đang bán bột nước cam hay dạ dày bò. Với một sản phẩm đồng nhất và
không có rào cản gia nhập, các xưởng sản xuất châu Á đang trở thành một ví dụ (giáo khoa)
nữa về những nhà cạnh tranh hoàn hảo những người tạo ra thua lỗ kinh tế trong quá trình
chẳng thu được chút lợi nhuận nào trong trạng thái cân bằng dài hạn.”
Có lẽ vào khoảng thời gian này mọi thứ sẽ khác. Theo tờ
Business Week , “Hiện giờ, phần lớn
việc chi tiêu là cho các con chip logic được sử dụng trong các điện thoại không dây, bộ thu
phát tín hiệu, và vô số các thiết bị số khác, những thiết bị có nhu cầu rất cao khi việc sử
dụng Internet bùng nổ.” Quả thật, các xưởng sản xuất những con chip chuyên biệt đã chứng
kiến sự tăng mạnh mẽ trong các khoản lợi nhuận. Một số nhà sản xuất chip vừa từ bỏ sản
xuất các con chip bộ nhớ để chuyển sang những con chip logic chuyên biệt hiện mang lại
nhiều lợi nhuận hơn. “Hiện chúng ta gần như phá sản với sản phẩm bộ nhớ,” Tổng giám đốc
điều hành (CEO) của Chartered Semiconductor, một nhà sản xuất con chip lớn do Chính phủ
kiểm soát ở Singapore nói.
Mặc dù nhà tư vấn đầu tư của bạn dường như sẵn sàng cho việc đầu tư tiền của bạn vào
một nhà máy sản xuất chip ở châu Á nhưng, bạn đang bắt đầu lo ngại sau khi đọc bài báo
trên tờ Business Week . Bạn biết rằng các khoản lợi nhuận cao với các con chip logic sẽ tiếp
tục thu hút nhiều hơn các nhà sản xuất mới. Căn cứ vào số lượng các nhà máy mới đang
được xây dựng, các mức giá thành một tỷ đôla của các nhà máy chế tạo rõ ràng là ít hay
không có rào cản gia nhập. Mặc dù các con chip logic dễ dàng phân biệt hơn so với các con
chip bộ nhớ thông thường thế nhưng bạn lo lắng việc các nhà thiết kế thiết kế các sản phẩm
tiêu dùng ở Lucent Technologies, Motorola, Micron, và tập đoàn Broadcom có thể tìm kiếm
những phương thức sử dụng các con chip logic chung, “có sẵn” thay vì các con chip đặt làm
theo yêu cầu. Rốt cuộc, có lẽ các con chip logic có thể trở thành các hàng hoá giống như đã
từng xảy ra với các con chip bộ nhớ. Bạn cũng nhận thấy rằng, khi không có các rào cản gia
nhập, thậm chí sự phân biệt sản phẩm cũng không thể bảo vệ các khoản lợi nhuận nếu có
đủ số hãng gia nhập thị trường sản xuất chip logic. (Bạn nhận thấy tình huống này giống với
một kiểu trạng thái cân bằng dài hạn xảy ra dưới cạnh tranh độc quyền, chúng ta sẽ xem
xét điều này trong bài tiếp theo).
Như bài báo cảnh báo, “Vẫn có một nguy cơ là trong nỗi tuyệt vọng theo đuổi những ngách
thị trường đem lại nhiều lợi nhuận của thập kỷ tới của họ (tức là, các con chip logic đặt làm),
các nhà chế tạo châu Á sẽ lặp lại những sai lầm của những năm 90. Quá nhiều nhà sản xuất
có thể phải chen chúc nhau trong ngành kinh doanh chế tạo và các con chip đa phương tiện,
các mức giá hời cho mọi người. “Vì vậy, sau khi mọi thứ được xem xét thì, dường như việc
đầu tư vào một nhà máy chế tạo hiện đại thực sự là rủi ro. Thật tồi tệ khi bạn đã hy vọng
việc đầu tư vào nền kinh tế mới sẽ cho phép bạn bỏ qua “kinh tế học già cỗi” của các thị
trường cạnh tranh. Có lẽ nền Kinh tế mới rốt cuộc cũng không “mới” đến như vậy.
Nguồn: Bruce Einhorn, Moon Ihlwan, Michael Shari, và Sebastian Moffett, “Fat City for Asia’s
Chipmakers,” BusinessWeek, 20 tháng Ba 2000, trang 131–134.
5.4.3. Đường cung của ngành cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn
Trong dài hạn, cung của ngành không được xác định bằng cách cộng theo chiều ngang
đường cung của các hãng trong ngành. Hình dáng đường cung dài hạn của ngành phụ
thuộc vào ngành có chi phí không đổi hay chi phí tăng:
a. Ngành có chi phí không đổi
Khi có các hãng mới gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành không làm thay đổi giá của yếu tố
đầu vào điều đó làm cho chi phí dài hạn không đổi. ECO101_Bai5_v2.301416226 159
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Giả sử thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở trạng thái cân bằng với mức giá P1 = LACmin.
Giả sử do cầu tăng lên làm dịch chuyển đường cầu sang phải từ D1 đến D2, làm cho giá
sản phẩm tăng từ P1 đến P2. Điều này làm cho các hãng trong ngành đều thu được lợi
nhuận kinh tế dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào thị trường, cung
tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S 1 sang S2, làm cho giá sản phẩm giảm
xuống cho đến khi trở về mức giá ban đầu P1. Thị trường chuyển từ điểm cân bằng E1
sang điểm cân bằng mới E3. Làm các hãng trong ngành chỉ thu được lợi nhuận kinh tế
bằng = 0 và thị trường cân bằng trở lại. Vì vậy đường cung dài hạn của ngành có chi phí
không đổi là một đường nằm ngang ở mức giá bằng chi phí bình quân dài hạn tối thiểu.
Đường cung trong dài hạn SL của ngành đi qua hai điểm E1 và E3. Thịtrường CTHH Hãng CTHH P P S1S2 LMC LAC E2 P2 P2 D1=MR1 E E 1 3SL P1 P1 D2=MR2 E D1 D2 Q Q
Hình 5.15. Đường cung dài hạn của ngành cạnh tranh hoàn hảo có chi phí không đổi
Ví dụ như ngành sản xuất băng đĩa của nước ta. Với giá bán là 6000 đồng/đĩa trắng chất
lượng tốt, 4000 đồng/đĩa trắng bình thường. Việc các hãng tham gia vào sản xuất băng
đĩa không ảnh hưởng tới giá đầu vào. Vì mức giá đầu vào đĩa trắng được cố định, nó rất
nhiều. Đầu vào về máy tính để sao và ghi đĩa cũng không bị tăng lên khi các hãng gia
nhập vào ngành. Mỗi hãng sẽ đầu tư số lượng chiếc máy và sản xuất ra số lượng đĩa như
nhau. Vì thế chi phí bình quân trên một đĩa là không thay đổi. Ở Việt Nam các đĩa sao
thường bán với giá 8000 đồng/đĩa. b. Ngành có chi phí tăng
Khi các hãng mới tham gia vào ngành làm tăng giá của các yếu tố đầu vào làm chi phí
dài hạn tăng lên. Ví dụ, ngành sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ khi có nhiều hãng tham
gia sẽ phát sinh việc sử dụng lao động có tay nghề. Vì vậy, sẽ làm giá thuê lao động có
tay nghề tăng lên khi có nhiều hãng tham gia vào sản xuất mặt hàng này.
Giả sử ban đầu thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở trạng thái cân bằng tại E1 với mức giá
P1 = LAC1min. Do cầu tăng lên làm dịch chuyển đường cầu sang phải từ D1 đến D2, làm
cho giá sản phẩm tăng từ P1 đến P2. Điều này làm cho các hãng trong ngành đều thu
được lợi nhuận kinh tế dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào thị
trường, cung tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S1 sang S2. Tuy nhiên, khi các
hãng mới vào và mở rộng sản lượng, cầu đầu vào tăng làm tăng giá của một số hoặc tất
cả các đầu vào. Đường chi phí trung bình dài hạn tăng từ LAC1 lên LAC2.
Điểm cân bằng mới trên thị trường là E3 với giá cân bằng dài hạn mới P3 = LAC2 min.
Mức giá này cao hơn mức giá cân bằng ban đầu. Do đó, cân bằng dài hạn E3 nằm trên 160 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
đường cung dài hạn của ngành. Trong ngành chi phí tăng, đường cung dài hạn của ngành
là đường dốc lên. Ngành sản xuất ra sản lượng cao hơn nhưng phải ở giá cao hơn để bù
đắp chi phí đầu vào tăng. Thịtrường CTHH Hãng CTHH P P S1 S 2 LAC2 E P LAC1 2 P 2 2 S E L D 3 2 P E1 3 P3 D P 3 1 P D1 1 LMC1 LMC2 D D2 1 Q Q
Hình 5.16. Đường cung dài hạn của ngành cạnh tranh hoàn hảo có chi phí tăng c. Ngành có chi phí giảm
Khi các hãng mới tham gia vào ngành làm cho ngành có thể khai thác được lợi thế theo
quy mô của hãng cung ứng đầu vào hoặc ứng dụng công nghệ mới, dẫn đến giảm giá của
các yếu tố đầu vào làm chi phí dài hạn giảm xuống.
Ví dụ: Có nhiều hãng tham gia vào việc cung cấp nước sạch ở nông thôn (có sự liên kết
với nhau) chi phí về lắp đặt hệ thống ống nước tới từng nhà của ngành sẽ giảm đi. Vì
mỗi hãng vào vẫn sử dụng hệ thống đó, không thể mỗi hãng một đường ống. Vì vậy chi phí của ngành giảm đi.
Giả sử ban đầu thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở trạng thái cân bằng tại E1 với mức giá
P1 = LAC1min. Giả sử do cầu tăng lên làm dịch chuyển đường cầu sang phải từ D1 đến
D2, làm cho giá sản phẩm tăng từ P1 đến P2. Điều này làm cho các hãng trong ngành đều
thu được lợi nhuận kinh tế dương. Do vậy, thu hút thêm các hãng mới tham gia vào thị
trường, cung tăng. Đường cung dịch chuyển sang phải từ S1 sang S2. Khi ngành trở nên
lớn hơn thì có thể tranh thủ được lợi thế quy mô lớn để mua được một số đầu vào rẻ hơn.
Do đó, đường chi phí trung bình dài hạn của các hãng dịch chuyển xuống dưới và giá thị
trường của sản phẩm giảm. Giá thị trường thấp hơn và chi phí sản xuất thấp hơn tạo ra
cân bằng dài hạn mới với nhiều hãng hơn, sản lượng lớn hơn và giá thấp hơn. Vì vậy,
trong ngành chi phí giảm, đường cung dài hạn của ngành là đường dốc xuống. ECO101_Bai5_v2.301416226 161
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Thịtrường CTHH Hãng CTHH P P S1S2 LAC1 E2 D2 P2 P2 LAC2 P E1 1 P1 D1 E3 P3 P3 D S 3 L D1 D2 Q Q
Hình 5.17. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giảm 162 ECO101_Bai5_v2.3014106226
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Các hãng cạnh tranh hoàn hảo là những người chấp nhận giá. Tất cả các hãng sản xuất một loại
hàng hoá đồng nhất hay được tiêu chuẩn hoá hoàn hảo. Sản phẩm của một hãng này trong một
thị trường cạnh tranh hoàn hảo giống với sản phẩm của mọi hãng khác. Việc gia nhập và rút lui
khỏi thị trường cạnh tranh hoàn hảo là không hạn chế. Không hề có những rào cản nào ngăn cản
các hãng mới gia nhập thị trường và không có điều gì ngăn cản các hãng đang tồn tại trên thị
trường rút lui khỏi thị trường.
Đường cầu của một hãng cạnh tranh là một đường nằm ngang cũng là đường doanh thu cận biên
của hãng. Trong ngắn hạn, nếu hãng lựa chọn sản xuất, lợi nhuận được tối đa hoá bằng việc sản
xuất mức sản lượng tại đó giá thị trường bằng chi phí cận biên P = MC, do điều kiện tối đa hóa
lợi nhuận của một hãng bất kỳ là MR = MC.
Khi giá thị trường lớn hơn ATCmin, hãng sẽ lựa chọn mức sản lượng tối ưu Q* thỏa mãn điều
kiện P0 = MC, hãng sẽ thu được lợi nhuận kinh tế dương.
Khi giá thị trường bằng với ATCmin, hãng sẽ lựa chọn mức sản lượng tối ưu Q* thỏa mãn điều
kiện P0 = MC, hãng sẽ hòa vốn. Điểm hòa vốn xảy ra tại điểm cực tiểu của ATC. Khi giá thị
trường nằm giữa ATCmin và AVCmin, hãng sẽ lựa chọn mức sản lượng tối ưu Q* thỏa mãn điều
kiện P0 = MC, hãng sẽ bị lỗ vốn. Thua lỗ trong trường hợp này được tối thiểu hoá.
Khi giá thị trường P = AVCmin, nếu hãng sản xuất, hãng sẽ sản xuất tại mức sản lượng Q* và sẽ
bị thua lỗ là toàn bộ chi phí cố định TFC. Nếu hãng đóng cửa sản xuất, hãng cũng sẽ bị mất toàn
bộ chi phí cố định. Nếu giá thấp hơn AVCmin tại mức sản lượng ở đó P = MC, thì nhà quản lý
nên đóng cửa hãng và không sản xuất. Khi hãng đóng cửa, hãng mất chi phí cố định của hãng ( TFC
) . Do hãng đóng cửa khi giá giảm xuống dưới AVCmin nên điểm tối thiểu trên đường
AVC là giá đóng cửa của hãng.
Đường cung ngắn hạn của một hãng chấp nhận giá là đường chi phí cận biên nằm trên đường chi
phí biến đổi bình quân tối thiểu của hãng. Nếu mức giá thị trường thấp hơn AVCmin thì sản lượng
được cung cấp là 0, không tuân theo luật cung. Đường cung trong ngắn hạn của một ngành cạnh
tranh (hoặc của thị trường cạnh tranh) có thể thu được bằng cách cộng theo chiều ngang tất cả
các đường cung của tất cả các hãng trong ngành. Cung ngắn hạn của một ngành cạnh tranh thường dốc lên.
Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn: P = MR = LMC = SMC. Các hãng CTHH sẽ hòa vốn trong dài hạn. ECO101_Bai5_v2.301416226 163
Bài 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo BÀI TẬP THỰC HÀNH CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Phân tích và lấy một ví dụ minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức
hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong ngắn hạn.
2. Phân tích và lấy một ví dụ minh họa về một hãng cạnh tranh hoàn hảo và chỉ rõ cách thức
hãng này lựa chọn sản lượng và lợi nhuận khi giá thị trường thay đổi trong dài hạn. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích các đặc trưng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo và hãng cạnh tranh hoàn hảo. Lấy
một ví dụ về một thị trường cạnh tranh hoàn hảo trong thực tế.
2. Vì sao đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo lại chính là đường doanh thu cận biên, và
cũng chính là đường doanh thu trung bình.
3. Tại sao các hãng cạnh tranh hoàn hảo lựa chọn mức sản lượng tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận
thỏa mãn điều kiện giá thị trường bằng chi phí cận biên.
4. Tại sao hãng cạnh tranh hoàn hảo lại không định được giá bán mà phải chấp nhận bán theo giá thị trường?
5. Phân tích khả năng sinh lợi của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn và dài hạn.
6. Phân tích cách thức xác đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn.
7. Trong trường hợp nào hãng cạnh tranh hoàn hảo bị thua lỗ nhưng vẫn nên tiếp tục sản xuất? Vì sao?
8. Chỉ rõ cách xây dựng đường cung của hãng cạnh tranh hoàn hảo đối với ngành có chi phí
không đổi và ngành có chi phí tăng trong dài hạn. CÂU HỎI ĐÚNG/SAI
1. Đối với hãng CTHH, khi giá hàng hóa trên thị trường tăng lên, hãng muốn tối đa hóa lợi
nhuận thì hãng nên tăng sản lượng bán ra.
2. Đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo là đường nằm ngang, song song với trục hoành.
3. Điều kiện để hãng cạnh tranh hoàn hảo sẽ lựa chọn mức sản lượng tối ưu để tối đa hóa lợi
nhuận là giá thị trường bằng chi phí cận biên.
4. Đối với hãng cạnh tranh hoàn hảo, đường cầu trùng với đường doanh thu cận biên.
5. Trong ngắn hạn, nếu hãng cạnh tranh hoàn hảo bị thua lỗ thì nên đóng cửa sản xuất ngay.
6. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, khi một hãng đơn lẻ gia tăng sản lượng sẽ làm cho
cung trên thị trường tăng lên và giá của hàng hóa giảm xuống (giả định các yếu tố khác không đổi).
7. Chi phí chìm không tác động đến việc lựa chọn sản lượng tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận.
8. Trong ngắn hạn, hãng cạnh tranh hoàn hảo nên đóng cửa, ngừng sản xuất nếu lợi nhuận kinh
tế của hãng nhỏ hơn 0. 164 ECO101_Bai5_v2.3014106226