



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG CÔNG TY VINASOY
MẶT HÀNG SỮA FAMI NĂM 2022 VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KÍCH CẦU HỌC PHẦN:
KINH TẾ VI MÔ LỚP:
241_MIEC0111_02 NHÓM: 07
GIẢNG VIÊN: LƯƠNG NGUYỆT ÁNH HÀ NỘI – 2024 DANH SÁCH THÀNH VIÊN 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................... 5 A.
CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................................. 6 1.
Cung và cầu về hàng hoá dịch vụ.........................................................................
1.1 Khái niệm và định luật về cung và cầu............................................................6
1.2 Đồ thị cung và cầu.............................................................................................6
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu............................................................8 2.
Độ co dãn của cung và cầu..................................................................................12
2.1 Độ co dãn của cầu............................................................................................12
2.2 Độ co dãn của cung..........................................................................................15 3.
Thị trường............................................................................................................16
3.1 Khái niệm và phân loại....................................................................................17
3.2 Cơ chế hoạt động của thị trường....................................................................18 4.
Sự can thiệp của chính phủ vào thị trường.......................................................19
4.1 Công cụ giá.......................................................................................................19
4.2 Công cụ thuế....................................................................................................23
4.3 Công cụ khác....................................................................................................26 B.
CƠ SỞ THỰC TIỄN...........................................................................................28 1.
Thông tin chung về sữa đậu nành Fami và thị trường sữa đậu nành năm
2022.............................................................................................................................. 28
1.1 Thông tin chung về sữa đậu nành Fami.........................................................28
1.2 Thị trường sữa đậu nành................................................................................30 2.
Phân tích cung cầu của sữa đậu nành Fami năm 2022.....................................30
2.1 Cung sữa đậu nành Fami................................................................................30
2.2 Cầu sữa đậu nành Fami..................................................................................33 3.
Phân tích giá cả sữa đậu nành Fami trên thị trường năm 2022.......................36 3
3.1. Chính sách giá của Vinasoy cho sữa đậu nành Fami....................................36
3.2 So sánh giá sữa đậu nành Fami với các thương hiệu khác...........................36
3.3 Sự biến động giá trên thị trường và các yếu tố ảnh hưởng...........................37
3.4 Phân tích ảnh hưởng của giá cả đến hành vi tiêu dùng................................37
3.5 Tác động của chi phí sản xuất và chiến lược giá đến lợi nhuận...................38 4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu và biến động về giá cả Fami năm 2022
và đánh giá...................................................................................................................38
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu:......................................................................39
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung......................................................................43 5.
Đề xuất biện pháp kích cầu.................................................................................48
KẾT LUẬN.....................................................................................................................52
DANH MỤC THAM KHẢO.........................................................................................53 4 LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, nghiên cứu cách thức mà các tác
nhân trong nền kinh tế đưa ra quyết định lựa chọn tối ưu trong điều kiện nguồn lực khan
hiếm trong một nền kinh tế thị trường. Kinh tế học vi mô là một môn khoa học được
nhiều người lựa chọn để học tập và nghiên cứu.
Hoạt động kinh tế là hoạt động thường xuyên của con người. Nó bao gồm hoạt
động kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, hoạt động mua bán tài sản tài chính, hoạt động
tín dụng (đi vay, cho vay),... Các hoạt động kinh tế thường nhằm mục đích tạo ra sản
phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của con người nên chúng đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống, xã hội của con người. Nghiên cứu kinh tế học giúp cho con
người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng
chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng. Kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ
nền kinh tế và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh
nghiệp, hộ tiêu dùng, người lao động và Chính phủ. Môn học này giúp chúng ta có được
lời giải đáp về cách thức các doanh nghiệp làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận, các hộ
tiêu dùng làm thế nào để tối đa hóa lợi ích, người lao động làm thế nào để tối đa hóa tiền công.
Đặc biệt khi nghiên cứu Chương II sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về: "Quan hệ cung
cầu". Các vấn đề cơ bản về cung cầu như khái niệm, quy luật, các nhân tố ảnh hưởng đến
cung cầu sẽ được xem xét để thấy rõ cơ chế hình thành giá cả trong nền kinh tế thị trường
và sự điều chỉnh của thị trường. Ngoài ra, chương này còn giúp ta xem xét các chính sách
can thiệp của chính phủ và phân tích tác động của các chính sách đó tới thị trường như
chính sách giá trần, giá sàn và chính sách thuế, chính sách thương mại. Để có thể đưa ra
những quyết sách đúng đắn và sáng tạo hơn cho hoạt động kinh doanh của mình.
Để hiểu rõ lý thuyết cũng như áp dụng thực tế, nhóm chúng em đã nghiên cứu về
một mặt hàng tiêu dùng của một hãng độc quyền ở khía cạnh cung cầu và giá cả thị
trường trong một khoảng thời gian nhất định. Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm kích cầu
phát triển thị trường sản phẩm này trong thời gian tới. 5 A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Cung và cầu về hàng hoá dịch vụ
1.1 Khái niệm và định luật về cung và cầu
a. Khái niệm và định luật về cầu
Khái niệm: Cầu (D) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua muốn mua
và sẵn sàng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi.
Lượng cầu (QD): là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người mua muốn
mua và sẵn sàng mua tại mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.
Nội dung luật cầu: Số lượng hàng hóa được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng
lên khi giá của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi.
=> Cầu của hàng hóa hoặc dịch vụ có mối liên hệ ngược chiều với giá cả của chúng: P↓↑ → QD↑↓
=> Nguyên nhân: ảnh hưởng do thu nhập và ảnh hưởng thay thế.
b. Khái niệm và định luật về cung
Khái niệm: Cung (S) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán muốn bán
và sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các nhân tố khác không đổi.
Lượng cung (QS) là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người bán muốn bán
và sẵn sàng bán tại mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.
Nội dung luật cung: số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian nhất
định tăng lên khi giá của nó tăng lên và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi. =>
Cung của hàng hóa hoặc dịch vụ có mối liên hệ cùng chiều với giá cả của chúng: P↑↓→ QS↑↓
1.2 Đồ thị cung và cầu
a. Phương trình và đồ thị đường cầu
Giả định các yếu tố khác không đổi chỉ có mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, ta
có thể xây dựng hàm cầu tuyến tính dạng đơn giản: 6 Qx = f(P ) x
Dạng hàm cầu tuyến tính cơ bản:
QD = a - b.P (a > 0, b ≥ 0) (Hàm cầu thuận)
Hoặc: PD = (a/b) - (1/b).Q (Hàm cầu ngược)
Đường cầu: Là đường biểu diễn các mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Các điểm
nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở các mức giá nhất định.
Đồ thị của đường cầu là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc âm thể hiện mối
quan hệ tỉ lệ nghịch giữa giá và lượng cầu.
Độ dốc của đường cầu = - tan = △PQ = -1b = P’Q = 1Q'(P)
b. Phương trình và đồ thị đường cung
Giả định các yếu tố khác không đổi chỉ có mối quan hệ giữa giá cả và lượng cung,
ta có thể xây dựng hàm cầu tuyến tính dạng đơn giản: Qx = f(P ) x
Dạng hàm cung tuyến tính:
QS = c + d.P (d > 0) (Hàm cung thuận)
Hoặc: PS = -(c/d) + (1/d).Q (Hàm cung ngược) 7
Đồ thị đường cung: là đường gồm tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ
giữa giá cả và khối lượng hàng hoá hoặc dịch vụ cung ứng trong khi các yếu tố khá giữ nguyên.
Đồ thị đường cung
Đường cung là đường dốc lên về phía phải, có độ dốc dương thể hiện mối quan hệ
tỉ lệ thuận giữa giá và lượng cung.
Độ dốc đường cung = tan = △PQ = 1d = P’Q = 1Q'(P)
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu
a. Các yếu tố tác động đến cầu 8 Cầu thay đổi:
Cầu tăng: Lượng cầu tăng lên tại mọi mức giá.
Cầu giảm: Lượng cầu giảm xuống tại mọi mức giá.
Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu:
Một là, thu nhập của người tiêu dùng (M): thu nhập là một trong những yếu tố
quan trọng nhất quyết định mua gì và bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết
định khả năng mua của người tiêu dùng. Đối với hàng hoá thông thường, khi thu nhập
tăng khiến cho người tiêu dùng có cầu cao hơn, nên cầu sẽ tăng và ngược lại. Trong hàng
hoá thông thường, lại có hàng hoá thiết yếu và hàng hoá xa xỉ. Hàng hoá thiết yếu là các
loại hàng hoá được cầu nhiều hơn khi thu nhập tăng lên nhưng sự tăng cầu là tương đối
nhỏ hoặc xấp xỉ như sự tăng của thu nhập. Đối với hàng hoá thứ cấp, khi thu nhập tăng
khiến người tiêu dùng có cầu ít đi, nên cầu sẽ giảm và ngược lại. Hàng hoá thứ cấp là
những hàng hóa mà khi thu nhập của người tiêu dùng tăng thì cầu đối với hàng hóa này bị
giảm nếu chuyển sang tiêu dùng các loại hàng hóa khác cao cấp hơn (vd: ngô, khoai,
sắn,...). Tùy theo mức thu nhập khác nhau thì người tiêu dùng có cầu với hàng hóa thông
thường hoặc thứ cấp là khác nhau.
Hai là, giá cả của hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng (PR): gồm hàng hoá thay
thế hoặc hàng hoá bổ sung (ga, bếp ga,...). Hàng hóa thay thế là những hàng hóa có khả
năng thỏa mãn nhu cầu tương đương cho người tiêu dùng (chè và cà phê,...). Nếu các yếu
tố khác là không đổi, cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) đi khi giá của
hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng). Hàng hóa bổ sung là những hàng hóa mà bắt buộc
phải dùng kèm với nhau trong tiêu dùng mới phát huy công dụng của nó (ga, bếp ga, …).
Nêu các yếu tố khác không đổi, cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi
giá của hàng hóa bổ sung của nó tăng (giảm).
Ba là, số lượng người tiêu dùng (N): thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu
càng tăng và ngược lại.
Bốn là, các chính sách kinh tế của Chính phủ: đánh thuế vào người tiêu dùng thì
cầu sẽ giảm, chính phủ trợ cấp người tiêu dùng thì cầu sẽ tăng.
Năm là, kỳ vọng về giá cả (Pe) và kỳ vọng về thu nhập: nếu người tiêu dùng kỳ
vọng giá cả sẽ tăng trong tương lai, cầu ở hiện tại sẽ có thể tăng lên và ngược lại. Ví dụ 9
khi sắp đến tết thì giá cả quần áo sẽ tăng, nên người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua quần
áo vào trước đó một tháng, nên cầu tại thời gian trước tết một tháng đó sẽ tăng. Bên cạnh
đó, nếu người tiêu dùng kỳ vọng thu nhập của họ giảm trong tương lai, cậu ở hiện tại sẽ
giảm xuống và ngược lại.
Sáu là, thị hiếu, phong tục, tập quán, mốt, quảng cáo,...: khi các biến khác không
đổi, thị hiếu của người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ tăng sẽ làm cầu tăng và sở
thích của người tiêu dùng giảm sẽ dẫn đến cầu giảm.
Các nhân tố khác: thiên tai, khí hậu, môi trường tự nhiên,...: ví dụ vào khoảng thời
gian dịch covid-19 diễn ra, cầu về khẩu trang tăng cao.
=> Hàm cầu tổng quát: Qx = f(Px, PR, M, T, N, A,...)
b. Các yếu tố tác động đến cung Cung thay đổi:
Cung tăng: Lượng cung tăng lên tại mọi mức giá
Cung giảm: Lượng cung giảm xuống tại mọi mức giá
Các yếu tố làm dịch chuyển đường cung: Một là, tiến
bộ về công nghệ (T): công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng năng suất và do
đó nhiều hàng hóa hơn được sản xuất ra nên tiến bộ công nghệ tăng thì cung tăng và ngược lại. 10 Hai là, giá
của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (PI): nếu giá của các yếu
tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận sẽ lớn và do đó, doanh nghiệp sẽ
muốn cung nhiều hàng hoá hơn và ngược lại. Ví dụ khi giá bột mì tăng lên, các nhà sản
xuất bánh mì sẽ cung ít bánh mì hơn ở mỗi mức giá.
Ba là, số lượng nhà sản xuất trong ngành (F): càng nhiều người sản xuất thì lượng
hàng hóa càng nhiều nên cung tăng và ngược lại.
Bốn là, giá của hàng hóa có liên quan trong sản xuất (PR): gồm có hàng hoá thay
thế và hàng hoá bổ sung. Hàng hóa thay thế trong sản xuất là các hàng hóa mà cùng một
dây chuyền công nghệ nếu không sản xuất X có thể dùng để sản xuất Y (vd: trồng trọt xen
canh). Khi giá hàng hóa X tăng => tăng sản xuất X => giảm sản xuất Y. Hàng hóa bổ sung
trong sản xuất là những hàng hóa và cùng một dây chuyền công nghệ đã sản xuất được A
sẽ ra được hàng hóa B đi kèm theo nó (vd: giá phi lê cá hồi tăng thì cung về dầu cá tăng). Năm là, các
chính sách kinh tế của chính phủ: như chính sách thuế, trợ cấp,... Thuế
là chi phí nên khi chính phủ giảm thuế, miễn thuế hoặc trợ cấp có thể khuyến khích sản
xuất làm tăng cung và ngược lại. Sáu là, lãi
suất (i): lãi suất tăng, đầu tư có xu hướng giảm xuống, cung sẽ giảm, ngược lại.
Bảy là, kỳ vọng về giá cả trong tương lai (Pe): cũng như người tiêu dùng, các nhà
sản xuất cũng đưa ra quyết định cung cấp của mình dựa vào các kỳ vọng. Ví dụ: Nếu một
công ty kỳ vọng rằng giá dầu sẽ tăng mạnh trong tương lai, họ có thể quyết định giữ lại
một phần sản lượng dầu hiện tại thay vì bán ngay bây giờ với giá hiện tại nên cung hiện tại sẽ giảm.
Các yếu tố khác: thiên tai, khí hậu, môi trường kinh doanh,...
=> Hàm cung tổng quát: QS = g (P, PI, PR, T, Pe, F)
Hàm tuyến tính tổng quát có dạng: QS = h + kP + lPI + mPR + nT + rPe + sF
c. Sự di chuyển trên đường cầu và dịch chuyển đường cầu (cung):
Di chuyển (trượt dọc) trên đường cầu (cung): sự thay đổi vị trí các điểm khác nhau
trên cùng một đường cầu (cung). Do giá của bản thân hàng hoá đang xét thay đổi. 11
Dịch chuyển đường cầu (cung): đường cầu (cung) thay đổi sang vị trí mới (sang
phải hoặc trái). Do sự thay đổi trong bất cứ yếu tố nào khác ngoài giá của chính hàng hoá đang xét.
Đồ thị đường cầu
Đồ thị đường cung
2. Độ co dãn của cung và cầu
Trong thị trường kinh tế, khái niệm về độ co dãn của cung và cầu giữ vai trò quan
trọng để phân tích và dự báo các phản ứng của người tiêu dùng và nhà cung cấp trước
những biến động của giá cả. Hiểu biết về độ co dãn không chỉ hỗ trợ việc tối ưu hóa lợi
nhuận mà còn giúp điều chỉnh các chính sách kinh tế một cách hợp lý. Để hiểu rõ hơn,
chúng ta sẽ khám phá độ co dãn của cầu trước khi chuyển sang độ co dãn của cung, từ đó
có được cái nhìn tổng thể về mối quan hệ cung - cầu trong nền kinh tế.
Khái niệm về độ co giãn của cung và cầu là nền tảng quan trọng trong kinh tế học,
vì nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách phản ứng của thị trường khi có sự thay đổi về giá
cả, thu nhập hoặc các yếu tố liên quan. Khi nói đến độ co giãn, chúng ta không chỉ muốn
biết về sự thay đổi của lượng cung hoặc lượng cầu, mà còn quan tâm đến mức độ nhạy
cảm của chúng đối với các thay đổi đó. Các chỉ số về độ co giãn của cung và cầu bao
gồm: độ co giãn của cầu theo giá, độ co giãn của cầu theo thu nhập, độ co giãn của cầu
chéo, và độ co giãn của cung theo giá.
2.1 Độ co dãn của cầu 12
Độ co giãn của cầu thể hiện mức độ nhạy cảm của lượng cầu đối với các yếu tố
khác nhau, bao gồm giá cả, thu nhập của người tiêu dùng, và giá của các sản phẩm có liên
quan. Điều này có nghĩa là khi một trong các yếu tố thay đổi, lượng cầu sẽ thay đổi như
thế nào. Độ co giãn của cầu gồm ba loại chính: độ co giãn của cầu theo giá, theo thu nhập
và theo giá của hàng hóa thay thế hoặc bổ sung. Độ co dãn của cầu phản ánh mức độ nhạy
cảm của lượng cầu đối với sự thay đổi của giá cả. Khái niệm này được thể hiện thông qua công thức: Ed=%ΔQd %ΔP Trong đó:
Ed: Độ co giãn của cầu theo giá
%ΔQ d: Phần trăm thay đổi của lượng cầu
%ΔP :Phần trăm thay đổi của giá
Công thức trên cho thấy rằng, khi giá của một sản phẩm tăng hay giảm, lượng cầu
sẽ thay đổi với một tỷ lệ tương ứng. Chẳng hạn, nếu giá vé máy bay tăng 15% và lượng
hành khách giảm 10%, độ co dãn của cầu là Ed , cho thấy đây là sản phẩm có độ co dãn
tương đối thấp. Điều này thường thấy ở các mặt hàng cần thiết hoặc khi không có sản
phẩm thay thế tương đương.
Như vậy, độ co dãn của cầu không chỉ phụ thuộc vào mức độ cần thiết của sản
phẩm mà còn vào các yếu tố như sự hiện diện của sản phẩm thay thế và thu nhập của
người tiêu dùng. Độ co dãn của cầu cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến cách mà người tiêu
dùng điều chỉnh nhu cầu khi giá cả biến động.
a. Độ co giãn của cầu theo giá (Price Elasticity of Demand)
Là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Đây là mức độ thay đổi của lượng cầu
khi giá của chính sản phẩm thay đổi. Công thức tính độ co giãn này là tỷ lệ phần trăm
thay đổi của lượng cầu chia cho tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá. Nếu Ed lớn hơn 1, thì
cầu của sản phẩm là co giãn, nghĩa là người tiêu dùng rất nhạy cảm với sự thay đổi của
giá. Ngược lại, nếu Ed nhỏ hơn 1, thì cầu của sản phẩm là không co giãn. 13
Ví dụ, giả sử giá của một chiếc điện thoại thông minh giảm từ 20 triệu xuống 18
triệu đồng. Trước đó, 10.000 chiếc điện thoại được bán mỗi tháng, nhưng sau khi giá
giảm, số lượng bán tăng lên thành 12.000 chiếc. Độ co giãn của cầu trong trường hợp này
là -2, cho thấy người tiêu dùng rất nhạy cảm với sự thay đổi về giá của điện thoại thông
minh, và họ sẵn sàng mua thêm khi giá giảm. Điều này có ý nghĩa thực tế quan trọng, vì
nó giúp các nhà sản xuất quyết định giá bán hợp lý để tối đa hóa doanh thu hoặc đạt được
mục tiêu doanh số bán hàng.
Một ví dụ khác nữa giả sử một hãng hàng không quyết định giảm giá vé từ 5 triệu
xuống 4 triệu đồng cho các chuyến bay nội địa. Trước đó, trung bình có 10.000 hành
khách mua vé mỗi tháng, nhưng sau khi giảm giá, số lượng hành khách tăng lên thành
15.000. Độ co giãn của cầu theo giá trong trường hợp này là -2.5, cho thấy người tiêu
dùng rất nhạy cảm với sự thay đổi giá vé máy bay. Vì vậy, khi hãng hàng không giảm giá,
lượng hành khách tăng đáng kể, và điều này giúp họ tăng doanh thu từ các chuyến bay nội địa.
b. Độ co giãn của cầu theo thu nhập (Income Elasticity of Demand)
Là chỉ số đo lường sự thay đổi của lượng cầu khi thu nhập của người tiêu dùng
thay đổi. Công thức tính cũng tương tự, là tỷ lệ phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho
tỷ lệ phần trăm thay đổi của thu nhập.Các hàng hóa có độ co giãn lớn hơn 1 được gọi là
hàng hóa xa xỉ, tức là khi thu nhập tăng, người tiêu dùng sẽ chi tiêu nhiều hơn cho loại
hàng hóa này. Ngược lại, các hàng hóa có độ co giãn nhỏ hơn 1 thường là hàng hóa thiết yếu.
Ví dụ, nếu thu nhập trung bình của người tiêu dùng tăng từ 10 triệu lên 12 triệu
đồng và lượng cầu cho ô tô hạng sang tăng từ 100 lên 150 chiếc, ta tính được độ co giãn
của cầu theo thu nhập là 2.5. Điều này cho thấy ô tô hạng sang là một hàng hóa xa xỉ, vì
khi thu nhập tăng, người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho loại hàng hóa này.
Ví dụ, khi thu nhập trung bình của người tiêu dùng trong một thành phố tăng từ 10
triệu đồng lên 12 triệu đồng, lượng cầu cho các bữa ăn tại nhà hàng sang trọng tăng từ
5.000 suất lên 6.500 suất mỗi tháng. Độ co giãn của cầu theo thu nhập cho các bữa ăn tại
nhà hàng sang trọng trong trường hợp này là 1.5. Điều này cho thấy rằng khi thu nhập của
người tiêu dùng tăng, họ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho những dịch vụ cao cấp như
ăn uống tại các nhà hàng sang trọng. 14
Trong một ví dụ khác, khi thu nhập của một gia đình giảm từ 15 triệu xuống 12
triệu đồng mỗi tháng, lượng cầu cho các bữa ăn tại các cửa hàng thức ăn nhanh tăng từ
500 suất lên 700 suất. Độ co giãn theo thu nhập trong trường hợp này là -1.25. Điều này
chứng tỏ thức ăn nhanh có xu hướng được xem như là hàng hóa thứ cấp (inferior good)
đối với một số gia đình, tức là khi thu nhập giảm, họ sẽ tiêu dùng nhiều hơn loại hàng hóa
này thay vì các lựa chọn đắt đỏ hơn.
c. Độ co giãn của cầu chéo (Cross-Price Elasticity of Demand)
Biểu thị mối quan hệ giữa lượng cầu của một sản phẩm khi giá của một sản phẩm
khác thay đổi. Công thức tính tương tự như trên, là tỷ lệ phần trăm thay đổi của lượng cầu
sản phẩm này chia cho tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá sản phẩm kia. Nếu hai sản phẩm
có độ co giãn chéo dương, chúng là sản phẩm thay thế; nếu là âm, chúng là sản phẩm bổ sung.
Ví dụ, nếu giá trà tăng từ 20.000 đồng lên 25.000 đồng và lượng cầu cà phê tăng từ
8.000 lên 10.000 ly mỗi ngày, độ co giãn của cầu chéo giữa trà và cà phê là 1. Điều này
cho thấy trà và cà phê có mối quan hệ thay thế nhau, khi giá trà tăng, người tiêu dùng có
xu hướng chuyển sang sử dụng cà phê.
Ví dụ, nếu giá vé xem phim tăng từ 80.000 đồng lên 100.000 đồng, lượng cầu cho
dịch vụ thuê phim trực tuyến tăng từ 2.000 lượt thuê lên 3.000 lượt thuê. Độ co giãn của
cầu chéo giữa vé xem phim và dịch vụ thuê phim trực tuyến là 2. Điều này cho thấy vé
xem phim và dịch vụ thuê phim trực tuyến là hai sản phẩm thay thế: khi giá vé xem phim
tăng, người tiêu dùng chọn cách thay thế là thuê phim trực tuyến để xem tại nhà.
Trong một ví dụ khác, giả sử giá của xăng tăng từ 20.000 lên 25.000 đồng/lít, và
điều này dẫn đến lượng cầu đối với xe điện tăng từ 1.000 xe lên 1.300 xe trong cùng một
khoảng thời gian. Độ co giãn của cầu chéo giữa xăng và xe điện trong trường hợp này là
1.5, cho thấy xăng và xe điện có mối quan hệ thay thế khá rõ ràng. Khi giá xăng tăng,
người tiêu dùng có xu hướng tìm các phương tiện thay thế ít phụ thuộc vào xăng, ví dụ như xe điện.
2.2 Độ co dãn của cung
Độ co giãn của cung thể hiện mức độ nhạy cảm của lượng cung đối với sự thay đổi
của giá sản phẩm. Đây là chỉ số cho thấy lượng cung sẽ thay đổi bao nhiêu khi giá của sản 15
phẩm đó thay đổi. Công thức tính độ co giãn của cung theo giá là tỷ lệ phần trăm thay đổi
của lượng cung chia cho tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá. Nếu độ co giãn của cung lớn
hơn 1, cung của sản phẩm đó là co giãn; nếu nhỏ hơn 1, cung là không co giãn. Ví dụ, nếu
giá của gạo tăng từ 10.000 đồng lên 12.000 đồng và lượng cung tăng từ 500 lên 600 kg, ta
tính được độ co giãn của cung theo giá là 1. Kết quả này cho thấy cung của gạo có độ co
giãn đơn vị, nghĩa là lượng cung thay đổi tỷ lệ thuận với tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá.
Đối với các nhà sản xuất, việc hiểu độ co giãn của cung là rất quan trọng, vì nó giúp họ
dự báo và điều chỉnh sản lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường một cách hiệu quả.
Trong khi cầu thể hiện sự phản ứng của người tiêu dùng, độ co dãn của cung cho
thấy phản ứng của nhà sản xuất. Độ co dãn của cung, tương tự như độ co dãn của cầu, có
thể được đo lường bằng công thức: Es=%ΔQs %ΔP Trong đó:
Es : Độ co dãn của cung theo giá
%ΔQ s: Phần trăm thay đổi của lượng cung
%ΔP : Phần trăm thay đổi của giá
Giả sử giá thịt bò tăng 20%, và các nhà sản xuất có thể tăng sản lượng cung ứng
thêm 10%. Khi đó, Es , điều này có nghĩa là cung co dãn thấp, do sản xuất thịt bò phụ
thuộc nhiều vào thời gian và nguồn lực. Đây là một ví dụ rõ nét về cách mà các yếu tố
như thời gian sản xuất, công nghệ và khả năng lưu trữ có thể ảnh hưởng đến độ co dãn của cung.
Một ví dụ khác, nếu giá cà chua tăng từ 15.000 đồng lên 20.000 đồng/kg, các nông
dân có thể nhanh chóng phản ứng bằng cách tăng lượng cung từ 1.000 lên 1.500 kg mỗi
tuần. Độ co giãn của cung trong trường hợp này là 2, cho thấy cung của cà chua rất co
giãn. Điều này xảy ra vì cà chua là một loại cây ngắn ngày, có thể dễ dàng điều chỉnh sản
lượng trong mùa vụ. Ngược lại, với những sản phẩm lâu năm như cây cà phê, việc tăng
sản lượng khi giá tăng là khó khăn hơn vì cây cà phê cần nhiều thời gian để phát triển. Do
đó, cà phê thường có độ co giãn thấp hơn và sản lượng không thay đổi nhanh chóng khi giá biến động. 16 3. Thị trường
Thị trường là một khái niệm rộng và phức tạp, là nơi diễn ra các hoạt động mua
bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua. Thị trường có thể tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau, từ các chợ truyền thống, siêu thị, đến các nền tảng trực
tuyến. Nó đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Thị trường
không chỉ giúp các doanh nghiệp và người tiêu dùng trao đổi hàng hóa và dịch vụ mà còn
là nơi phản ánh sự tương tác giữa cung và cầu, từ đó hình thành giá cả và khối lượng hàng
hóa được giao dịch. Hiểu rõ về khái niệm và cơ chế hoạt động của thị trường sẽ giúp
chúng ta nắm bắt được cách mà nền kinh tế vận hành và điều chỉnh khi các yếu tố trong thị trường thay đổi.
3.1 Khái niệm và phân loại
Về mặt lý thuyết, thị trường có thể được định nghĩa là không gian, nơi mà người
mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tài sản. Thị trường không
giới hạn trong bất kỳ một không gian cụ thể nào mà có thể tồn tại cả ở dạng vật lý lẫn phi
vật lý. Tùy theo các tiêu chí khác nhau, thị trường được phân loại thành các nhóm chính
để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cách thức mà nó vận hành.
Thị trường có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo loại hàng hóa
và dịch vụ, ta có thể phân loại thành thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ. Thị trường
hàng hóa bao gồm các mặt hàng tiêu dùng như thực phẩm, quần áo, đồ điện tử, trong khi
thị trường dịch vụ bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, du lịch, và giải trí.
Thị trường hàng hóa tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện
của nhiều chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện lợi. Theo cấu trúc cạnh tranh, thị trường có thể
được chia thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, và thị trường cạnh
tranh không hoàn hảo. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là nơi có nhiều người bán và người
mua, hàng hóa đồng nhất và không ai có quyền kiểm soát giá cả. Các nông dân sản xuất
gạo, hoa quả, và rau củ thường không có quyền lực trong việc đặt giá, mà chỉ có thể bán
sản phẩm của mình ở mức giá thị trường. Đây là ví dụ điển hình của thị trường cạnh tranh
hoàn hảo. Thị trường độc quyền là nơi chỉ có một người bán duy nhất, người này có
quyền kiểm soát hoàn toàn giá cả và số lượng hàng hóa. Thị trường độc quyền có thể thấy
rõ trong ngành dịch vụ cung cấp điện ở nhiều quốc gia. Thông thường, mỗi quốc gia chỉ
có một công ty cung cấp dịch vụ điện lực cho người dân, như Tập đoàn Điện lực Việt
Nam (EVN). Với cấu trúc này, công ty độc quyền có quyền kiểm soát giá cả và số lượng 17
hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp ra thị trường Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là
nơi có một số lượng hạn chế người bán, hàng hóa có sự khác biệt rõ ràng, như thị trường
ô tô hay thời trang cao cấp.
Như vậy, việc hiểu biết sâu sắc về độ co dãn của cung không chỉ hỗ trợ nhà sản
xuất trong việc lập kế hoạch sản xuất mà còn giúp chính phủ và các nhà hoạch định chính
sách dự đoán được tác động của những biến động giá cả trong nền kinh tế. Khi đã nắm bắt
được đặc điểm của cung và cầu, chúng ta sẽ tiếp tục khám phá khái niệm về thị trường –
nơi cung và cầu gặp gỡ, để từ đó hình thành nên giá cả và sản lượng trao đổi.
3.2 Cơ chế hoạt động của thị trường
Mỗi thị trường đều có những quy luật riêng và hoạt động dựa trên cơ chế cung –
cầu. Khi cung và cầu tương tác, chúng sẽ xác định mức giá và lượng hàng hóa được giao
dịch. Thông thường, thị trường sẽ đạt đến trạng thái cân bằng, nơi mà lượng cung bằng
với lượng cầu và mức giá phản ánh đúng giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Trạng thái cân
bằng này tạo ra sự ổn định trong thị trường, đồng thời cũng đảm bảo rằng người tiêu dùng
có thể tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ theo mức giá hợp lý, trong khi các nhà sản
xuất có được lợi nhuận mong muốn.
Thị trường hoạt động dựa trên cơ chế tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng
giữa cung và cầu. Trạng thái cân bằng xảy ra khi lượng cung bằng với lượng cầu, tức là số
lượng hàng hóa mà người bán sẵn sàng cung cấp bằng với số lượng hàng hóa mà người
mua sẵn sàng mua. Ví dụ, nếu một cửa hàng cà phê đặt giá 20.000 đồng cho một ly cà phê
và lượng khách hàng sẵn sàng mua tương đương với số ly mà cửa hàng có thể cung cấp,
thì giá cả và lượng giao dịch sẽ ở trạng thái ổn định tại mức giá này. Trong thực tế, thị
trường cũng có thể gặp phải trạng thái thừa cung hoặc thừa cầu. Thừa cung xảy ra khi
lượng cung vượt quá lượng cầu, dẫn đến sự giảm giá để khuyến khích tiêu dùng. Ví dụ,
trong mùa thu hoạch trái cây, lượng trái cây trên thị trường tăng mạnh, dẫn đến tình trạng
dư thừa và giá giảm để kích cầu. Ngược lại, thừa cầu xảy ra khi lượng cầu vượt quá lượng
cung, khiến giá tăng lên. Điều này thường xảy ra trong các dịp lễ tết, khi nhu cầu về một
số mặt hàng như thực phẩm hoặc hoa tươi tăng mạnh, nhưng lượng cung không đủ đáp
ứng. Ví dụ, vào dịp Tết Nguyên Đán, nhu cầu mua hoa tăng cao, nhưng lượng hoa có sẵn
không đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến giá cả của hoa tăng đột biến. Sự hiểu biết về các trạng
thái này giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý dự báo và đưa ra các chiến lược phù hợp
nhằm tối đa hóa lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu thị trường. 18
Một ví dụ khác về thừa cầu có thể thấy trong ngành hàng không vào các dịp lễ Tết.
Khi nhu cầu di chuyển tăng cao, nhưng số lượng chuyến bay hạn chế, các hãng hàng
không thường không đủ chỗ để phục vụ tất cả hành khách. Kết quả là giá vé máy bay tăng
cao trong mùa cao điểm, nhằm điều tiết lượng cầu và tối ưu hóa lợi nhuận. Những ai
muốn mua vé phải chấp nhận mức giá cao hơn so với bình thường, hoặc tìm các phương tiện di chuyển thay thế.
Qua quá trình tự điều chỉnh này, thị trường có khả năng trở lại trạng thái cân bằng,
nơi cả người mua và người bán đều hài lòng với mức giá và lượng hàng hóa trao đổi. Đây
chính là cơ chế tự điều tiết của thị trường, giúp duy trì sự ổn định trong dài hạn. Hiểu rõ
cách thức mà thị trường hoạt động không chỉ là yếu tố quan trọng đối với các doanh
nghiệp và nhà hoạch định chính sách, mà còn là nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền
vững, khi các quyết định kinh tế được đưa ra dựa trên những phân tích chính xác về cung, cầu và giá cả.
4. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trường 4.1 Công cụ giá
a. Giá trần ( hay giá tối đa - Pmax):
Giá trần (Price ceiling) là mức giá tối đa được phép bán ra của một hàng hóa theo
luật định, không được bán giá cao hơn giá trần.
Ý nghĩa của công cụ giá này là khi thiết lập mức giá trần, mục tiêu của nhà nước là
kiểm soát giá để bảo vệ người tiêu dùng, giúp cho những người có thu nhập thấp vẫn có
khả năng tiếp cận được các hàng hóa quan trọng.
Chính sách giá trần thường được áp dụng trên một số thị trường như thị trường nhà
ở, thị trường đất đai,...
Khi chính phủ quy định giá trần, có thể xảy ra 2 trường hợp đó là: Giá trần thấp
hơn giá cân bằng (Pmax Po). 19 Trong đó: S: Sản lượng cung D: Sản lượng cầu
Po và Qo: Là điểm cân bằng trên thị trường
Khi giá trần thấp hơn giá cân bằng (Pmax < Po): Quy định giá trần có hiệu lực (đồ thị 2.15a)
Đồ thị 2.15a mô tả những ảnh hưởng của chính sách giá trần hay giá tối đa, Po và
Qo là điểm cân bằng trên thị trường tự do. Nếu chính phủ quy định rằng giá không thể cao
hơn giá trần cho phép là Pmax (thấp hơn giá cân bằng Po), các nhà sản xuất không thể
cung ứng nhiều như trước, lượng cung giảm xuống còn và ngược lại những người mua lại
muốn mua một lượng lớn hơn là Q2. Kết quả là lượng cầu vượt lượng cung, thị trường
thiếu hụt một lượng hàng là (Q2 - Q1). Sự khan hiếm đôi khi thể hiện qua hình thức xếp
hàng hoặc hình thức định lượng, tem phiếu.
Một số người được lợi và một số bị thiệt từ biện pháp can thiệp này. Người sản
xuất chịu thiệt, nhận được mức giá thấp hơn trước và một số phải ngừng sản xuất. Một số
người tiêu dùng được lợi vì được mua hàng với giá thấp, một số khác không mua được
hàng sẽ thiệt thòi vì phải mua hàng ở một thị trường không hợp pháp - thị trường chợ đen
- với mức giá Po cao hơn mức giá Po trong điều kiện thị trường tự do. Chúng ta sẽ có
phương pháp để đo lường cái được và cái mất do chính sách này đem lại trong chương V.
Nếu giá trần cao hơn giá cân bằng (Pmax > Po): quy định giá trần không có hiệu lực, giá
thị trường không thay đổi, vẫn là Po, thể hiện trên đồ thị 2.15b.
b. Giá sàn (hay giá tối thiểu - Pmin):
Giá sàn là mức giá tối thiểu được phép bán ra của một hàng hoá, theo luật định,
không được bán thấp hơn giá sàn.
Khi chính phủ quy định giá sàn, có thể xảy ra 2 trường hợp: Giá sàn cao hơn giá
cân bằng và giá sàn thấp hơn giá cân bằng.
Khi nhà nước cho rằng mức giá cân bằng trên thị trường là thấp, nhà nước có thể
quy định một mức giá sàn với tính cách là một mức giá tối thiểu mà các bên giao dịch
phải tuân thủ - cao hơn. 20