



Preview text:
lOMoAR cPSD| 61464806
Vấn đề Các thành tố văn hóa Việt Nam:
Câu 1: Phân tích khái niệm, mục đích ý nghĩa và cấu trúc của lễ hội.
Lễ hội ở Việt Nam là sự kiện văn hóa thể hiện bản sắc dân tộc mang tính cộng
đồng. Với rất nhiều những ý nghĩa khác nhau nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người
với thần linh, phản ánh những ước mơ, khát vọng chính đáng của con người trước những
mong muốn cuộc sống đủ đầy, ấm no và hạnh phúc. Đồng thời cũng là nơi sinh hoạt tôn
giáo, văn hóa - nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống thể hiện sự
đoàn kết của cộng đồng.
Đồng thời là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế
thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc. Cấu trúc lễ hội Bao gồm 2 thành phần: + Lễ (yếu tố chính)
+ Hội (yếu tố phát sinh)
- Lễ: được hình thành bởi: nhân vật được thờ, hệ thống di tích, nghi lễ, nghithức, thờ cúng.
+ Lễ để thờ cúng các vị thần: sự sùng bái nhân vật lịch sử, là nhu cầu trở về cội
nguồn, là sự giải thiêng trong tâm thức, tâm lý và sinh hoat cộng đồng.
+ Có thể nói phần lễ đã tạo nên tính “thiêng” của lễ hội.
- Hội: được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui chơi, những trò diễn,
tâm lý hội và hoạt động hội, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh… Thực chất:
+ Hội là các trò chơi, trò diễn trong lễ hội.
+ Đối tượng thực hiện chủ yếu là những người trẻ tuổi.
+ Có thể thấy phần hội tạo nên “sức sống” của lễ hội.
+ Những trò chơi chính trong lễ hội: lOMoAR cPSD| 61464806
. Rèn luyện sức khỏe: đấu vật, kéo co, bơi thuyền…
. Rèn luyện sự khéo léo: Ném còn, thi nấu cơm…
. Rèn luyện trí tuệ: đánh cờ người…
. Mang ý nghĩa tín ngưỡng: leo cột mỡ…
Câu 2: Chức năng của phong tục, tập quán
- Chức năng tổ chức xã hội: Vì phong tục - tập quán là một hệ thống (tính
hệ thống) nên nó có chức năng tổ chức xã hội, đưa xã hội vào một khuôn
khổ có tính bền vững tương đối, tồn tại trong một thời gian lịch sử nhất định
- Chức năng điều chỉnh xã hội: Vì phong tục và tập quán đẹp mang tính giá
trị, sẽ trở thành tiêu chí chuẩn mực để mọi người trong xã hội điều chỉnh
nhận thức và hành vi của mình, từ đó định hình nên lối sống, cách thức ứng
xử xã hội, tạo nên thói quen, nền nếp cộng đồng để nhà nước thừa kế, đưa
vào luật pháp như những giá trị dân tộc
- Chức năng giáo dục xã hội: Vì PTTQ thừa kế các giá trị của thế hệ trước,
truyền lại cho thế hệ sau, tạo nên sự di truyền văn hóa có tính định hướng
của cộng đồng, dân tộc.
- Chức năng giao tiếp xã hội: Vì PTTQ mang giá trị nhân sinh, nên nó trở
thành thông điệp chung, kết nối các thành viên cộng đồng, xã hội và kết
nối các tộc người, dân tộc.
Câu 3: quan sát, phân tích, đánh giá về phong tục tập quán
❖ Tục ăn trầu -
Với người Việt Nam, tục ăn trầu trước hết là một biểu hiện của văn hóa ứng xử
vớimôi trường tự nhiên (chống cái giá lạnh của thời tiết, của môi trường lao động sông
nước, và để tẩy tanh cho thơm miệng sau khi ăn cá...). -
Nhờ hợp chất tạo nên từ miếng trầu (lá trầu, miếng cau, vò chay, với chín), kết
hợpvới “nước miếng" tiết ra khi ta nhai trầu, khiến cho cơ thể nóng ẩm, sắc thái thay
đổi (hồng hào, đẹp lên), tỉnh thần thăng hoa.... tục ăn trầu đã trở thành biểu hiện của
mối giao cảm giữa con người với con người. lOMoAR cPSD| 61464806 -
Trầu cau gắn bó với người Việt đến mức nó đã trở thành lễ vật không thể thiếu
trongcác nghi thức tâm linh như: lễ tế trời đất, lễ Phật, lễ thánh, thần, lễ gia tiên, lễ cưới... -
Miếng trầu còn là tượng trưng cho tình yêu lứa đôi. Sự tích trầu cau của người
Việtca ngợi tình nghĩa anh em thuận hòa, vợ chồng tiết nghĩa của người Việt. -
Dụng cụ để ăn trầu là dao bố cau, chiếc âu đựng trầu, bình vôi, chìa või, ống vôi,
cốigiã trầu, chày nghiền, khăn, túi đựng trầu. Cơi trầu (gồm một số miếng trầu gói lại
hoặc xếp trên đĩa) là lễ vật để dâng cúng hoặc trao tặng. -
Cho tới ngày nay, tuy tục ăn trầu và mời trầu ít phổ biến nhưng vẫn có một ýnghĩa
sâu xa, mang bản sắc truyền thống dân tộc. -
Tục ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen, tiêu chí của cái đẹp đối với phụnữ thời xưa.
Câu 4: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tục thờ gia tiên: Tờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người đã khuất.
- Tục thờ quốc tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch, dòng vua đầu tiên, có công đặt nền tảng
cho quốc gia-dân tộc Việt Nam) của người Việt, sau thành lễ hội lớn nhất của cả nước
(do người Việt chiếm đa số và do ý nghĩa của truyền thuyết Hùng Vương). Tín ngưỡng
thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể và truyền thống của nhân loại.
Tục thờ tổ nghề thủ công của các làng nghề truyền thống: Tổ nghề kim hoàn ở Đồng
Sâm (Thái Bình), Định Công (Hà Nội), Trây Khê (Hải Dương); tỏ nghề dệt lụa ở Vạn
Phúc (Hà Nội), tổ nghề dệt chiếu ở Hải Triều (Thái Bình),...
* Ý nghĩa: Xuất phát từ việc con người tin người tin vào sự bất tử của linh hồn, sau đó
là luân lý “uống nước nhớ nguồn”, rồi cuối cùng là cơ hội để củng cố mối quan hệ
cộng đồng gia tộc, quốc gia, những người cùng nghề, duy trì cho cuộc sống an hòa.
Câu 5: Tín ngưỡng thờ Mẫu
- Tục thờ tam phủ: Thiên phủ (thờ Mẫu thiên/Mẫu Cửu trùng) – Địa phủ (thờ MẫuĐịa)
– Thoải phủ/Thủy phủ (thờ Mẫu Thoải/ Mẫu nước).
- Tục thờ tứ phủ: Thiên phủ (cõi trời) – Đại phủ (cõi đất) - Thoải phủ (cõi nước) – lOMoAR cPSD| 61464806
Nhạc phủ (cõi núi rừng) thờ mẫu Sơn trang/mẫu Thượng ngàn. - Tục thờ nhân phủ:
Thờ Mẫu Liễu (miền Bắc). Đôi khi Tam phủ kết hợp với Nhân phủ cũng thành Tứ phủ.
+ Ở miền Trung, tục thờ mẫu của người Việt tích hợp với tục thờ các bà chúa xứ của
người Chăm (Thiên Yana) cũng thành Nhân phủ, kết hớp với Tam phủ thành Tứ phủ.
Các nữ vương Chăm (Po Ina Narga), công chúa Chăm (Po Sah Inư) cũng được thờ ở các đền tháp.
- Tục thờ các nữ thần sông nước: Bà chúa Xứ, Bà chúa Lạch...
- Tục thờ các nữ thần biển: Kết hợp với đạo Phật tạo nên Quan âm Nam Hải (Phật Bàở vùng biển phía Nam).
- Tín ngưỡng Mẫu và nữ thần có sự tích hợp với tín ngưỡng tự nhiên (Mẫu Thiên,
Mẫu Địa...) và cả với Phật giáo (Chùa Pháp vân – Chùa bà Mây, chùa Pháp Vũ- chùa
bà Mưa...) tạo nên một phức thể tâm linh rất thiêng liêng của người Việt.
* Ý nghĩa: Đề cao vai trò của các bà (nữ thần) – chủ nhân có vai trò lớn của đời sống
nông nghiệp mẫu hệ; đề cao vai trò của các mẹ (chúa mẫu) – vừa cai quản các cõi
miền: Cõi trời-cõi đất-cõi nước-cõi người, lại vừa sinh ra muôn loài, trong đó có con người.