



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG
MUA BÁN NGƯỜI XUYÊN BIÊN GIỚI VÀ
THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HÀ NỘI - 2025
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG
MUA BÁN NGƯỜI XUYÊN BIÊN GIỚI VÀ
THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Quốc tế Mã số : 938 0101.06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Sơn
2. GS.TS. Nguyễn Hồng Thao HÀ NỘI - 2025 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn
đầy đủ theo quy định. Tác giả luận án
Nguyễn Phương Thảo LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đến: GS.TS. Nguyễn Hồng Thao và
PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Sơn - thầy cô với lòng tận tâm, yêu nghề, định
hướng, chỉ bảo, sửa chữa giúp tôi hoàn thành Luận án của mình trong suốt 3
năm qua. Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại
học, Khoa Luật quốc tế, Phòng Quản lý Khoa học, các thầy cô giảng viên và
cán bộ Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện thủ tục bảo vệ các cấp. Cuối cùng, tôi
xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô lãnh đạo, giảng viên Khoa Luật - Học viện
Cảnh sát nhân dân, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tác giả luận án
Nguyễn Phương Thảo MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI ............................................................................................................................... 8
1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước ............................................................................... 8
1.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ......................................................................... 19
1.3. Nhận xét, đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên
cứu .......................................................................................................................................... 28
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ
PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI XUYÊN BIÊN GIỚI ......................................... 35
2.1. Những khái niệm cơ bản của pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán
người xuyên biên giới ......................................................................................................... 35
2.2. Nguồn của pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán người xuyên biên
giới .......................................................................................................................................... 47
2.3. Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán người xuyên
biên giới ................................................................................................................................. 50
2.4. Nội dung của pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán người xuyên biên
giới .......................................................................................................................................... 70
Chương 3: THỰC THI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA
BÁN NGƯỜI XUYÊN BIÊN GIỚI: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM ................................................................................... 93
3.1. Thực tiễn thực thi pháp luật quốc tế về mua bán người xuyên biên giới của
một số quốc gia trên thế giới ............................................................................................ 93
3.2. Thực trạng thực thi pháp luật quốc tế về mua bán người xuyên biên giới của
Việt Nam ............................................................................................................................. 109
3.3. Nhận xét, đánh giá chung .................................................................................................. 131
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI XUYÊN
BIÊN GIỚI Ở VIỆT NAM .............................................................................................. 147
4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng, chống mua bán người
xuyên biên giới ................................................................................................................... 147
4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quốc tế của Việt Nam về
phòng, chống mua bán người xuyên biên giới ............................................................ 153
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 182
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ........................................................................................................................ 184
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 185
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 202
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Bộ luật Hình sự : BLHS
Bộ luật Tố tụng hình sự : BLTTHS Buôn bán người : BBN
Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, : Công ước ASEAN
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em
Công ước của Hội đồng Châu Âu về phòng, chống : Công ước Châu Âu buôn bán người
Công ước của LHQ chống tội phạm có tổ chức xuyên : Công ước UNTOC quốc gia
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 : Công ước CRC
Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với : Công ước CEDAW phụ nữ năm 1979 Hợp tác quốc tế : HTQT Liên hợp quốc : LHQ Mua bán người : MBN
Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và và : Nghị định thư bổ
trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ sung năm 2000
em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia của Liên hợp quốc năm 2000 Pháp luật quốc gia : PLQG Pháp luật quốc tế : PLQT
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc : UNICEF
Tổ chức Lao động quốc tế : ILO Xã hội chủ nghĩa : XHCN 1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc xoá bỏ rào cản địa lý cùng với hoạt động di cư
hoặc lao động trái phép đang gia tăng, vấn đề kết hôn giả với người nước ngoài hay nhận
làm con nuôi bất hợp pháp khiến hàng triệu người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em dễ trở
thành mục tiêu của các đường dây mua bán người (MBN) xuyên biên giới, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới quyền con người, an ninh và ổn định của nhiều quốc gia. Theo báo cáo
của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), mỗi năm, trên toàn cầu có khoảng 25 triệu người là
nạn nhân của nạn mua bán người (MBN), mang lại khoản lợi nhuận phi pháp lên tới 150
tỷ USD [150]. Đặc biệt, 70% nạn nhân của loại tội phạm này là phụ nữ và trẻ em gái,
trong đó, nạn nhân là trẻ em chiếm khoảng 1/3 [141]. Nghiêm trọng hơn, nạn nhân bị
mua bán bị khai thác với nhiều mục đích khác nhau như: bóc lột tình dục, lao động cưỡng
bức, khổ sai, mua bán mô và bộ phận cơ thể người và các hình thức bóc lột khác. Nạn
MBN đã tăng đáng kể trong nhiều thập kỷ qua, trở thành một trong những hoạt động
sinh lời nhanh nhất của các nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, đặc biệt là ở các
quốc gia khu vực như Đông Nam Á và châu Phi.
Trước tình hình tội phạm MBN ngày càng nghiêm trọng và có xu hướng gia
tăng trên phạm vi toàn cầu, cộng đồng quốc tế đã có những biện pháp tích cực nhằm
bảo vệ quyền con người, đặc biệt là đối với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Một
trong những dấu mốc quan trọng là việc LHQ thông qua Công ước Chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia vào ngày 15/11/2000 (Công ước UNTOC). Tiếp theo đó, Nghị
định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư năm 2000) đã được bổ sung, tạo nên một khung pháp
lý toàn diện để đấu tranh chống lại MBN. Ở khu vực Đông Nam Á, các quốc gia cũng
đã nỗ lực trong việc phòng, chống MBN xuyên biên giới thông qua các thoả thuận
chung, diễn đàn và chương trình hợp tác đa dạng như: Diễn đàn ASEAN, hội nghị Bộ
trưởng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tổ chức thường niên là một
diễn đàn quan trọng để các quốc gia chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng các biện pháp
ứng phó hiệu quả… Ngoài ra, Công ước ASEAN về phòng, chống MBN, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em (ACTIP) cũng là một minh chứng cho sự hợp tác khu vực trong việc
giải quyết vấn đề này. 2
Cùng với đó, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật nhằm hạn chế và
ngăn ngừa tội phạm MBN. Những quy định liên quan đến MBN xuyên biên giới được
đề cập đến trong Bộ Luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ Luật
tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Tương trợ
tư pháp 2007, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Luật người
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 (Luật số 69)…theo
hướng tiếp cận gần hơn với khái niệm được quy định trong Nghị định thư bổ sung
năm 2000, Luật phòng, chống MBN năm 2011 và đặc biệt là Luật phòng, chống MBN
năm 2024. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành hàng loạt những văn bản dưới luật
như Nghị định số 112/NĐ-CP ngày 10/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều
và biện pháp thi hành Luật số 69, Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội,
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Nghị quyết số
28/NQ-CP ngày 3/3/2021 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng
giới giai đoạn 2021-2030, triển khai chương trình 130/CP của Chính phủ về phòng,
chống MBN tới 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ban hành Quyết định
số 193/QĐ-TTg ngày 9/2/2021 phê duyệt Chương trình phòng, chống mua bán người
giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 và thúc đẩy di cư hợp pháp, kiên
quyết đấu tranh phòng chống di cư trái phép và mua bán người…
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cũng như của cộng
đồng quốc tế, trên thực tế tội phạm MBN vẫn diễn biến hết sức nghiêm trọng và chủ
yếu là các loại tội phạm có tổ chức, xuyên biên giới. Hiện nay, theo LHQ, mỗi năm có
hàng nghìn người trên thế giới, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (chiếm 71% trong số 17.752
nạn nhân bị mua bán) được phát hiện ở 85 quốc gia (51% là phụ nữ và 21% là trẻ em
gái) [6], [34]. Ở Đông Á và Thái Bình Dương, nữ chiếm 77% nạn nhân, trong đó 51%
là phụ nữ và 26% là trẻ em gái. Tại Trung Á, 35% nạn nhân MBN là phụ nữ và trẻ em
gái [154]. Đây là vấn đề nghiêm trọng cần sự quan tâm và hợp tác của tất cả các quốc
gia trên thế giới để cùng đấu tranh đẩy lùi vấn nạn này. Bên cạnh đó, với sự phát triển
của thời đại công nghệ số, đẩy nhanh thông tin liên lạc cho phép con người và hàng
hoá dịch chuyển tự do và nhanh chóng hơn, tội phạm MBN cũng có điều kiện gia tăng,
nạn nhân bị mua bán và những khoản lợi bất hợp pháp cũng dịch chuyển từ quốc gia 3
này sang quốc gia khác. Tuy nhiên, để đạt được sự hiệu quả trong đấu tranh với vấn
nạn này vẫn còn hạn chế do tham nhũng của các Chính phủ, hệ thống chính sách pháp
luật của các quốc gia còn chưa chú trọng và đầy đủ, tình hình kinh tế - chính trị của các
quốc gia còn nhiều chênh lệch…
Nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm MBN xuyên biên giới, Việt
Nam đã ký kết, gia nhập và tham gia nhiều ĐƯQT, tham gia các hiệp định quốc tế về
tương trợ tư pháp nhằm dẫn độ tội phạm giúp nâng cao hiệu quả trong công tác này,
trong đó phải kể đến Công ước UNTOC cùng Nghị định thư bổ sung năm 2000 về
phòng, chống MBN. Việt Nam cũng đã tham gia Hiệp định tương trợ tư pháp trong
các vụ việc hình sự giữa các quốc gia ASEAN năm 2004, ký kết nhiều hiệp định song
phương trong lĩnh vực tư pháp với các nước ký kết một số thỏa thuận hợp tác về
phòng, chống buôn bán người xuyên biên giới với các nước trong khu vực, bao gồm
Trung Quốc, Campuchia, Lào và Thái Lan. Mặc dù vậy, trên thực tiễn, vấn đề MBN
vẫn diễn biến phức tạp không chỉ ở Việt Nam mà còn các quốc gia khác trên thế giới.
Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn còn nhiều hạn chế, chưa giúp giải
quyết được triệt để vấn đề. Khả năng phối kết hợp đối với các cơ quan chức năng
trong công tác phòng, chống MBN chưa được đồng bộ. Nhận thức của người dân
chưa cao dẫn đến nguy cơ dễ dàng trở thành nạn nhân của loại tội phạm này. Do đó,
việc nghiên cứu lý luận, phân tích thực tiễn về khuôn khổ pháp lý quốc tế về phòng,
chống MBN xuyên biên giới, hệ thống pháp luật Việt Nam về MBN xuyên biên giới,
tìm ra nguyên nhân và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam về MBN trong giai đoạn hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết. Tính tới
thời điểm hiện tại hiện chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, đầy
đủ của Việt Nam về PLQT phòng, chống MBN từ đó liên hệ với hệ thống pháp luật
Việt Nam nhằm giải quyết vấn nạn MBN xuyên biên giới từ Việt Nam sang các quốc
gia khác và ngược lại. Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Pháp luật quốc tế về
phòng, chống mua bán người xuyên biên giới và thực tiễn ở Việt Nam” làm đề tài
luận án là đảm bảo tính cấp thiết và khoa học trong giai đoạn hiện nay.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu 4
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khuôn khổ pháp lý quốc tế, cơ chế đảm bảo
thực thi và thực trạng thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về phòng, chống mua bán người
trên Thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu sẽ tập chung nghiên cứu, đánh giá sự tham gia
của Việt Nam, xác định các thuận lợi, thách thức và những kết quả, hạn chế, nguyên
nhân. Từ đó, luận án đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật và tăng cường hiệu quả thực thi PLQT trong phòng, chống mua bán người
xuyên biên giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu, đánh giá PLQT về phòng, chống MBN
xuyên biên giới, trong đó tập trung vào nội dung của Nghị định thư bổ sung năm 2000,
Công ước UNTOC, Công ước ACTIP; đối với pháp luật Việt Nam, tập trung nghiên
cứu nội dung của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nội dung của Luật
Phòng, chống MBN năm 2011 và Luật Phòng, chống MBN năm 2024, một số quy định
trong các văn bản dưới luật về phòng, chống MBN.
- Về thời gian: Luận án tập trung đánh giá, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới từ năm 2000 (thời điểm ra đời của đến
Công ước UNTOC và Nghị định thư bổ sung năm 2000) và của pháp luật Việt Nam từ
năm 1999 cho đến nay (thời điểm thông qua BLHS năm 1999).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Luận án phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động phòng, chống MBN
xuyên biên giới trong PLQT và Việt Nam, đánh giá hoạt động thực thi PLQT về
phòng, chống MBN ở Việt Nam và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình Việt
Nam thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về MBN. Từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp
hoàn thiện pháp luật Việt Nam, và nâng cao hiệu quả thực thi PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài hướng đến giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích một số vấn đề lý luận chung về hoạt động phòng, chống
MBN xuyên biên giới như: khái niệm, đặc điểm của buôn bán người, MBN và MBN 5
xuyên biên giới, các nguyên tắc của PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới,
nguồn và cơ chế đảm bảo thực thi PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới.
Thứ hai, làm rõ nội dung của PLQT và pháp luật Việt Nam về MBN xuyên biên
giới như: cơ chế phòng, chống MBN xuyên biên giới; vấn đề hình sự hóa đối với hành
vi MBN xuyên biên giới; tiếp nhận, hỗ trợ và bảo đảm quyền của nạn nhân bị mua bán;
hoạt động HTQT trong phòng, chống MBN xuyên biên giới;
Thứ ba, nghiên cứu, phân tích cơ chế thực thi PLQT về phòng, chống MBN
xuyên biên giới của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam; đánh giá thực trạng thực
thi PLQT của Việt Nam trong lĩnh vực này;
Thứ tư, nghiên cứu và đề xuất các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về phòng, chống MBN xuyên biên giới và nâng cao hiệu quả thực
thi PLQT của Việt Nam về lĩnh vực này trong thời gian tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản trong chính sách và pháp luật của
Đảng và Nhà nước về vấn đề phòng, chống MBN xuyên biên giới, khuôn khổ pháp lý
quốc tế và khu vực trong lĩnh vực phòng, chống MBN xuyên biên giới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận án, Nghiên cứu sinh (NCS) sử dụng tổng hợp
các phương pháp, cụ thể như sau:
- Phương pháp so sánh và đối chiếu được thực hiện thông qua việc tìm hiểu và
tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, như các sách tham
khảo, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng
trên các tạp chí chuyên ngành; các loại báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề có liên quan
đến quá trình tổ chức hoạt động phòng ngừa MBN xuyên biên giới. Phương pháp này
được thực hiện ở các chương của luận án, đặc biệt tập trung vào chương Tổng quan
nhằm làm rõ những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm đưa ra những vấn đề
góp phần hoàn thiện lý luận về MBN xuyên biên giới trong Chương 2 của luận án; sử
dụng phương pháp phân tích bản án, các tình huống liên quan đến Luận án, tổng hợp
đánh giá thực trạng tính tương thích của pháp luật Việt Nam và PLQT về MBN xuyên 6
biên giới; phân tích tổng hợp quá trình thực thi PLQT về phòng, chống MBN xuyên
biên giới của một số các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
- Phương pháp thống kê được sử dụng thông qua hoạt động thống kê số lượng
các vụ MBN xuyên biên giới trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Thông qua đó làm căn cứ để đánh giá tính cấp thiết, mức độ ảnh hưởng của hoạt động
MBN xuyên biên giới, đánh giá, nhận xét và tìm ra nguyên nhân của hạn chế, tồn tại
trong công tác thực thi PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới. Từ đó đưa ra
những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng, chống MBN và
nâng cao hiệu quả thực thi PLQT trong lĩnh vực này.
- Phương pháp chuyên gia được thực hiện thông qua trao đổi và tham khảo ý
kiến của một số chuyên gia, nhà khoa học có các công trình nghiên cứu về nội dung
liên quan đến luận án nói chung, đồng thời tham khảo ý kiến của một số cán bộ làm
công tác thực tiễn công tác tại Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, các
giảng viên Học viện Cảnh sát nhân dân. Qua trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên
gia, nhà khoa học, cán bộ thực tiễn về các nội dung liên quan đến luận án giúp nghiên
cứu sinh hiểu rõ hơn và có cơ sở vững chắc trong phân tích, nhận định và khái quát các
vấn đề cần tập trung nghiên cứu trong luận án.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các quy định của pháp luật
Việt Nam với quy định của PLQT và pháp luật một số nước trên thế giới về phòng,
chống MBN xuyên biên giới, qua đó chỉ ra các quy định tương thích và không tương
thích để thấy được những nguyên nhân và hạn chế góp phần hoàn thiện pháp luật về
phòng, chống MBN xuyên biên giới ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp hệ thống hoá được sử dụng để đảm bảo tính logic trong từng
phần, từng chương của Luận án, có sự gắn kết, bố cục chặt chẽ, tổng hợp kiến thức của
của PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới cũng như pháp luật Việt Nam quy
định về vấn đề này từ đó phát triển các nhóm vấn đề để đảm bảo mục đích, yêu cầu cho Luận án.
- Phương pháp lịch sử áp dụng trong Chương 2 và Chương 3 để tái hiện lại sự
quá trình phát triển của hệ thống PLQT và pháp luật Việt Nam về phòng, chống MBN
xuyên biên giới, thông qua đó đánh giá về sự phát triển của hệ thống pháp luật về một
cách đầy đủ, khách quan. 7
5. Những điểm mới, đóng góp và ý nghĩa của đề tài
Là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn
diện PLQT về phòng, chống MBN xuyên biên giới và thực tiễn pháp luật Việt Nam,
thực tiễn thực thi PLQT ở Việt Nam về phòng, chống MBN xuyên biên giới, nên kết
quả nghiên cứu của luận án có những điểm mới đóng góp cho khoa học chuyên ngành, cụ thể là:
- Phân tích, đánh giá có hệ thống nội dung PLQT và pháp luật Việt Nam về
phòng, chống MBN xuyên biên giới dựa trên một số tiêu chí như khái niệm, đặc điểm,
nguồn, nguyên tắc và cơ chế đảm bảo thực thi nhằm cung cấp tri thức cơ bản về khung
pháp lý của phòng, chống MBN xuyên biên giới. Đặc biệt, đối với pháp luật Việt Nam,
Luận án tập trung phân tích những điểm mới trong Luật Phòng, chống MBN năm 2024
từ đó đề xuất các văn bản hướng dẫn những nội dung cụ thể trong Luật, giúp cho cơ
quan có thẩm quyền phát huy tính hiệu quả, chính xác trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tiễn.
- So sánh quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống MBN xuyên biên
giới với những quy định trong Công ước UNTOC năm 2000, Nghị định thư bổ sung
năm 2000, Công ước ASEAN (ACTIP) năm 2015 và các quy định khác trong PLQT.
Từ đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
- Đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng thực thi PLQT về MBN xuyên
biên giới của Việt Nam như vấn đề nội luật hoá, hợp tác quốc tế, tiếp nhận và hỗ trợ
nạn nhân, từ đó làm căn cứ đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi PLQT của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với kết quả nghiên cứu như đã nêu ở trên nội dung đề tài có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về chuyên ngành
luật ở các cơ sở đào tạo về pháp luật.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình nghiên cứu của NCS liên
quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 8 Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1. Nhóm các công trình về vấn đề phòng, chống mua bán người
Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật trong phòng chống
MBN; có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
(1) Luận án “Cơ chế pháp lý về phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện
nay” ngành luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Đỗ Thị Lý
Quỳnh (2020). Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của cơ chế pháp lý phòng,
chống MBN bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò các yếu tố hình thành cơ chế và các
điều kiện bảo đảm, các tiêu chí hoàn thiện cơ chế phòng, chống MBN. Ngoài ra, luận án
phân tích thực trạng các yếu tố cấu thành tội MBN và tìm hiểu cơ chế pháp lý phòng,
chống MBN của một số quốc gia trong khu vực và rút ra những giá trị tham khảo cho
Việt Nam. Hơn nữa, công trình còn đánh giá thực trạng các yếu tố tạo nên cơ chế pháp
lý phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay từ đó xác định rõ những hạn chế, thiếu sót
và nguyên nhân. Thông qua đó, luận án đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế
pháp lý phòng, chống MBN ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Từ công trình này, NCS kế
thừa được khái niệm cơ chế pháp lý phòng, chống MBN, công trình nghiên cứu phân
tích thuật ngữ “buôn bán người” được quy định trong Nghị định thư TIP và thuật ngữ
“mua bán người” được quy định trong Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BCA-BQP-BTP và điều 150, điều 151 của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ
sung 2017) về Tội mua bán người; Nghị quyết số 02/2019/HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng điều 150 về tội mua bán người và
điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của BLHS 2105 (sửa đổi bổ sung 2017).
Như vậy, tuy tên gọi có sự khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam và Nghị định
thư TIP được thể hiện ở bốn đặc trưng cơ bản gồm: đối tượng bị tác động, hành vi,
phương thức, thủ đoạn và mục đích.
(2) Luận án: “Tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo pháp luật hình
sự Việt Nam” ngành luật học, Đại học Luật Hà Nội, của tác giả Lê Thị Vân Anh (2022). 9
Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội mua bán người, mua bán trẻ em,
thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng những quy
định này. Cụ thể hơn, luận án nêu và phân tích khái niệm về tội MBN, tội mua bán trẻ
em theo luật pháp quốc tế và theo PLQG và một số vùng lãnh thổ từ đó đưa ra khái
niệm phù hợp làm tiền đề cho thực tiễn xét xử tội MBN, mua bán trẻ em. Đặc biệt, luận
án nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự về tội MBN và từ đó đưa ra việc áp dụng các
quy định trên phạm vi cả nước. Không chỉ vậy, luận án còn đề cập đến những khó khăn,
tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và những giải pháp để khắc phục những hạn
chế đó. Qua công trình, NCS kế thừa được nội dung của luận án liên quan đến PLQT
và pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ quy định về tội MBN. Đặc biệt, luận
án phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành nên tội phạm BBN ở các mặt về khách thể
của tội phạm, về mặt khách quan của tội phạm, về chủ thể của tội phạm và về mặt chủ
quan của tội phạm. Bên cạnh đó, luận án đã phân tích “tội buôn bán người” trong BLHS
Liên Bang Nga, Cộng Hoà Liên Bang Đức, Canada, Australia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc.
(3) Sách chuyên khảo: “Công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em ở Việt Nam” của tác giả Trần Minh Hưởng, NXB Lao động 2008. Tác giả phân tích
một cách hệ thống những nhận thức lý luận về phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ
và trẻ em. Đồng thời, cuốn sách phân tích thực trạng công tác phòng, chống loại tội
phạm này của các cơ quan chức năng Việt Nam trong thời gian qua. Công trình đánh
giá, nhận xét những kết quả đã đạt được, phân tích những nguyên nhân, điều kiện của
tình trạng tội phạm, đưa ra các dự báo khoa học về tội phạm cũng như đề xuất một hệ
thống giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm mua bán
phụ nữ và trẻ em trong thời gian tới. Điểm đáng lưu ý là cuốn sách đã hệ thống hoá các
văn bản, các quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em giúp
công tác phòng chống tội phạm một cách thuận lợi. Qua cuốn sách, NCS kế thừa được
hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm mua
bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam như lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa
phòng ngừa với đấu tranh, xử lý tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và tái hoà nhập cộng
đồng cho nạn nhân phù hợp với chính sách pháp luật trong nước và PLQT bằng các biện pháp cụ thể. 10
(4) Sách: “Hỏi - Đáp chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người”
của tác giả Đỗ Xuân Lân và Nguyễn Hà Anh của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự
thật phối hợp Nhà xuất bản Dân tộc (2019). Cuốn sách cung cấp những thông tin, kiến
thức cơ bản để nhận diện các hành vi, thủ đoạn của đối tượng MBN, quy định của pháp
luật Việt Nam về phòng, chống MBN như Luật Phòng, chống MBN được Quốc hội
thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017 và một số quy định của quốc tế về ngăn ngừa, hợp tác phòng, chống
MBN và bảo vệ nạn nhân bị mua bán như Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn
áp tội BBN, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ. Đồng thời, cuốn sách giới thiệu một số mô
hình điểm về phòng, chống MBN và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán để các xã, phường có
thể tham khảo vận dụng như mô hình đường dây nóng phòng, chống MBN, mô hình
“ngôi nhà bình yên” dành cho phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về, mô hình nhóm “tự
lực” hỗ trợ các nạn nhân bị mua bán trở về hoà nhập cộng đồng, mô hình phòng ngừa
và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán hoà nhập cộng đồng. Qua cuốn sách này, NCS kế thừa
được những nội dung liên quan đến quy định quốc tế về ngăn ngừa, hợp tác phòng,
chống MBN vào bảo vệ nạn nhân bị buôn bán.
(5) Bài báo: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm mua bán người tại Việt Nam” của tác giả Trần Minh Hưởng đăng
trên tạp chí Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011). Bài viết nghiên cứu và đưa
ra một số thủ đoạn điển hình của tội phạm MBN đặc biệt với đối tượng phụ nữ và trẻ
em. Tội phạm thường móc nối với các chủ chứa, môi giới, dẫn dắt để hình thành các
đường dây mua bán phụ nữ và trẻ em ở trong nước và ra nước ngoài. Bên cạnh đó, bài
báo trình bày những nguyên nhân chính tác động đến tình hình MBN ở Việt Nam trong
thời gian qua và những quy định hiện hành của pháp luật về đấu tranh phòng chống
mua bán phụ nữ và trẻ em. Cuối cùng tác giả đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng chống tội phạm MBN ở Việt Nam. Bài viết này có giá trị tham khảo
đối với luận án về phần nội dung những nguyên nhân dẫn đến tình trạng MBN đang
gia tăng ở Việt Nam như nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân tiềm ẩn và nguyên nhân
sâu xa dẫn đến việc nạn nhân bị mua bán không có khả năng bảo vệ chính mình, không
nhận thức đầy đủ về động cơ, mục đích, thủ đoạn của đối tượng MBN để có các biện
pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi MBN. 11
(6) Bài báo: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm
mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tác giả Hà Việt Dũng và Hồ
Thế Hoè đăng trên Dân chủ và Pháp luật (2012). Bài báo phân tích tình hình tội phạm
và thực trạng công tác đấu tranh với tội phạm MBN ở Việt Nam. Đồng thời, bài viết đề
ra các biện pháp như điều tra cơ bản nắm tình hình, phòng ngừa xã hội và phòng ngừa
nghiệp vụ, mở các đường dây cao điểm, triệt phá các đường dây phạm tội MBN, tham
mưu cho các Bộ, ngành và Chính phủ ký kết và triển khai có hiệu quả nhiều hiệp định
song phương và đa phương, các văn bản thoả thuận, ghi nhớ về phòng chống tội phạm
MBN giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Qua đó, bài viết đánh giá thực trạng
tội phạm MBN liên quan đến mỗi quốc gia và trao đổi danh sách đối tượng và nạn nhân
của tội phạm MBN. Từ bài báo này, NCS tham khảo được một số khó khăn, vướng
mắc và nguyên nhân của tội phạm MBN và một số giải pháp nâng cao hiệu quả với
đấu tranh tội phạm MBN bao gồm 6 giải pháp cơ bản như tăng cường HTQT về đấu
tranh phòng, chống tội phạm MBN, tổ chức các hoạt động tái hoà nhập cộng đồng cho
phụ nữ, trẻ em bị bán trở về.
(7) Bài báo: “Những thách thức và yêu cầu đặt ra với công tác phòng chống
tội phạm mua bán người theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát hình
sự” của tác giả Đoàn Thế Vinh đăng trên Tạp chí Khoa học Kiểm sát 2020. Đây là
một bài viết toàn diện về thực trạng của tội phạm MBN; những chính sách pháp luật
và kết quả thực thi pháp luật về phòng, chống tội phạm MBN, những thách thức đặt
ra đối với công tác phòng, chống MBN của lực lượng Cảnh sát hình sự. Đặc biệt,
bài viết đã nêu được những số liệu chính xác và thực tế trong những năm gần đây
về số vụ và số đối tượng tham gia vào hoạt động MBN hình thành nhiều đường dây,
băng nhóm liên tỉnh, xuyên quốc gia với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, để lừa
bán ép hoạt động mại dâm và các hoạt động bất hợp pháp khác. Tác giả đề ra sáu
giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống MBN
trong thời gian tới. Thông qua bài viết này, NCS tham khảo được những thách thức
trong công tác phòng, chống MBN hiện tại phù hợp với tình hình thực tiễn đang diễn ra ở Việt Nam.
(8) Bài báo: “Tội mua bán người ở Việt Nam - Tình hình, nguyên nhân và
biện pháp phòng ngừa” của tác giả Trần Đình Hải thuộc Tạp chí Khoa học Kiểm sát 12
2020. Bài báo phân tích ba nội dung cơ bản: Tình hình tội phạm MBN cở Việt Nam
trong những năm vừa qua; nguyên nhân của tội phạm MBN và các biện pháp phòng
ngừa tội phạm MBN trong thời gian tới. Đặc biệt, bài báo tập trung về mức độ, cơ
cấu, diễn biến và tính chất của tội phạm với những số liệu mang tính xác thực cao từ
đó xác định được các nguyên nhân tác động đến tình trạng MBN. Bài viết đã đề ra
một số các giải pháp nhằm phòng, chống loại tội phạm này được đánh giá là tội phạm
nguy hiểm, phức tạp, tinh vi với quy mô ngày càng lớn, có tổ chức chặt chẽ và mang
tính quốc tế. Qua đó, NCS tham khảo được quy định của pháp luật Việt Nam về tội
MBN và cơ chế phòng ngừa với tội phạm MBN đang diễn biến phức tạp ở Việt Nam.
(9) Bài báo: “Áp dụng thống nhất pháp luật về các tội danh liên quan đến
mua bán người” của tác giả Nguyễn Văn Tùng, Tạp chí Khoa học kiểm sát (2020).
Bài viết tập trung chỉ rõ các khía cạnh pháp lý để áp dụng thống nhất pháp luật về các
tội danh liên quan đến MBN. Tác giả đi sâu phân tích, làm rõ các khía cạnh pháp lý để
áp dụng pháp luật thống nhất về các tội danh liên quan đến MBN. Tác giả nêu ra các
quy định của pháp luật Việt Nam về tội danh MBN quy định trong BLHS năm 2015,
Nghị quyết số 41 của Quốc hội ngày 11/01/2019; Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP
hướng dẫn áp dụng điều 150 và Điều 151 tội MBN dưới 16 tuổi của BLHS. Từ bài viết
này, NCS tham khảo được nội dung các trường hợp cụ thể để xác định tội danh như
mua bán thai nhi, môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép, môi giới mua bán
nội tạng, môi giới con nuôi trái pháp luật, đặc biệt về vấn đề tương trợ tư pháp đối với
tội phạm MBN và đưa ra các hình thức trong việc xác định lý lịch của bị can.
Rõ ràng các công trình nghiên cứu về vấn đề phòng, chống MBN được rất nhiều
chuyên gia, học giả Việt Nam quan tâm và nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ
thống. Nhìn chung, những công trình này đã phân tích những cơ chế pháp lý, các biện
pháp nghiệp vụ cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác đấu
tranh phòng, chống MBN tại Việt Nam. Đồng thời, các tác giả cũng đi sâu phân tích
các nguyên nhân, thách thức và những khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật và
thực hiện pháp luật quy định về phòng, chống tội phạm MBN theo hệ thống PLQT và
Việt Nam để thấy được diễn biến phức tạp và tính chất của loại tội phạm này. Tuy
nhiên, những công trình này chỉ tập chung vào vấn đề phòng chống và điều tra tội phạm 13
về MBN bằng các biện pháp nghiệp vụ cũng như dựa trên chính sách và pháp luật Việt
Nam từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa. Về mặt lý luận về phòng, chống MBN theo
hệ thống pháp luật Việt Nam từ những công trình trên NCS có thể tham khảo trong quá
trình thực hiện đề tài của mình.
1.1.2. Nhóm công trình về vấn đề hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người
(1) Luận án: “Hoạt động phòng ngừa tội phạm mua bán người qua biên giới
Việt Nam - Trung Quốc theo chức năng của lực lượng Cảnh sát hình sự” ngành
tội phạm học, Học viện Cảnh sát nhân dân của tác giả Đoàn Thế Vinh (2019). Luận
án trình bày những vấn đề lý luận về MBN xuyên biên giới, các văn bản pháp lý cho
hoạt động đấu tranh, phòng ngừa tội phạm MBN xuyên biên giới trong nước và quốc
tế. Đồng thời, tác giả trình bày thực tiễn đặc điểm, tình hình có liên quan tới hoạt
động phòng ngừa tội phạm MBN từ Việt Nam sang Trung Quốc theo chức năng của
lực lượng Cảnh sát hình sự đặc biệt chú ý là những số liệu xác thực trong thực tiễn
phản ánh được thực trạng và tình hình phức tạp của nạn MBN qua biên giới Việt
Nam- Trung Quốc. Tác giả còn dự báo các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa
tội phạm MBN theo chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự, những giải pháp về
việc tham gia vào các điều ước quốc tế về phòng, chống MBN và nội luật hoá, hoàn
thiện các quy định của pháp luật, khắc phục những hạn chế trong quy định của pháp
luật nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống MBN qua biên giới Việt Nam
- Trung Quốc. Qua luận án này, NCS có thể tham khảo được thực tiễn tình hình liên
quan đến hoạt động MBN qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
(2) Sách “Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm
mua bán người đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài trong khuôn
khổ Interpol” (2011) NXB Công an nhân dân của tác giả Đặng Xuân Khang. Đây là
công trình toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn, dự báo chính xác về tình trạng MBN
cụ thể là buôn bán phụ nữ và trẻ em và các yếu tố tác động đến HTQT trong phòng
ngừa MBN. Về lý luận, tác giả đưa ra những khái niệm cơ bản về MBN, các hành vi
tuyển mộ, phân biệt, so sánh giữa MBN và đưa người di cư bất hợp pháp. Tác giả đưa
ra những căn cứ quan trọng để dự báo tình hình tội phạm MBN và hoạt động HTQT 14
trong phòng ngừa tội phạm MBN trong khuôn khổ Interpol. Bên cạnh đó, tác giả đề ra
các giải pháp và một số biện pháp phòng ngừa đối với hoạt động MBN xuyên biên giới
đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em đồng thời tăng cường công tác đối ngoại và HTQT
đối với lực lượng Cảnh sát nhân dân dựa trên những khuôn khổ pháp lý quốc tế đặt nền
móng hành lang pháp lý cho việc hợp tác phòng, chống MBN theo chức năng của
Interpol. Từ bài viết này, NCS có thể tham khảo được nội dung dự báo tình hình MBN
trong giai đoạn tới và những yếu tố ảnh hưởng đến HTQT trong đấu tranh, phòng,
chống với tội phạm MBN.
(3) Bài báo: “Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người
của Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Khắc Hải, Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Luật học Tập 29, số 1 (2013). Tác giả đề cập đến sự khác nhau trong
sử dụng thuật ngữ “mua bán người” theo quy định của pháp luật Việt Nam và “buôn
bán người” theo quy định trong các điều ước quốc tế. Bên cạnh đó, bài viết thực trạng
pháp luật của Việt Nam liên quan đến hợp tác khu vực và HTQT về phòng chống BBN
trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế. Đặc biệt, tác
giả phân tích các quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em.
Đồng thời, tác giả đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về MBN, tổ chức các
chương trình, đề án nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, BBN xuyên quốc gia.
Qua bài viết này, NCS tham khảo được cơ chế HTQT trong phòng, chống MBN được
tác giả đề cập cụ thể là giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực ASEAN.
(4) Bài báo: “Hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người” của tác giả
Nguyễn Minh Hiếu tạp chí Khoa học Kiểm sát, chuyên đề 2 năm 2020. Tác giả đã đánh
giá những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thị trường và
tình hình tội phạm xuyên quốc gia nói chung. Bài viết đề cập đến việc đấu tranh hiệu
quả với tội phạm MBN, vai trò của công tác HTQT trong phòng, chống MBN giữa Việt
Nam và một số quốc gia trong khu vực. Thực chất, HTQT trong phòng, chống MBN
đặt trong tình hình bối cảnh mới với những thuận lợi, khó khăn đòi hỏi phải có định
hướng và giải pháp phù hợp với Việt Nam. Từ công trình nghiên cứu này, NCS có thể
tham khảo các giải pháp trong HTQT nhằm giải quyết vấn nạn MBN như việc thực
hiện hiệu quả và thực chất các điều ước quốc tế song phương và đa phương, phối hợp