lOMoARcPSD| 61464806
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÀI ĐIỀU KIỆN
Môn: Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Giảng viên: Hà Minh
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Lớp: A5K72 – MSV: 725601292
lOMoARcPSD| 61464806
Cấu tạo bài:
I/ Giới thiệu.
II/ Những vấn đề chung.
1. Không gian tồn tại.
2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành.
3. Văn hóa.
III/ Đặc trưng cơ bản của Không gian văn hóa Cồng chiêng y Nguyên
1. Cồng – Chiêng.
2. Đặc trưng về người diễn xướng.
3. Đặc trưng về hình thức diễn xướng.
4. Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc.
5. Một số lễ hội có sử dụng cồng chiêng.
IV/ Thực trạng và giải pháp.
1. Thực trạng
2. Các giải pháp
***
Phần I/ Giới thiệu:
“Ninh Nơng! Ninh Nơng”
Men theo tiếng cồng vang vọng ta sẽ tìm về được ngay mảnh đất cao nguyên đầy
nắng gió Tây Nguyên. Nơi những bản làng với mái nhà Rông chót vót, phủ màu
tháng năm của người Gia Lai, Ê Đê, Xơ Đăng; những câu truyện sử thi bên bếp lửa
nghe già làng kể mỗi đêm… hay từng đàn voi nối đuôi ở Bản Đôn.
Đặc biệt như giáo sư Trần Quốc Vượng từng đề cập: “Nói về Tây Nguyên mà quên
cồng chiêng một thiếu sót lớn”. Không gian sôi nổi, vui vẻ với những điệu múa
của những gái Buôn Mê, của tiếng nhạc phát ra từ những chiếc cồng, chiếc chiêng
làm nên bản sắc văn hóa của cả một dân tộc.n
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận kiệt
tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25/11/2005. Sau Nhã
nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai
của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới.
lOMoARcPSD| 61464806
Điều đó khẳng định Việt Nam một đất nước bề dày truyền thống văn hóa,
nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.
Sau đây là những m hiểu của em về kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của
nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng.
***
Phần II/ Những vấn đề chung.
1. Không gian tồn tại:
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc
sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam
đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bcủa Việt Nam, các dân
tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn Tây Nguyên như : Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho,
Rơmăm, Êđê, Giarai... Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo những
cách riêng để tấu lên những giai điệu riêng của dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội,
chào đón năm mới, mừng nhà mới.
thể nói cồng chiêng gắn mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên,
tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc
sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. trở thành nền văn hóa đặc
trưng và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành.
Cồng chiêng Tây Nguyên nguồn gốc - truyền thống văn hóa lịch sử rất lâu đời.
Về cội nguồn, nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá. Bởi
trước khi có văn hóa đồ đồng tức thời kì đồ đá, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá:
cồng đá, chiêng đá, …, hay chiêng tre,… Rồi theo tiến trình lịch sử phát triển của
nhân loại, vào thời kỳ văn hóa đồng thau xuất hiện (bắt nguồn từ nền văn minh Đông
Sơn cách đây ít nhất 3.500-4.000 năm) con người tìm ra đồng, tạo nên thời đại
hoàng kim đồ đồng thì các nhạc cụ cồng, chiêng bằng đồng cũng theo đó và ra đời.
lOMoARcPSD| 61464806
Trong thời kì hoàng kim của đồ đồng, các vật dụng bằng đồng lần lượt được ra đời,
trong số đó, chiêng đồng được coi là đỉnh cao với kĩ thuật chế tác tinh xảo.
3. Văn hóa
“Người Tây Nguyên quan niệm cộng đồng gồm hai nửa – hôm qua hôm nay thế
giới hữu hình luôn liên với thế giới hình
1
. Thế nên từ thuở khai, cồng
chiêng đã được đánh lên đmừng lúa mới, xuống đồng,.. biểu hiện của tín
ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... Với âm thanh khi ngân nga sâu
lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió với tiếng lòng
người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong
năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm
mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, … hay trong một buổi nghe khan thì đều phải có
tiếng cồng, tiếng chiêng dài hơn đời người. Tiếng cồng, tiếng chiêng nối liền và kết
dính những thế hệ lại với nhau.
Phần III/ Đặc trưng bản của Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây
Nguyên
Cồng chiêng luôn có mối quan hệ sâu sắc với cuộc sống của người Tây Nguyên, nó
tiếng nói bên trong, của tâm linh, tâm hồn, diễn tả tất cả cảm xúc trong cuộc
sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau:
cồng-chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các
lễ hội sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ ng Bến nước...), những địa
điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các
khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,...).
Với người Tây Nguyên, cồng chiêng văn hóa cồng chiêng những gtrị ngàn
đời vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là giá trị nghệ thuật đã
được khẳng định từ lâu trong đời sống xã hội còn là kết tinh của hồn thiêng sông
núi qua bao thế hệ. không giá trị về mặt vật chất, giá trị về nghệ thuật đơn
thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn
vật hữu linh".
1
Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2006, tr 277
lOMoARcPSD| 61464806
1. Cồng - Chiêng
Cồng chiêng loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, khi pha vàng, bạc hoặc đồng
đen. Cồng là loại có núm, chiêng thì không có núm. Nhạc cụ này có nhiều kích cỡ,
đường kính dao động từ 20cm đến 60cm, loại cực đại lên tới 90cm hoặc đến 120cm.
Cồng chiêng thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ bao gồm từ 2 đến 12
hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Cồng chiêng Tây Nguyên không tách ra đơn lẻ thành dàn dàn cồng chiêng
được diễn tấu bởi một tập thể người_mang tính cộng đồng dân tộc sâu sắc. Bởi vậy,
khi hoà tấu cồng chiêng, các thành viên phải diễn tấu, kết hợp với nhau theo từng
đơn vị tiết tấu nhất định. Đòi hỏi nhạc công phải có một bản lĩnh tiết tấu vững vàng.
Về cách kích âm thì 2 phương pháp kích âm bản chi dùi (dành cho cả
cồng lẫn chiêng) chi đấm (chỉ dành cho chiêng). Theo thống kê, các dàn chiêng
tộc người Mạ, M’nông, dàn chiêng đôi của người Chu Ru và Cơ Ho thuộc chi đấm.
Còn tất cả các dàn chiêng khác đều thuộc chi dùi gõ.
Một số loại chiêng:
- Chiêng Lào: đã được đưa từ Lào sang, người còn cho rằng chiêng Lào thực
ra đã được đúc từ Myanma, qua con đường trao đổi, buôn bán đã đến Tây Nguyên.
Đây là loại chiêng rất quý được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to và vang xa.
- Chiêng Gioăn: do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề còn được bàn luận khá
sôinổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng lại không sử dụng? lẽ thuở bấy giờ
người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng rồi sản xuất và đưa
lên Tây Nguyên trao đổi, luôn bán. - Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang.
2. Đặc trưng về người diễn xướng
mỗi một dân tộc khác nhau lại những quy định khác nhau về việc lựa chọn
người chơi cồng chiêng. Điều này liên quan đến phong tục tập quán tín ngưỡng
của từng dân tộc, những kiêng kị trong sdụng cồng chiêng cũng khác biệt mỗi
dân tộc.
Các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Đăng, Brâu, Ho... cồng chiêng
nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Nhưng song song với những dân tộc đó,
những tộc người cồng chiêng được cho phép cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng,
dụ như : Mạ, M’Nông. Nhưng riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ
giới mới được chơi cồng chiêng.
lOMoARcPSD| 61464806
Văn hóa và âm nhạc công chiêng Tây Nguyên tồn tại dưới hình thức văn hóa và âm
nhạc dân gian. là sự sở hữu của cộng đồng và năng lực xác định chuẩn văn
hóa cho thành viên cộng đồng. Chẳng hạn như: những tộc người, cồng chiêng dành
riêng cho nam giới thì tất cả nam giới trong tộc người đó phải biết đánh chiêng;
ngược lại ở những tộc người cồng chiêng dành riêng cho nữ giới thì mọi cô gái của
tộc người đó phải thực hiện nhiệm vụ này.
Trang phục của nghệ nhân trình diễn cồng chiêng những người nhảy múa bao giờ
cũng là bộ sắc phục đẹp nhất và được dành riêng cho những khi tiến hành lễ hội mà
thường ngày ít khi mặc và bắt gặp.
Với nam giới: các chàng trai mặc áo ló, mang khố hoa trang trí nhiều họa tiết
hai đầu và những hạt cườm trắng cầu kỳ, sử dụng những dây buộc tóc được làm từ
những sợi mây nhỏ tết lại theo các hình quả trám, cộng thêm những lông chim t
hoặc là lông đuôi gà rừng đực cắm ở phía sau gáy. Đeo thêm những vòng đồng, bạc
ở những thắt lưng, những vòng cườm quanh cổ và những vòng đồng cổ tay, cũng
trường hợp người ta còn buộc thêm những quả chuông đồng nhỏ quanh cổ chân,
khiến cho những bước di chuyển của những nghệ nhân dẫn theo những tiếng va chạm
của chuông đồng.
Với nữ giới: Trang phục của nữ giới thường cầu kì hơn, các gái mặc một cái áo
dài tay bó sát thân hình có trang trí nhiều họa tiết ở vùng xung quanh ngực, gấu áo,
cổ tay hai bên vai. hai kiểu áo: áo luồn tay áo không luồn tay, đối với áo
không luồn tay thì phải có một chi tiết động là hai cánh tay thả lỏng ở bên ngoài, ch
đính vào thân áo ở cầu vai. Phụ nữ đương nhiên có chiếc váy truyền thống trang trí
rất nhiều hoa văn mông những đường viền chạy quanh thân người. Mỗi khi thực
hiện bước múa, các gái cao nguyên xinh đẹp lại khéo léo để lộ ra một phần cặp
chân của họ. Phụ nữ cũng đeo nhiều vòng đồng, bạc ở vùng quanh eo, cổ tay và trên
cổ. Cách đây nhiều năm về trước, còn bắt gặp trong trang phục của người phụ nữ Ba
Na những chùm chuông đồng nhỏ đính ở eo hoặc quanh cổ chân.
Trang phục lhội tạo cho những người dân cao nguyên vẻ đẹp khác thường và đó
dấu hiệu bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác trong cùng một vùng sinh
sống.
3. Đặc trưng về cách thức diễn xướng.
Cồng chiêng Tây Nguyên được bảo lưu dưới hình thức diễn xướng tâp t
công  đồng:
lOMoARcPSD| 61464806
Mỗi nghê nhân chơi môt nốt (môt chiêng) môt hình tiết tấu, kết hợp thành
b, thành giai điêu. Khi  ợp tấu thì các nghê nhân lắng nghe nhau tức phải tâm
linh công đồng. Ứng vào trong quá trình diễn xướng, người đánh cồng chiêng luôn
luôn di đông còn đông tác thì rất đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng.
Trong dàn cồng chiêng, vị trí của mỗi cá nhân cũng hết sức đặc biệt: đối tượng quan
trọng nhất bao giờ cũng ở giữa, dàn cồng đi vòng quanh đối tượng từ phải sang trái,
ngược chiều kim đồng hồ, với ý nghĩa ngược thời gian trở về dĩ vãng, từ bên ngoài
vào trong tim Còn giống với chiều bay của cánh chim Lạc trên trống đồng
Tùy từng nơi, trong lúc diễn tấu, người ta thường sử dụng bàn tay đỡ vào mặt hay
thành cồng chiêng đbịt hay mở tiếng nhằm tạo hiệu quả âm ngân vang hay âm ngắt.
Tay còn lại kích âm theo cách đấm hoặc gõ dùi.
Điểm kích âm của cồng bao giờ cũng núm lồi. Còn điểm kích âm của chiêng thì
đa dạng hơn. Với chi dùi gõ, người ta thể đánh vào điểm gần hoặc chính tâm
chiêng. Còn với chi đấm, điểm kích âm bao giờ cũng nằm ở giữa tính từ tâm ra đến
thành chiêng. Nếu đánh ở điểm khác thì tiếng bị xịt. Nếu dùng dùi thì ta thể đánh
vào hai mặt, nhưng đấm tngười ta buộc phải đấm mặt ngoài của chiêng để cườm
tay không bị chạm và cạnh của thành chiêng.
Với các ngón bịt, mở, xoa, miết bằng cườm tay, ngón tay với nhiều góc độ lực đ
khác nhau, nghệ nhân diễn tấu sẽ tạo ra nhiều sắc thái khác nhau trên cùng một âm.
Bởi vậy, nếu chi dùi tạo ra những âm thanh vang to, sắc nét thậm chí hoành tráng
hay dữ dội thì chi đấm lại tạo ra những âm thanh huyền ảo, trầm mặc, vẻ như thủ thỉ
dãi bày và dễ biểu cảm những sắc thái tinh tế.
Để tạo ra môt  àn diễn xướng cồng chiêng ăn ý, đòi hỏi mỗi người nghê nhân p
ải có quá trình khổ luyên lâu  ài, am hiểu nhau luôn luôn lắng nghe âm điêu c
ủa người khác, phối hợp cùng nhau tạo thành 1 chuỗi thống nhất.
4. Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc
1. Biên chế dàn nhạc
mỗi dân tộc khác nhau, hay tùy theo yêu cầu của từng nghi thức lễ hội thì lại sử
dụng các biên chế khác nhau. Chính vì vậy, biên chế cồng chiêng ở Tây Nguyên rất
đa dạng và phong phú.
Về bản thì các loại biên chế như sau: biên chế từ hai đến ba chiếc, biên chế
sáu chiếc( có khi lên đến bảy chiếc), biên chế từ tám đến chín chiếc, biên chế lớn từ
mười một đến mười hai chiếc.
lOMoARcPSD| 61464806
Đầu tiên, với biên chế từ hai đến ba chiếc: với biên chế thuộc loại nhỏ như thế này
thì chỉ yếu chức năng giữ nhịp điệu ràng cần thiết cho các hoạt động nghi lễ
hoặc các bước múa, điệu múa. Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều
tộc người Tây Nguyên tđây chính biên chế cổ xưa nhất được dùng trong các
nghi lễ quan trọng như: lễ đâm trâu, chúc sức khỏe, cầu an cho lúa và gia súc,...
dụ: * Thang âm biên chế 2 chiếc: thấy tộc người Chu Ru KơHo. Dưới
đây thang âm dàn chiêng đôi (Sariâu) của người Chu Ru (thôn Próh ngò – Próh
– Đơn Dương – Lâm Đồng).
Thứ hai, loại biên chế trung bình sáu chiếc. Loại biên chế này phổ biến ở nhiều tộc
người. Đó thể sáu chiêng bằng của người Mạ, Đăng hay Ê Đê,... hay sáu
cồng núm như trường hợp của người Ê Đê Bih.
Đây là các thang âm biên chế 6 chiếc, có khi lên đến 7 chiếc.Đây là những biên chế
độc lập, không kết hợp với các biên chế khác.
Ví dụ: + Dàn chiêng tộc người Mạ (boon Bơđăng – thôn 2 – xã Lộc Bắc – Bảo Lâm
– Lâm Đồng) – Âm vực 856 cents.
Thứ ba, loại lớn với biên chế từ tám đến chín chiếc. Hầu hết với các dân tộc sử dụng
biên chế này sẽ kết hợp với biên chế 2 3 chiếc đầu tiên để tạo ra biên chế lớn
hơn.
Ví dụ: Dàn chiêng biên chế 8 chiếc của người Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng. Dàn biên
chế 9 chiếc: Đây là trường hợp của dàn cồng chiêng 9 chiếc (Ching Shar Knăh) tộc
người Êđê K’pah (boon Kmrơng Proong A xã Êa tu – Buôn Mê Thuột – Đắk Lắk
Thứ , biên chế lớn từ 11 đến 12 chiếc. Đây là loại biên chế được tạo ra từ biên chế
đầu tiên và biên chế thứ ba. Với biên chế như vậy, số lượng cồng, chiêng trong dàn
rất lớn.
dụ: Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm 8-9 chiếc chiêng bằng
củacác tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh),
ngườiXơđăng (ngành Steng).
2. Cơ cấu dàn nhạc:
Với mỗi biên chế khác nhau thì sẽ sự sắp xếp khác nhau, dẫn đến cơ cấu dàn nhạc
ở mỗi biên chế cũng sẽ khác nhau.
lOMoARcPSD| 61464806
Trong cấu dàn nhạc, hầu hết cồng núm làm nhiệm vụ giữ nhịp, đặc biệt là nhịp t
tục. Các chiêng bằng thì thể hiện giai điệu và a âm. Bài bản của dàn chiêng hỗn
hợp này thường có hình thức nhạc chủ đạo.
Theo thứ tự thì đi đầu hàng chiêng là một cái trống, tiếp theo đó là chiêng cồng với
thứ tự cái có cao độ trầm đi trước, cáicao độ cao dần thì lần lượt theo sau. Trong
dàn chiêng chiêng chính “chiêng mẹ”, “chiêng cha” theo sau đó các
“chiêng con”. Ứng với đó chiêng đầu sẽ “chiêng mẹ”, tiếp theo sau là “chiêng bố”,
bốn chiêng còn lại là bốn đứa con ( theo từng loại biên chế), theo sau có thể còn có
các “ chiêng cháu”.
Tùy từng nơi người ta sắp xếp phân biệt đâu con trai, đâu con gái. Thông
thường chiêng con liền kề với bố mẹ nhất được coi con cả, đứa con cao nhất
con út. Điều này thể hiện mối quan hệ khá thú trong các bậc âm của một dàn
chiêng. Điều đó tạo nên hiệu quả như một phần hòa âm tất yếu của bài bản.
Khi biểu diễn, hai chiếc cồng mẹ và cồng cha đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau
để làm nền cho cả dàn nhạc. Kế tiếp 3 cồng con cùng đánh một lượt với nhau
thành một hòa âm, tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà Những
chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước - sau, mau - chậm theo đúng qui định,
phối hợp với nhau thành ra nét nhạc.
Mỗi dân tộc Tây nguyên lại một cách điều chỉnh âm thanh rất riêng, không
những khác nhau về độ cao mà còn khác về màu âm. Chẳng hạn âm nào quá thanh
phải chỉnh cho đục một chút để tạo ra nét đẹp tế nhị, việc này cũng như khi phối màu
ta phải căn chỉnh sao cho màu sắc kết hợp với nhau một cách phù hợp nhất.
5. Các lễ hội sử dụng Cồng - Chiêng
Đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trong toàn bộ các nghi lđó cồng chiêng
là một thành tố không thể thiếu.
Trong mỗi lễ hội tiếng cồng chiêng là phương tiện kết nối thiêng liêng nhất và hiệu
quả nhất giữa con người với con người giữa dân tộc này với dân tộc khác. Con
người dường như tìm thấy một sự giao hòa thực sự với nhau và với mẹ thiên nhiên
vĩ đại khi họ cùng hòa chung trong những âm thanh sống động của cồng chiêng, nó
đem đến niềm vui cho tất cả mọi người trong nghi lễ đâm trâu, lễ lập làng, lễ mừng
nhà rông mới.
“Trong tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ
cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một
lOMoARcPSD| 61464806
buổi nghe khan... quanh ngọn lửa thiêng, bên rượu cần đều phải tiếng cồng
chiêng. Đây cũng chính nền tảng tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm
chất văn hóa Tây Nguyên” (Gìa Làng Siu Phyin)
Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng,
bên những rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây
Nguyên một không gian lãng mạn huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo
nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn,
vừa hùng tráng.
Phần I V / Thực trạng và giải pháp 1. Thực trạng
nhiều lý do khác nhau, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ngày càng
bị thu hẹp, biến thái mất dần với nhiều do: Toàn cầu hóa. giao thoa văn hóa,
đời sống kinh tế khó khăn, ý thức bảo tồn văn hóa còn yếu, ít người quan tâm đến,...
Nhưng chủ yếu nhất là do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, văn hóa hiện đại.
2. Các giải pháp
Cồng chiêng không chỉ nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, gắn bó chặt chẽ với
nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần
có một chương trình tổng thể, quy mô cho công việc này.
Nỗ lực triển khai nhiều biện pháp, phương thức khác nhau như: truyền dạy, quảng
bá, giới thiệu, tái hiện di sản… Nhằm giữ gìn và phát huy giá trdi sản văn hóa cồng
chiêng:
1. Đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép nghiên cứu một cách bài bản, hệ
thống về cồng chiêng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Phục hồi giữ
gìn các sinh hoạt văn hóa để tạo môi trường sinh hoạt văn hóa cồng chiêng.
2. Xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại các bảo
tàng các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðắk Lắk, Ðắk Nông và Lâm Ðồng.
3. Ðồng thời kế hoạch đào tạo dài hạn, bản đội ngũ cán bộ khoa học am
hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịch sử Tây Nguyên, chú trọng đào
tạo cán bộ người dân tộc thiểu số. Mở lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh
cồng chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.
4. Sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng để tuyên truyền giới thiệu về
không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cho đại bộ phận giới trẻ Việt
Nam nói chung và du khách nói riêng. Tchức biểu diễn, giới thiệu trên các
lOMoARcPSD| 61464806
phương tiện thông tin đại chúng, các trường học, để nâng cao trình độ
thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về cồng chiêng văn hóa cồng chiêng
Tây Nguyên.
5. Nhà nước địa phương cần những chính sách biện pháp phù hợp để
bảo tồn và phát huy.
Thông tin được tìm hiểu ở các nguồn uy tín như:
Giáo trình sở Văn Hóa Việt Nam củaChu Xuân Diên
Giáo trình sở Văn Hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng Các
trang web uy tín:
http://dsvh.gov.vn/khong-gian-van-hoa-cong-chieng-tay-nguyen-
484
https://vi.wikipedia.org/wiki/
Không_gian_văn_hóa_cồng_chiêng_Tây_Nguyên
https://hutc.org/tai-nguyen/cong-chieng-tay-nguyen-kiet-tac-
vanhoa-cua-nhan-dan-ct100.html https://bvhttdl.gov.vn/giu-gin-di-
san-cong-chieng-tay-nguyen20210706091728362.htm

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61464806
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI BÀI ĐIỀU KIỆN
Môn: Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Giảng viên: Hà Minh
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Lớp: A5K72 – MSV: 725601292 lOMoAR cPSD| 61464806 Cấu tạo bài: I/ Giới thiệu.
II/ Những vấn đề chung. 1. Không gian tồn tại.
2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành. 3. Văn hóa.
III/ Đặc trưng cơ bản của Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 1. Cồng – Chiêng.
2. Đặc trưng về người diễn xướng.
3. Đặc trưng về hình thức diễn xướng.
4. Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc.
5. Một số lễ hội có sử dụng cồng chiêng.
IV/ Thực trạng và giải pháp. 1. Thực trạng 2. Các giải pháp ***
Phần I/ Giới thiệu: “Ninh Nơng! Ninh Nơng”
Men theo tiếng cồng vang vọng ta sẽ tìm về được ngay mảnh đất cao nguyên đầy
nắng gió – Tây Nguyên. Nơi có những bản làng với mái nhà Rông chót vót, phủ màu
tháng năm của người Gia Lai, Ê Đê, Xơ Đăng; những câu truyện sử thi bên bếp lửa
nghe già làng kể mỗi đêm… hay từng đàn voi nối đuôi ở Bản Đôn.
Đặc biệt như giáo sư Trần Quốc Vượng từng đề cập: “Nói về Tây Nguyên mà quên
cồng chiêng là một thiếu sót lớn”. Không gian sôi nổi, vui vẻ với những điệu múa
của những cô gái Buôn Mê, của tiếng nhạc phát ra từ những chiếc cồng, chiếc chiêng
làm nên bản sắc văn hóa của cả một dân tộc.n
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt
tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25/11/2005. Sau Nhã
nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai
của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới. lOMoAR cPSD| 61464806
Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có
nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.
Sau đây là những tìm hiểu của em về kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của
nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng. ***
Phần II/ Những vấn đề chung.
1. Không gian tồn tại:
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc
sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam
đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam, các dân
tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên như : Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho,
Rơmăm, Êđê, Giarai... Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo những
cách riêng để tấu lên những giai điệu riêng của dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội,
chào đón năm mới, mừng nhà mới.
Có thể nói cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là
tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc
sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Nó trở thành nền văn hóa đặc
trưng và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành.
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc - truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời.
Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá. Bởi
trước khi có văn hóa đồ đồng tức thời kì đồ đá, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá:
cồng đá, chiêng đá, …, hay chiêng tre,… Rồi theo tiến trình lịch sử phát triển của
nhân loại, vào thời kỳ văn hóa đồng thau xuất hiện (bắt nguồn từ nền văn minh Đông
Sơn có cách đây ít nhất 3.500-4.000 năm) con người tìm ra đồng, tạo nên thời đại
hoàng kim đồ đồng thì các nhạc cụ cồng, chiêng bằng đồng cũng theo đó và ra đời. lOMoAR cPSD| 61464806
Trong thời kì hoàng kim của đồ đồng, các vật dụng bằng đồng lần lượt được ra đời,
trong số đó, chiêng đồng được coi là đỉnh cao với kĩ thuật chế tác tinh xảo. 3. Văn hóa
“Người Tây Nguyên quan niệm cộng đồng gồm hai nửa – hôm qua và hôm nay – thế
giới hữu hình luôn có liên với thế giới vô hình”1. Thế nên từ thuở sơ khai, cồng
chiêng đã được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng,.. Nó là biểu hiện của tín
ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... Với âm thanh khi ngân nga sâu
lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng
người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong
năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm
mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, … hay trong một buổi nghe khan thì đều phải có
tiếng cồng, tiếng chiêng dài hơn đời người. Tiếng cồng, tiếng chiêng nối liền và kết
dính những thế hệ lại với nhau.
Phần III/ Đặc trưng cơ bản của Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng luôn có mối quan hệ sâu sắc với cuộc sống của người Tây Nguyên, nó
là tiếng nói bên trong, của tâm linh, tâm hồn, nó diễn tả tất cả cảm xúc trong cuộc
sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau:
cồng-chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các
lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước...), những địa
điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các
khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,...).
Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là những giá trị ngàn
đời vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là giá trị nghệ thuật đã
được khẳng định từ lâu trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông
núi qua bao thế hệ. Nó không là giá trị về mặt vật chất, giá trị về nghệ thuật đơn
thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".
1 Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2006, tr 277 lOMoAR cPSD| 61464806 1. Cồng - Chiêng
Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng
đen. Cồng là loại có núm, chiêng thì không có núm. Nhạc cụ này có nhiều kích cỡ,
đường kính dao động từ 20cm đến 60cm, loại cực đại lên tới 90cm hoặc đến 120cm.
Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ bao gồm từ 2 đến 12
hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Cồng chiêng Tây Nguyên không tách ra đơn lẻ mà thành dàn và dàn cồng chiêng
được diễn tấu bởi một tập thể người_mang tính cộng đồng dân tộc sâu sắc. Bởi vậy,
khi hoà tấu cồng chiêng, các thành viên phải diễn tấu, kết hợp với nhau theo từng
đơn vị tiết tấu nhất định. Đòi hỏi nhạc công phải có một bản lĩnh tiết tấu vững vàng.
Về cách kích âm thì có 2 phương pháp kích âm cơ bản là chi dùi gõ (dành cho cả
cồng lẫn chiêng) và chi đấm (chỉ dành cho chiêng). Theo thống kê, các dàn chiêng
tộc người Mạ, M’nông, dàn chiêng đôi của người Chu Ru và Cơ Ho thuộc chi đấm.
Còn tất cả các dàn chiêng khác đều thuộc chi dùi gõ. Một số loại chiêng: -
Chiêng Lào: đã được đưa từ Lào sang, có người còn cho rằng chiêng Lào thực
ra đã được đúc từ Myanma, qua con đường trao đổi, buôn bán đã đến Tây Nguyên.
Đây là loại chiêng rất quý được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to và vang xa. -
Chiêng Gioăn: do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề còn được bàn luận khá
sôinổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng mà lại không sử dụng? Có lẽ thuở bấy giờ
người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng rồi sản xuất và đưa
lên Tây Nguyên trao đổi, luôn bán. - Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang.
2. Đặc trưng về người diễn xướng
Ở mỗi một dân tộc khác nhau lại có những quy định khác nhau về việc lựa chọn
người chơi cồng chiêng. Điều này liên quan đến phong tục tập quán và tín ngưỡng
của từng dân tộc, những kiêng kị trong sử dụng cồng chiêng cũng khác biệt ở mỗi dân tộc.
Các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho... cồng chiêng
là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Nhưng song song với những dân tộc đó, có
những tộc người cồng chiêng được cho phép cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, ví
dụ như : Mạ, M’Nông. Nhưng riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ
giới mới được chơi cồng chiêng. lOMoAR cPSD| 61464806
Văn hóa và âm nhạc công chiêng Tây Nguyên tồn tại dưới hình thức văn hóa và âm
nhạc dân gian. Nó là sự sở hữu của cộng đồng và có năng lực xác định chuẩn văn
hóa cho thành viên cộng đồng. Chẳng hạn như: ở những tộc người, cồng chiêng dành
riêng cho nam giới thì tất cả nam giới trong tộc người đó phải biết đánh chiêng;
ngược lại ở những tộc người cồng chiêng dành riêng cho nữ giới thì mọi cô gái của
tộc người đó phải thực hiện nhiệm vụ này.
Trang phục của nghệ nhân trình diễn cồng chiêng và những người nhảy múa bao giờ
cũng là bộ sắc phục đẹp nhất và được dành riêng cho những khi tiến hành lễ hội mà
thường ngày ít khi mặc và bắt gặp.
Với nam giới: các chàng trai mặc áo ló, mang khố hoa có trang trí nhiều họa tiết ở
hai đầu và những hạt cườm trắng cầu kỳ, sử dụng những dây buộc tóc được làm từ
những sợi mây nhỏ tết lại theo các hình quả trám, cộng thêm những lông chim trĩ
hoặc là lông đuôi gà rừng đực cắm ở phía sau gáy. Đeo thêm những vòng đồng, bạc
ở những thắt lưng, những vòng cườm quanh cổ và những vòng đồng ở cổ tay, cũng
có trường hợp người ta còn buộc thêm những quả chuông đồng nhỏ ở quanh cổ chân,
khiến cho những bước di chuyển của những nghệ nhân dẫn theo những tiếng va chạm của chuông đồng.
Với nữ giới: Trang phục của nữ giới thường cầu kì hơn, các cô gái mặc một cái áo
dài tay bó sát thân hình có trang trí nhiều họa tiết ở vùng xung quanh ngực, gấu áo,
cổ tay và hai bên vai. Có hai kiểu áo: áo luồn tay và áo không luồn tay, đối với áo
không luồn tay thì phải có một chi tiết động là hai cánh tay thả lỏng ở bên ngoài, chỉ
đính vào thân áo ở cầu vai. Phụ nữ đương nhiên có chiếc váy truyền thống trang trí
rất nhiều hoa văn ở mông và những đường viền chạy quanh thân người. Mỗi khi thực
hiện bước múa, các cô gái cao nguyên xinh đẹp lại khéo léo để lộ ra một phần cặp
chân của họ. Phụ nữ cũng đeo nhiều vòng đồng, bạc ở vùng quanh eo, cổ tay và trên
cổ. Cách đây nhiều năm về trước, còn bắt gặp trong trang phục của người phụ nữ Ba
Na những chùm chuông đồng nhỏ đính ở eo hoặc quanh cổ chân.
Trang phục lễ hội tạo cho những người dân cao nguyên vẻ đẹp khác thường và đó là
dấu hiệu bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác trong cùng một vùng sinh sống.
3. Đặc trưng về cách thức diễn xướng.
Cồng chiêng Tây Nguyên được bảo lưu dưới hình thức diễn xướng tâp tḥ ể – công ̣ đồng: lOMoAR cPSD| 61464806
Mỗi nghê nhân chơi môt nốt (môt chiêng) và môt mô hình tiết tấu, kết hợp thành
bè, thành giai điêu. Khi ḥ ợp tấu thì các nghê nhân lắng nghe nhau tức là phải có tâm
linh công đồng. Ứng vào trong quá trình diễn xướng, người đánh cồng chiêng luôn
luôn di đông còn đông tác thì rất đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng.
Trong dàn cồng chiêng, vị trí của mỗi cá nhân cũng hết sức đặc biệt: đối tượng quan
trọng nhất bao giờ cũng ở giữa, dàn cồng đi vòng quanh đối tượng từ phải sang trái,
ngược chiều kim đồng hồ, với ý nghĩa ngược thời gian trở về dĩ vãng, từ bên ngoài
vào trong tim Còn giống với chiều bay của cánh chim Lạc trên trống đồng
Tùy từng nơi, trong lúc diễn tấu, người ta thường sử dụng bàn tay đỡ vào mặt hay
thành cồng chiêng để bịt hay mở tiếng nhằm tạo hiệu quả âm ngân vang hay âm ngắt.
Tay còn lại kích âm theo cách đấm hoặc gõ dùi.
Điểm kích âm của cồng bao giờ cũng là núm lồi. Còn điểm kích âm của chiêng thì
đa dạng hơn. Với chi dùi gõ, người ta có thể đánh vào điểm gần hoặc chính tâm
chiêng. Còn với chi đấm, điểm kích âm bao giờ cũng nằm ở giữa tính từ tâm ra đến
thành chiêng. Nếu đánh ở điểm khác thì tiếng bị xịt. Nếu dùng dùi thì ta có thể đánh
vào hai mặt, nhưng đấm thì người ta buộc phải đấm ở mặt ngoài của chiêng để cườm
tay không bị chạm và cạnh của thành chiêng.
Với các ngón bịt, mở, xoa, miết bằng cườm tay, ngón tay với nhiều góc độ và lực độ
khác nhau, nghệ nhân diễn tấu sẽ tạo ra nhiều sắc thái khác nhau trên cùng một âm.
Bởi vậy, nếu chi dùi gõ tạo ra những âm thanh vang to, sắc nét thậm chí hoành tráng
hay dữ dội thì chi đấm lại tạo ra những âm thanh huyền ảo, trầm mặc, vẻ như thủ thỉ
dãi bày và dễ biểu cảm những sắc thái tinh tế. Để tạo ra môt ḍ
àn diễn xướng cồng chiêng ăn ý, đòi hỏi mỗi người nghê nhân pḥ
ải có quá trình khổ luyên lâu ḍ ài, am hiểu nhau và luôn luôn lắng nghe âm điêu c ̣
ủa người khác, phối hợp cùng nhau tạo thành 1 chuỗi thống nhất.
4. Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc
1. Biên chế dàn nhạc
Ở mỗi dân tộc khác nhau, hay tùy theo yêu cầu của từng nghi thức lễ hội thì lại sử
dụng các biên chế khác nhau. Chính vì vậy, biên chế cồng chiêng ở Tây Nguyên rất đa dạng và phong phú.
Về cơ bản thì có các loại biên chế như sau: biên chế từ hai đến ba chiếc, biên chế
sáu chiếc( có khi lên đến bảy chiếc), biên chế từ tám đến chín chiếc, biên chế lớn từ
mười một đến mười hai chiếc. lOMoAR cPSD| 61464806
Đầu tiên, với biên chế từ hai đến ba chiếc: với biên chế thuộc loại nhỏ như thế này
thì chỉ yếu có chức năng giữ nhịp điệu rõ ràng cần thiết cho các hoạt động nghi lễ
hoặc các bước múa, điệu múa. Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều
tộc người Tây Nguyên thì đây chính là biên chế cổ xưa nhất được dùng trong các
nghi lễ quan trọng như: lễ đâm trâu, chúc sức khỏe, cầu an cho lúa và gia súc,...
Ví dụ: * Thang âm biên chế 2 chiếc: thấy có ở tộc người Chu Ru và KơHo. Dưới
đây là thang âm dàn chiêng đôi (Sariâu) của người Chu Ru (thôn Próh ngò – xã Próh
– Đơn Dương – Lâm Đồng).
Thứ hai, loại biên chế trung bình sáu chiếc. Loại biên chế này phổ biến ở nhiều tộc
người. Đó có thể là sáu chiêng bằng của người Mạ, Xơ Đăng hay Ê Đê,... hay sáu
cồng núm như trường hợp của người Ê Đê Bih.
Đây là các thang âm biên chế 6 chiếc, có khi lên đến 7 chiếc.Đây là những biên chế
độc lập, không kết hợp với các biên chế khác.
Ví dụ: + Dàn chiêng tộc người Mạ (boon Bơđăng – thôn 2 – xã Lộc Bắc – Bảo Lâm
– Lâm Đồng) – Âm vực 856 cents.
Thứ ba, loại lớn với biên chế từ tám đến chín chiếc. Hầu hết với các dân tộc sử dụng
biên chế này sẽ kết hợp với biên chế 2 và 3 chiếc ở đầu tiên để tạo ra biên chế lớn hơn.
Ví dụ: Dàn chiêng biên chế 8 chiếc của người Bahnar, Gia Rai, Xê Đăng. Dàn biên
chế 9 chiếc: Đây là trường hợp của dàn cồng chiêng 9 chiếc (Ching Shar Knăh) tộc
người Êđê K’pah (boon Kmrơng Proong A – xã Êa tu – Buôn Mê Thuột – Đắk Lắk
Thứ tư, biên chế lớn từ 11 đến 12 chiếc. Đây là loại biên chế được tạo ra từ biên chế
đầu tiên và biên chế thứ ba. Với biên chế như vậy, số lượng cồng, chiêng trong dàn rất lớn.
Ví dụ: Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng
củacác tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh),
ngườiXơđăng (ngành Steng).
2. Cơ cấu dàn nhạc:
Với mỗi biên chế khác nhau thì sẽ có sự sắp xếp khác nhau, dẫn đến cơ cấu dàn nhạc
ở mỗi biên chế cũng sẽ khác nhau. lOMoAR cPSD| 61464806
Trong cơ cấu dàn nhạc, hầu hết cồng núm làm nhiệm vụ giữ nhịp, đặc biệt là nhịp trì
tục. Các chiêng bằng thì thể hiện giai điệu và hòa âm. Bài bản của dàn chiêng hỗn
hợp này thường có hình thức nhạc chủ đạo.
Theo thứ tự thì đi đầu hàng chiêng là một cái trống, tiếp theo đó là chiêng cồng với
thứ tự cái có cao độ trầm đi trước, cái có cao độ cao dần thì lần lượt theo sau. Trong
dàn chiêng có chiêng chính là “chiêng mẹ”, “chiêng cha” và theo sau đó là các
“chiêng con”. Ứng với đó chiêng đầu sẽ là “chiêng mẹ”, tiếp theo sau là “chiêng bố”,
bốn chiêng còn lại là bốn đứa con ( theo từng loại biên chế), theo sau có thể còn có các “ chiêng cháu”.
Tùy từng nơi mà người ta sắp xếp phân biệt đâu là con trai, đâu là con gái. Thông
thường chiêng con liền kề với bố mẹ nhất được coi là con cả, đứa con cao nhất là
con út. Điều này thể hiện mối quan hệ khá lí thú trong các bậc âm của một dàn
chiêng. Điều đó tạo nên hiệu quả như một phần hòa âm tất yếu của bài bản.
Khi biểu diễn, hai chiếc cồng mẹ và cồng cha đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau
để làm nền cho cả dàn nhạc. Kế tiếp là 3 cồng con cùng đánh một lượt với nhau
thành một hòa âm, có tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà Những
chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước - sau, mau - chậm theo đúng qui định,
phối hợp với nhau thành ra nét nhạc.
Mỗi dân tộc ở Tây nguyên lại có một cách điều chỉnh âm thanh rất riêng, không
những khác nhau về độ cao mà còn khác về màu âm. Chẳng hạn âm nào quá thanh
phải chỉnh cho đục một chút để tạo ra nét đẹp tế nhị, việc này cũng như khi phối màu
ta phải căn chỉnh sao cho màu sắc kết hợp với nhau một cách phù hợp nhất.
5. Các lễ hội sử dụng Cồng - Chiêng
Đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trong toàn bộ các nghi lễ đó cồng chiêng
là một thành tố không thể thiếu.
Trong mỗi lễ hội tiếng cồng chiêng là phương tiện kết nối thiêng liêng nhất và hiệu
quả nhất giữa con người với con người và giữa dân tộc này với dân tộc khác. Con
người dường như tìm thấy một sự giao hòa thực sự với nhau và với mẹ thiên nhiên
vĩ đại khi họ cùng hòa chung trong những âm thanh sống động của cồng chiêng, nó
đem đến niềm vui cho tất cả mọi người trong nghi lễ đâm trâu, lễ lập làng, lễ mừng nhà rông mới.
“Trong tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ
cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một
lOMoAR cPSD| 61464806
buổi nghe khan... quanh ngọn lửa thiêng, bên vò rượu cần đều phải có tiếng cồng
chiêng. Đây cũng chính là nền tảng tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm
chất văn hóa Tây Nguyên”
(Gìa Làng Siu Phyin)
Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng,
bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây
Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo
nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.
Phần I V / Thực trạng và giải pháp 1. Thực trạng
Vì nhiều lý do khác nhau, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ngày càng
bị thu hẹp, biến thái và mất dần với nhiều lý do: Toàn cầu hóa. giao thoa văn hóa,
đời sống kinh tế khó khăn, ý thức bảo tồn văn hóa còn yếu, ít người quan tâm đến,...
Nhưng chủ yếu nhất là do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, văn hóa hiện đại. 2. Các giải pháp
Cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểu diễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với
nghi lễ, với đời sống hằng ngày, với chính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần
có một chương trình tổng thể, quy mô cho công việc này.
Nỗ lực triển khai nhiều biện pháp, phương thức khác nhau như: truyền dạy, quảng
bá, giới thiệu, tái hiện di sản… Nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng:
1. Đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu một cách bài bản, hệ
thống về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Phục hồi và giữ
gìn các sinh hoạt văn hóa để tạo môi trường sinh hoạt văn hóa cồng chiêng.
2. Xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại các bảo
tàng các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðắk Lắk, Ðắk Nông và Lâm Ðồng.
3. Ðồng thời có kế hoạch đào tạo dài hạn, cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học am
hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịch sử Tây Nguyên, chú trọng đào
tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số. Mở lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh
cồng chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.
4. Sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng để tuyên truyền giới thiệu về
không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cho đại bộ phận giới trẻ Việt
Nam nói chung và du khách nói riêng. Tổ chức biểu diễn, giới thiệu trên các lOMoAR cPSD| 61464806
phương tiện thông tin đại chúng, ở các trường học, để nâng cao trình độ
thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
5. Nhà nước và địa phương cần có những chính sách và biện pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy.
Thông tin được tìm hiểu ở các nguồn uy tín như:
Giáo trình Cơ sở Văn Hóa Việt Nam củaChu Xuân Diên
Giáo trình Cơ sở Văn Hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng Các trang web uy tín:
http://dsvh.gov.vn/khong-gian-van-hoa-cong-chieng-tay-nguyen- 484
https://vi.wikipedia.org/wiki/
Không_gian_văn_hóa_cồng_chiêng_Tây_Nguyên
https://hutc.org/tai-nguyen/cong-chieng-tay-nguyen-kiet-tac-
vanhoa-cua-nhan-dan-ct100.html https://bvhttdl.gov.vn/giu-gin-di-
san-cong-chieng-tay-nguyen20210706091728362.htm