



















Preview text:
Chương 1: Phần mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài
Từ trước tới nay, sách luôn là một nguồn tri thức dồi dào mà con người cần tìm đến. Sách
giúp lưu trữ các thông tin, những sáng tạo, những phát hiện hay những suy nghĩ kinh nghiệm
mà họ lưu truyền và gìn giữ từ đời này qua đời khác. Là sản phẩm văn hoá tinh thần của con
người mà nội dung nhằm giúp ích cho cuộc sống hằng ngày. Đồng thời sách giúp cung cấp hệ
thống kiến thức rất lớn tới cho mọi người và xã hội. Mỗi cuốn sách đều đem đến cho người
đọc một chủ đề hay một lĩnh vực khác nhau giúp người đọc có thêm được nhiều hiểu biết
hơn, trau dồi kiến thức của bản thân. Vì vậy, sách chính là kho tàng tri thức bất tận của nhân
loại. Đọc sách không chỉ truyền bá tri thức mà còn thể hiện nét đẹp văn hóa, thôi thúc con
người tìm hiểu, mở mang kiến thức, nâng cao và góp phần cải thiện nhân cách. Bên cạnh đó
đọc sách giúp chúng ta thư giãn và tích lũy kiến thức một cách hiệu quả.
Hiện nay, cùng với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của cách mạng 4.0 gắn liền với đó việc
ứng dụng nhiều công nghệ thông tin vào đời sống đã giúp con người tiết kiệm được thời gian,
làm việc nhanh chóng và tiện lợi hơn. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của các phương tiện
hiện đại khác, việc đọc sách đang dần ít nhận được sự quan tâm của mọi người. Họ cho rằng
đọc sách là không cần thiết, thay vào đó là tư tưởng “cái gì khó có google lo’’ và không cần
đọc hay tìm hiểu bất cứ thông tin gì từ sách vở. Điều đáng lo ngại là việc này tồn tại rất nhiều
ở thế hệ trẻ như sinh viên. Ngay cả những quyển giáo trình môn học cũng dường như dần bị
cho vào quên lãng hay thậm chí là không đụng đến.
Chính vì lý do đó, nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu về
các yếu tố tác động đến ý định đọc sách của sinh viên trường Đại học Thương Mại” nhằm tìm
hiểu về thực trạng văn hóa đọc sách của sinh viên trường Thương Mại nói riêng. Cùng với đó
là phần nào lý giải nguyên nhân vì sao văn hóa đọc đang bị các phương tiện nghe nhìn dần
lấn át trong thời đại số, những nhân tố nào có tác động tới ý định đọc sách của sinh viên. Để
từ đó đưa ra một số giải pháp, hy vọng giúp sinh viên không còn thờ ơ với việc đọc sách mà
coi sách là người bạn đồng hành trong cuộc sống tinh thần và là hành trang quan trọng cho bản thân trong tương lai. 1.2 Mục đích nghiên cứu
-Tìm hiểu, nghiên cứu xem sách có còn là sự lựa chọn hàng đầu của sinh viên Trường Đại
học Thương mại hay không và đưa ra các yếu tố như: … ảnh hưởng như thế nào đến ý định
đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại.
-Từ đó nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu và định hướng phát triển văn hóa đọc của sinh
viên Trường Đại học Thương mại nói riêng và sinh viên trên cả nước nói chung 1.3 Mục tiêu nghiên cứu
-Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên
Trường Đại học Thương mại
-Mục tiêu cụ thể: Căn cứ vào nhu cầu nghiên cứu, đề tài được thực hiện nhằm hướng đến các
mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại.
+ Đo lường mức độ ảnh hưởng đến hành vi đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại.
+ Đề xuất những khuyến nghị để nâng cao ý định đọc sách của sinh viên.
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu -
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này là các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại. - Phạm vi nghiên cứu: •
Phạm vi về không gian: Tập trung nghiên cứu ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại. •
Phạm vi về thời gian: thời gian nghiên cứu từ 17/10/2022 – 14/11/2022 1.5 Câu hỏi nghiên cứu -Câu hỏi chung:
Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại
học Thương mại như thế nào?
Câu hỏi 3: Những khuyến nghị nào được đề xuất để nâng cao ý định đọc sách của sinh viên
Trường Đại học Thương mại. -Câu hỏi cụ thể:
Thái độ có ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại không?
Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại không?
Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường
Đại học Thương mại không?
Thói quen có ảnh hưởng đến ý định đọc sách của sinh viên Trường Đại học Thương mại không?
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu trước đó
1.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Behavioral intention formation in knowledge sharing: examining the roles of extrinsic
motivators, social – psychological forces, and organizational climate
Gee-Woo Bock , Jae-Nam Lee, Robert W. Zmud và Young-Gul Kim (2005) đã nghiên cứu về
sự hình thành ý định hành vi trong việc chia sẻ tri thức với mục đích phát triển sự hiểu biết
tổng hợp về các yếu tố hỗ trợ hoặc kìm hãm kiến thức của cá nhân khi thực hiện hành vi chia
sẻ tri thức. Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) và tăng mức độ
với các động lực bên ngoài, các lực lượng tâm lý xã hội và các yếu tố môi trường tổ chức
được cho là ảnh hưởng đến ý định chia sẻ kiến thức của các cá nhân. Thông qua một cuộc
khảo sát thực địa với 154 nhà quản lý từ 27 tổ chức Hàn Quốc, nghiên cứu xác nhận giả
thuyết thái độ và các chuẩn mực chủ quan liên quan đến chia sẻ kiến thức cũng như môi
trường tổ chức ảnh hưởng đến ý định chia sẻ kiến thức của các cá nhân. Ngoài ra, các mối
quan hệ tương hỗ được dự đoán trước cũng ảnh hưởng đến thái độ của các cá nhân đối với
việc chia sẻ kiến thức trong khi cả ý thức về giá trị bản thân và môi trường tổ chức đều ảnh
hưởng đến các chuẩn mực chủ quan. Trái ngược với suy nghĩ thông thường, bài nghiên cứu
còn nhận thấy phần thưởng bên ngoài dự đoán có tác động tiêu cực đến thái độ chia sẻ kiến thức của các cá nhân.
A Study on Using the University Library and Reading Habits of Students
Bünyamin Celik (2019) đã thực hiện nghiên cứu về việc sử dụng thư viện ở đại học và thói
quen đọc sách của sinh viên với mục đích báo cáo việc sử dụng thư viện trường đại học và
thói quen đọc sách của sinh viên Khoa Giáo dục Đại học Quốc tế Tishk. 200 sinh viên được
chọn ngẫu nhiên từ 530 sinh viên từ các phòng ban khác nhau của Khoa đã tham gia cuộc
khảo sát. Mô hình nghiên cứu mô tả và tương quan được sử dụng trong nghiên cứu. Trong
phân tích dữ liệu, bảng câu hỏi và “kiểm định chi bình phương” đã được sử dụng. Theo kết
quả của nghiên cứu, việc sinh viên sử dụng thư viện trường đại học và thói quen đọc sách là
rất cao. Mặt khác, bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng thói quen đọc báo của sinh viên
rất thấp, thấp hơn nhiều so với thói quen đọc sách. Những nguyên nhân của sinh viên nghĩ
rằng họ chưa đọc đủ sách, tạp chí và các nguồn đọc tương tự được đưa ra là không có đủ thời
gian và thiếu các phương tiện in ấn, xuất bản trong nước. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra
một điều rõ ràng là những sinh viên có tần suất sử dụng thư viện cao có kết quả tốt trong học
tập và có thói quen đọc sách nhiều hơn. Mặt khác, mối quan hệ giữa tần suất đọc sách với
mức thu nhập và trình độ học vấn của cha mẹ tác động không đáng kể đến thói quen đọc sách của sinh viên.
An integrative model for knowledge sharing in communities-of-practice
Suhwan Jeon, Young-Gul Kim and Joon Koh (2011) đã thực hiện nghiên cứu với mục đích là
xác định các yếu tố và mối quan hệ ảnh hưởng đến thái độ, ý định và hành vi chia sẻ kiến
thức của các thành viên trong cộng đồng thực hành (CoP). Thiết kế, phương pháp và cách
tiếp cận được sử dựng trong bài nghiên cứu này là Lý thuyết về mô hình Hành vi có kế
hoạch, Lý thuyết Động lực và mô hình Triandis. Nghiên cứu đã thu thập được 282 câu trả lời
từ bốn công ty Hàn Quốc. Kết quả cho thấy trong khi cả yếu tố động lực bên ngoài và động
lực bên trong đều ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với hành vi chia sẻ kiến thức, thì các
yếu tố động lực bên trong ảnh hưởng tích cực hơn so với động lực bên ngoài. Ngoài ra, một
số khác biệt trong cơ chế chia sẻ kiến thức đã được ghi nhận giữa các CoP được quản lý
chính thức và các CoP không chính thức. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế do các
mẫu khảo sát được sử dụng ở đây chỉ giới hạn ở các công ty Hàn Quốc. Nghiên cứu này có
tính giá trị là một trong những nghiên cứu đầu tiên của nghiên cứu tích hợp liên quan đến
CoP nhằm hướng tới sự hiểu biết về thành phần quan trọng nhất của hoạt động CoP, đó là chia sẻ kiến thức.
1.2. Các nghiên cứu trong nước
Mô hình tích hợp giải thích cho ý định đọc sách của sinh viên
Đặng Ngọc Cát Tiên (2019) đã thực hiện nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định đọc sách của sinh viên. Nghiên cứu đã tích hợp hai khung lý thuyết chuyên dùng để giải
thích cho hành vi là TPB và các động lực có tính hoàn cảnh để xây dựng mô hình giải thích
cho ý định đọc sách của các sinh viên. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được thực hiện trên
mẫu gồm 252 sinh viên, cho kết quả các động lực bên trong và bên ngoài có sự tác động tích
cực đến thái độ với việc đọc sách. Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đã
góp phần giải thích cho ý định đọc sách của các sinh viên. Việc tích hợp thêm yếu tố thói
quen vào mô hình cũng là ý tưởng khá mới mẻ, tuy nhiên với thực trạng thói quen đọc sách
của các sinh viên còn chưa cao, nên yếu tố trên đã không thể giải thích cho ý định đọc sách
khi đứng chung với các yếu tố mạnh khác của TPB như nhận thức kiểm soát hành vi hay
chuẩn chủ quan. Kết quả thu được đã khẳng định giá trị giải thích và tiên đoán cho ý định
hành vi của con người của lý thuyết TPB và lý thuyết động lực. Tuy nhiên, mô hình tích hợp
vẫn còn hạn chế vì mức độ giải thích đối với ý định hành vi chưa cao.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên
Nguyễn Thúy Quỳnh Loan và Võ Hoàng Duy (2013) đã thực hiện nghiên cứu phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên trường Đại học Bách
Khoa thành phố Hồ Chí Minh. Bài báo trình bày nghiên cứu về thói quen đọc sách chuyên
ngành của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh qua đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thói
quen đọc sách. Với số mẫu khảo sát 503 sinh viên thuộc Trường Đại học Bách Khoa Thành
phố Hồ Chi Minh cho thấy thói quen đọc sách của sinh viên ở mức thấp và có 5 yếu tố tác
động có ý nghĩa thống kê lên thói quen đọc sách chuyên ngành của sinh viên là giảng viên,
sinh viên, môi trường ở nhà, môi trường ở lớp, môi trường xã hội và môi trường thế giới ảo.
Thông qua phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân
tích hồi quy đa biến cho thấy giảng viên, sinh viên, môi trường ở nhà, môi trường ở lớp, môi
trường xã hội là những yếu tố tác động tích cực lên thói quen đọc sách của sinh viên và môi
trường thế giới ảo là nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến thói quen đọc sách của sinh viên. Trong
các nhân tố đó, môi trường xã hội có tác động mạnh nhất. Bài viết đã đề xuất hàm ý quản lý
nhằm khuyến khích thói quen đọc sách của sinh viên.
Thực trạng đọc của sinh viên khoa công tác xã hội, học viện phụ nữ Việt Nam
Nguyễn Phương Anh và Phạm Thị Ngọc Hà (2020) đã thực hiện nghiên cứu về tình trạng đọc
sách của sinh viên khoa công tác xã hội, học viện phụ nữ Việt Nam. Khảo sát được thực hiện
với 120 sinh viên khoa Công tác xã hội bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
không tỉ lệ. Khảo sát tìm hiểu thực trạng đọc của sinh viên khoa công tác cã hội về các khía
cạnh là tần suất đọc, thời gian đọc trung bình/ngày, thời điểm đọc, dạng sách/tài liệu, địa
điểm đọc và nguồn đọc. Kết quả nghiên cứu về thực trạng đọc của sinh viên khoa công tác xã
hội đã chỉ ra tần suất đọc nhiều sinh viên là hàng ngày. Thời gian đọc trung bình/ngày đa số
là trên trên 30 phút và chủ yếu là vào buổi tối ở những địa điểm như là nhà, phòng trọ, kí túc
xá. Dạng sách,tài liệu, phần lớn sinh viên đọc ở dạng điện tử và nguồn đọc phổ biến là
internet, tỉ lệ sinh viên đọc tài liệu ở dạng điện tử cao hơn gấp 2,5 lần so với số sinh viên
thường đọc ở dạng in ấn và nguồn đọc chủ yếu của sinh viên là internet. Trên cơ sở những kết
quả của khảo sát, nhóm tác giả đã trình bày một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đọc cho sinh viên. 2. Cơ sở lý luận
2.1. Thuyết hành vi có hoạch định
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) là một
phát triển từ lí thuyết trước đó về hành vi hợp lí (Theory of reasoned action – TRA)
của Ajzen và Fishbein (1975), lý thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lý thuyết trước về
việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí. TPB được xem là một
trong những lý thuyết quan trọng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội để dự đoán
hành vi con người. Theo TPB, 3 yếu tố có ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi là: Thái
độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. “Thái độ đối với
hành vi” là đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi cụ
thể. Thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của
hành vi đó (Ajzen, 1991, tr.188). “Chuẩn mực chủ quan” là nhận thức của những người ảnh
hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi (Ajzen, 1991,
tr.188). “Nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện
hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr.183).
2.2. Lý thuyết động lực
Động lực “Motivation” có nguồn gốc từ động cơ (motive), là những nhân tố thúc đẩy cá nhân
thực hiện một điều gì đó. Theo Bedeian (1993) động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu
của mỗi cá nhân. Động lực theo Kreitner (1995) là một quá trình tâm lý mà nó định hướng
các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Nhà nghiên cứu Mitchell (1982) lại cho rằng,
động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của
mình. Các tác giả Deci Và Ryan (1987); Teo, Lim và Lai (1999) đã xác định hai khía cạnh
rộng của động lực là động lực bên trong và động lực bên ngoài. Động lực bên trong là động
lực xuất phát từ bên trong con người, nó thường bắt nguồn từ sự yêu thích, niềm đam mê,
cảm giác hài lòng. Động lực bên ngoài đề cập đến những hành động mà chúng ta thực hiện để
có được một số phần thưởng bên ngoài.
Các thành phần động lực
Deci và Ryan (1985) đề xuất lý thuyết sự tự quyết (self-determination – SDT) giải thích cho
quyền tự quyết và các ảnh hưởng đối với động lực hành vi ở một người. Các nguyên lý cơ
bản của lý thuyết sự tự quyết đề xuất động lực ở ba cấp độ: toàn cầu, ngữ cảnh và hoàn cảnh.
Động lực ở cấp độ toàn cầu lặp lại cách một cá nhân thường tương tác với môi trường của họ.
Động lực có tính ngữ cảnh là động cơ hướng tới một bối cảnh cụ thể, chẳng hạn như công
việc, thể thao hoặc giáo dục (Vallerand, 1997). Động lực có tính hoàn cảnh là động lực trải
qua khi tham gia vào một hành động cụ thể (Vallerand, 1997). Cả ba cấp độ này được mô tả
bằng nhiều yếu tố khác nhau, trong số đó có các yếu tố động lực do SDT đề xuất (Deci &
Ryan, 1985, 1991) bao gồm: Động lực bên trong (Intrinsic Motivation – IM), quy định nhận
thức (Identified Regulation – IR), quy định bên ngoài (External Regulation – ER) và động lực
vô thức (Amotivation – AM). Thang đo động lực được phát triển bởi Guay, Vallerand và
Blanchard (2000) đánh giá IM, IR, ER và AM. Động lực bên trong là thứ hướng cá nhân đến
một hành vi nào đó được thúc đẩy bởi giá trị mà chính hành vi đó mang lại. Ngược lại, không
giống như động lực bên trong, động lực bên ngoài bao gồm những lý do đa dạng khác vượt
xa hơn những mục đích nội tại, hoàn toàn tập trung vào phần thưởng bên ngoài và được phân
loại dựa vào mức độ tự quyết của cá nhân. Theo mức độ sự tự quyết thấp đến cao, động lực
bên ngoài được chia thành quy định bên ngoài và quy định tự nhận thức. Quy định bên ngoài
tức là làm một việc để nhận được những phần thưởng, hoặc tránh những hậu quả tiêu cực.
Quy định nhận thức là sự điều chỉnh theo mục tiêu, có nghĩa là một người làm một việc gì đó
bởi vì người đó xác định được ý nghĩa hay giá trị của nó, và xem nó như là của bản thân
mình. Động lực vô thức thể hiện cho mức độ rất ít tự quyết, cá nhân thiếu ý định để hành
động hoặc hành động một cách thụ động. Trong khi ba loại động lực đầu tiên dẫn đến những
kết quả tích cực, thì động lực vô thức thường dẫn đến những kết quả tiêu cực, vì nó thể hiện
tình trạng trải nghiệm sự bất lực, không hi vọng hoặc mất sự tự chủ và kiểm soát của cá nhân
khi thực hiện hành vi. Thang đo động lực được phát triển bởi Guay, Vallerand và Blanchard
(2000) đánh giá IM, IR, ER và AM đã chứng minh độ tin cậy và được kế thừa qua nhiều bài
nghiên cứu khoa học (Lonsdale và cộng sự, 2011 ; Standage, Treasure, Duda, & Prusak,
2003). Vì vậy, thang đo này sẽ được kế thừa trong nghiên cứu tích hợp cùng mô hình TPB để
lý giải và dự đoán về hành vi đọc sách của các sinh viên. 2.3. Mô hình nghiên cứu
Việc tích hợp lý thuyết về động lực và lý thuyết TPB đã được một số học giả trước đây sử
dụng trong mô hình nghiên cứu về hành vi chia sẻ tri thức để giải thích cho hành vi chia sẻ tri
thức của các nhân viên ở Đài Loan (H. F. Lin, 2007). Nghiên cứu này xem xét vai trò của các
yếu tố bên ngoài (phần thưởng tổ chức mong đợi và lợi ích tương hỗ) và bên trong (hiệu quả
kiến thức và sự thích thú khi giúp đỡ người khác) trong việc giải thích ý định chia sẻ tri thức
của nhân viên. Các thành phần của động lực đã được chứng minh có sự tác động tích cực đến
thái độ. Tích hợp bốn yếu tố của động lực vào mô hình giải thích ý định đọc sách của sinh
viên, giả thuyết đầu tiên được đưa ra như sau:
H1: Thái độ đối với việc đọc sách của các sinh viên chịu tác động tích cực từ: (a) Động lực bên trong;
(b) Quy định tự nhận thức; (c) Quy định bên ngoài; (d) Động lực vô thức.
Trong lý thuyết TPB, Ajzen và Fishbein (l975) định nghĩa ý định hành vi là sự biểu thị tính
sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã qui định và nó được xem là tiền đề trực
tiếp dẫn đến hành vi. Ý định dựa trên các ước lượng bao gồm: thái độ dẫn đến hành vi, chuẩn
chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Đối tượng nghiên cứu ở đây là hành vi đọc sách
của sinh viên là một dạng của hành vi duy trì một thói quen. Bhattacherjee (2001) định nghĩa
ý định duy trì là sự sẵn lòng tiếp tục giữ nguyên một hành động nào đó trong tương lai gần.
Đối với nghiên cứu này là ý định duy trì việc đọc sách của các sinh viên. Vì vậy, các giả
thuyết tiếp theo được đưa ra như sau:
H2: Chuẩn chủ quan tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên.
H3: Nhận thức kiểm soát hành vi tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên.
Một yếu tố khác được sử dụng trong nghiên cứu này để làm rõ thêm cho ý định đó là thói
quen của con người. Thói quen là một chuỗi phản xạ có điều kiện do rèn luyện mà có. Phản
xạ có điều kiện là những hành vi được lặp đi lại nhiều lần trong cuộc sống và rèn luyện, đó là
những hành vi định hình trong cuộc sống và được coi là bản chất thứ hai của con
người (L’habitude est une seconde nature). Thói quen đối với một hành vi là tần suất mà một
cá nhân thực hiện hành vi đó trong quá khứ, và được xem là một nguồn lực ảnh hưởng đến
hành vi trong thực tế cuộc sống (H. H. Lin & Wang, 2006). Khi các hành vi đã trở thành thói
quen, nó khiến con người tự thực hiện chúng một cách vô thức mà không cần đến lý do
(Ouellette & Wood, 1998). Yếu tố thói quen đã được nhiều nhà khoa học tích hợp vào các mô
hình giải thích hành vi trong nghiên cứu của mình. Vì vậy, ở bài nghiên cứu về ý định đọc
sách của sinh viên yếu tố thói quen sẽ được tích hợp vào mô hình với giả thuyết được đưa ra như sau:
H4: Thói quen đọc sách tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên.
Trên cơ sở đó mô hình nghiên cứu với các giả thuyết được xây dựng (hình 1): Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định đọc sách
Nhận thức kiểm soát hành vi Thói quen
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện qua 2 bước như sau:
Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính được tiến hành thông qua phỏng
vấn nhằm phát hiện, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để thực hiện đo
lường các khái niệm nghiên cứu
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng được thực hiện thông qua
hình thức phiếu khảo sát nhằm đánh giá các thang đo và kiểm định mô hình lí thuyết của đề tài 3.2 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
3.3 Nghiên cứu định tính
Áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính, bảng hỏi được xây dựng và phỏng vấn sâu 10
sinh viên về ý định đọc sách để xác định tính hợp lý của thang đo cũng như quan điểm của họ
về ý định đọc sách ở sinh viên. Sau đó, mẫu khảo sát 250 sinh viên thuộc chuyên ngành
Marketing Trường Đại học Thương mại theo phương pháp lấy ngẫu nhiên thuận tiện. Số
phiếu sau 1 tuần khảo sát là 179 phiếu, phù hợp với yêu cầu về kích cỡ mẫu tối
thiểu cho nghiên cứu là 175 phiếu, gấp 5 lần tổng số phiếu quan sát. Tiêu thức Phân loại Tần số Tỉ lệ
Bạn có thường cuyên đọc sách không? Có 114 63,3% Không 53 29,4% Khác 13 7,3%
Loại sách bạn thường xuyên đọc nhất Tài liệu học 43 24% Truyện/ Tiểu thuyết 87 48,6%
Sách khoa học/ kỹ năng sống 43 24% Khác… 6 3,4%
Các mục đích khi đọc sách của bạn? Để thi đậu môn học 20 11,2% Lấy kiến thức 60 33,5% Tăng kỹ năng nói/ viết 14 7,8% Giải trí, thư giãn 85 47,5%
Các lý do khiến bạn không muốn đọc Không có nơi phù hợp 29 16,2% sách? Bố mẹ không ủng hộ 4 2,2% Không hứng thú 48 26,9% Lười 98 54,7%
Bạn thường làm gì khi rảnh rỗi? Đọc sách 34 19% Xem phim 18 10,1% Nghe nhạc 28 15,6% Lướt mạng xã hội 99 55,3%
Kết quả ở bảng trên cho thấy hơn 60% người tham gia khảo sát thì thường xuyên đọc sách,
hơn 29% không thường xuyên đọc sách và hơn 7% là thi thoảng đọc sách, tần suất thấp.
Trong đó, 48,6% loại sách mà sinh viên đọc là truyện hoặc tiểu thuyết, 24% đọc sách về tài
liệu học, 24% đọc sách về khoa học, kỹ năng sống. Khi được hỏi về mục đích đọc sách, có
đến 47.5% trong số đó đọc với mục đích để giải trí và thư gián; 33,5% đọc vì mục đích lấy
kiến thức cho bản thân và 19% cho hai mục đích còn lại là thi đậu môn hoạc và tăng ký năng
nói/ viết. Hai lý do đáng để quan tâm là có đến 54,7% những người tham gia không muốn
đọc sách là vì lười và 26,9% lựa chọn họ không hứng thú với việc đọc sách. Trong đó có
55,3% những lựa chọn thường xuyên lướt mạng xã hội khi rảnh rỗi, 25.7% dùng quỹ thời
gian rảnh để xem phim và nghe nhạc. Điều đó cho thấy sinh viên Trường Đại học Thương
mại vẫn chưa hứng thú với việc đọc sách, việc lướt mạng xã hội chiếm khá lớn thời gian rảnh
của mình, và “lười” đối với đọc sách là xu thế chủ đạo.
3.4 Nghiên cứu định lượng
3.4.1. Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát là những sinh viên của trường Đại học Thương mại. Việc lấy mẫu sẽ
tiến hành gửi bảng khảo sát (online) cho các sinh viên theo học ở tất cả các năm và các hệ
như: chương trình đại trà, chương trình chất lượng cao, chương trình đặc thù. 3.4.2. Kích thước mẫu.
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phân tích hồi quy đa biến nên cỡ mẫu được xác định như sau:
- Theo Tabachnick và Fidell (1996), đối với phân tích hồi quy đa biến, cỡ mẫu tối thiểu được
tính theo công thức: n = 50 + 8*m.
Trong đó: + n: là số phần tử được lựa chọn (cỡ mẫu)
+ m: là số biến độc lập.
Vậy cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là: n1 = 50 + 8*8 = 144 (phần tử)
- Theo Nghiên cứu về cỡ Commey (1973), Roger thực hiện (2006) cho thấy cỡ mẫu tối thiểu
áp dụng được trong các nghiên cứu thực hành: n = 5*m.
Trong đó: + n: là số mẫu cần điều tra
+ m: số câu hỏi được đo lường.
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là: n = 5*36 = 180 (phần tử). 2
Ta thấy, n2>n 1nên mẫu tối thiểu được áp dụng trong nghiên cứu thực hành là 180 phần tử.
Tuy nhiên, để đảm bảo độ tin cậy của nghiên cứu quyết định chọn cỡ mẫu lớn hơn mức tối
thiểu và chọn với số lượng là 200 mẫu.
3.4.3. Phương pháp thu thập dữ liệu
Sau khi đã hoàn thành xong việc xác định cỡ mẫu và cách thức tiến hành lấy mẫu, sẽ tiến
hành việc thu thập dữ liệu thông qua phiếu khảo sát online sinh viên đang theo học tại trường Đại học Thương mại.
Nhóm thiết kế bộ câu hỏi để xây dựng nên phiếu khảo sát với tiêu đề “Các yếu tố tác động
đến ý định đọc sách của sinh viên” được định dạng trực tuyến trên Google form. Tiến hành
khảo sát điều tra trên các hội, nhóm tự học của sinh viên trường Thương mại, chia sẻ tới bạn
bè, người quen qua các nền tảng mạng xã hội.
Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên trong đó dùng phương pháp
chọn mẫu thuận tiện, phương pháp này giúp xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên
cứu, tiết kiệm thời gian và chi phí, đảm bảo tính khách quan.
Nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra thu thập số liệu trong thời gian từ 7/11/2022 đến
11/11/2022. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, ngẫu nhiên và thuận tiện được sử dụng. Trong
bảng hỏi điều tra có tổng câu hỏi được phân trong 8 nhóm đề mục gồm: (1) Động lực bên trong
(2) Quy định tự nhận thức
(3) Tác động từ bên ngoài (4) Động lực vô thức
(5) Thái độ khiến bạn đọc sách
(6) Ý định khiến bạn đọc sách (7) Chuẩn chủ quan
(8) Nhận thức kiểm soát hành vi
(9) Thói quen đọc sách của bạn.
Nhóm từ 1 đến 8 sử dụng thang đo Likert với dãy giá trị từ 1 – 5 để đo lường mức độ cảm
nhận của đối tượng khảo sát theo mức độ:
1.Hoàn toàn không đồng ý. 2 Không đồng ý. 3.Trung lập. 4.Đồng ý. 5.Hoàn toàn đồng ý.
Phần mềm SPSS 20 được sử dụng để mô tả đặc điểm mẫu điều tra, phân tích khám phá nhân
tố và phân tích hồi quy. 3.5 Bảng thang đo TT Tiêu chí Nguồn Động lực bên trong
Động lực bên trong (Guay et al., 2009)
IM1 Tôi đọc sách vì tôi nghĩ rằng đọc sách là thú vị
IM2 Tôi đọc sách vì tôi nghĩ rằng đọc sách thì thoải mái
IM3 Tôi đọc sách vì đọc sách rất là vui
IM4 Tôi đọc sách vì tôi cảm thấy thích thú khi đọc sách
IM5 Tôi đọc sách vì điều đó tốt cho tôi Quy định tự nhận thức
Quy định tự nhận thức (Guay et al., 2009
SA1 Tôi đọc sách vì điều đó tốt cho tôi
SA2 Tôi đọc sách vì việc đọc sách mang lại lợi ích cho tôi
SA3 Tôi đọc sách vì tôi tin rằng việc đọc sách quan trọng với tôi
SA4 Tôi đọc sách vì tự tôi quyết định đọc sách Quy định bên ngoài
Quy định bên ngoài (Guay et al, 2009)
ER1 Tôi đọc sách vì tôi được đề nghị đọc sách
ER2 Tôi đọc sách vì việc đọc sách là điều tôi phải làm
ER3 Tôi đọc sách bởi vì tôi không có lựa chọn nào khác
ER4 Bởi vì tôi nghĩ rằng tôi phải đọc sách Động lực vô thức
Động lực với thức (Guay et al, 2009)
UM1 Có thể là có rất nhiều lý do để đọc sách, nhưng
tôi cá nhân tôi vẫn không hiểu vì sao
UM2 Tôi đọc sách, nhưng tôi cũng không chắc rằng việc này có đáng không
UM3 Tôi vẫn chưa hiểu rõ việc đọc sách có thể
mang lại cho tôi điều gì
UM4 Tôi có đọc sách, nhưng tôi không chắc rằng
đây là hành động mà tôi nên tiếp tục Thái độ Thái độ (Lee, 2009)
AT1 Tôi nghĩ rằng việc đọc sách là một ý kiến hay.
AT2 Tôi nghĩ rằng việc đọc sách là một ý tưởng sáng suốt.
AT3 Tôi nghĩ rằng việc đọc sách sẽ mang lại nhiều lợi ích cho tôi
AT4 Theo ý kiến của tôi, đọc sách là việc mọi người nên làm Ý định
Ý định (Bhattacherjee, 2001)
IT1 Tôi sẽ tiếp tục đọc sách cho nhu cầu học hỏi
IT2 Tôi dự định sẽ tiếp tục đọc sách trong tương lai
IT3 Tôi sẽ tiếp tục đọc sách cho nhu cầu giải trí của tôi IT4 Chuẩn chủ quan
Chuẩn chủ quan (Jeon et al, 2011)
SS1 Những người quan trọng với tôi nghĩ rằng tôi nên đọc sách
SS2 Những người thân trong gia đình rất ủng hộ việc đọc sách của tôi
SS3 Bạn bè của tôi nghĩ rằng tôi nên đọc sách
SS4 Những người có sức ảnh hưởng đến tôi nghĩ rằng tôi nên đọc sách
Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi Lee (2009), Jeon và cộng sự (2011)
BC1 Tôi nghĩ rằng mình có điều kiện thuận lợi để đọc sách 0
BC2 Tôi nghĩ rằng mình có đủ thời gian dành cho việc đọc sách 0
BC3 Tôi dễ dàng tiếp cận những cuốn sách mà tôi muốn
BC4 Tôi có đủ khả năng tài chính để thuê hoặc mua
những quyển sách mà tôi muốn Thói quen
Thói quen (Venkatesh et al, 2012)
HB1 Việc đọc sách đã trở thành thói quen của tôi
HB2 Tôi rất nghiện đọc sách
HB3 Đọc sách là việc không thể thiếu trong cuộc sống của tôi
3.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Đề tài sử dụng những nghiên cứu phù hợp để khảo sát, miêu tả, phân tích
và đi đến những nhận định khái quát vấn đề. Thành công của đề tài sẽ là một công trình khoa
học nhỏ nhưng góp phần vào việc phát triển văn hóa đọc trong đời sống sinh viên
Ý nghĩa thực tiễn: Sự thành công của đề tài rất có giá trị thực tiễn bởi hiểu rõ tầm quan trọng
của việc đọc sẽ giúp mỗi cá nhân tự giác học hỏi, trau dồi kiến thức, tự hoàn thiện bản thân
cũng như phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
4.1 Phân tích thống kê mô tả 4.2 Phân tích chuyên sâu
4.1.1 Hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng
Kết quả phân tích Cronbach Alpha cho thấy, 8 thành phần của thang đo ý định đọc sách đều
có độ tin cậy lớn hơn 0,6. Như vậy, thang đo thiết kế trong nghiên cứu khoa học có ý nghĩa
trong thống kê và đạt hệ số tin cậy cần thiết. Cụ thể: (i) Thành phần động lực bên trong đạt
giá trị 0,912 ; (ii) Thành phần quy định tự nhân thức có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,892; (iii)
Thành phần quy định bên ngoài có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,826; (iv) Thành phần động
lực vô thức có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,859 ; (v) Thành phần thái độ có Cronbach Alpha
đạt giá trị 0,867; (vi) Thành phần thái độ có Cronbach Alpha đạt giá trị 0.867; (vii) Thành
phần chuẩn chủ quan có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,865; (viii) Thành phần thói quen có
Cronbach Alpha đạt giá trị 0,862; ngoài ra còn có thành phần ý định đọc sách của sinh viên
là thành phần đánh giá chung có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,809. Vì vậy, 8 thành phần trong
chất lượng đào tạo được sử dụng trong phân tích nhân tố khám phá EFA. Nhân tố
Hệ số CronbachSố biến quan sát Số biến quan sát sau khi alpha ban đầu loại biến
Động lực bên trong (IM) 0,912 4 4
Quy định tự nhận thức 0,892 4 3 (SA)
Quy định bên ngoài (ER) 0,826 4 4 Động lực vô thức (UM) 0,859 4 4 Thái độ (AT) 0,867 4 4 Chuẩn chủ quan (SS) 0,865 4 4
Nhận thức kiểm soát hành 0,869 4 3 vi (PC) Thói quen (HB) 0,862 3 3 Ý định (IT) 0,809 4 4
Bảng : Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Kết quả phân tích nhân tố cho thang đo ý định đọc sách cho thấy, hệ số KMO báo cáo có giá
trị 0,909 lớn hơn 0,5 chứng tỏ sự thích hợp của EFA. Kết quả EFA thu được 8 thành phần tại
Eigenvalues là 1.129. Nghiên cứu đi đến kết luận thang đo được chấp nhận, 35 biến quan sát
được nhóm lại thành 6 nhân tố, tổng phương sai trích là 68,544 cho biết 5 nhân tố này giải
thích được 68,544% biến thiên của các biến quan sát.
Như vậy, mô hình nghiên cứu ban đầu qua kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha và phân
tích nhân tố khám phá EFA, 8 thành phần đề xuất đều đạt yêu cầu và có ý nghĩa trong thống
kê. Các thành phần trên sẽ được sử dụng trong phần tích kiểm định tiếp theo. 4.3 Phân tích hồi quy
Kết quả phân tích các hệ số hồi quy trong mô hình cho thấy, mức ý nghĩa của các thành phần
quy định tự nhận thức, thái độ và thói quen đều có Sig < 0,05, trừ thành phần động lực bên
trong, quy định bên ngoài, động lực vô thức, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
có Sig > 0,05. Do đó, ta có thể nói rằng các biến độc lập quy định tự nhận thức, thái độ và
thói quen có tác động đến ý định đọc sách của sinh viên. Các thành phần động lực bên trong,
quy định tự nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và thói quen đều
có ý nghĩa trong mô hình và tác động cùng chiều đến ý định đọc sách của sinh viên, do các hệ
số hồi quy của các thành phần đó đều mang dấu dương. Giá trị hồi quy chuẩn của các biến
độc lập trong mô hình có giá trị báo cáo lần lượt: quy định tự nhận thức là 0.326, thái độ là
0.243, và thói quen là 0.196. Qua kết quả phân tích hồi quy, ta có phương trình:
IT = 0,326SA + 0,243AT + 0,196HB + ε
Mô hình trên giải thích được 41,4% sự thay đổi của biến IT là do các biến độc lập trong mô
hình tạo ra, còn lại 58,6% biến thiên được giải thích bởi các biến khác nằm ngoài mô hình.
Kết quả giá trị hồi quy chuẩn (Standardized Coefficients Beta) cho thấy tầm quan trọng của
từng biến độc lập đối với biến phụ thuộc. Giá trị Beta tại Bảng cho biết mức độ ảnh hưởng
giữa 3 biến độc lập và biến phụ thuộc, giá trị hồi quy chuẩn của quy định tự nhận thức ảnh
hưởng 33,9% đến sự hài lòng; giá trị hồi quy chuẩn của thái độ ảnh hưởng 24% đến sự hài
lòng; giá trị hồi quy chuẩn của thói quen ảnh hưởng 20,4% đến sự hài lòng. Mô R
bình R bình phương hiệu Ước lượng sai số hình R phương chỉnh chuẩn Durbin-Watson 1 0,644 0,414 0,386 0,748 1,909 Các hệ số Mô hình
Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa Hệ số hồi quy chuẩn hóa t Sig. B Sai số chuẩn Beta Constant 1,208 0,286 4,222 <0,001 IM 0,014 0,076 0,014 0,178 0,859 SA 0,326 0,085 0,039 3,841 <0,001 ER -0,102 0,059 -0,115 -1,722 0,087 1 UM -0,017 0,059 -0,02 -0,289 0,773 AT 0,243 0,08 0,24 3,038 0,003 SS 0,051 0,065 0,06 0,783 0,435 PC 0,012 0,081 0,012 0,146 0,884 HB 0,196 0,072 0,204 2,738 0,007
Bảng : Kết quả phân tích hồi quy bội Giả thuyết Kết quả kiểm định
H1: Thái độ đối với việc đọc sách của các sinh viên chịu tác động tích cực từ: (a): Động lực bên trong Không chấp nhận
(b): Quy định tự nhận thức Chấp nhận (c): Quy định bên ngoài Không chấp nhận (d): Động lực vô thức Không chấp nhận
H2: Thái độ tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên Chấp nhận
H3: Chuẩn chủ quan tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên Không chấp nhận
H4: Nhận thức kiểm soát hành vi tác động tích cực đến ý định đọc sách Không chấp nhận của sinh viên
H5: Thói quen tác động tích cực đến ý định đọc sách của sinh viên Chấp nhận
Bảng : Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết
Bảng cho thấy, các giả thuyết H1b, H2, H5 đều được chấp nhận, ý định đọc sách của sinh
viên có thể đo lường bằng các yếu tố: quy định tự nhận thức, thái độ và thói quen. Ngược lại,
giả thuyết H1a, H1c, H1d không được chấp nhận vì nó không có tác động đến ý định đọc sách của sinh viên.
Hình : Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 4.4 Phân tích định tính 1. Động lực bên trong:
Hầu hết các bạn sinh viên tham gia nghiên cứu đều cảm thấy đọc sách rất thú vị và cảm thấy
vui vẻ, thoải mái khi đọc sách.
“...đọc sách thì khá là thú vị, tại vì nó cũng cho mình biết thêm được nhiều kiến thức, nhiều
điều mới mẻ. Bên cạnh đó thì mình có thể giải tỏa căng thẳng hoặc là nhờ sách mà mình có
thể tạo nên mối quan hệ với những người khác... mình cảm thấy là mình tri thức hơn, tự tin
hơn…”- Bạn sinh viên ID: 1
“...việc đọc sách rất thú vị vì thông qua đọc sách tớ vừa biết được nhiều điều mới lạ vừa có
thể giải trí sau những giờ học căng thẳng bằng những cuốn tiêu thuyết hay những mẩu truyện
cười... khi đọc những thể loại sách tớ yêu thích như: tiểu thuyết, truyện tranh,... tớ sẽ cảm
thấy thoải mái, vui vẻ và thư giãn đầu óc...”- Bạn sinh viên ID: 5
“...làm thay đổi tư duy, khiến có cái nhìn mới về thế giới, về bản thân. Khám phá ra được
nhiều cái mới, học được chút ít từ cuốn sách...”- Bạn sinh viên ID: 11
2. Quy định về nhận thức:
Đa số các bạn sinh viên tham gia phỏng vấn đều cho rằng đọc sách mang lại rất nhiều lợi ích
đặc biệt là nâng cao tri thức và giải trí.
“...việc đọc sách giúp mình cảm thấy thư giãn, khi đóc sách giúp mình điều chỉnh lại cảm
xúc. Mỗi khi cảm thấy nóng giận hay đang buồn thì khi đọc sách mình đều trở lại cảm xúc
cân bằng hơn…”- Bạn sinh viên ID: 8
“...đọc sách mang lại rất nhiều lợi ích cho bản thân tớ. Thứ nhất, với tớ sách là nguồn cung
cấp tri thức, giúp tớ có thể mở rộng kiến thức và nâng cao vốn hiểu biết của mình...Thứ hai,
đọc sách giúp tớ giải tỏa được áp lực học tập, mang lại cho tớ cảm giác thoải mái nhất...”- Bạn sinh viên ID: 5
Bên cạnh đó, đọc sách còn giúp các bạn sinh vên nâng cao các kỹ năng khác.
“...tăng kĩ năng giải quyết vấn đề, mở rộng vốn từ vựng để mình diễn đạt câu văn suôn sẻ và
mượt mà hơn...”- Bạn sinh viên ID:
“...về kỹ năng mềm, chắc là tớ có tư duy phản biện hơn và kỹ năng thứ ba là biết cách nói
năng lưu loát hơn...” – Bạn sinh viên ID: 3
“...học được cách bộc lộ cảm xúc, biết quản lí thời gian, biết được phương pháp học tập hiệu
quả...”-Bạn sinh viên ID: 5
Ngoài ra, hầu hết các bạn sinh viên tham gia nghiên cứu đều đọc sách vì mục đích tiếp thu
thêm kiến thức mới và giải tỏa căng thẳng.
“...trước đây thì tớ đọc sách để cho mình thêm nhiều kiến thức nhưng hiện tại tớ đọc sách
thiên về giải trí nhiều hơn...”- Bạn sinh viên ID: 3
“...mình muốn tiếp thu kiến thức và bên cạnh đó, một phần mình cũng muốn dùng sách để
giải trí thay vì dành quá nhiều thời gian vào mạng xã hội...”- bạn sinh viên ID: 6 3. Quy định bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài cũng góp phần ảnh hưởng lớn tới ý định đọc sahcs của các bạn sinh
viên trường Đại học Thương Mại. Các bạn sinh viên thường nhận được nhiều lời giới thiệu
đọc một cuốn sách nào đó từ mọi người xung quanh hay các trang mạng xã hội.
“...mình cũng nhận được khá nhiều lời đề nghị giới thiệu về sách, tại vì bạn bè mình hay là
những người xung quanh đọc quyển sách nào thấy hay thì sẽ giới thiệu cho mình. Ví dụ về
quyển mình đã được cô giới thiệu, là "Tôi tài giỏi, bạn cũng thế", thì mình sẽ học được cái lối
tư duy rồi lối suy nghĩ...”- Bạn sinh vên ID: 1
“...mình thường xuyên nhận được lời gợi ý đọc sách từ các Blogger và từ những người bạn,
những người xung quanh mình...”- Bạn sinh viên ID: 6
Các bạn sinh viên được phỏng vấn cũng cho rằng nên đọc sách thường xuyên vì những lợi ích to lớn mà nó đem lại.
“...mỗi người chúng ta nên dành thời gian đọc sách hằng ngày để trau dồi cho mình những
kiến thức, những kĩ năng mà bình thường trên lớp thầy cô sẽ không dạy cho mình...”- Bạn sinh viên ID: 6
“...đây là một thói quen tốt, ngoài có thể trau dồi tri thức thì bạn có thể bình tĩnh và nhìn nhận
vấn đề một cách cẩn thận và tỉ mỉ nhất và suy nghĩ chín chắn hơn...”- Bạn sinh viên ID: 10
Khi được phỏng vấn, đa số các bạn sinh viên chọn lướt mạng xã hội thay vì đọc sách hoặc chỉ
đọc sách khi có không gian thích hợp.
“...mình sẽ ngồi xem phim...”- Bạn sinh viên ID: 9
“...khi có thời gian rảnh mình hay sử dụng mạng xã hội nhiều hơn. Vì việc để đọc một cuốn
sách mình muốn có một không gian thật sự thoải mái để đọc ví dụ như một không gian yên
tĩnh sẽ giúp mình tập trung để đọc sách hơn. Ở Hà Nội rất ồn ào và náo nhiệt nên mình chưa
tìm được một không gian thực sự phù hợp với việc đọc sách, kể cả với quán cà phê mình vẫn
cảm thấy nó hơi ồn ào và chưa phù hợp với việc đọc sách...”- Bạn sinh viên ID: 8
“...những thời gian rảnh khác tớ sẽ dành cho bản thân, tớ sẽ lướt MXH vì phải cập nhật các
tin tức mới cùng với những cách giải trí khác...”- Bạn sinh viên ID:3
Hầu hết các bạn sinh viên cũng chia sẻ rằng mình thường xuyên đọc sách giáo trình vì nó
phục vu cho việc học tập trên lớp và đạt điểm cao trong kì thi.
“...nếu bình thường đang rảnh mà bảo lôi giáo trình ra đọc thì tớ sẽ không còn nếu bao giờ
gần thi thì đương nhiên tớ sẽ đọc rồi...”- Bạn sinh viên ID: 3
“...Mình có thường đọc giáo trình trước khi lên lớp... đọc giáo trình trước thì mình sẽ hiểu bài
hơn cũng như là mình sẽ chắt lọc được các thông tin trước khi đến lớp. Khi mà thầy cô có
nhắc, nhấn mạnh những nội dung nào thì mình dễ dàng có thể nhận ra được nội dung đó...”- Bạn sinh viên ID: 6 4. Động lực vô thức:
Tất cả các bạn sinh viên khi được phỏng vấn đều nhận định rằng đọc sách là điều xứng đáng.
“...việc đọc sách thì vô cùng là xứng đáng. Tại vì nó giúp cho mình nhiều thứ, thêm kiến thức
này, thêm kỹ năng này, giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi và rèn luyện cho mình cái sự kiên
nhẫn...”- Bạn sinh viên ID: 1
Ngược lại, đa số các bạn sinh viên tham gia trả lời đều dừng lại khi cảm thấy đọc sách không hiệu quả.
“...mình sẽ dừng lại. Tại vì cái thời gian tiếp tục vô bổ như vậy thì mình sẽ lựa chọn đọc
những quyển sách khác hoặc là sẽ tìm cái phương pháp mới và hiệu quả hơn...”- Bạn sinh viê ID: 1
“...tớ sẽ không, tại vì tớ đọc sách để giải trí mà. Như trước đây lúc mới bắt đầu đọc sách thì tớ
có lúc sẽ không hiểu, tớ cũng hay bị mất tập trung nên cũng không đọc được nhiều, nói chung
là không hiệu quả...” – Bạn sinh viên ID: 3 5. Thái độ:
Khi được phỏng vấn, tất cả các bạn sinh viên đều cho rằng mọi người nên đọc sách thường xuyên.
“...Đọc sách là một thói quen tốt và mọi người nên thường xuyên đọc sách...”- Bạn sinh viên ID: 1
“...mỗi người nên thường xuyên dành thời gian mỗi ngày để đọc sách để tiếp thu kiến thức
mới để hạn chế thời gian sử dụng mạng xã hội cũng như là để thư giãn, để thoải mái...”- Bạn snh viên ID: 6
“...mọi người nên thường xuyên đọc sách trau dồi thêm kĩ năng này, nếu bạn không đọc sách
thì bạn sẽ có kiến thức hạn hẹp và mãi chỉ là con ếch ngồi trong đáy giếng...”- Bạn sinh viên ID: 10
6. Ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè:
Bên cạnh đó, tác động của mọi người xung quanh cũng là nhân tố ảnh hưởng tới ý định đọc
sách của sinh viên. Đa số các bạn sinh viên khi được phỏng vấn đều nhận thấy những người
tác động đến quyết định đọc sách của sinh viên chủ yếu là gia đình và bạn bè.
“...Mình nghĩ là bố mẹ hoặc là bạn bè. Nếu như không được bố mẹ khuyến khích và tạo điều
kiện thì mình cũng không chăm chú vào việc đọc sách này. Nếu như các bạn bè xung quanh
mình không có ai đọc sách, hoặc bảo là đọc sách sẽ không mang lại lợi ích gì thì nó không
ảnh hưởng đến quyết định đọc sách của mình...”- Bạn sinh viên ID: 6
“...Tớ nghĩ là bạn bè xung quanh, gia đình hoặc những người có tầm ảnh hưởng trên các trang
mạng xã hội review khuyên nên đọc thì tớ sẽ mua theo...”- Bạn sinh viên ID: 5
Những người quan trọng luôn có thái độ ủng hộ việc đọc sách cũng ảnh hưởng lớn tới ý định đọc sách của sinh viên.
“...mọi người đều có thái độ tích cực, ủng hộ cho việc đọc sách của mình...”- Bạn sinh viên ID: 4
Các bạn sinh viên đều trả lời rằng người thân luôn tạo điều kiện trong việc đọc sách.
“...bố mẹ với ông bà mình thì ngày xưa đã mua cho mình khá nhiều sách và khi mình xin tiền
để mua sách thì họ sẵn sàng chi tiền chi điều đó...”- Bạn sinh viên ID: 7
“...Bố mẹ mình thì thích mình đọc sách. Thường thì những lúc mình đọc sách thì sẽ hạn chế
làm phiền, hoặc là tạo điều kiện về kinh tế để cho mình mua những quyển sách trong tầm giá
nếu nó thực sự là hữu ích...”- Bạn sinh viên ID: 1
Người thân luôn có thái độ tích cực, vui vẻ khi thấy các bạn sinh viên đọc sách.
“...những người thân của mình rất vui và có thái độ tích cực khi mình chăm chỉ đọc sách...”
Thái độ của bạn bè cũng ảnh hưởng tới việc đọc sách của các bạn sinh viên.
“...Bạn bè luôn khuyên tớ nên đọc sách. Vì khi đọc sách tớ có nhiều kiến thức hơn có thể
truyền đạt lại cho bạn bè xung quanh và ngược lại họ cũng vậy. Bọn tớ luôn trao đỗi những
kiến thức mới cho nhau...”- Bạn sinh viên ID: 5
“...Bạn bè thì luôn khuyên tớ bây giờ còn trẻ chúng ta nên đọc sách nhiều hơn để nâng cao
trình độ cũng như có cơ hội việc làm cao hơn trong tương lai...” -Bạn sinh viên ID: 2
Không chỉ bạn bè và người thân mà còn nhận xét từ những người có sức ảnh hưởng cũng tác
động đến ý định đọc sách của sinh viên.
“...Những người như thế thì thường sẽ là những người quyết định khá là lớn đến việc mình
đọc sách, tại vì mình nghĩ là họ thành công thì họ đã có lối tư duy của người thành công và
quyển sách họ đọc thì thực sự là hữu ích. Và đó cũng là một cách để mình học hỏi. Học hỏi từ
việc nhận xét, tức là cái cách mà họ kiểu viết review về một cuốn sách á? Thì có thể là cho
mình cái lối tư duy này, cái kỹ năng tóm tắt rồi cách hành văn...” – Bạn sinh viên ID: 1
7. Nhận thức kiểm soát hành vi:
Hầu hết các bạn sinh viên khi trả lời phỏng vấn đều cảm thấy dễ dàng trong việc đọc sách vì
được mọ người xung quanh tạo điều kiện.
“...Mọi người ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất cho mình...” – Bạn sinh viên ID: 7
Tuy nhiên, các bạn sinh viên vẫn còn gặp một số khó khăn trong việc đọc sách như vấn đề về
thời gian, điều kiện kinh tế, hay rào cản về ngôn ngữ.
“...Thường khó khăn là sẽ liên quan đến vấn đề thời gian và kinh tế. Thời gian thì một quyển
quyển sách khá là dày, không đọc hết được trong một lúc. Nếu mà đọc ngắt quãng dù hôm
nay đọc một ít, ngày hôm sau đọc một ít thì nó không liền mạch, nó kiểu cũng giảm một phần
hứng thú của mình đối với quyển sách đó. Còn về kinh tế thì quyển sách nếu mới ra mua ở
hiệu sách thì giá trung bình khá là cao và để mua được tất cả những cuốn sách muốn đọc thì
khá là khó khăn với sinh viên còn đang dựa vào trợ cấp từ bố mẹ như mình...” - Bạn sinh viên ID: 1
“...Đọc những cuốn sách chuyên ngành thì có những từ ngữ khó hiểu...”- Bạn sinh viên ID: 6
Các bạn sinh khi khi tham gia nghiên cứu cũng đưa ra thể loại sahcs hay đọc và những khó khăn khi đọc nó.
“...Sách kinh tế hoặc phát triển bản thân... khá là khô khan, nếu mà mình không hứng thú với
chủ đề ấy thì mình khá khó hiểu..” – Bạn sinh viên ID: 6
“...các cuốn sách về kĩ năng sống như: cách giao tiếp tốt, cách quản lí thời gian, cách quản lí
tài chính... mình áp dụng vào thực tế lại là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì và kỉ luật mỗi
ngày...”- Bạn sinh viên ID: 2
Mỗi bạn sinh viên đều mua sách với tầm giá khác nhau nhưng đều đã vượt tầm giá khi mua.
“...Mình thường mua sách dạng pdf, một cái file ấy thì đi kèm một khóa học mà thưởng rơi
vào 4 triệu. Một file ấy thì nó thường tặng kèm bản pdf luôn...”- Bạn sinh viên ID: 9
“ ... Những cuốn sách nào có thể mua ở những hiêu sách cũ thì mình sẽ ưu tiên hơn, giá thì
tùy vào từng cuốn dao động từ 60-100k... một số cuôn sách về tiếng anh hoăc chuyên ngành
thì mình phải mua mới, nên nó khá đắt...”- Bạn sinh viên ID: 4 8. Thói quen.
Khi được phỏng vấn, các bạn sinh viên đều cảm thấy đọc sách vừa là sở thích vừa là bắt
buộc. Bắt buộc khi đọc giáo trình còn sở thích khi các bạn được đọc những cuốn sách yêu thích.
“...Tớ vừa coi là bắt buộc vừa là sở thích. Nếu là giáo trình thì tớ bắt buộc phải đọc nó để có
thể tếp thu kiến thức trên lớp. Còn sỏ thích thì tớ thích được đọc tiểu thuyết hơn...”- Bạn sinh viên ID: 5