TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA
CHỌN MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG
MẠI
Nhóm: 3
Lớp học phần: 231SCRE011120
Người hướng dẫn: Nguyễn Nguyệt Nga
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU...................................................................5
1.1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................5
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu........................................5
1.2.1. Mục đích........................................................................5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể...............................................................5
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.........................................6
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu........................................................6
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu.....................................................6
1.4. Câu hỏi nghiên cứu:..............................................................6
1.4.1. Câu hỏi tổng quát:..........................................................6
1.4.2. Câu hỏi cụ thể:...............................................................6
1.5. Giả thuyết nghiên cứu:..........................................................6
1.6. Ý nghĩa nghiên cứu:..............................................................7
1.7. Phương pháp nghiên cứu:.....................................................7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.................................8
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.......................................8
2.1.1 Các khái niệm liên quan.................................................8
2.1.2 Các lý thuyết có liên quan............................................13
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích
sống....................................................................................14
2.2. Tổng quan các tài liệu.........................................................17
2.2.1 các tài liệu nước ngoài:.................................................17
2
2.2.2. Các tài liệu trong nước.................................................19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................31
3.1. Quy trình nghiên cứu:.........................................................31
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu......................................32
3.2.1. Mô hình nghiên cứu:....................................................32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu:..................................................32
3.3 Tiếp cận nghiên cứu:............................................................33
3.4. Thiết kế nghiên cứu:...........................................................33
3.4.1. Phương pháp chọn mẫu:..............................................33
3.4.2. Kế hoạch lấy mẫu:.......................................................34
3.4.3. Đơn vị nghiên cứu:......................................................35
3.4.4. Công cụ thu thập thông tin:.........................................35
3.4.5. Quy trình thu nhập thông tin:.......................................35
3.5 Xử lí và phân tích dữ liệu:...................................................36
3.6. Thiết kế bảng hỏi và xây dựng thang đo.............................40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................45
PHẦN A: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG.................45
4.1. Kết quả mô tả thống kê (Mô tả sơ đồ)................................45
4.1.1. Phân tích dữ liệu về người tham gia khảo sát..............45
4.1.2. Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát...............................47
4.2. Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha...............................53
4.2.1. Kết quả phân ch thang đo “Đam kỳ vọng của
bản thân”............................................................................53
3
4.2.2. Kết quả phân tích thang đo “Trình độ học vấn”..........54
4.2.3. Kết quả thang đo “Tình trạng sức khỏe”.....................54
4.2.4. Kết quả thang đo “Tài chính kinh tế”..........................55
4.2.5. Kết quả thang đo "Gia đình và xã hội”........................55
4.2.6. Kết quả thang đo “Quyết định lựa chọn mục đích sống”
...........................................................................................56
4.3. Phân tích nhân tố EFA........................................................57
4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến độc lập....57
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc
...........................................................................................61
4.4. Phân tích hồi quy đa biến:..................................................64
4.5. Kiểm định các giả định hồi quy..........................................66
PHẦN B: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH......................69
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN..............................71
5.1. Phát hiện của nghiên cứu....................................................71
5.2. Nhận xét kết quả nghiên cứu..............................................71
5.3. Đề xuất giải pháp................................................................72
5.4. Những khó khăn, hạn chế của đề tài...................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................75
SƠ ĐỒ GANTT.............................................................................77
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM.........78
4
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, mục đích sống được coi là kim chỉ nam soi sáng và dẫn đường cho
mọi quyết định, hành động và từ đó mang lại ý nghĩa cuộc sống. Xã hội ngày càng
phát triển, nhu cầu ngày càng tăng lên, con người lại không ngừng tìm kiếm mục
sống của cuộc đời. Mỗi người có một mục đích sống khác nhau,có thể nhỏ bé,
giản dị, cũng thể rất lớn lao, đại. Nhưng suy cho cùng, mục đích sống
bước đầu tiên và quan trọng nhất trong hành trình sống của mỗi người.
Theo nhà tâm học Chloe Carmichael (2021, tr.72), tác giả cuốn Nervous
Energy cho rằng: “ là động lực giúp kết nối bạn với những giá trị vàmục đích sống
tưởng lớn hơn bản thân bạn”. Hay nói cách khác, mục đích sống chính hệ
thống mục tiêu định hướng, những khát khao ta theo đuổi trong cuộc đời.
Cuộc sống mục đích cuộc sống ý nghĩa. giúp ta cảm nhận rằng chúng ta
đóng góp ý nghĩa trong hội, tạo ra giá trị hạnh phúc cho bản thân
những người xung quanh.
Và việc đề xuất mục đích sống theo từng chu kỳ trong suốt đời cũng rất quan
trọng. Điều này giúp bạn nắm bắt được những điều quan trọng, những mong cầu
tại các thời điểm khác nhau. Một nghiên cứu trên tạp chí Frontiers in Psychology,
tiến Shiri Lavy, giáo tại Đại học Haifa (2014, tr.6) cho thấy: “bạn nhiều
khả năng cảm thấy hạnh phúc hơn nếu sống mục đích chiến lược cụ thể
để thực hiện mục đích đó.” Đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, chúng ta là mùa
xuân, tương lai của đất nước, dân tộc. vậy việc hình thành mục đích sống
điều thiết yếu, ý nghĩa cho cả bản thân sinh viên và cả xã hội.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề trên, nhóm em đã chọn đề tài Nghiên
cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống của sinh viên
Đại học Thương Mại.” Từ đó đưa ra các kết luận, giải pháp thích hợp để giúp sinh
viên ĐHTM lựa chọn, hình thành mục đích sống ý nghĩa.
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống của
sinh viên Đại học Thương Mại, tìm hiểu ý nghĩa vai trò của mục đích sống từ
đó đưa ra các giải pháp giúp mọi người lựa chọn mục đích sống.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá tổng quan về việc lựa chọn mục đích sống của các bạn sinh viên ĐHTM
hiện nay.
5
Tìm hiểu về nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục
đích sống của sinh viên ĐHTM.
Đánh giá mức độ và chiều tác động của từng nhân tố đến quyết định lực chọn mục
đích sống của sinh viên Đại học Thương Mại.
Đề xuất các phương pháp thích hợp để giúp sinh viên ĐHTM lựa chọn, hình thành
mục đích sống
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tại Trường Đại học Thương Mại
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 07/09 đến 25/09 năm 2023
- Lĩnh vực nghiên cứu: Tâm lý học
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đại học Thương Mại
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
mục đích sống của sinh viên Đại học Thương Mại.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu:
1.4.1. Câu hỏi tổng quát:
Các yếu tố nào sẽ gây ảnh hưởng đến sự quyết định lựa chọn mục đích sống của
sinh viên TMU.
1.4.2. Câu hỏi cụ thể:
Yếu tố đam mê và kỳ vọng của bản thân có thể gây ảnh hưởng đến việc sinh viên
TMU lựa chọn mục đích sống cho bản thân hay không?
Yếu tố trình độ học vấn có phải là yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống của sinh
viên TMU?
Yếu tố gia đình - xã hội có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
mục đích sống của sinh viên TMU hay không?
Yếu tố sức khỏe có trở thành sự cản trở trong việc quyết định lựa chọn mục đích
sống của sinh viên TMU hay không?
Yếu tố tài chính có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích
sống của sinh viên TMU hay không?
6
1.5. Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết 1: Yếu tố đam mê và kỳ vọng của bản thân có thể gây ảnh hưởng đến
việc lựa chọn mục đích sống của sinh viên TMU.
Giả thuyết 2: Yếu tố trình độ học vấn có là yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống
của sinh viên TMU.
Giả thuyết 3: Yếu tố tác động của gia đình- xã hội sẽ trở thành yếu tố ảnh hưởng
đến mục đích sống của sinh viên TMU.
Giả thuyết 4: Yếu tố sức khỏe sẽ không trở thành sự cản trở trong việc lựa chọn
mục đích sống của các bạn sinh viên TMU.
Giả thuyết 5: Yếu tố tài chính có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định việc
lựa chọn mục đích sống của sinh viên TMU.
1.6. Ý nghĩa nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp thầy cô, nhà trường sẽ hiểu hơn về sinh viên của
mình. Đây cũng sẽ là một cơ sở tham khảo có giá trị cho nhà trường trong việc nắm bắt
tâm lý sinh viên, tạo ra các cơ hội gắn kết sinh viên khóa trước-sau với nhà trường.
Kết quả này sẽ giúp các bạn sinh viên hiểu hơn về bản thân cũng như những sự lựa
chọn của chính mình.
Nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho những vấn đề nghiên
cứu có liên quan khác.
1.7. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Phương pháp nghiên cứu định lượng
(quantitative research methods).
Phương pháp khảo sát (survey): Điều tra bằng bảng câu hỏi.
Phương pháp định tính (qualitative research methods).
7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Các khái niệm liên quan
a. Mục đích sống
Mục đích sống một khái niệm phức tạpnhân hoá, thường được hình
thành và biến đổi dựa trên một loạt yếu tố.
Theo Damon, Menen Break (2003), mục đích sống một mục tiêu ổn
định lâu dài nhằm đạt được điều đó ý nghĩa quan trọng đối với bản thân
và thế giới xung quanh.
Theo nghiên cứu của Hill các cộng sự (2010), mục đích sống được định
nghĩa việc đặt ra các mục tiêu phương hướng cho cuộc sống của một người.
Nhiều người trong chúng ta nghĩ mục đích sống và ý nghĩa cuộc sống là như nhau,
nhưng chúng hơi khác nhau một chút. Cụ thể hơn, người ta cho rằng mục đích
sống hoặc việc tham gia vào các hành vi có mục đích chỉ là một điều góp phần tạo
nên một cuộc sống có ý nghĩa.
Còn theo Steger (2009), ông cho rằng mục đích sống là “Nhận thức của con
người về tầm quan trọng của mục tiêu, khát vọng trong cuộc sống của họ, hoặc
mong muốn hoàn thành những mục tiêu, khát vọng đó”
Nghiên cứu của Hill các cộng sự (2010) phân loại mục đích sống của con
người thành 4 nhóm chính:
-Hoạt động hội (Prosocial), được định nghĩa mong muốn giúp đỡ người khác
và tác động đến cấu trúc xã hội
-Sáng tạo (Creative) bao hàm các mục tiêu về nghệ thuậtkhao khát những điều
mới lạ
-Tài chính (Financial) chỉ các mục tiêu về tài chính và thành công trong quản trị
-Công nhận nhân (Personal recognition) chỉ mong muốn được những người
xung quanh công nhận và tôn trọng.
b. Quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người phát sinh trong quá trình con
người hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, xã hội, chính trị,
pháp luật, tưởng, đạo đức, văn hóa, đó quá trình sản xuất phân phối của cải vật
8
chất, quá trình thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi
ích của xã hội. Bao gồm: quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần. Quan hệ xã hội được hình
thành từ tương tác hội. Những tương tác này không phải ngẫu nhiên, thường
phải có mục đích, có hoạch định. Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định
và tạo lập ra một mô hình tương tác. Nói cách khác, các chủ thể hành động trong mô hình
tương tác này phải đạt được một mức độ tự động hóa nhất định nào đó. Tức là, họ thực
hiện gần như không ý thức, như thói quen. Hai nhân ngẫu nhiên gặp nhau sân
bay, nhà hàng hoặc rạp hát… dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ chưa thể coi
là có mối quan hệ xã hội. (Luật Minh Khuê, 2022)
Nếu những nhân này tiếp tục giao tiếp phối hợp hành vi của họ trong những
lần gặp gỡ tiếp theo, họ thể được coi đang trong một mối quan hệ hội. Quan hệ
xã hội là mối quan hệ bền vững, ổn định giữa các chủ thể. Những mối quan hệ này xảy ra
thông qua các tương tác hội ổn định lặp đi lặp lại. Những tương tác này còn
những đặc điểm khác, có thể dẫn đến sự hình thành các loại quan hệ xã hội khác nhau.
c. Sức khỏe
“Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và
không phải chỉ bao gồm tình trạng không bệnh hay thương tật” (Tổ chức Y
tế Thế giới, 1948 ) được khẳng định tại Điểm 1, Bản Tuyên ngôn Alma-Ata năm
1978 gồm: (1) Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát, đó sự sảng
khoái thoải mái về thể chất; (2) Sức khỏe tinh thần sự thỏa mãn về mặt giao
tiếp hội, tình cảm tinh thần; (3) Sức khỏe hội - shòa nhập của nhân
với cộng đồng.
Từ thời cổ đại, quan niệm của người phương Đông đưa ra về sức khỏe khá
toàn diện, họ cho rằng sức khỏe của con người không chỉ đơn thuần dồi dào về
thể chất mà còn thoải mái cả về đời sống tinh thần. “Theo Triết học Ấn Độ Cổ đại,
quan niệm sức khỏe do “chất khí” quy định, nên theo họ, quá trình hấp của
con người do sự hút “chất khí” vào thể, nếu “chất khí” vào thể trong
sạch thì cơ thể khỏe mạnh, còn khi “chất khí” bị ô nhiễm sẽ sinh ốm đau, bệnh tật.
Vì thế, người có sức khỏe là người có sự cân bằng các yếu tố trong cơ thể, các yếu
tố đó hoạt động thích hợp, tức người tinh thần, tâm hồn thoải mái”. (TS.
Trương Thị Thanh Quý, (2017))
Sức khỏe yêu cầu bản để con người tận hưởng một cuộc sống hạnh
phúc, đồng thời cũng nền tảng quan trọng để mỗi người theo đuổi mục đích
riêng hiện thực hóa những suy nghĩ, ước mơ, mục tiêu trong cuộc sống. Bệnh
9
tật và mệt mỏi xảy ra khi sức khỏe thể chất không còn đủ và sức khỏe tinh thần bị
tổn hại. Lúc này, chúng ta không còn tâm trí để lo lắng hay suy nghĩ về điều
khác ngoài tình trạng của mình. vậy, chăm sóc sức khỏe đồng nghĩa với việc
khiến bản thân hạnh phúc. Sức khỏe chìa khóa quan trọng nhất để tìm thấy ý
nghĩa cuộc sống cho mọi người.
d. Trải nghiệm cuộc sống
Trải nghiệm tiếng anh được gọi Experience dùng để chỉ những sự vật, hiện
tượng được trực tiếp chạm vào, quan sát hoặc tích lũy qua các sự kiện, sự vật trong cuộc
sống. Nói một cách đơn giản, kinh nghiệm đến từ những gì con người không ngừng quan
sát, tình cờ gặp và khám phá trong cuộc sống của mình. Từ kinh nghiệm của chính mình,
chúng ta dần trưởng thành và trưởng thành hơn khi đi qua cuộc đời.
"Cuộc đời là một chuỗi những bài học phải sống mới hiểu được." Không phải ngẫu
nhiên Helen Keller đã nói những lời này. Theo nghĩa đơn giản nhất, trải nghiệm
những chúng ta đạt được khi trải qua cuộc sống. đến từ sự quan sát, liên tục vấp
ngã và khám phá. Hơn hết nóchất xúc tác giúp chúng ta trưởng thànhtrưởng thành
hơn trong cuộc sống.
Nếu bạn không có kinh nghiệm thì coi như bạn không có một xu trong túi. Xác định
những gì bạn muốn mua nhưng kỹ năng của bạn không cho phép bạn mua. Đó chính là lý
do thiếu kinh nghiệm. Ngược lại, nếu bạn có kiến thức thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn.
Mỗi người chúng ta gặp, mỗi nơi chúng ta đến... Mọi người đều mang đến những
kinh nghiệm và bài học quý giá. Kinh nghiệm giúp chúng ta đối mặt với cuộc sống nhiều
hơn và giúp chúng ta đối mặt với những khó khăn, thử thách của cuộc sống một cách kiên
quyết. Kinh nghiệm không đến từ lý thuyết trong sách vở mà đến từ hành động thực tiễn.
Trải nghiệm là một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta, đặc biệt là đối với thế hệ
trẻ. Chúng ta không thể sống vô hình như một cái bóng. Chúng ta phải có ước mơ và khát
vọng. Khi tích lũy kinh nghiệm, chúng ta khám phá ra những khả năng đặc biệt mà trước
đây ẩn giấu.
e. Tôn giáo
một dạng ý thức hội, tôn giáo thường được nhìn nhận dưới góc độ
nhận thức luận (triết học). Những cân nhắc triết học nhằm làm sáng tỏ thế giới bên
ngoài (trong đó các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên giữa con
người với nhau) đã được phản ánh một cách đặc biệt trong ý thức tôn giáo. H.
Trong quan niệm tôn giáo về việc thế giới tự nhiên trở thành thế giới tự nhiên như
thế nào. Theo nghĩa này, Marx cho rằng tôn giáo là “trung tâm của thế giới vô trí”,
“tinh thần của xã hội vô hồn” và “tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại”.
10
f. Giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: Education) “Theo nghĩa chung hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng, thói quen của một nhóm người được trao quyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo
dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng thể thông
qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy
nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục” (Nguyễn
Thị Minh Trang, (2020) )
Hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam bao gồm
4 hệ thống cụ thể như sau: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học (Điều 6 Luật Giáo dục 2019 s 43/2019/QH14)
“Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là sự truyền đạt
lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ giáo dục
mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa nhân loại dân tộc được
kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó màhội loài người không ngừng tiến lên” (Hà
Thị Mai (2013))
Trong tưởng về tự do ý chí, Aristotle gắn triết giáo dục hướng đến sự
thư nhàn, sự tự do mục tiêu cuối cuối cùng của giáo dục, bởi con người không
thể hạnh phúc khi không sự tự do. Đối với Aristotle, Giáo dục không
những dẫn con người đến đạo đức - nguồn gốc chủ yếu của hạnh phúc còn tạo
ra các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng và ổn định đạo đức, nghĩa là đảm bảo
hạnh phúc cho cộng đồng”. Theo Aristotle, chính qua sự tự do con người
được sự khôn ngoan, sự hiến dâng, sự chiêm nghiệm đây mới thực sự hạnh
phúc của con người. (Đinh Thanh Xuân, (2018) tr 57-61). Theo Nel Noddings (nhà
giáo dục Mỹ), “Giáo dục mà không đưa đến hạnh phúc là một nền giáo dục sai lầm
và què quặt, còn hạnh phúc mà không có giáo dục là hạnh phúc không bền vững”.
(TS Vương Thị Phương Linh, TS Lê Thị Quỳnh Nga (2020) tr 189). Giáo dục giúp
con người rèn luyện đạo đức nhân cách thông qua các kiến thức, kỹ năng để
mỗi người có thể xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Sứ mệnh của giáo dục là đem tri
thức tới con người, giúp cho cuộc sống trở nên văn minh, và tốt đẹp hơn. Cái đích
cuối cùng của giáo dục là nuôi dưỡng những con người hạnh phúc trong mỗi quan
hệ tổng hòa với cộng đồng, thiên nhiên thế giới. Ngày nay bên cạnh sự quan
trọng của giáo dục chính quy, con người còn hướng tới giáo dục ngoài trường
11
học, chú trọng vào nhiều loại kiến thức, giá trị, kỹ năng học được từ bên ngoài
hội không rập khuôn trong sách vở. Những kiến thức này được tích lũy do
chính sự trải nghiệm thực tế rút rai học của mỗi nhân do đó đề cao
được sự tự do - cái thực sự mang lại hạnh phúc cho con người như nhà
tưởng Aristotle đã nhận định.
g. Tài chính và kinh tế
Dưới góc độ kinh tế, thuật ngữ TÀI CHÍNH dùng để chỉ nhánh tiền tệ
hoạt động tài chính. Cung cấp tiền theo nhu cầu cần thiết. Tài chính một phạm
trù kinh tế phản ánh dưới dạng giá trị các mối quan hệ phân phối của cải hội
nảy sinh trong quá trình hình thành, tạo ra phân phối các nguồn lực tiền tệ của
các tác nhân kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế. Mục tiêu của chủ đề
trong một điều kiện cụ thể. Tài chính sự tổng hợp các mối quan hệ phát sinh
trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo ra hoặc sử
dụng các quỹ tiền tệ nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu khác nhau của mọi chủ
thể trong xã hội. Tài chính tồn tại trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Kinh tế là một lĩnh vực rộng lớn và không giới hạn ở thị trường chứng khoán
hoặc hoạt động giao dịch, vì nền kinh tế ngày nay mở rộng sang nhiều ngành công
nghiệp khác nhau. Vì lý do này, ngành có nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau
được ứng dụng vào nhiều hoạt động kinh tế khác nhau. Kinh tế học tập hợp
toàn diện các mối quan hệ tương tác giữa con người với nhau liên quan trực tiếp
đến các hoạt động giải trí, sản xuất, kinh doanh, buôn bán nhằm tạo ra các loại sản
phẩm, sản phẩm, hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh, trao đổi trên thị
trường.
h. Đam mê, kỳ vọng
Đam mê (tiếng Anh: passion) là cảm giác mong muốn, khát khao có được ai đó hay
làm được đó, bị hấp dẫn bởi một sự vật, sự việc. Cụm từ đam mê, trong quá khứ,
thường thấy trong việc miêu tả tình yêu dục vọng, cùng với "ham muốn". Tại thời
điểm hiện tại, từ đam được dùng chủ yếu vào việc diễn tả một sự khao khát trong sự
nghiệp. (“Definition of passion”. Oxford English Dictionary, 2017)
Kỳ vọng là những khái niệm giúp định hướng hành vi hiện tại của con người bằng
cách đưa ra những đánh giá về những sự việc và sự kiện có khả năng xảy ra trong tương
lai.
12
Do đó, với cách một động từ, "kỳ vọng" biểu thị sự tin tưởng hy vọng vào
một sự kiện hoặc một người.một danh từ, "kỳ vọng" diễn tả niềm hy vọng hoặc mong
muốn về điều đó hoặc ai đó. Trong các khái niệm kinh tế, kỳ vọng thể hiện mục tiêu,
mô hình và các biến số trong nền kinh tế.
i, Gia đình và xã hội
Nhà hội học Peter L. Berger định nghĩa hội “...một sản phẩm của con
người, không ngoài một sản phẩm của con người, liên tục tác động đến các
nhà sản xuất của nó”. Theo ông, xã hội do con người tạo ra nhưng sự sáng tạo này quay
trở lại và tạo ra sự sáng tạo. Hoặc định hình con người mỗi ngày.
Khái niệm pháp luật về gia đình Việt Nam được định nghĩa trong Luật Hôn nhân
và gia đình (Định nghĩa Điều 8). Theo quy định của luật này: “Gia đình là tập hợp những
người quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc con nuôi giữa họ phát sinh nghĩa vụ
quyền lợi”.
Trong hội học, gia đình thuộc phạm trù cộng đồng hội. Vì vậy, thể coi gia
đình vừa một nhóm hội nhỏ, vừa một thiết chế hội vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình xã hội hóa con người.
2.1.2 Các lý thuyết có liên quan
Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống đã được nhiều nhà tâm
học triết gia nghiên cứu phát triển qua thời gian. Dưới đây một tổng
quan về một số yếu tố chính được cho là ảnh hưởng đến mục đích sống:
1. Lý thuyết hành vi dự định
thuyết hành vi kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) phát triển từ thuyết
hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), cho rằng hành vi được dự đoán
giải thích bởi xu hướng hành vi thực hiệnnh vi đó. Xu hướngnh vi được
cho là bao gồm các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi được định nghĩa
lượng nỗ lực mọi người bỏ ra để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu
hướng hành vi là một chức năng của ba yếu tố:
- Thái độ: được khái niệm hóa như sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về
hành vi được thực hiện.
- Chuẩn mực chủ quan: Ảnh hưởng xã hội đề cập đến nhận thức về áp lực xã
hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.
- Yếu tố cảm nhận kiểm st hành vi: Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi
phản ánh sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi. Điều này phụ thuộc
13
vào nguồn lực sẵn hội thực hiện thao tác. Ajzen đề xuất rằng các yếu tố
kiểm soát hành viảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vikiểm
soát hành vi cũng có thể dự đoán hành vi nếu một người nhận thức chính xác mức
độ kiểm soát. Mô hình TPB được đánh giá tối ưu hơn hình TRA trong việc
dự đoán giải thích hành vi của người tiêu dùng trong tình huống bối cảnh
nghiên cứu. Điều này do hình TPB khắc phục được những nhược điểm của
mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi.
2. thuyết tự xác định (Self-Determination Theory - SDT) của Deci
Ryan: Theo lý thuyết này, mục đích sống có liên quan mật thiết đến ba nhu cầu
bản: cảm giác năng lực (competence), tự do (autonomy) mối quan hệ
(relatedness). Khi ba nhu cầu này được đáp ứng, con người cảm thấy có mục đích
và ý nghĩa trong cuộc sống.
3. Lý thuyết mục đích sống của Frankl: Victor Frankl, một bác sĩ tâm lý
người sống sót sau các trại tập trung Nazi, đã phát triển thuyết rằng mục đích
sống được tìm thấy trong việc đối diện vượt qua khó khăn, trong việc tìm
kiếm ý nghĩa cho cuộc sống. (Viktor E.Frankl, 1946)
4. thuyết tâm linh tôn giáo: Nhiều truyền thống tâm linh tôn giáo
đề xuất rằng mục đích sống xuất phát từ sự liên kết với cái lớn lao hơn bản thân,
đó Thiên Chúa, trụ, hay nguyên tắc đại khác. (Nguyễn Xuân Nghĩa,
2010)
5. thuyết hội học: Theo các nhà hội học, mục đích sống thể bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố hội như văn hoá, truyền thống, cấu hội.
(Nguyễn Liên Hương dịch, 1997)
6. Lý thuyết phát triển: Các giai đoạn khác nhau của cuộc đời có thể đem lại
những thách thức và mục tiêu khác nhau, điều này ảnh hưởng đến việc xác định và
định hình mục đích sống. (Lưu Hồng Minh, 2017)
7. thuyết sinh học: Một số nghiên cứu cho rằng chế sinh lý, chẳng
hạn như hoạt động của hệ thống nơron hoặc hệ nội tiết, có thể ảnh hưởng đến cảm
nhận về mục đích sống. Nghiên cứu của UNICEF,2022)(
8. Lý thuyết nhân sinh quan: Nhân sinh quan của mỗi cá nhân, dựa trên trải
nghiệm cá nhân và giáo dục, có thể ảnh hưởng đến cách họ định nghĩa và tìm kiếm
mục đích sống. Trần Khánh Đức, (2014))(
14
Những thuyết trên chỉ một số trong số rất nhiều thuyết về mục đích
sống. Tùy thuộc vào góc độ lĩnh vực nghiên cứu, người ta thể tìm hiểu
phân tích mục đích sống dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống
Dưới đây là một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mục đích sống của một
cá nhân theo một số lý thuyết:
Theo lý thuyết nhân sinh quan (Trần Khánh Đức, (2014)
- Trình độ học vấn: Tuổi trẻ là khoảng thời gian lý tưởng để khám phá và trải
nghiệm mọi thứ. Vì vậy, sứ mệnh của nhà trường không chỉ nhồi nhét kiến thức
còn giúp học sinh khám phá sứ mệnh trách nhiệm của mình. Thông tin kỹ
thuật kiến thức. Trường học phải nơi học sinh thể vui chơi phát triển
toàn diện. Những gì chúng ta học được từ trường học, sách vở, thầy cô và qua trải
nghiệm cuộc sống có thể thay đổi cách chúng ta nhìn nhận ý nghĩa cuộc sống.
- : Kinh nghiệm mang lại sự hiểu biết kinh nghiệmKinh nghiệm nhân
thực tế. giúp chúng ta trưởng thành nhanh hơn trong cách suy nghĩ, sống
khám phá bản thân để những quyết định đúng đắn sáng suốt cho tương lai.
Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, bạn thể đưa ra những ý kiến, quan điểm
chính xác không sợ không phù hợp. chúng ta sẽ biết vượt qua những trở
ngại khó khăn, rèn luyện lòng dũng cảm ý chí để thành công. Trải nghiệm,
tốt hay xấu, thể ảnh hưởng lớn đến cách chúng ta xác định mục đích sống của
mình.
Theo thuyết tự xác định (Self-Determination Theory - SDT) của Deci
và Ryan
- Các mối quan hệ: Gia đình, bạn bè và những người thân yêu có tác động rất
lớn đến mục đích sống của chúng ta thông qua sự hỗ trợ, khuyến khích thử
thách. Gia đình là nhà của mọi người và là tế bào của xã hội. Đồng thời, còn là nơi
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, là môi trường quan trọng cho
việc giáo dục, phát huy và hình thành nhân cách con người.
Theo nghiên cứu về sức khỏe tâm thần (Nghiên cứu của UNICEF,2022)
- Tình trạng sức khỏe: Tình trạng sức khỏe về cả thể chất tinh thần có thể
ảnh hưởng đến cách chúng ta định nghĩa mục đích trong cuộc sống.
Theo lý thuyết tâm linh và tôn giáo (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010)
15
- Tâm linh và Tôn giáo: Đối với nhiều người, tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh
là nguồn quan trọng để tìm kiếm và xác định ý nghĩa cuộc sống. Nó thấm nhuần tư
tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng một chủ đề hết sức quan trọng: “Lời dạy của
Khổng Tử có ích cho sự phát triển cá nhân”. Ưu điểm của đạo Chúa Giêsulòng
thương xót lớn lao. Ưu điểm của chủ nghĩa Mác một phương pháp biện
chứng. Tôn Dật Tiên giáo có những ưu điểm và chính sách phù hợp với hoàn cảnh
nước ta. Khổng Tử, Chúa Giêsu, Marx Tôn Trung Sơn không những điểm
mạnh chung này sao? Tất cả họ đều mong muốn phấn đấu hạnh phúc của mọi
người và hạnh phúc của xã hội. Đây là một luận điểm có tính hệ thống, theo đó tôn
giáo chân chính và đức tin chân chính luôn có những mục tiêu tốt đẹp và phấn đấu
hạnh phúc của nhân loại. Đó do sao những chính trị gia tôn trọng quy
luật tự nhiên luôn tìm mọi cách phát huy những mặt tích cực của tôn giáo thế
giới quan một cách tốt nhất có thể.
Theo lý thuyết mục đích sống của Frankl (Viktor E.Frankl, 1946)
- Khủng hoảng cuộc đời: Các sự kiện lớn như mất mát, tận thế, hoặc những
khủng hoảng cá nhân khác có thể thách thức hoặc thay đổi mục đích sống của một
người.
- Môi trường Hoàn cảnh hội: Hoàn cảnh kinh tế, hội chính trị
cũng có thể ảnh hưởng đến cách một cá nhân nhìn nhận mục đích sống của mình.
-Gia đình xã hội: Mỗi gia đình hình thành nên tính cách của mỗi thành viên
trong hội. Gia đình môi trường hội hóa đầu tiên của con người đối tượng
của giáo dục. Khoa học đã chứng minh ràng, nền tảng trí tuệ cảm xúc của một
người thường được hình thành từ thời thơ ấu. Gia đình trang bị cho đứa trẻ những ý niệm
đầu tiên để lí giải thế giới sự vật, hiện tượng, những khái niệm về cái thiện và cái ác, dạy
cho trẻ con hiểu đời sống con người, đưa trẻ con vào thế giới của những giá trị
gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống của nó.
Theo lý thuyết phát triển (Lưu Hồng Minh, 2017)
- Tự định nghĩa Tự hiểu biết: Quá trình tự tìm hiểu phản ánh về bản
thân, giá trị và niềm tin cũng rất quan trọng trong việc xác định mục đích sống.
- Những khao khát và ước mơ: Những gì chúng ta mong muốn đạt được trong
cuộc sống, sự nghiệp, mối quan hệ hay những điều khác, cũng thể ảnh
hưởng đến mục đích sống của chúng ta.
16
-Đam mê và kỳ vọng: kỳ vọng thể hiện suy nghĩ tích cực hơn so với hy vọng. Trong
thực tế, kỳ vọng khái niệm thể chịu sự tác động từ con người nhờ nỗ lực, phấn đấu
nhưng bạn khó thể tác động tới kết quả của hy vọng. Đam học hỏi sẽ khiến chúng
ta học tập trong trạng thái vui vẻ phấn khích, từ đó học tập có hiệu quả hơn. là động
lực để ta học mọi lúc mọi nơi tiếp xúc với mọi nguồn kiến thức, từ đó mở rộng vốn
hiểu biết của mình.
Theo lý thuyết xã hội học (Nguyễn Liên Hương dịch, 1997)
- Văn hoá Truyền thống: văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền
thống chính sự kết tinh tất cả những tốt đẹp nhất qua dòng chảy lịch sử của
dân tộc để làmn bản sắc riêng, được truyền lại cho các thế hệ sau theo thời
gian sẽ được bổ sung các giá trị mới. Văn hoá và truyền thống của một cộng đồng
hoặc quốc gia thể tạo ra những giá trị niềm tin định hướng cho mục đích
sống của cá nhân.
Tài chính kinh tế: Tài chính về bản được hiểu các quan hệ kinh tế phân phối
tổng sản phẩm xã hội dưới dạng giá trị. Nhờ đó, các quỹ tiền tệ được tạo ra và sử dụng để
đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế.
Cần lưu ý rằng mục đích sống không phải lúc nào cũng cố định và không đổi. Nó có
thể biến đổi theo thời gian các yếu tố trên. Điều quan trọng mỗi nhân cần dành
thời gian để tìm hiểu, phản ánh và xác định mục đích sống phù hợp với mình.
2.2. Tổng quan các tài liệu
2.2.1 các tài liệu nước ngoài:
a, Steger, M. F., Oishi, S., & Kashdan, T. B. (2009). "Meaning in life across the life
span: Levels and correlates of meaning in life from emerging adulthood to older
adulthood."
“Bài viết nghiên cứu sự thay đổi về mục đích sống ở các giai đoạn khác nhau trong
cuộc đời, từ tuổi trẻ đến tuổi già. Kết quả đã chỉ rõ rằng ý nghĩa cuộc sống có xu hướng
tăng lên khi người ta lớn tuổi, nhưng sau một ngưỡng nhất định, nó bắt đầu giảm đi. Các
yếu tố như mối quan hệ xã hội, sức khỏe tâm thần và vật lý, và trải nghiệm sống đều ảnh
hưởng đến mục đích sống. Mục đích sống không phải điều cố định, thay đổi
theo thời gian ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Việc hiểu cách mục đích
sống thay đổi qua từng giai đoạn tuổi đời có thể giúp chúng ta tạo ra một cuộc sống trọn
vẹn và hài lòng hơn.”
Mô hình nghiên cứu:
17
Phương pháp nghiên cứu:
Mẫu nghiên cứu: sử dụng một mẫu đa dạng về độ tuổi từ người trưởng thành đến
người già
Phương tiện thu thập dữ liệu: sử dụng các biểu mẫu khảo sát với các câu hỏi về ý
nghĩa cuộc sống và các yếu tố liên quan khác
Kết quả nghiên cứu:
Biến đổi theo độ tuổi: có thể có sự biến đổi về cảm nhận về mục đích sống qua các
giai đoạn cuộc đời. Ví dụ, những người ở tuổi trung niên có thể cảm thấy cuộc sống có
nhiều ý nghĩa hơn so với những người trẻ tuổi hoặc người già
Yếu tố liên quan: các yếu tố như sức khỏe, mối quan hệ, sự nghiệp, tình trạng hôn
nhân và tài chính có thể ảnh hưởng đến cảm nhận về mục đích sống
Những thách thức biệt: mỗi giai đoạn cuộc đời có thể mang lại những thách thức
đặc biệt cho việc tìm kiếm mục đích
b. Reker, G. T., & Wong, P. T. (1988). "Aging as an individual process: Toward a
theory of personal meaning." In Emergent theories of aging (pp. 214-246). Springer
Publishing Company.
“Trong bài này, tác giả thảo luận về việc lão hóa một quá trình nhân tìm
hiểu làm thế nào mục đích sống thay đổi khi tuổi tác tăng. Bài viết khám phá những thay
đổi về cách mọi người cảm nhận ý nghĩa trong cuộc sống của họ qua thời gian. Các yếu
tố như sức khỏe, mất mát (như mất đối tác hoặc bạn bè), và các thay đổi về vai trò xã hội
(như nghỉ hưu) thể ảnh hưởng đến cách mọi người cảm nhận tìm mục đích sống
của họ.”
Mô hình nghiên cứu:
18
Phương pháp nghiên cứu:
Phỏng vấn hoặc Khảo sát: sử dụng phỏng vấn hoặc khảo sát để thu thập thông tin
về cách mọi người trải nghiệm và tìm kiếm mục đích sống trong quá trình lão hóa.
Phân tích Văn bản: xem xét và phân tích các nghiên cứu trước đó về lão hóa và
mục đích sống để xây dựng lý thuyết của mình.
Kết quả nghiên cứu:
Lão hóa là một Quá trình Cá nhân Có thể họ đã khám phá việc mọi người trải :
nghiệm sự lão hóa theo cách riêng biệt dựa trên nền tảng văn hóa, giáo dục, gia đình, và
sự nghiệp.
Tìm kiếm mục đích Trong quá trình lão hóa, tìm kiếm và xác định mục đích sống :
có thể trở thành một yếu tố quan trọng. Họ có thể đã mô tả các thách thức và cơ hội liên
quan đến việc tìm kiếm mục đích sống và ý nghĩa ở tuổi già.
c, Silberman, I. (2005). "Religion as a meaning system: Implications for the new
millennium." Journal of Social Issues, 61(4), 641-663.
“Bài viết này khám phá tôn giáo như một hệ thống ý nghĩa, đánh giá tác động của
đối với mục đích sống. Tôn giáo thể giúp định hình hướng dẫn mục đích sống,
bằng cách cung cấp các giá trị, hướng dẫn đạo đức, cam kết với một sứ mệnh lớn
hơn.”
Mô hình nghiên cứu:
19
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu Lý thuyết: Bài báo có thể bắt đầu bằng việc xem xét các lý thuyết và
nghiên cứu trước đó về tôn giáo, ý nghĩa cuộc sống và hệ thống ý nghĩa, mục đích sống.
Phân tích Văn bản Tác giả có thể đã thực hiện phân tích văn bản, tức là xem xét :
và phân tích các tài liệu liên quan đến tôn giáo và ý nghĩa cuộc sống, mục đích sống,
chẳng hạn như kinh thánh, sách tôn giáo, hoặc bài giảng tôn giáo.
Khảo sát Tác giả có thể đã sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu từ :
các cá nhân về tôn giáo và ý nghĩa cuộc sống, mục đích sống của họ.
Kết quả nghiên cứu:
Tôn giáo như Hệ thống Ý nghĩa Bài báo có thể đã tôn vinh tôn giáo như một hệ :
thống quan trọng cung cấp ý nghĩa và hướng dẫn cho cuộc sống của con người. Nó có thể
đã xem xét cách tôn giáo giúp con người đối mặt với các vấn đề và thách thức trong cuộc
sống và giải quyết chúng từ đó có những mục đích sống khác nhau.
Tôn giáo và Thế kỷ mới Bài báo có thể đã thảo luận về vai trò và tác động của tôn:
giáo trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong bối cảnh của sự phát triển của khoa học, công nghệ,
và toàn cầu hóa.
Hệ thống Ý nghĩa và Tôn giáo trong Cuộc sống Cá nhân Bài báo có thể đã nêu :
lên cách mà tôn giáo có thể cung cấp một hệ thống ý nghĩa cho cuộc sống cá nhân và ảnh
hưởng đến các quyết định và mục đích sống của người tín đồ.
2.2.2. Các tài liệu trong nước
a. Sống vì nghề nghiệp và tương lai của mình sau này (1991)
NGUYỄN PHUƠNG THẢO*
“Trên sở số liệu của cuộc điều tra về sinh viên do khoa Triết học, trường Dại
học Tổng hợp tiến hành vào tháng 11 năm 1990 ở 5 trường đại học tại Hà Nội: Đại học
Bách khoa, Dại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm I, Đại học Kinh tế quốc dân và Đại học
Văn hóa, chúng tôi lưu tâm tới 2 vấn đề: 1) Sự lựa chọn ban đầu, động mục đích
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA
CHỌN MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Nhóm: 3
Lớp học phần: 231SCRE011120
Người hướng dẫn: Nguyễn Nguyệt Nga MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU...................................................................5
1.1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................5
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu........................................5
1.2.1. Mục đích........................................................................5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể...............................................................5
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.........................................6
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu........................................................6
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu.....................................................6
1.4. Câu hỏi nghiên cứu:..............................................................6
1.4.1. Câu hỏi tổng quát:..........................................................6
1.4.2. Câu hỏi cụ thể:...............................................................6
1.5. Giả thuyết nghiên cứu:..........................................................6
1.6. Ý nghĩa nghiên cứu:..............................................................7
1.7. Phương pháp nghiên cứu:.....................................................7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.................................8
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.......................................8
2.1.1 Các khái niệm liên quan.................................................8
2.1.2 Các lý thuyết có liên quan............................................13
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích
sống....................................................................................14
2.2. Tổng quan các tài liệu.........................................................17
2.2.1 các tài liệu nước ngoài:.................................................17 2
2.2.2. Các tài liệu trong nước.................................................19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................31
3.1. Quy trình nghiên cứu:.........................................................31
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu......................................32
3.2.1. Mô hình nghiên cứu:....................................................32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu:..................................................32
3.3 Tiếp cận nghiên cứu:............................................................33
3.4. Thiết kế nghiên cứu:...........................................................33
3.4.1. Phương pháp chọn mẫu:..............................................33
3.4.2. Kế hoạch lấy mẫu:.......................................................34
3.4.3. Đơn vị nghiên cứu:......................................................35
3.4.4. Công cụ thu thập thông tin:.........................................35
3.4.5. Quy trình thu nhập thông tin:.......................................35
3.5 Xử lí và phân tích dữ liệu:...................................................36
3.6. Thiết kế bảng hỏi và xây dựng thang đo.............................40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................45
PHẦN A: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG.................45
4.1. Kết quả mô tả thống kê (Mô tả sơ đồ)................................45
4.1.1. Phân tích dữ liệu về người tham gia khảo sát..............45
4.1.2. Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát...............................47
4.2. Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha...............................53
4.2.1. Kết quả phân tích thang đo “Đam mê và kỳ vọng của
bản thân”............................................................................53 3
4.2.2. Kết quả phân tích thang đo “Trình độ học vấn”..........54
4.2.3. Kết quả thang đo “Tình trạng sức khỏe”.....................54
4.2.4. Kết quả thang đo “Tài chính kinh tế”..........................55
4.2.5. Kết quả thang đo "Gia đình và xã hội”........................55
4.2.6. Kết quả thang đo “Quyết định lựa chọn mục đích sống”
...........................................................................................56
4.3. Phân tích nhân tố EFA........................................................57
4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến độc lập....57
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc
...........................................................................................61
4.4. Phân tích hồi quy đa biến:..................................................64
4.5. Kiểm định các giả định hồi quy..........................................66
PHẦN B: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH......................69
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN..............................71
5.1. Phát hiện của nghiên cứu....................................................71
5.2. Nhận xét kết quả nghiên cứu..............................................71
5.3. Đề xuất giải pháp................................................................72
5.4. Những khó khăn, hạn chế của đề tài...................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................75
SƠ ĐỒ GANTT.............................................................................77
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM.........78 4 CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, mục đích sống được coi là kim chỉ nam soi sáng và dẫn đường cho
mọi quyết định, hành động và từ đó mang lại ý nghĩa cuộc sống. Xã hội ngày càng
phát triển, nhu cầu ngày càng tăng lên, con người lại không ngừng tìm kiếm mục
sống của cuộc đời. Mỗi người có một mục đích sống khác nhau, nó có thể nhỏ bé,
giản dị, cũng có thể rất lớn lao, vĩ đại. Nhưng suy cho cùng, mục đích sống là
bước đầu tiên và quan trọng nhất trong hành trình sống của mỗi người.
Theo nhà tâm lý học Chloe Carmichael (2021, tr.72), tác giả cuốn Nervous
Energy cho rằng: “mục đích sống là động lực giúp kết nối bạn với những giá trị và
lý tưởng lớn hơn bản thân bạn”. Hay nói cách khác, mục đích sống chính là hệ
thống mục tiêu định hướng, là những khát khao mà ta theo đuổi trong cuộc đời.
Cuộc sống có mục đích là cuộc sống ý nghĩa. Nó giúp ta cảm nhận rằng chúng ta
đóng góp và có ý nghĩa trong xã hội, tạo ra giá trị và hạnh phúc cho bản thân và những người xung quanh.
Và việc đề xuất mục đích sống theo từng chu kỳ trong suốt đời cũng rất quan
trọng. Điều này giúp bạn nắm bắt được những điều quan trọng, những mong cầu
tại các thời điểm khác nhau. Một nghiên cứu trên tạp chí Frontiers in Psychology,
tiến sĩ Shiri Lavy, giáo sư tại Đại học Haifa (2014, tr.6) cho thấy: “bạn có nhiều
khả năng cảm thấy hạnh phúc hơn nếu sống có mục đích và có chiến lược cụ thể
để thực hiện mục đích đó.” Đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, chúng ta là mùa
xuân, tương lai của đất nước, dân tộc. Vì vậy việc hình thành mục đích sống là
điều thiết yếu, ý nghĩa cho cả bản thân sinh viên và cả xã hội.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề trên, nhóm em đã chọn đề tài “ Nghiên
cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống của sinh viên
Đại học Thương Mại.” Từ đó đưa ra các kết luận, giải pháp thích hợp để giúp sinh
viên ĐHTM lựa chọn, hình thành mục đích sống ý nghĩa.
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục đích
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống của
sinh viên Đại học Thương Mại, tìm hiểu ý nghĩa vai trò của mục đích sống và từ
đó đưa ra các giải pháp giúp mọi người lựa chọn mục đích sống. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá tổng quan về việc lựa chọn mục đích sống của các bạn sinh viên ĐHTM hiện nay. 5
Tìm hiểu về nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục
đích sống của sinh viên ĐHTM.
Đánh giá mức độ và chiều tác động của từng nhân tố đến quyết định lực chọn mục
đích sống của sinh viên Đại học Thương Mại.
Đề xuất các phương pháp thích hợp để giúp sinh viên ĐHTM lựa chọn, hình thành mục đích sống
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tại Trường Đại học Thương Mại
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 07/09 đến 25/09 năm 2023
- Lĩnh vực nghiên cứu: Tâm lý học
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đại học Thương Mại
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
mục đích sống của sinh viên Đại học Thương Mại. 1.4. Câu hỏi nghiên cứu:
1.4.1. Câu hỏi tổng quát:
Các yếu tố nào sẽ gây ảnh hưởng đến sự quyết định lựa chọn mục đích sống của sinh viên TMU. 1.4.2. Câu hỏi cụ thể:
Yếu tố đam mê và kỳ vọng của bản thân có thể gây ảnh hưởng đến việc sinh viên
TMU lựa chọn mục đích sống cho bản thân hay không?
Yếu tố trình độ học vấn có phải là yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống của sinh viên TMU?
Yếu tố gia đình - xã hội có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
mục đích sống của sinh viên TMU hay không?
Yếu tố sức khỏe có trở thành sự cản trở trong việc quyết định lựa chọn mục đích
sống của sinh viên TMU hay không?
Yếu tố tài chính có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích
sống của sinh viên TMU hay không? 6
1.5. Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết 1: Yếu tố đam mê và kỳ vọng của bản thân có thể gây ảnh hưởng đến
việc lựa chọn mục đích sống của sinh viên TMU.
Giả thuyết 2: Yếu tố trình độ học vấn có là yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống của sinh viên TMU.
Giả thuyết 3: Yếu tố tác động của gia đình- xã hội sẽ trở thành yếu tố ảnh hưởng
đến mục đích sống của sinh viên TMU.
Giả thuyết 4: Yếu tố sức khỏe sẽ không trở thành sự cản trở trong việc lựa chọn
mục đích sống của các bạn sinh viên TMU.
Giả thuyết 5: Yếu tố tài chính có trở thành yếu tố ảnh hưởng đến quyết định việc
lựa chọn mục đích sống của sinh viên TMU. 1.6. Ý nghĩa nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp thầy cô, nhà trường sẽ hiểu hơn về sinh viên của
mình. Đây cũng sẽ là một cơ sở tham khảo có giá trị cho nhà trường trong việc nắm bắt
tâm lý sinh viên, tạo ra các cơ hội gắn kết sinh viên khóa trước-sau với nhà trường.
Kết quả này sẽ giúp các bạn sinh viên hiểu hơn về bản thân cũng như những sự lựa chọn của chính mình.
Nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho những vấn đề nghiên cứu có liên quan khác.
1.7. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Phương pháp nghiên cứu định lượng
(quantitative research methods).
Phương pháp khảo sát (survey): Điều tra bằng bảng câu hỏi.
Phương pháp định tính (qualitative research methods). 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Các khái niệm liên quan a. Mục đích sống
Mục đích sống là một khái niệm phức tạp và cá nhân hoá, thường được hình
thành và biến đổi dựa trên một loạt yếu tố.
Theo Damon, Menen và Break (2003), mục đích sống là một mục tiêu ổn
định và lâu dài nhằm đạt được điều gì đó có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân và thế giới xung quanh.
Theo nghiên cứu của Hill và các cộng sự (2010), mục đích sống được định
nghĩa là việc đặt ra các mục tiêu và phương hướng cho cuộc sống của một người.
Nhiều người trong chúng ta nghĩ mục đích sống và ý nghĩa cuộc sống là như nhau,
nhưng chúng hơi khác nhau một chút. Cụ thể hơn, người ta cho rằng mục đích
sống hoặc việc tham gia vào các hành vi có mục đích chỉ là một điều góp phần tạo
nên một cuộc sống có ý nghĩa.
Còn theo Steger (2009), ông cho rằng mục đích sống là “Nhận thức của con
người về tầm quan trọng của mục tiêu, khát vọng trong cuộc sống của họ, hoặc
mong muốn hoàn thành những mục tiêu, khát vọng đó”
Nghiên cứu của Hill và các cộng sự (2010) phân loại mục đích sống của con
người thành 4 nhóm chính:
-Hoạt động xã hội (Prosocial), được định nghĩa là mong muốn giúp đỡ người khác
và tác động đến cấu trúc xã hội
-Sáng tạo (Creative) bao hàm các mục tiêu về nghệ thuật và khao khát những điều mới lạ
-Tài chính (Financial) chỉ các mục tiêu về tài chính và thành công trong quản trị
-Công nhận cá nhân (Personal recognition) chỉ mong muốn được những người
xung quanh công nhận và tôn trọng. b. Quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người phát sinh trong quá trình con
người hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, xã hội, chính trị,
pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, đó là quá trình sản xuất và phân phối của cải vật 8
chất, quá trình thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi
ích của xã hội. Bao gồm: quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần. Quan hệ xã hội được hình
thành từ tương tác xã hội. Những tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường
phải có mục đích, có hoạch định. Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định
và tạo lập ra một mô hình tương tác. Nói cách khác, các chủ thể hành động trong mô hình
tương tác này phải đạt được một mức độ tự động hóa nhất định nào đó. Tức là, họ thực
hiện gần như không có ý thức, như thói quen. Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở sân
bay, nhà hàng hoặc rạp hát… dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ chưa thể coi
là có mối quan hệ xã hội. (Luật Minh Khuê, 2022)
Nếu những cá nhân này tiếp tục giao tiếp và phối hợp hành vi của họ trong những
lần gặp gỡ tiếp theo, họ có thể được coi là đang trong một mối quan hệ xã hội. Quan hệ
xã hội là mối quan hệ bền vững, ổn định giữa các chủ thể. Những mối quan hệ này xảy ra
thông qua các tương tác xã hội ổn định và lặp đi lặp lại. Những tương tác này còn có
những đặc điểm khác, có thể dẫn đến sự hình thành các loại quan hệ xã hội khác nhau. c. Sức khỏe
“Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và
không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” (Tổ chức Y
tế Thế giới, 1948 ) được khẳng định tại Điểm 1, Bản Tuyên ngôn Alma-Ata năm
1978 gồm: (1) Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát, đó là sự sảng
khoái và thoải mái về thể chất; (2) Sức khỏe tinh thần là sự thỏa mãn về mặt giao
tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần; (3) Sức khỏe xã hội - sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng.
Từ thời cổ đại, quan niệm của người phương Đông đưa ra về sức khỏe khá
toàn diện, họ cho rằng sức khỏe của con người không chỉ đơn thuần là dồi dào về
thể chất mà còn thoải mái cả về đời sống tinh thần. “Theo Triết học Ấn Độ Cổ đại,
quan niệm sức khỏe là do “chất khí” quy định, nên theo họ, quá trình hô hấp của
con người là do sự hút “chất khí” vào cơ thể, nếu “chất khí” vào cơ thể mà trong
sạch thì cơ thể khỏe mạnh, còn khi “chất khí” bị ô nhiễm sẽ sinh ốm đau, bệnh tật.
Vì thế, người có sức khỏe là người có sự cân bằng các yếu tố trong cơ thể, các yếu
tố đó hoạt động thích hợp, tức là người có tinh thần, tâm hồn thoải mái”. (TS.
Trương Thị Thanh Quý, (2017))
Sức khỏe là yêu cầu cơ bản để con người tận hưởng một cuộc sống hạnh
phúc, đồng thời cũng là nền tảng quan trọng để mỗi người theo đuổi mục đích
riêng và hiện thực hóa những suy nghĩ, ước mơ, mục tiêu trong cuộc sống. Bệnh 9
tật và mệt mỏi xảy ra khi sức khỏe thể chất không còn đủ và sức khỏe tinh thần bị
tổn hại. Lúc này, chúng ta không còn tâm trí để lo lắng hay suy nghĩ về điều gì
khác ngoài tình trạng của mình. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe đồng nghĩa với việc
khiến bản thân hạnh phúc. Sức khỏe là chìa khóa quan trọng nhất để tìm thấy ý
nghĩa cuộc sống cho mọi người.
d. Trải nghiệm cuộc sống
Trải nghiệm tiếng anh được gọi là Experience và dùng để chỉ những sự vật, hiện
tượng được trực tiếp chạm vào, quan sát hoặc tích lũy qua các sự kiện, sự vật trong cuộc
sống. Nói một cách đơn giản, kinh nghiệm đến từ những gì con người không ngừng quan
sát, tình cờ gặp và khám phá trong cuộc sống của mình. Từ kinh nghiệm của chính mình,
chúng ta dần trưởng thành và trưởng thành hơn khi đi qua cuộc đời.
"Cuộc đời là một chuỗi những bài học phải sống mới hiểu được." Không phải ngẫu
nhiên mà Helen Keller đã nói những lời này. Theo nghĩa đơn giản nhất, trải nghiệm là
những gì chúng ta đạt được khi trải qua cuộc sống. Nó đến từ sự quan sát, liên tục vấp
ngã và khám phá. Hơn hết nó là chất xúc tác giúp chúng ta trưởng thành và trưởng thành hơn trong cuộc sống.
Nếu bạn không có kinh nghiệm thì coi như bạn không có một xu trong túi. Xác định
những gì bạn muốn mua nhưng kỹ năng của bạn không cho phép bạn mua. Đó chính là lý
do thiếu kinh nghiệm. Ngược lại, nếu bạn có kiến thức thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn.
Mỗi người chúng ta gặp, mỗi nơi chúng ta đến... Mọi người đều mang đến những
kinh nghiệm và bài học quý giá. Kinh nghiệm giúp chúng ta đối mặt với cuộc sống nhiều
hơn và giúp chúng ta đối mặt với những khó khăn, thử thách của cuộc sống một cách kiên
quyết. Kinh nghiệm không đến từ lý thuyết trong sách vở mà đến từ hành động thực tiễn.
Trải nghiệm là một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta, đặc biệt là đối với thế hệ
trẻ. Chúng ta không thể sống vô hình như một cái bóng. Chúng ta phải có ước mơ và khát
vọng. Khi tích lũy kinh nghiệm, chúng ta khám phá ra những khả năng đặc biệt mà trước đây ẩn giấu. e. Tôn giáo
Là một dạng ý thức xã hội, tôn giáo thường được nhìn nhận dưới góc độ
nhận thức luận (triết học). Những cân nhắc triết học nhằm làm sáng tỏ thế giới bên
ngoài (trong đó có các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và giữa con
người với nhau) đã được phản ánh một cách đặc biệt trong ý thức tôn giáo. H.
Trong quan niệm tôn giáo về việc thế giới tự nhiên trở thành thế giới tự nhiên như
thế nào. Theo nghĩa này, Marx cho rằng tôn giáo là “trung tâm của thế giới vô trí”,
“tinh thần của xã hội vô hồn” và “tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại”. 10 f. Giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: Education) “Theo nghĩa chung là hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao quyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo
dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông
qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy
nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục” (Nguyễn Thị Minh Trang, (2020) )
Hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam bao gồm
4 hệ thống cụ thể như sau: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học (Điều 6 Luật Giáo dục 2019 số 43/2019/QH14)
“Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục
mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa nhân loại và dân tộc được
kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” (Hà Thị Mai (2013))
Trong tư tưởng về tự do ý chí, Aristotle gắn triết lý giáo dục hướng đến sự
thư nhàn, sự tự do là mục tiêu cuối cuối cùng của giáo dục, bởi con người không
thể có hạnh phúc khi không có sự tự do. Đối với Aristotle, “ Giáo dục không
những dẫn con người đến đạo đức - nguồn gốc chủ yếu của hạnh phúc mà còn tạo
ra các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng và ổn định đạo đức, nghĩa là đảm bảo
hạnh phúc cho cộng đồng”. Theo Aristotle, chính qua sự tự do mà con người có
được sự khôn ngoan, sự hiến dâng, sự chiêm nghiệm và đây mới thực sự là hạnh
phúc của con người. (Đinh Thanh Xuân, (2018) tr 57-61). Theo Nel Noddings (nhà
giáo dục Mỹ), “Giáo dục mà không đưa đến hạnh phúc là một nền giáo dục sai lầm
và què quặt, còn hạnh phúc mà không có giáo dục là hạnh phúc không bền vững”.
(TS Vương Thị Phương Linh, TS Lê Thị Quỳnh Nga (2020) tr 189). Giáo dục giúp
con người rèn luyện đạo đức và nhân cách thông qua các kiến thức, kỹ năng để
mỗi người có thể xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Sứ mệnh của giáo dục là đem tri
thức tới con người, giúp cho cuộc sống trở nên văn minh, và tốt đẹp hơn. Cái đích
cuối cùng của giáo dục là nuôi dưỡng những con người hạnh phúc trong mỗi quan
hệ tổng hòa với cộng đồng, thiên nhiên và thế giới. Ngày nay bên cạnh sự quan
trọng của giáo dục chính quy, con người còn hướng tới giáo dục ở ngoài trường 11
học, chú trọng vào nhiều loại kiến thức, giá trị, kỹ năng học được từ bên ngoài xã
hội mà không rập khuôn trong sách vở. Những kiến thức này được tích lũy do
chính sự trải nghiệm thực tế và rút ra bài học của mỗi cá nhân do đó mà đề cao
được sự tự do - cái mà thực sự mang lại hạnh phúc cho con người như nhà tư
tưởng Aristotle đã nhận định. g. Tài chính và kinh tế
Dưới góc độ kinh tế, thuật ngữ TÀI CHÍNH dùng để chỉ nhánh tiền tệ và
hoạt động tài chính. Cung cấp tiền theo nhu cầu cần thiết. Tài chính là một phạm
trù kinh tế phản ánh dưới dạng giá trị các mối quan hệ phân phối của cải xã hội
nảy sinh trong quá trình hình thành, tạo ra và phân phối các nguồn lực tiền tệ của
các tác nhân kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế. Mục tiêu của chủ đề
trong một điều kiện cụ thể. Tài chính là sự tổng hợp các mối quan hệ phát sinh
trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo ra hoặc sử
dụng các quỹ tiền tệ nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu khác nhau của mọi chủ
thể trong xã hội. Tài chính tồn tại trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Kinh tế là một lĩnh vực rộng lớn và không giới hạn ở thị trường chứng khoán
hoặc hoạt động giao dịch, vì nền kinh tế ngày nay mở rộng sang nhiều ngành công
nghiệp khác nhau. Vì lý do này, ngành có nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau
và được ứng dụng vào nhiều hoạt động kinh tế khác nhau. Kinh tế học là tập hợp
toàn diện các mối quan hệ tương tác giữa con người với nhau liên quan trực tiếp
đến các hoạt động giải trí, sản xuất, kinh doanh, buôn bán nhằm tạo ra các loại sản
phẩm, sản phẩm, hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh, trao đổi trên thị trường. h. Đam mê, kỳ vọng
Đam mê (tiếng Anh: passion) là cảm giác mong muốn, khát khao có được ai đó hay
làm được gì đó, bị hấp dẫn bởi một sự vật, sự việc. Cụm từ đam mê, trong quá khứ,
thường thấy trong việc miêu tả tình yêu và dục vọng, cùng với "ham muốn". Tại thời
điểm hiện tại, từ đam mê được dùng chủ yếu vào việc diễn tả một sự khao khát trong sự
nghiệp. (“Definition of passion”. Oxford English Dictionary, 2017)
Kỳ vọng là những khái niệm giúp định hướng hành vi hiện tại của con người bằng
cách đưa ra những đánh giá về những sự việc và sự kiện có khả năng xảy ra trong tương lai. 12
Do đó, với tư cách là một động từ, "kỳ vọng" biểu thị sự tin tưởng và hy vọng vào
một sự kiện hoặc một người. Là một danh từ, "kỳ vọng" diễn tả niềm hy vọng hoặc mong
muốn về điều gì đó hoặc ai đó. Trong các khái niệm kinh tế, kỳ vọng thể hiện mục tiêu,
mô hình và các biến số trong nền kinh tế. i, Gia đình và xã hội
Nhà xã hội học Peter L. Berger định nghĩa xã hội là “...một sản phẩm của con
người, và không có gì ngoài một sản phẩm của con người, mà liên tục tác động đến các
nhà sản xuất của nó”. Theo ông, xã hội do con người tạo ra nhưng sự sáng tạo này quay
trở lại và tạo ra sự sáng tạo. Hoặc định hình con người mỗi ngày.
Khái niệm pháp luật về gia đình ở Việt Nam được định nghĩa trong Luật Hôn nhân
và gia đình (Định nghĩa Điều 8). Theo quy định của luật này: “Gia đình là tập hợp những
người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc con nuôi và giữa họ phát sinh nghĩa vụ và quyền lợi”.
Trong xã hội học, gia đình thuộc phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể coi gia
đình vừa là một nhóm xã hội nhỏ, vừa là một thiết chế xã hội có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình xã hội hóa con người.
2.1.2 Các lý thuyết có liên quan
Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến mục đích sống đã được nhiều nhà tâm
lý học và triết gia nghiên cứu và phát triển qua thời gian. Dưới đây là một tổng
quan về một số yếu tố chính được cho là ảnh hưởng đến mục đích sống:
1. Lý thuyết hành vi dự định
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) phát triển từ Lý thuyết
hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), cho rằng hành vi được dự đoán
và giải thích bởi xu hướng hành vi thực hiện hành vi đó. Xu hướng hành vi được
cho là bao gồm các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa là
lượng nỗ lực mà mọi người bỏ ra để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu
hướng hành vi là một chức năng của ba yếu tố:
- Thái độ: được khái niệm hóa như sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về
hành vi được thực hiện.
- Chuẩn mực chủ quan: Ảnh hưởng xã hội đề cập đến nhận thức về áp lực xã
hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.
- Yếu tố cảm nhận kiểm soát hành vi: Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi
phản ánh sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi. Điều này phụ thuộc 13
vào nguồn lực sẵn có và cơ hội thực hiện thao tác. Ajzen đề xuất rằng các yếu tố
kiểm soát hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi và kiểm
soát hành vi cũng có thể dự đoán hành vi nếu một người nhận thức chính xác mức
độ kiểm soát. Mô hình TPB được đánh giá là tối ưu hơn mô hình TRA trong việc
dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong tình huống và bối cảnh
nghiên cứu. Điều này là do mô hình TPB khắc phục được những nhược điểm của
mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi.
2. Lý thuyết tự xác định (Self-Determination Theory - SDT) của Deci và
Ryan: Theo lý thuyết này, mục đích sống có liên quan mật thiết đến ba nhu cầu cơ
bản: cảm giác năng lực (competence), tự do (autonomy) và mối quan hệ
(relatedness). Khi ba nhu cầu này được đáp ứng, con người cảm thấy có mục đích
và ý nghĩa trong cuộc sống.
3. Lý thuyết mục đích sống của Frankl: Victor Frankl, một bác sĩ tâm lý và
người sống sót sau các trại tập trung Nazi, đã phát triển lý thuyết rằng mục đích
sống được tìm thấy trong việc đối diện và vượt qua khó khăn, và trong việc tìm
kiếm ý nghĩa cho cuộc sống. (Viktor E.Frankl, 1946)
4. Lý thuyết tâm linh và tôn giáo: Nhiều truyền thống tâm linh và tôn giáo
đề xuất rằng mục đích sống xuất phát từ sự liên kết với cái lớn lao hơn bản thân,
dù đó là Thiên Chúa, vũ trụ, hay nguyên tắc vĩ đại khác. (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010)
5. Lý thuyết xã hội học: Theo các nhà xã hội học, mục đích sống có thể bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội như văn hoá, truyền thống, và cơ cấu xã hội.
(Nguyễn Liên Hương dịch, 1997)
6. Lý thuyết phát triển: Các giai đoạn khác nhau của cuộc đời có thể đem lại
những thách thức và mục tiêu khác nhau, điều này ảnh hưởng đến việc xác định và
định hình mục đích sống. (Lưu Hồng Minh, 2017)
7. Lý thuyết sinh lý học: Một số nghiên cứu cho rằng cơ chế sinh lý, chẳng
hạn như hoạt động của hệ thống nơron hoặc hệ nội tiết, có thể ảnh hưởng đến cảm
nhận về mục đích sống. (Nghiên cứu của UNICEF,2022)
8. Lý thuyết nhân sinh quan: Nhân sinh quan của mỗi cá nhân, dựa trên trải
nghiệm cá nhân và giáo dục, có thể ảnh hưởng đến cách họ định nghĩa và tìm kiếm
mục đích sống. (Trần Khánh Đức, (2014)) 14
Những lý thuyết trên chỉ là một số trong số rất nhiều lý thuyết về mục đích
sống. Tùy thuộc vào góc độ và lĩnh vực nghiên cứu, người ta có thể tìm hiểu và
phân tích mục đích sống dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mục đích sống
Dưới đây là một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mục đích sống của một
cá nhân theo một số lý thuyết:
Theo lý thuyết nhân sinh quan (Trần Khánh Đức, (2014)
- Trình độ học vấn: Tuổi trẻ là khoảng thời gian lý tưởng để khám phá và trải
nghiệm mọi thứ. Vì vậy, sứ mệnh của nhà trường không chỉ là nhồi nhét kiến thức
mà còn giúp học sinh khám phá sứ mệnh và trách nhiệm của mình. Thông tin kỹ
thuật và kiến thức. Trường học phải là nơi học sinh có thể vui chơi và phát triển
toàn diện. Những gì chúng ta học được từ trường học, sách vở, thầy cô và qua trải
nghiệm cuộc sống có thể thay đổi cách chúng ta nhìn nhận ý nghĩa cuộc sống.
- Kinh nghiệm cá nhân: Kinh nghiệm mang lại sự hiểu biết và kinh nghiệm
thực tế. Nó giúp chúng ta trưởng thành nhanh hơn trong cách suy nghĩ, sống và
khám phá bản thân để có những quyết định đúng đắn và sáng suốt cho tương lai.
Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, bạn có thể đưa ra những ý kiến, quan điểm
chính xác mà không sợ không phù hợp. Và chúng ta sẽ biết vượt qua những trở
ngại khó khăn, rèn luyện lòng dũng cảm và ý chí để thành công. Trải nghiệm, dù
tốt hay xấu, có thể ảnh hưởng lớn đến cách chúng ta xác định mục đích sống của mình.
Theo lý thuyết tự xác định (Self-Determination Theory - SDT) của Deci và Ryan
- Các mối quan hệ: Gia đình, bạn bè và những người thân yêu có tác động rất
lớn đến mục đích sống của chúng ta thông qua sự hỗ trợ, khuyến khích và thử
thách. Gia đình là nhà của mọi người và là tế bào của xã hội. Đồng thời, còn là nơi
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, là môi trường quan trọng cho
việc giáo dục, phát huy và hình thành nhân cách con người.
Theo nghiên cứu về sức khỏe tâm thần (Nghiên cứu của UNICEF,2022)
- Tình trạng sức khỏe: Tình trạng sức khỏe về cả thể chất và tinh thần có thể
ảnh hưởng đến cách chúng ta định nghĩa mục đích trong cuộc sống.
Theo lý thuyết tâm linh và tôn giáo (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010) 15
- Tâm linh và Tôn giáo: Đối với nhiều người, tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh
là nguồn quan trọng để tìm kiếm và xác định ý nghĩa cuộc sống. Nó thấm nhuần tư
tưởng Hồ Chí Minh và chứa đựng một chủ đề hết sức quan trọng: “Lời dạy của
Khổng Tử có ích cho sự phát triển cá nhân”. Ưu điểm của đạo Chúa Giêsu là lòng
thương xót lớn lao. Ưu điểm của chủ nghĩa Mác là nó là một phương pháp biện
chứng. Tôn Dật Tiên giáo có những ưu điểm và chính sách phù hợp với hoàn cảnh
nước ta. Khổng Tử, Chúa Giêsu, Marx và Tôn Trung Sơn không có những điểm
mạnh chung này sao? Tất cả họ đều mong muốn phấn đấu vì hạnh phúc của mọi
người và hạnh phúc của xã hội. Đây là một luận điểm có tính hệ thống, theo đó tôn
giáo chân chính và đức tin chân chính luôn có những mục tiêu tốt đẹp và phấn đấu
vì hạnh phúc của nhân loại. Đó là lý do vì sao những chính trị gia tôn trọng quy
luật tự nhiên luôn tìm mọi cách phát huy những mặt tích cực của tôn giáo và thế
giới quan một cách tốt nhất có thể.
Theo lý thuyết mục đích sống của Frankl (Viktor E.Frankl, 1946)
- Khủng hoảng cuộc đời: Các sự kiện lớn như mất mát, tận thế, hoặc những
khủng hoảng cá nhân khác có thể thách thức hoặc thay đổi mục đích sống của một người.
- Môi trường và Hoàn cảnh xã hội: Hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị
cũng có thể ảnh hưởng đến cách một cá nhân nhìn nhận mục đích sống của mình.
-Gia đình và xã hội: Mỗi gia đình hình thành nên tính cách của mỗi thành viên
trong xã hội. Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người và là đối tượng
của giáo dục. Khoa học đã chứng minh rõ ràng, nền tảng trí tuệ và cảm xúc của một
người thường được hình thành từ thời thơ ấu. Gia đình trang bị cho đứa trẻ những ý niệm
đầu tiên để lí giải thế giới sự vật, hiện tượng, những khái niệm về cái thiện và cái ác, dạy
cho trẻ con hiểu rõ đời sống và con người, đưa trẻ con vào thế giới của những giá trị mà
gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống của nó.
Theo lý thuyết phát triển (Lưu Hồng Minh, 2017)
- Tự định nghĩa và Tự hiểu biết: Quá trình tự tìm hiểu và phản ánh về bản
thân, giá trị và niềm tin cũng rất quan trọng trong việc xác định mục đích sống.
- Những khao khát và ước mơ: Những gì chúng ta mong muốn đạt được trong
cuộc sống, dù là sự nghiệp, mối quan hệ hay những điều khác, cũng có thể ảnh
hưởng đến mục đích sống của chúng ta. 16
-Đam mê và kỳ vọng: kỳ vọng thể hiện suy nghĩ tích cực hơn so với hy vọng. Trong
thực tế, kỳ vọng là khái niệm có thể chịu sự tác động từ con người nhờ nỗ lực, phấn đấu
nhưng bạn khó có thể tác động tới kết quả của hy vọng. Đam mê học hỏi sẽ khiến chúng
ta học tập trong trạng thái vui vẻ phấn khích, từ đó học tập có hiệu quả hơn. Nó là động
lực để ta học ở mọi lúc mọi nơi tiếp xúc với mọi nguồn kiến thức, từ đó mở rộng vốn hiểu biết của mình.
Theo lý thuyết xã hội học (Nguyễn Liên Hương dịch, 1997)
- Văn hoá và Truyền thống: văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền
thống chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua dòng chảy lịch sử của
dân tộc để làm nên bản sắc riêng, được truyền lại cho các thế hệ sau và theo thời
gian sẽ được bổ sung các giá trị mới. Văn hoá và truyền thống của một cộng đồng
hoặc quốc gia có thể tạo ra những giá trị và niềm tin định hướng cho mục đích sống của cá nhân.
Tài chính kinh tế: Tài chính về cơ bản được hiểu là các quan hệ kinh tế phân phối
tổng sản phẩm xã hội dưới dạng giá trị. Nhờ đó, các quỹ tiền tệ được tạo ra và sử dụng để
đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế.
Cần lưu ý rằng mục đích sống không phải lúc nào cũng cố định và không đổi. Nó có
thể biến đổi theo thời gian và các yếu tố trên. Điều quan trọng là mỗi cá nhân cần dành
thời gian để tìm hiểu, phản ánh và xác định mục đích sống phù hợp với mình.
2.2. Tổng quan các tài liệu
2.2.1 các tài liệu nước ngoài:
a, Steger, M. F., Oishi, S., & Kashdan, T. B. (2009). "Meaning in life across the life
span: Levels and correlates of meaning in life from emerging adulthood to older adulthood."
“Bài viết nghiên cứu sự thay đổi về mục đích sống ở các giai đoạn khác nhau trong
cuộc đời, từ tuổi trẻ đến tuổi già. Kết quả đã chỉ rõ rằng ý nghĩa cuộc sống có xu hướng
tăng lên khi người ta lớn tuổi, nhưng sau một ngưỡng nhất định, nó bắt đầu giảm đi. Các
yếu tố như mối quan hệ xã hội, sức khỏe tâm thần và vật lý, và trải nghiệm sống đều ảnh
hưởng đến mục đích sống. Mục đích sống không phải là điều cố định, mà nó thay đổi
theo thời gian và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Việc hiểu rõ cách mục đích
sống thay đổi qua từng giai đoạn tuổi đời có thể giúp chúng ta tạo ra một cuộc sống trọn vẹn và hài lòng hơn.” Mô hình nghiên cứu: 17 Phương pháp nghiên cứu:
Mẫu nghiên cứu: sử dụng một mẫu đa dạng về độ tuổi từ người trưởng thành đến người già
Phương tiện thu thập dữ liệu: sử dụng các biểu mẫu khảo sát với các câu hỏi về ý
nghĩa cuộc sống và các yếu tố liên quan khác Kết quả nghiên cứu:
Biến đổi theo độ tuổi: có thể có sự biến đổi về cảm nhận về mục đích sống qua các
giai đoạn cuộc đời. Ví dụ, những người ở tuổi trung niên có thể cảm thấy cuộc sống có
nhiều ý nghĩa hơn so với những người trẻ tuổi hoặc người già
Yếu tố liên quan: các yếu tố như sức khỏe, mối quan hệ, sự nghiệp, tình trạng hôn
nhân và tài chính có thể ảnh hưởng đến cảm nhận về mục đích sống
Những thách thức biệt: mỗi giai đoạn cuộc đời có thể mang lại những thách thức
đặc biệt cho việc tìm kiếm mục đích
b. Reker, G. T., & Wong, P. T. (1988). "Aging as an individual process: Toward a
theory of personal meaning." In Emergent theories of aging (pp. 214-246). Springer Publishing Company.
“Trong bài này, tác giả thảo luận về việc lão hóa là một quá trình cá nhân và tìm
hiểu làm thế nào mục đích sống thay đổi khi tuổi tác tăng. Bài viết khám phá những thay
đổi về cách mọi người cảm nhận ý nghĩa trong cuộc sống của họ qua thời gian. Các yếu
tố như sức khỏe, mất mát (như mất đối tác hoặc bạn bè), và các thay đổi về vai trò xã hội
(như nghỉ hưu) có thể ảnh hưởng đến cách mọi người cảm nhận và tìm mục đích sống của họ.” Mô hình nghiên cứu: 18 Phương pháp nghiên cứu:
Phỏng vấn hoặc Khảo sát: sử dụng phỏng vấn hoặc khảo sát để thu thập thông tin
về cách mọi người trải nghiệm và tìm kiếm mục đích sống trong quá trình lão hóa.
Phân tích Văn bản: xem xét và phân tích các nghiên cứu trước đó về lão hóa và
mục đích sống để xây dựng lý thuyết của mình. Kết quả nghiên cứu:
Lão hóa là một Quá trình Cá nhân: Có thể họ đã khám phá việc mọi người trải
nghiệm sự lão hóa theo cách riêng biệt dựa trên nền tảng văn hóa, giáo dục, gia đình, và sự nghiệp.
Tìm kiếm mục đích: Trong quá trình lão hóa, tìm kiếm và xác định mục đích sống
có thể trở thành một yếu tố quan trọng. Họ có thể đã mô tả các thách thức và cơ hội liên
quan đến việc tìm kiếm mục đích sống và ý nghĩa ở tuổi già.
c, Silberman, I. (2005). "Religion as a meaning system: Implications for the new
millennium." Journal of Social Issues, 61(4), 641-663.
“Bài viết này khám phá tôn giáo như một hệ thống ý nghĩa, đánh giá tác động của
nó đối với mục đích sống. Tôn giáo có thể giúp định hình và hướng dẫn mục đích sống,
bằng cách cung cấp các giá trị, hướng dẫn đạo đức, và cam kết với một sứ mệnh lớn hơn.” Mô hình nghiên cứu: 19 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu Lý thuyết: Bài báo có thể bắt đầu bằng việc xem xét các lý thuyết và
nghiên cứu trước đó về tôn giáo, ý nghĩa cuộc sống và hệ thống ý nghĩa, mục đích sống.
Phân tích Văn bản: Tác giả có thể đã thực hiện phân tích văn bản, tức là xem xét
và phân tích các tài liệu liên quan đến tôn giáo và ý nghĩa cuộc sống, mục đích sống,
chẳng hạn như kinh thánh, sách tôn giáo, hoặc bài giảng tôn giáo.
Khảo sát: Tác giả có thể đã sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu từ
các cá nhân về tôn giáo và ý nghĩa cuộc sống, mục đích sống của họ. Kết quả nghiên cứu:
Tôn giáo như Hệ thống Ý nghĩa: Bài báo có thể đã tôn vinh tôn giáo như một hệ
thống quan trọng cung cấp ý nghĩa và hướng dẫn cho cuộc sống của con người. Nó có thể
đã xem xét cách tôn giáo giúp con người đối mặt với các vấn đề và thách thức trong cuộc
sống và giải quyết chúng từ đó có những mục đích sống khác nhau.
Tôn giáo và Thế kỷ mới: Bài báo có thể đã thảo luận về vai trò và tác động của tôn
giáo trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong bối cảnh của sự phát triển của khoa học, công nghệ, và toàn cầu hóa.
Hệ thống Ý nghĩa và Tôn giáo trong Cuộc sống Cá nhân: Bài báo có thể đã nêu
lên cách mà tôn giáo có thể cung cấp một hệ thống ý nghĩa cho cuộc sống cá nhân và ảnh
hưởng đến các quyết định và mục đích sống của người tín đồ.
2.2.2. Các tài liệu trong nước
a. Sống vì nghề nghiệp và tương lai của mình sau này (1991) NGUYỄN PHUƠNG THẢO*
“Trên cơ sở số liệu của cuộc điều tra về sinh viên do khoa Triết học, trường Dại
học Tổng hợp tiến hành vào tháng 11 năm 1990 ở 5 trường đại học tại Hà Nội: Đại học
Bách khoa, Dại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm I, Đại học Kinh tế quốc dân và Đại học
Văn hóa, chúng tôi lưu tâm tới 2 vấn đề: 1) Sự lựa chọn ban đầu, động cơ và mục đích 20