Thông tin Khoa hc xã hi, s 1.2019
54
Một số vấn đề về ngôn ngữ báo chí hiện nay
Phạm Văn Tình
(*)
Tóm tắt: Ngôn ng báo chí là mt mt biu hin ca ngôn ng toàn dân. “Ngôn ng báo
chí” mang đặc thù riêng ca hot động truyn thông đại chúng. Ngôn ng báo chí cn
rõ ràng, sinh động, tươi mi và không quá xa l vi mi người. Báo chí cn s dng mt
ngôn ng thông dng, chun và mang tính văn hóa. Qua tư liu kho sát gn đây, bài viết
phân tích mt vài mt tích cc và tiêu cc biu hin trong ngôn ng báo chí Vit Nam
hin nay.
Từ khoá: Báo chí, Ngôn ngữ báo chí, Chuẩn ngôn ngữ
Abstract: Language of media news is among the representations of the common national
language. The language has its own peculiarities as a platform of mass media. It must be
clear, vivid, fresh, and popular to the public. The press must “speak” a common standard
language conveying cultural features. Through recent data, the article analyzes some
positive and negative aspects in the language of Vietnamese media news nowadays.
Besides linguistic contributions such as in diversifying styles and vocabularies, the press
also needs to improve its attitudes towards mistakes as well arguments skills.
Keywords: Press, Language of Media News, Language Standards
1. Mở đầu
(*)
Trong hội hiện đại, càng ngày vai trò
của báo chí (press) và truyền thông (media)
càng quan trọng, là kênh truyền thông hữu
hiệu nối kết mọi thành viên trong cộng
đồng. Ngôn ngữ là công cụ quan trọng của
thông tin báo chí (gồm kênh chữ kênh
hình). Nghiên cứu ngôn ngữ báo chí, biểu
hiện của ngôn ngữ, mặt được và chưa được
của báo chí Việt Nam hiện nay là việc làm
cần thiết.
2. Ngôn ngữ và ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ, như cách hiểu thông thường
(theo T đin tiếng Vit) “hệ thống những
(*)
PGS.TS., Hội Ngôn ngữ học Việt Nam;
Email: favatin@gmail.com
âm, những từ những quy tắc kết hợp
chúng, làm phương tiện để giao tiếp chung
cho một cộng đồng” (Hoàng Phê chủ biên,
2017). Tiếng Việt ngôn ngữ chính thức
của nước CHXHCN Việt Nam, đảm nhận
chức năng công cụ giao tiếp bằng lời
bằng văn bản trong các quan hệ đối nội
đối ngoại. Tiếng Việt đã lịch sử hàng
ngàn năm nhưng chữ Quốc ngữ (chữ ghi âm
theo mẫu tự Latin) mới được sử dụng từ thế
kỷ XVII (dấu ấn rõ nét nhất là sự ra đời của
cuốn T đin Vit - B - La - Dictionarium
Annamiticum Lusitanum et Latinum của A.
de Rhodes). Sau hơn 3 thế kỷ, từ một văn tự
bị “lép vế”, không chính thức (do ở thế tồn
tại tam ngữ bất bình đẳng), chữ Quốc ngữ
đã khẳng định được sức sống mạnh mẽ,
Mt s vn đề
55
thể hiện được vai trò, chức năng của mình
trong mọi mặt của hoạt động hội: chính
trị, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, văn hóa
văn nghệ… (Chỉ riêng lĩnh vực khoa học
kỹ thuật đã có gần 20 vạn đơn vị thuật ngữ)
(Lại Văn Hùng, 2011-2012).
Ngôn ngữ báo chí là một mặt biểu hiện
của ngôn ngữ toàn dân. Trong hệ thống phân
loại phong cách học (phong cách khoa học
- chính luận, phong cách khẩu ngữ, phong
cách văn học - nghệ thuật), không có nhiều
người đặt riêng phong cách báo chí thành
một loại, do báo chí “tổng hòa” nhiều
phong cách.
Báo chí là một kênh truyền thông nhằm
“trao đổi thông điệp giữa các thành viên
hay các nhóm người trong hội nhằm đạt
được sự hiểu biết lẫn nhau” (Tạ Ngọc Tấn,
2001: 8). Báo chí - truyền thông trước hết
liên quan tới tin tức, thời sự, phản ánh các sự
kiện trong đời sống xã hội. Vì vậy, ngôn ngữ
báo chí phải đảm bảo tính chính xác, phản
ánh nhanh, đủ,… nhưng phải khách quan,
trung thực. Tính khách quan tiêu chuẩn
quan trọng mang tính sống còn của báo chí.
Tính thông dng (tính quần chúng) đòi
hỏi ngôn ngữ báo chí phải sử dụng từ ngữ,
cách diễn đạt sao cho dễ hiểu, gần với ngôn
ngữ đời thường (khẩu ngữ). Cách viết kinh
viện, “hàn lâm” sẽ rất khó đến với độc giả
rộng rãi. Báo chí loại hình truyền thông
tiếp cận cuộc sống một cách sát sao nhất,
ngôn ngữ báo chí phải ràng, sinh động,
tươi mới và không quá xa lạ với mọi người,
phản ánh được “hơi thở” của nhịp sống
đương đại.
Năm 2002, Viện Ngôn ngữ học đã công
bố cuốn T đin t mi với hơn 3.000 đơn
vị. Đó những từ mới trong giai đoạn
1990-2000, được thu thập chủ yếu qua
báo chí. Thực tế, một khối lượng từ vựng
không nhỏ thường được bổ sung qua giao
tiếp thường ngày được báo chí ghi lại,
phản ánh một cách chân thực bức tranh
sống động của ngôn ngữ (chẳng hạn: con
chip, quán cóc, phn cm, ISO, marketting,
Internet, ch lao động, ôsin, cu vn, sành
điu, v.v…). Báo chí như một người “thư
ký” âm thầm trung thực trong việc ghi
nhận những đổi thay của cuộc sống, trong
đó có ngôn ngữ.
Chuẩn ngôn ngữ là một vấn đề của văn
hóa giao tiếp. Với đối tượng mọi người
trong hội, báo chí phải sử dụng một ngôn
ng chun mc và mang tính văn hóa.
3. Những đóng góp của báo chí về mặt
ngôn ngữ
a. Tính đa dng ca ngôn ng báo chí
Hiện nay, mặt trận truyền thông Việt
Nam ngày càng đa dạng về chủng loại
(báo viết, đài phát thanh, đài truyền hình,
website điện tử…). Theo báo cáo của Bộ
Thông tin Truyền thông, đến năm 2015
cả nước có hơn 800 cơ quan báo in với trên
1.000 ấn phẩm, 70 báo điện tử, gần 300
trang thông tin điện tử; trong đó, số lượng
tạp chí chiếm khoảng 85% số ấn phẩm
trung ương 50% số lượng báo chí địa
phương (Dẫn theo: Báo Đời sng & Pháp
lut online, 2015).
Với đầy đủ các lĩnh vực thể loại
để đáp ứng nhu cầu tin tức của mọi nhóm
độc giả trong hội, ngôn ngữ báo chí
Việt Nam hiện nay cho thấy sự đa dạng
qua cách thể hiện của mỗi tờ báo với chức
năng riêng của mình. Báo Nhân dân
quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước
nhân dân. Báo Quân đội Nhân dân phục
vụ cho cán bộ chiến trong lực lượng
trang. Báo Công an Nhân dân (cùng
An ninh Thế gii, An ninh Th đô, Bo v
Pháp lut, Pháp lut & Đời sng,…) góp
phần phục vụ công tác duy trì an ninh
hội. Báo Tin phong, Tui tr, Thanh niên,
Thông tin Khoa hc xã hi, s 1.2019
56
Sinh viên… tiếng nói của thanh niên. Báo
Thiếu niên Tin phong, Hoa Hc trò, Mc
tím,của thiếu nhi, nhi đồng, tuổi học
đường. Ngoài ra còn các báo Ph n,
Thế gii Ph n, Ph n Tr (dành cho
phụ nữ), Văn ngh, Văn ngh Tr, Người
Hà Ni (chuyên về văn chương), Gia đình
xã hi, Gia đình, Tui tr Hnh phúc (quan
tâm tới mảng gia đình - hội), Khoa hc
& Đời sng, Tia sáng, Khoa hc & T quc
(của giới trí thức), Thi báo kinh tế, Kinh tế
Đô th, Thi báo Doanh nhân, Doanh nhân
Sài Gòn, Mua & Bán (của giới doanh nhân,
thương mại), v.v...
b. S
xut hin ca nhiu t mi trên
báo chí
Mọi ngôn ngữ phát sinh, hình thành
tồn tại gồm 3 địa hạt bản ng âm, t
vng, ng pháp, trong đó từ vựng (vốn từ)
địa hạt dễ biến động nhất (với sự xuất
hiện của các t mi). Vấn đề đặt ra là: thế
nào t mi? Nếu đặt tổ hợp t mi trong
vế đối lập với t cũ, thể sẽ cách hiểu
chưa thật chuẩn xác về cặp trái nghĩa này.
T mi là từ vừa phát sinh và được sử dụng
gần với thời gian hiện tại nhất. Còn t cũ lại
những từ đã nhưng thực tế rất ít được
sử dụng, chẳng hạn can gián, càn khôn, gàn
qui, kinh sư (kinh đô), nông phu, thái hc
sinh,... Trong nhiều từ điển, những từ như
vậy còn được chú thêm là id. (ít dùng). Vậy
t miđây phải được hiểu là “từ vừa xuất
hiện được cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận
đưa vào giao tiếp”. Còn những từ không
được coi từ mới những từ “đã được
chấp nhận và vẫn đang sử dụng, được coi
một bộ phận trong vốn từ của ngôn ngữ đó”.
nhiên, thế nào mới như cách hiểu
trên còn là vấn đề chưa thực sự thống nhất.
Hiện nay, với những biến đổi mạnh mẽ
về kinh tế, khoa học kỹ thuật..., cùng với
toàn cầu hóa hội nhập, chúng ta
hội tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác nhau
trên thế giới, nên việc tiếp nhận những từ
ngữ, thuật ngữ mới là điều tất yếu (chỉ tính
riêng thuật ngữ về công nghệ thông tin,
hiện nay chúng ta đã tiếp nhận bằng cách
giữ nguyên hoặc Việt hóa hàng vạn đơn vị).
Ngay trong lĩnh vực báo chí, chúng ta đã có
một loạt từ để phân biệt các loại hình xuất
bản khác nhau đang tồn tại: báo viết (báo
in trên giấy), báo nói (đài phát thanh), báo
nh (báo in chủ yếu hình ảnh), báo hình
(truyền hình), báo đin t (báo lưu hành
trên mạng thông tin điện tử). Kênh thông
tin báo chí hùng hậu này đã tiếp nhận mọi
sự đổi thay chóng mặt của cuộc sống, trong
đó có sự đổi thay của ngôn từ.
Ranh giới giữa mới không mới trong
lĩnh vực này nhiều khi rất mong manh, khó
phân biệt. Con chip, cng, đĩa mm, El
Nino, ni cơm đin, gii mã, ISO 9000,
karaoke... được cho từ mới điều dễ
hiểu. Nhưng các từ khác như bo kê, gch
bông, c nhân, tiêu chy, hàng ch, hu
mãi, thiu năng trí tu, quy ri tình dc,
ngh khe, lên đời,... có thực sự mới hay
không? Thực ra chúng đã ra đời từ vài thế
kỷ trước.
Theo quan điểm của các nhà làm từ
điển, khá nhiều tiêu chí được đưa ra để
“thẩm định” đối tượng, xem chúng có được
xếp vào kho từ mới hay không.
Trước hết, đó những từ ngữ biểu thị
khái niệm mới xuất hiện do nhu cầu của
cuộc sống đòi hỏi, chẳng hạn: ngoi t (cùng
ni t), siêu th, tin tc, hooligan, penalty,
lobby, email, derby, barem, sao chép, sao
chp, định dng, bão t,... Trong đó không
ít từ bắt nguồn từ lối nói khẩu ngữ: cu
vn, quá đát, ôsin, hàng thùng, bm trn,
lăn tăn, tinh vi (tinh tướng), bò lc, ng xế,
tay vn,...những từ này, càng ngày càng
phát triển với tốc độ chóng mặt.
Mt s vn đề
57
Cũng những từ đã có, nhưng giờ đây
chúng được sử dụng với một phong cách
mới, khác nghĩa đôi chút, hoặc cụ thể, tinh
tế hơn, phù hợp với thực tế hơn. Chẳng hạn
người ta thường nói “Tác giả đã đề cập tới
một vấn đề hết sức bc xúc”; hay “Những
thông tin trong cuốn sách được bổ sung,
cp nht thường xuyên”, thì những từ như
bc xúc, cp nht những từ đang được
sử dụng với tần suất cao sự dịch
so với nghĩa gốc (cp nht: “thay đổi, bổ
sung từng ngày, không để chậm sang ngày
hôm sau” nhưng hiện tại được hiểu là “điều
chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp với diễn
biến của thực tế đời sống”).
Thậm chí, những từ tưởng đã “xưa
cũ”, nay lại đem sử dụng trở lại, “mới hóa”,
như: c nhân, tú tài, đăng quang, gii đen,
tinh tướng, ... Và trong đà “mới hóa” cái cũ,
lại sự mới hóa bằng việc đưa các từ địa
phương (phương ng, chỉ dùng trong một
phạm vi hẹp) vào ngôn ngữ toàn dân, như
cách người ta thường nói: gch bông (=
gạch hoa), bông tai (= hoa tai), ch vàng, cây
vàng (= đồng cân vàng, lạng vàng), chích (=
tiêm), quy, siêu quy (phá quấy, gây rối quá
mức...), t li (= tủ cốc chén), nước tương (=
xì dầu), (nhậu) ti bến, chìm xung...
Cũng phải tính đến cả các từ cũ nay đã
mở rộng nghĩa trong các kết hợp mới, hàm
nghĩa ẩn dụ, như: xe dù, bến cóc, cơm b
i,
hàng ch, qu la,...
Như vậy, có rất nhiều yếu tố không thể
bỏ qua khi lựa chọn “danh sách từ mới”.
một vấn đề đặt ra là, sẽ một số từ được
chọn, một số từ không. Đó tiêu chí về
thời gian, phạm vi, mức độ sử dụng.
T đin T mi tiếng Vit của Viện
Ngôn ngữ học (Chu Bích Thu, 2001) đã
khảo sát các văn bản tiếng Việt (trên sách
báo) từ những năm 1980 cho đến hết thế kỷ
XX. Trong vòng hơn hai chục năm, sẽ
những từ mới xuất hiện hoặc đã nhưng
được sử dụng khác đi. ràng, việc đưa
một từ vào từ điển không thể chỉ dựa vào
cảm tính. Phiếu thống sẽ làm căn cứ để
đưa ra lựa chọn. nếu từ mới xuất hiện
lác đác, chưa định hình về nghĩa thì cũng
chưa thể xem xét. những từ xuất hiện
nhưng cũng nhanh chóng bị rơi vào quên
lãng, không còn được sử dụng, do nhu cầu
hay đôi khi chỉ một thói quen thời thượng
không thực chất. Hoặc những trường hợp
tồn tại vài ba biến thể, chọn khả năng nào lại
một vấn đề đặt ra: marketing hay tiếp th?
photocopy hay sao chp? le hay tp (dữ
liệu)? lobby hay vn động hành lang? email
hay thư đin t? MC hay người dn chương
trình? v.v... Đó cũng những vấn đề khó,
đòi hỏi sự cân nhắc, trong đó vấn đề giữ gìn
bản sắc tiếng Việt cũng cần hết sức đươc
coi trọng (Cùng thành tố tc, bây giờ có:
không tc, hi tc, lâm tc, tin tc, l tc, sa
tc và cả … đinh tc, tình tc!).
Giống như mọi sự vật hiện tượng
khác, ngôn ngữ cũng quy luật phát triển
riêng. cũng chế “tự điều chỉnh”
tựa như sự chọn lọc tự nhiên. Tiếng Việt
đã ra đời phát triển hàng ngàn năm nay,
lúc đó chưa hề ngành ngôn ngữ học
hay chính sách ngôn ngữ. Ngày nay, với sự
hiểu biết các nghiên cứu từ góc độ khoa
học, người ta hoàn toàn thể quan sát, tổng
hợp, phân tích để đưa ra các định hướng
thoả đáng làm cho sự phát triển đó diễn ra
nhanh hơn, hợp lý hơn, phù hợp với quy luật
biến đổi chung. Trong đó, không thể không
kể đến vai trò của báo chí. Chính báo chí đã
làm gia tăng cách nói, cách dùng từ ngữ theo
hướng mới. Cuốn T đin t mi tiếng Vit
chắc chắn còn phải bổ khuyết nhiều về số
lượng. Thực tế đã biến động nhiều đòi hỏi
các mục từ cũng phải tiếp tục được bổ sung,
cập nhật thường xuyên. Thời gian và thực tế
Thông tin Khoa hc xã hi, s 1.2019
58
cuộc sống chấp nhận hay không chính
câu trả lời đích đáng để các từ ngữ mới xuất
hiện trên báo chí có cơ sở tồn tại.
c. Mt vài biu hin lch lc, chưa
phù hp
Qua khảo sát của chúng tôi, trong những
năm gần đây, khá nhiều vấn đề nổi cộm
mà dư luận xã hội quan tâm có liên quan tới
ngôn ngữ báo chí: vấn đề ứng xử của báo
chí trước các sai sót (lỗi) trên ấn phẩm của
mình; vấn đề tranh luận trên báo chí; vấn đề
sử dụng tiếng nước ngoài; vấn đề trình bày
các ấn phẩm (ma-ket, bố cục)…
đây, chúng tôi xin được đề cập một
số vấn đề sau:
* Vn đề ng x ca báo chí trước các
sai sót (li) trên n phm
Hiện nay, với gần 800 cơ quan báo chí,
số lượng in ra hàng ngày vài triệu bản (riêng
báo Tui tr đã vượt quá số lượng 500 ngàn
bản/ ngày, các tờ báo ngành cũng phát hành
ít nhất vài ngàn bản/ ngày). Nhiều tờ báo
do lượng thông tin phải cập nhật liên tục
(thể thao, tin tức “nóng”), khi chỉ được
in trước khi phát hành vài giờ đồng hồ (ví
dụ một số tờ báo thể thao). Đó là lý do báo
chí dễ mắc phải những sai sót. Có sai sót ở
mức bình thường, có sai sót ở mức nghiêm
trọng. theo thông lệ, quan báo chí
phải có trách nhiệm cải chính.
Những năm trước đây, nhiều báo (và
nhất là các nhà xuất bản) đều thực hiện quy
trình đọc đính chính. Thông thường, khi
sách, báo in xong, trước khi phát hành, một
bản in hoàn chỉnh sẽ được chuyển cho biên
tập viên, phòng trị sự (và đôi khi cả tác giả).
Đại diện toà báo, biên tập viên (và tác giả)
sẽ đọc lần cuối để kiểm tra, phát hiện
các sai sót nếu có về nội dung bản thảo, kỹ
thuật, mỹ thuật, chính tả... Nếu những
lỗi nhỏ cần sửa, sẽ in thêm ngay tờ đính
chính hoặc đăng thông tin cải chính vào số
kế tiếp. Nếu lỗi nặng thì ngay lập tức phải
đình chỉ phát hành để sửa chữa. Đính chính
có th coi là mt li xin li gián tiếp, và qua
đó cơ quan cho ra đời n phm đã t rõ thái
độ nghiêm túc trong hot động xut bn v
i
tinh thn cu th. Tuy vậy, hiện nay, thể
thấy rất ít báo (và sách) có đính chính.
Như đã nói, sai sót là điều ngoài mong
muốn. Nhưng với trách nhiệm của người
làm báo thái độ tôn trọng độc giả,
quan chịu trách nhiệm của tờ báo phải
sự cải chính ràng, ngay cả với những
lỗi nhỏ. Đây không chỉ là nguyên tắc trong
hoạt động xuất bản, còn một cách
ứng xử đẹp.
Trên thực tế, đã nhiều tờ báo nhà
xuất bản phải đính chính, thậm chí phải hủy
bỏ tất cả ấn phẩm những sai sót. Năm
2007, tờ báo Time (Mỹ) đã phải hủy một
số lượng báo khá lớn quyết định kỷ luật
buộc thôi việc một phóng viên ảnh đã tuỳ
tiện chỉnh sửa ảnh thời sự bằng công nghệ
photoshop. Hay nhà xuất bản Larousse
(Pháp) đã từng phải ngừng phát hành 18 vạn
cuốn từ điển do những lỗi nghiêm trọng.
Năm 2010, nhà xuất bản Penguin Group
Úc đã phải tiêu hủy in lại toàn bộ 7.000
bản cuốn sách dạy nấu ăn Pasta Bible do
một lỗi in tai hại: Trong danh sách chuẩn
bị nguyên liệu, “muối tiêu đen (black
pepper) tươi xay nhuyễn” bị in nhầm thành
“muối người da đen (black people) tươi
xay nhuyễn”. Việc in lại này khiến nhà xuất
bản bị tiêu tốn 20.000 AUD (khoảng 18.000
USD). Đó những bài học đắt giá theo
đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này.
* Vn đề tranh lun trên báo chí
Báo chí là một diễn đàn công luận rộng
rãi. Mọi vấn đề đăng tải trên báo, như tin
tức, bài bình luận, phóng sự, bài báo khoa
học… có thể còn chưa thực sự đáp ứng yêu
cầu thông tin cần thiết. Không ít bài báo
Mt s vn đề
59
đưa tin chưa chuẩn xác, thậm chí sai sự
thật. Cũng không ít các tác giả còn non tay,
tầm hiểu biết tri thức chưa rộng. Cũng
không ít tác giả còn viết với cái tâm thiếu
trong sáng, còn áp đặt chủ quan. Vì vậy, để
nâng cao chất lượng báo chí, tranh luận
việc nên có và phải có.
Mỗi tờ báo tính độc lập, quan
điểm riêng nhưng phải tuân thủ tôn chỉ, mục
đích, tuân thủ đường hướng lãnh đạo của
quan chủ quản thực hiện nghiêm Luật
Báo chí, tuyên truyền cho đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước. Việc đưa vấn đề,
bình luận vấn đề quyền của tờ báo, nhưng
phải hướng tới tiêu chuẩn sáng tỏ chân lý.
Nhà báo phải người khách quan, hướng
tới sự công bằng. Tuy nhiên, đôi khi bản
thân nhà báo không hẳn đã nắm bắt ngay
được bản chất sự việc. Phải người trong
cuộc hay nhập vai người trong cuộc thì mới
có cơ hội quan sát. Trong khi đó, nhiều khi
nhà báo lại là người “đơn thương độc mã”,
“tai mắt” tinh nhạy bao nhiêu cũng
chỉ mức độ nhất định. Hơn nữa, khi vào
vai nhà báo, họ sẽ gặp khó khăn nhất định
khi tiếp cận đối tượng, nhất những đối
tượng đang muốn che giấu sự thật.
khá nhiều ý kiến đề cập đến tình
trạng phản ánh sự kiện chưa chính xác, từ
đó đưa ra các nhận định chủ quan, thiếu
trung thực của một số tờ báo, bài báo (Xem:
Nguyễn Thế Kỷ, 2011). thể đó chỉ
những ý kiến phản hồi một phía, phiến diện.
thể đó chỉ những ý kiến nhằm mục
đích làm sai lệch vấn đề, che giấu sự thật, vụ
lợi… Nhưng bên cạnh đó, cũng có không ít
ý kiến xác đáng, thẳng thắn. Để tôn trọng
sự thật, mọi toà báo đều không được phép
bỏ qua, coi nhẹ các ý kiến phản hồi, mà cần
có động thái xác minh với tinh thần cầu thị.
Văn hóa tranh luận trên báo chí cũng
một vấn đề cần bàn hiện nay, khi không
ít bài báo thể hiện sự thiếu tôn trọng người
đối thoại trong tranh luận. khi chỉ
“nóng mắt” về một bài báo nào đó, không
ít tác giả đăng đàn dùng các ngôn từ nặng
nề, thậm chí mạt sát. Có tác giả (không tiện
nêu tên) trong một thời gian dài phê phán
sách giáo khoa đã “lôi tuốt tuột” vào danh
sách phê phán cả các hội đồng biên soạn
với không biết bao nhiêu nhà khoa học tên
tuổi đã đóng góp không ít cho ngành
khoa học và giáo dục nước nhà (tại các Hội
đồng trao đổi về Chương trình biên soạn
sách giáo khoa mới, do Liên hiệp Hội Việt
Nam tổ chức năm 2017).
Tranh luận trên báo chí, như trên đã nói,
một nhu cầu bình thường cần thiết.
Nhưng văn hóa tối thiểu của người tranh
luận là phải kiềm chế cảm xúc chủ quan để
không đẩy vấn đề tới mức cực đoan. Thận
trọng khi xem xét vấn đề, đó thái độ nghề
nghiệp nghiêm túc khi làm báo. Biết tôn
trọng người đối thoại, đó tôn trọng độc
giả và tôn trọng chính mình.
4. Thay lời kết
Báo chí Việt Nam, trong dòng chảy
của báo chí thời đại, với những biểu hiện
đa dạng của (báo viết, báo nói, báo
hình, báo điện tử) đã vai trò quan trọng
trong việc nối kết định hướng hội.
Gần đây, cùng với sự phát triển của các
mạng hội, mọi vấn đề thời sự “nóng”
cũng nhanh chóng lan tỏa trong cộng đồng.
Ngôn ngữ công cụ phản ánh cũng thay
đổi để đáp ứng những yêu cầu của thực
tế cuộc sống. Ngôn ngữ báo chí vậy
ngày càng ảnh hưởng lớn tới ngôn ngữ
toàn dân. Việc điều chỉnh, uốn nắn, chuẩn
hóa ngôn ngữ báo chí một trong những
nhiệm vụ cần thiết của công cuộc chuẩn
hóa tiếng Việt hiện nay
(xem tiếp trang 35)

Preview text:

54
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2019
Một số vấn đề về ngôn ngữ báo chí hiện nay Phạm Văn Tình(*)
Tóm tắt: Ngôn ngữ báo chí là một mặt biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân. “Ngôn ngữ báo
chí” mang đặc thù riêng của hoạt động truyền thông đại chúng. Ngôn ngữ báo chí cần
rõ ràng, sinh động, tươi mới và không quá xa lạ với mọi người. Báo chí cần sử dụng một
ngôn ngữ thông dụng, chuẩn và mang tính văn hóa. Qua tư liệu khảo sát gần đây, bài viết
phân tích một vài mặt tích cực và tiêu cực biểu hiện trong ngôn ngữ báo chí ở Việt Nam hiện nay.
Từ khoá: Báo chí, Ngôn ngữ báo chí, Chuẩn ngôn ngữ
Abstract: Language of media news is among the representations of the common national
language. The language has its own peculiarities as a platform of mass media. It must be
clear, vivid, fresh, and popular to the public. The press must “speak” a common standard
language conveying cultural features. Through recent data, the article analyzes some
positive and negative aspects in the language of Vietnamese media news nowadays.
Besides linguistic contributions such as in diversifying styles and vocabularies, the press
also needs to improve its attitudes towards mistakes as well arguments skills.
Keywords: Press, Language of Media News, Language Standards 1. Mở đầu(*)
âm, những từ và những quy tắc kết hợp
Trong xã hội hiện đại, càng ngày vai trò chúng, làm phương tiện để giao tiếp chung
của báo chí (press) và truyền thông (media) cho một cộng đồng” (Hoàng Phê chủ biên,
càng quan trọng, là kênh truyền thông hữu 2017). Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức
hiệu nối kết mọi thành viên trong cộng của nước CHXHCN Việt Nam, đảm nhận
đồng. Ngôn ngữ là công cụ quan trọng của chức năng là công cụ giao tiếp bằng lời và
thông tin báo chí (gồm kênh chữ và kênh bằng văn bản trong các quan hệ đối nội và
hình). Nghiên cứu ngôn ngữ báo chí, biểu đối ngoại. Tiếng Việt đã có lịch sử hàng
hiện của ngôn ngữ, mặt được và chưa được ngàn năm nhưng chữ Quốc ngữ (chữ ghi âm
của báo chí Việt Nam hiện nay là việc làm theo mẫu tự Latin) mới được sử dụng từ thế cần thiết.
kỷ XVII (dấu ấn rõ nét nhất là sự ra đời của
2. Ngôn ngữ và ngôn ngữ báo chí
cuốn Từ điển Việt - Bồ - La - Dictionarium
Ngôn ngữ, như cách hiểu thông thường Annamiticum Lusitanum et Latinum của A.
(theo Từ điển tiếng Việt) là “hệ thống những de Rhodes). Sau hơn 3 thế kỷ, từ một văn tự
bị “lép vế”, không chính thức (do ở thế tồn
(*) PGS.TS., Hội Ngôn ngữ học Việt Nam; tại tam ngữ bất bình đẳng), chữ Quốc ngữ Email: favatin@gmail.com
đã khẳng định được sức sống mạnh mẽ, Một số vấn đề… 55
thể hiện được vai trò, chức năng của mình tiếp thường ngày và được báo chí ghi lại,
trong mọi mặt của hoạt động xã hội: chính phản ánh một cách chân thực bức tranh
trị, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, văn hóa sống động của ngôn ngữ (chẳng hạn: con
văn nghệ… (Chỉ riêng lĩnh vực khoa học chip, quán cóc, phản cảm, ISO, marketting,
kỹ thuật đã có gần 20 vạn đơn vị thuật ngữ) Internet, chợ lao động, ôsin, cửu vạn, sành
(Lại Văn Hùng, 2011-2012).
điệu, v.v…). Báo chí như một người “thư
Ngôn ngữ báo chí là một mặt biểu hiện ký” âm thầm và trung thực trong việc ghi
của ngôn ngữ toàn dân. Trong hệ thống phân nhận những đổi thay của cuộc sống, trong
loại phong cách học (phong cách khoa học đó có ngôn ngữ.
- chính luận, phong cách khẩu ngữ, phong
Chuẩn ngôn ngữ là một vấn đề của văn
cách văn học - nghệ thuật), không có nhiều hóa giao tiếp. Với đối tượng là mọi người
người đặt riêng phong cách báo chí thành trong xã hội, báo chí phải sử dụng một ngôn
một loại, do báo chí là “tổng hòa” nhiều ngữ chuẩn mực và mang tính văn hóa. phong cách.
3. Những đóng góp của báo chí về mặt
Báo chí là một kênh truyền thông nhằm ngôn ngữ
“trao đổi thông điệp giữa các thành viên
a. Tính đa dạng của ngôn ngữ báo chí
hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt
Hiện nay, mặt trận truyền thông Việt
được sự hiểu biết lẫn nhau” (Tạ Ngọc Tấn, Nam ngày càng đa dạng về chủng loại
2001: 8). Báo chí - truyền thông trước hết (báo viết, đài phát thanh, đài truyền hình,
liên quan tới tin tức, thời sự, phản ánh các sự website điện tử…). Theo báo cáo của Bộ
kiện trong đời sống xã hội. Vì vậy, ngôn ngữ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2015
báo chí phải đảm bảo tính chính xác, phản cả nước có hơn 800 cơ quan báo in với trên
ánh nhanh, đủ,… nhưng phải khách quan, 1.000 ấn phẩm, 70 báo điện tử, gần 300
trung thực. Tính khách quan là tiêu chuẩn trang thông tin điện tử; trong đó, số lượng
quan trọng mang tính sống còn của báo chí. tạp chí chiếm khoảng 85% số ấn phẩm ở
Tính thông dụng (tính quần chúng) đòi trung ương và 50% số lượng báo chí ở địa
hỏi ngôn ngữ báo chí phải sử dụng từ ngữ, phương (Dẫn theo: Báo Đời sống & Pháp
cách diễn đạt sao cho dễ hiểu, gần với ngôn luật online, 2015).
ngữ đời thường (khẩu ngữ). Cách viết kinh
Với đầy đủ các lĩnh vực và thể loại
viện, “hàn lâm” sẽ rất khó đến với độc giả để đáp ứng nhu cầu tin tức của mọi nhóm
rộng rãi. Báo chí là loại hình truyền thông độc giả trong xã hội, ngôn ngữ báo chí
tiếp cận cuộc sống một cách sát sao nhất, Việt Nam hiện nay cho thấy rõ sự đa dạng
ngôn ngữ báo chí phải rõ ràng, sinh động, qua cách thể hiện của mỗi tờ báo với chức
tươi mới và không quá xa lạ với mọi người, năng riêng của mình. Báo Nhân dân là cơ
phản ánh được “hơi thở” của nhịp sống quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và đương đại.
nhân dân. Báo Quân đội Nhân dân phục
Năm 2002, Viện Ngôn ngữ học đã công vụ cho cán bộ và chiến sĩ trong lực lượng
bố cuốn Từ điển từ mới với hơn 3.000 đơn vũ trang. Báo Công an Nhân dân (cùng
vị. Đó là những từ mới trong giai đoạn An ninh Thế giới, An ninh Thủ đô, Bảo vệ
1990-2000, được thu thập chủ yếu qua Pháp luật, Pháp luật & Đời sống,…) góp
báo chí. Thực tế, một khối lượng từ vựng phần phục vụ công tác duy trì an ninh xã
không nhỏ thường được bổ sung qua giao hội. Báo Tiền phong, Tuổi trẻ, Thanh niên, 56
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2019
Sinh viên… là tiếng nói của thanh niên. Báo hội tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác nhau
Thiếu niên Tiền phong, Hoa Học trò, Mực trên thế giới, nên việc tiếp nhận những từ
tím,… là của thiếu nhi, nhi đồng, tuổi học ngữ, thuật ngữ mới là điều tất yếu (chỉ tính
đường. Ngoài ra còn có các báo Phụ nữ, riêng thuật ngữ về công nghệ thông tin,
Thế giới Phụ nữ, Phụ nữ Trẻ (dành cho hiện nay chúng ta đã tiếp nhận bằng cách
phụ nữ), Văn nghệ, Văn nghệ Trẻ, Người giữ nguyên hoặc Việt hóa hàng vạn đơn vị).
Hà Nội (chuyên về văn chương), Gia đình Ngay trong lĩnh vực báo chí, chúng ta đã có
xã hội, Gia đình, Tuổi trẻ Hạnh phúc (quan một loạt từ để phân biệt các loại hình xuất
tâm tới mảng gia đình - xã hội), Khoa học bản khác nhau đang tồn tại: báo viết (báo
& Đời sống, Tia sáng, Khoa học & Tổ quốc in trên giấy), báo nói (đài phát thanh), báo
(của giới trí thức), Thời báo kinh tế, Kinh tế ảnh (báo in chủ yếu là hình ảnh), báo hình
Đô thị, Thời báo Doanh nhân, Doanh nhân (truyền hình), báo điện tử (báo lưu hành
Sài Gòn, Mua & Bán (của giới doanh nhân, trên mạng thông tin điện tử). Kênh thông thương mại), v.v...
tin báo chí hùng hậu này đã tiếp nhận mọi
b. Sự xuất hiện của nhiều từ mới trên sự đổi thay chóng mặt của cuộc sống, trong báo chí
đó có sự đổi thay của ngôn từ.
Mọi ngôn ngữ phát sinh, hình thành và
Ranh giới giữa mới và không mới trong
tồn tại gồm 3 địa hạt cơ bản là ngữ âm, từ lĩnh vực này nhiều khi rất mong manh, khó
vựng, ngữ pháp, trong đó từ vựng (vốn từ) phân biệt. Con chip, ổ cứng, đĩa mềm, El
là địa hạt dễ biến động nhất (với sự xuất Nino, nồi cơm điện, giải mã, ISO 9000,
hiện của các từ mới). Vấn đề đặt ra là: thế karaoke... được cho là từ mới là điều dễ
nào là từ mới? Nếu đặt tổ hợp từ mới trong hiểu. Nhưng các từ khác như bảo kê, gạch
vế đối lập với từ cũ, có thể sẽ có cách hiểu bông, cử nhân, tiêu chảy, hàng chợ, hậu
chưa thật chuẩn xác về cặp trái nghĩa này. mãi, thiểu năng trí tuệ, quấy rối tình dục,
Từ mới
là từ vừa phát sinh và được sử dụng nghỉ khỏe, lên đời,... có thực sự là mới hay
gần với thời gian hiện tại nhất. Còn từ cũ lại không? Thực ra chúng đã ra đời từ vài thế
là những từ đã có nhưng thực tế rất ít được kỷ trước.
sử dụng, chẳng hạn can gián, càn khôn, gàn
Theo quan điểm của các nhà làm từ
quải, kinh sư (kinh đô), nông phu, thái học điển, có khá nhiều tiêu chí được đưa ra để
sinh,... Trong nhiều từ điển, những từ như “thẩm định” đối tượng, xem chúng có được
vậy còn được chú thêm là id. (ít dùng). Vậy xếp vào kho từ mới hay không.
từ mới ở đây phải được hiểu là “từ vừa xuất
Trước hết, đó là những từ ngữ biểu thị
hiện được cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận khái niệm mới xuất hiện do nhu cầu của
đưa vào giao tiếp”. Còn những từ không cuộc sống đòi hỏi, chẳng hạn: ngoại tệ (cùng
được coi là từ mới là những từ “đã được nội tệ), siêu thị, tin tặc, hooligan, penalty,
chấp nhận và vẫn đang sử dụng, được coi là lobby, email, derby, barem, sao chép, sao
một bộ phận trong vốn từ của ngôn ngữ đó”. chụp, định dạng, bão từ,... Trong đó không
Dĩ nhiên, thế nào là mới như cách hiểu ở ít từ bắt nguồn từ lối nói khẩu ngữ: cửu
trên còn là vấn đề chưa thực sự thống nhất.
vạn, quá đát, ôsin, hàng thùng, bặm trợn,
Hiện nay, với những biến đổi mạnh mẽ lăn tăn, tinh vi (tinh tướng), bò lạc, ngố xế,
về kinh tế, khoa học kỹ thuật..., cùng với tay vịn,... Mà những từ này, càng ngày càng
toàn cầu hóa và hội nhập, chúng ta có cơ phát triển với tốc độ chóng mặt. Một số vấn đề… 57
Cũng có những từ đã có, nhưng giờ đây những từ mới xuất hiện hoặc đã có nhưng
chúng được sử dụng với một phong cách được sử dụng khác đi. Rõ ràng, việc đưa
mới, khác nghĩa đôi chút, hoặc cụ thể, tinh một từ vào từ điển không thể chỉ dựa vào
tế hơn, phù hợp với thực tế hơn. Chẳng hạn cảm tính. Phiếu thống kê sẽ làm căn cứ để
người ta thường nói “Tác giả đã đề cập tới đưa ra lựa chọn. Vì nếu từ mới xuất hiện
một vấn đề hết sức bức xúc”; hay “Những lác đác, chưa định hình về nghĩa thì cũng
thông tin trong cuốn sách được bổ sung, chưa thể xem xét. Có những từ xuất hiện
cập nhật thường xuyên”, thì những từ như nhưng cũng nhanh chóng bị rơi vào quên
bức xúc, cập nhật là những từ đang được lãng, không còn được sử dụng, do nhu cầu
sử dụng với tần suất cao và có sự xê dịch hay đôi khi chỉ vì một thói quen thời thượng
so với nghĩa gốc (cập nhật: “thay đổi, bổ không thực chất. Hoặc có những trường hợp
sung từng ngày, không để chậm sang ngày tồn tại vài ba biến thể, chọn khả năng nào lại
hôm sau” nhưng hiện tại được hiểu là “điều là một vấn đề đặt ra: marketing hay tiếp thị?
chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp với diễn photocopy hay sao chụp? fi le hay tệp (dữ
biến của thực tế đời sống”).
liệu)? lobby hay vận động hành lang? email
Thậm chí, có những từ tưởng đã “xưa hay thư điện tử? MC hay người dẫn chương
cũ”, nay lại đem sử dụng trở lại, “mới hóa”, trình? v.v... Đó cũng là những vấn đề khó,
như: cử nhân, tú tài, đăng quang, giải đen, đòi hỏi sự cân nhắc, trong đó vấn đề giữ gìn
tinh tướng, ... Và trong đà “mới hóa” cái cũ, bản sắc tiếng Việt cũng cần hết sức đươc
lại có sự mới hóa bằng việc đưa các từ địa coi trọng (Cùng là thành tố tặc, bây giờ có:
phương (phương ngữ, chỉ dùng trong một không tặc, hải tặc, lâm tặc, tin tặc, lộ tặc, sa
phạm vi hẹp) vào ngôn ngữ toàn dân, như tặc và cả … đinh tặc, tình tặc!).
cách người ta thường nói: gạch bông (=
Giống như mọi sự vật và hiện tượng
gạch hoa), bông tai (= hoa tai), chỉ vàng, cây khác, ngôn ngữ cũng có quy luật phát triển
vàng (= đồng cân vàng, lạng vàng), chích (= riêng. Nó cũng có cơ chế “tự điều chỉnh”
tiêm), quậy, siêu quậy (phá quấy, gây rối quá tựa như sự chọn lọc tự nhiên. Tiếng Việt
mức...), tủ li (= tủ cốc chén), nước tương (= đã ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay,
xì dầu), (nhậu) tới bến, chìm xuồng...
dù lúc đó chưa hề có ngành ngôn ngữ học
Cũng phải tính đến cả các từ cũ nay đã hay chính sách ngôn ngữ. Ngày nay, với sự
mở rộng nghĩa trong các kết hợp mới, hàm hiểu biết và các nghiên cứu từ góc độ khoa
nghĩa ẩn dụ, như: xe dù, bến cóc, cơm bụi, học, người ta hoàn toàn có thể quan sát, tổng
hàng chợ, quả lừa,...
hợp, phân tích để đưa ra các định hướng
Như vậy, có rất nhiều yếu tố không thể thoả đáng làm cho sự phát triển đó diễn ra
bỏ qua khi lựa chọn “danh sách từ mới”. Có nhanh hơn, hợp lý hơn, phù hợp với quy luật
một vấn đề đặt ra là, sẽ có một số từ được biến đổi chung. Trong đó, không thể không
chọn, một số từ không. Đó là tiêu chí về kể đến vai trò của báo chí. Chính báo chí đã
thời gian, phạm vi, mức độ sử dụng.
làm gia tăng cách nói, cách dùng từ ngữ theo
Từ điển Từ mới tiếng Việt của Viện hướng mới. Cuốn Từ điển từ mới tiếng Việt
Ngôn ngữ học (Chu Bích Thu, 2001) đã chắc chắn còn phải bổ khuyết nhiều về số
khảo sát các văn bản tiếng Việt (trên sách lượng. Thực tế đã biến động nhiều đòi hỏi
báo) từ những năm 1980 cho đến hết thế kỷ các mục từ cũng phải tiếp tục được bổ sung,
XX. Trong vòng hơn hai chục năm, sẽ có cập nhật thường xuyên. Thời gian và thực tế 58
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2019
cuộc sống có chấp nhận hay không chính là kế tiếp. Nếu lỗi nặng thì ngay lập tức phải
câu trả lời đích đáng để các từ ngữ mới xuất đình chỉ phát hành để sửa chữa. Đính chính
hiện trên báo chí có cơ sở tồn tại.
có thể coi là một lời xin lỗi gián tiếp, và qua
c. Một vài biểu hiện lệch lạc, chưa đó cơ quan cho ra đời ấn phẩm đã tỏ rõ thái phù hợp
độ nghiêm túc trong hoạt động xuất bản với
Qua khảo sát của chúng tôi, trong những tinh thần cầu thị. Tuy vậy, hiện nay, có thể
năm gần đây, có khá nhiều vấn đề nổi cộm thấy rất ít báo (và sách) có đính chính.
mà dư luận xã hội quan tâm có liên quan tới
Như đã nói, sai sót là điều ngoài mong
ngôn ngữ báo chí: vấn đề ứng xử của báo muốn. Nhưng với trách nhiệm của người
chí trước các sai sót (lỗi) trên ấn phẩm của làm báo và thái độ tôn trọng độc giả, cơ
mình; vấn đề tranh luận trên báo chí; vấn đề quan chịu trách nhiệm của tờ báo phải có
sử dụng tiếng nước ngoài; vấn đề trình bày sự cải chính rõ ràng, ngay cả với những
các ấn phẩm (ma-ket, bố cục)…
lỗi nhỏ. Đây không chỉ là nguyên tắc trong
Ở đây, chúng tôi xin được đề cập một hoạt động xuất bản, mà còn là một cách số vấn đề sau: ứng xử đẹp.
* Vấn đề ứng xử của báo chí trước các
Trên thực tế, đã có nhiều tờ báo và nhà
sai sót (lỗi) trên ấn phẩm
xuất bản phải đính chính, thậm chí phải hủy
Hiện nay, với gần 800 cơ quan báo chí, bỏ tất cả ấn phẩm vì những sai sót. Năm
số lượng in ra hàng ngày vài triệu bản (riêng 2007, tờ báo Time (Mỹ) đã phải hủy một
báo Tuổi trẻ đã vượt quá số lượng 500 ngàn số lượng báo khá lớn và quyết định kỷ luật
bản/ ngày, các tờ báo ngành cũng phát hành buộc thôi việc một phóng viên ảnh đã tuỳ
ít nhất vài ngàn bản/ ngày). Nhiều tờ báo tiện chỉnh sửa ảnh thời sự bằng công nghệ
do lượng thông tin phải cập nhật liên tục photoshop. Hay nhà xuất bản Larousse
(thể thao, tin tức “nóng”), có khi chỉ được (Pháp) đã từng phải ngừng phát hành 18 vạn
in trước khi phát hành vài giờ đồng hồ (ví cuốn từ điển do những lỗi nghiêm trọng.
dụ một số tờ báo thể thao). Đó là lý do báo Năm 2010, nhà xuất bản Penguin Group ở
chí dễ mắc phải những sai sót. Có sai sót ở Úc đã phải tiêu hủy và in lại toàn bộ 7.000
mức bình thường, có sai sót ở mức nghiêm bản cuốn sách dạy nấu ăn Pasta Bible do
trọng. Và theo thông lệ, cơ quan báo chí một lỗi in tai hại: Trong danh sách chuẩn
phải có trách nhiệm cải chính.
bị nguyên liệu, “muối và tiêu đen (black
Những năm trước đây, nhiều báo (và pepper) tươi xay nhuyễn” bị in nhầm thành
nhất là các nhà xuất bản) đều thực hiện quy “muối và người da đen (black people) tươi
trình đọc đính chính. Thông thường, khi xay nhuyễn”. Việc in lại này khiến nhà xuất
sách, báo in xong, trước khi phát hành, một bản bị tiêu tốn 20.000 AUD (khoảng 18.000
bản in hoàn chỉnh sẽ được chuyển cho biên USD). Đó là những bài học đắt giá theo
tập viên, phòng trị sự (và đôi khi cả tác giả). đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này.
Đại diện toà báo, biên tập viên (và tác giả)
* Vấn đề tranh luận trên báo chí
sẽ đọc kĩ lần cuối để kiểm tra, phát hiện
Báo chí là một diễn đàn công luận rộng
các sai sót nếu có về nội dung bản thảo, kỹ rãi. Mọi vấn đề đăng tải trên báo, như tin
thuật, mỹ thuật, chính tả... Nếu có những tức, bài bình luận, phóng sự, bài báo khoa
lỗi nhỏ cần sửa, sẽ in thêm ngay tờ đính học… có thể còn chưa thực sự đáp ứng yêu
chính hoặc đăng thông tin cải chính vào số cầu thông tin cần thiết. Không ít bài báo Một số vấn đề… 59
đưa tin chưa chuẩn xác, thậm chí sai sự ít bài báo thể hiện sự thiếu tôn trọng người
thật. Cũng không ít các tác giả còn non tay, đối thoại trong tranh luận. Có khi chỉ vì
tầm hiểu biết và tri thức chưa rộng. Cũng “nóng mắt” về một bài báo nào đó, không
không ít tác giả còn viết với cái tâm thiếu ít tác giả đăng đàn dùng các ngôn từ nặng
trong sáng, còn áp đặt chủ quan. Vì vậy, để nề, thậm chí mạt sát. Có tác giả (không tiện
nâng cao chất lượng báo chí, tranh luận là nêu tên) trong một thời gian dài phê phán
việc nên có và phải có.
sách giáo khoa đã “lôi tuốt tuột” vào danh
Mỗi tờ báo có tính độc lập, có quan sách phê phán cả các hội đồng biên soạn
điểm riêng nhưng phải tuân thủ tôn chỉ, mục với không biết bao nhiêu nhà khoa học tên
đích, tuân thủ đường hướng lãnh đạo của tuổi đã có đóng góp không ít cho ngành
cơ quan chủ quản và thực hiện nghiêm Luật khoa học và giáo dục nước nhà (tại các Hội
Báo chí, tuyên truyền cho đường lối, chính đồng trao đổi về Chương trình biên soạn
sách của Đảng, Nhà nước. Việc đưa vấn đề, sách giáo khoa mới, do Liên hiệp Hội Việt
bình luận vấn đề là quyền của tờ báo, nhưng Nam tổ chức năm 2017).
phải hướng tới tiêu chuẩn sáng tỏ chân lý.
Tranh luận trên báo chí, như trên đã nói,
Nhà báo phải là người khách quan, hướng là một nhu cầu bình thường và cần thiết.
tới sự công bằng. Tuy nhiên, đôi khi bản Nhưng văn hóa tối thiểu của người tranh
thân nhà báo không hẳn đã nắm bắt ngay luận là phải kiềm chế cảm xúc chủ quan để
được bản chất sự việc. Phải là người trong không đẩy vấn đề tới mức cực đoan. Thận
cuộc hay nhập vai người trong cuộc thì mới trọng khi xem xét vấn đề, đó là thái độ nghề
có cơ hội quan sát. Trong khi đó, nhiều khi nghiệp nghiêm túc khi làm báo. Biết tôn
nhà báo lại là người “đơn thương độc mã”, trọng người đối thoại, đó là tôn trọng độc
“tai mắt” dù có tinh nhạy bao nhiêu cũng giả và tôn trọng chính mình.
chỉ ở mức độ nhất định. Hơn nữa, khi vào 4. Thay lời kết
vai nhà báo, họ sẽ gặp khó khăn nhất định
Báo chí Việt Nam, trong dòng chảy
khi tiếp cận đối tượng, nhất là những đối của báo chí thời đại, với những biểu hiện
tượng đang muốn che giấu sự thật.
đa dạng của nó (báo viết, báo nói, báo
Có khá nhiều ý kiến đề cập đến tình hình, báo điện tử) đã có vai trò quan trọng
trạng phản ánh sự kiện chưa chính xác, từ trong việc nối kết và định hướng xã hội.
đó đưa ra các nhận định chủ quan, thiếu Gần đây, cùng với sự phát triển của các
trung thực của một số tờ báo, bài báo (Xem: mạng xã hội, mọi vấn đề thời sự “nóng”
Nguyễn Thế Kỷ, 2011). Có thể đó chỉ là cũng nhanh chóng lan tỏa trong cộng đồng.
những ý kiến phản hồi một phía, phiến diện. Ngôn ngữ là công cụ phản ánh cũng thay
Có thể đó chỉ là những ý kiến nhằm mục đổi để đáp ứng những yêu cầu của thực
đích làm sai lệch vấn đề, che giấu sự thật, vụ tế cuộc sống. Ngôn ngữ báo chí vì vậy
lợi… Nhưng bên cạnh đó, cũng có không ít ngày càng có ảnh hưởng lớn tới ngôn ngữ
ý kiến xác đáng, thẳng thắn. Để tôn trọng toàn dân. Việc điều chỉnh, uốn nắn, chuẩn
sự thật, mọi toà báo đều không được phép hóa ngôn ngữ báo chí là một trong những
bỏ qua, coi nhẹ các ý kiến phản hồi, mà cần nhiệm vụ cần thiết của công cuộc chuẩn
có động thái xác minh với tinh thần cầu thị. hóa tiếng Việt hiện nay 
Văn hóa tranh luận trên báo chí cũng
là một vấn đề cần bàn hiện nay, khi không (xem tiếp trang 35)