09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng lực hoặc đe dọa sử dụng lực trong quan
quốc tế và quá trình áp nguyên tắc trong thực tiễn quan hệ quốc tế (The Principle o dụng
Non-Use of Force or Threat of Force in International Relations and Its Application in
Practice)
TÓM TẮT:
Trước khi nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng lực hoặc dùng lực trong quan hệ quốc tế
đời, nhân loại đã phải trải qua những thảm họa kinh hoàng của cuộc Chiến tranh thế giới th
hai (1939 –1945). Sau sự kiện đó, các quốc gia trên thế giới đã lập ra một tổ chức quốc tế
tên Liên hợp quốc . Với mục tiêu cao cả “phòng ngừa cho thế hệ mai sau khỏi thảm
chiến tranh”, nguyên tắc cấm sử dụng lực hay đe dọa dùng lực được thừa nhận như m
trong những nền tảng quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại, được khẳn
định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhiều điều ước quốc tế khác. Bài viết này nhằm
phân tích nội dung, phạm vi áp dụng cũng như giá trị pháp của nguyên tắc, đồng thời chỉ
những thách thức đang nổi lên trong bối cảnh quốc tế đầy biến động hiện nay. Sự phân mản
của luật quốc tế, cùng với xu hướng bảo hộ, dân túy cạnh tranh chiến lược giữa các cườ
quốc, đã tạo nên nhiều sức ép mới đối với hiệu lực thực thi nguyên tắc này.
Đối tượng nghiên cứu của bài viết tập trung vào nguyên tắc cấm sử dụng lực dưới góc
pháp chính trị trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Về phạm vi nghiên cứu, bài viết tập trung trình bày phân tích về quá trình hình thành
phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng lực hoặc sử dụng lực trong quan hệ qu
tế, các vấn đề áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn quan hệ quốc tế so với quy định của H
chương Liên hợp quốc, các văn bản của Luật quốc tế. Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyê
tắc cấm đe dọa sử dụng lực hoặc sử dụng lực trong quan hệ quốc tế còn những ng
lệ, thông qua đó đánh giá phân tích tính hợp pháp, tính phù hợp khi sử dụng ngoại lệ tro
thực tiễn áp dụng nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng lực hoặc sử dụng lực trong quan
quốc tế một số khuyến nghị đối với việc thực thi nguyên tắc trong thời kỳ hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu phân tích - tổng hợp kết hợp với tiếp cận so sánh lu
nghiên cứu tình huống phương pháp lịch sử pháp nhằm làm sự phát triển thực ti
áp dụng nguyên tắc.
Mục tiêu của nghiên cứu nhận diện ý nghĩa, giới hạn cũng như đánh giá mức độ hiệu q
của nguyên tắc trong duy trì trật tự quốc tế dựa trên Hiến chương Liên Hợp Quốc, đồng th
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
chỉ ra những khoảng trống pháp cần tiếp tục hoàn thiện.
Prior to the formal establishment of the principle prohibiting the threat or use of force in
international relations, humanity had already witnessed the catastrophic consequences of the
Second World War (1939-1945). In response to the unprecedented destruction and human
suffering caused by this global conflict, states collectively founded an international
organization-the United Nations-with the fundamental purpose of “saving succeeding
generations from the scourge of war.” Within this normative framework, the prohibition on
the use of force or its threat emerged as a cornerstone of the modern international legal order
enshrined not only in the United Nations Charter but also reinforced through a range of
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
subsequent international treaties and customary law instruments. This paper seeks to critically
examine the substance, scope of application, and legal significance of this principle, while
simultaneously identifying the contemporary challenges posed by an increasingly volatile and
fragmented international system. The ongoing fragmentation of international law, combined
with rising protectionist tendencies, populist political movements, and intensified strategic
competition among major powers, has created new pressures on the effective implementation
and enforcement of this foundational norm.
The focus of this study is the prohibition on the us e of force, approached from both a lega
and political perspective, within the context of contemporary international relations. In terms
of scope, the paper provides a systematic analysis of the evolution and codification of the
principle, examines its practical application vis-à-vis the provisions of the United Nations
Charter, and considers relevant instruments of international law. Importantly, the principle’s
application is not absolute; it encompasses certain exceptions-such as the right to self-defense
under Article 51 and collective action authorized by the Security Council under Chapter VII-
that are critically assessed in terms of legality, proportionality, and normative coherence in
contemporary practice. In addition, this study offers evaluative insights and recommendations
regarding the operationalization of the principle in the modern era, highlighting the balance
between normative adherence and pragmatic considerations in international relations.
Methodologically, the research employs a combination of analytical and synthetic
approaches, comparative legal analysis, historical-legal examination, and case study
methodology to illuminate both the development and practical application of the principle.
The overarching aim is to assess the normative significance, operational limits, and efficacy
of the prohibition on the use of force in maintaining international order in accordance with
the United Nations Charter, while also identifying persisting legal gaps that warrant further
refinement and clarification in contemporary international law.
1. Khái quát chung về nguyên tắc cấm sử dụng vuc lực đe dọa sử dụng lực trong
quan hệ quốc tế
1.1. Nguồn gốc sự phát triển của nguyên tắc
Trong thời kỳ cổ đại, chiến tranh việc sử dụng lực được coi công cụ phổ biến, th
chí “phương tiện tất yếu” để giải quyết mâu thuẫn, xung đột quốc tế. Hành vi này dần
thành thành tập quán quốc tế .1
tưởng hạn chế việc dùng lực lần đầu tiên được thể hiện trong Công ước Den Haag
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế Công ước về hạn chế s dụng lực đối
quốc gia vi phạm cam kết quốc tế. Tuy nhiên, các công ước này chỉ dừng lại việc khuy
khích các quốc gia ưu tiên biện pháp hòa giải, trung gian trước khi sử dụng lực, nên hi
lực thực tiễn còn hạn chế. vậy, đây dấu mốc cho thấy nhận thức của cộng đồng quốc
bắt đầu thay đổi: chiến tranh không còn được mặc nhiên coi quyền bản của mỗi quố
gia.
1 Tập quán quốc tế những quy tắc xử sự được thừa nhận áp dụng rộng rãi trong quan hệ giữa c
quốc gia. Tập quán quốc tế được hình thành từ nghị quyết của các tổ chức quốc tế, phán quyết của t
án quốc tế, điều ước quốc tế.
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Bước tiến quan trọng tiếp theo Hiệp ước Kellogg–Briand (1928), còn gọi Hiệp ước
Paris. Hiệp ước do Ngoại trưởng Pháp Aristide Briand Ngoại trưởng Mỹ Frank Kellogg
khởi xướng, được thừa nhận rộng rãi như một điều ước quốc tế đa phương.
Điều 1 của Hiệp ước ghi nhận: “Các bên trịnh trọng tuyên bố, nhân danh nước mình, lên án
việc dùng chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế khước từ chiến tranh trong quan hệ
quốc tế như một công cụ của chính sách nhà nước”;2
Điều 2 khẳng định: “Các bên tham gia Hiệp ước nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc
tế bằng các biện pháp hòa bình”.3
Nói một cách ngắn gọn: Hiệp ước này quy định từ bỏ việc sử dụng chiến tranh kêu gọi g
quyết hòa bình mọi tranh chấp giữa các quốc gia, đồng thời ngăn cấm việc xảy ra xung đột
bất cứ lĩnh vực gì, hoặc của bất cứ nguồn nào thể phát sinh ra chúng . Tuy nhiên, hiệp ư
quốc tế này tính hiệu quả không cao không bất kỳ biện pháp hay chính sách n
để trừng phạt những quốc gia vi phạm hiệp ước hoặc thì cũng chỉ chế tài trừng phạt n
về kinh tế hoặc chính trị chưa đủ sức răn đe. Ngoài ra,bằng việc không xác định
ranh giới giữa “tự vệ” xâm lược”, hiệp ước cho phép quá nhiều cách để biện minh c
chiến tranh điển hình cuộc xâm lược Mãn Châu của Nhật Bản, Ý xâm chiếm Abyssinia
Nội chiến Tây Ban Nha, Đức xâm lược Ba Lan.
Sự ra đời của Hội Quốc Liên năm 1920 với mục tiêu giữ gìn hòa bình thế giới cũng thể h
nỗ lực kiểm soát việc sử dụng lực. Tuy nhiên, do thiếu chế thực thi ràng buộc th
sự tham gia của một số cường quốc, Hội đã thất bại, minh chứng ràng nhất sự
nổ Chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau những thất bại đó, sự kiện mang tính bước ngoặt sự thành lập Liên Hợp Quốc ngà
24/10/1945. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã chính thức ghi nhận nâng nguyên tắc cấm sử
dụng lực đe dọa sử dụng lực thành một trong những nguyên tắc bản của luật ph
quốc tế hiện đại. Với sự tham gia rộng rãi của các quốc gia, đặc biệt những cường qu
như Liên (nay Nga), Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Trung Quốc, nguyên tắc này tính ràn
buộc chung, hiệu lực cao. Từ đây, mọi hành vi sử dụng hoặc đe dọa sử dụng lực tron
quan hệ quốc tế đều được coi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, kéo theo những c
tài trừng phạt nghiêm khắc mang tính răn đe mạnh mẽ.
1.2. Nội dung của nguyên tắc
Nguyên tắc cấm sử dụng đe dọa sử dụng lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận m
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
cách ràng tại Chương I, Điều 2, Khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định: “Tất cả các nước thành viên Liên
hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa sử dụng lực hoặc dùng lực chốn
2 Điều 1 Hiệp ước Kellogg Briand (KBP) năm 1928
3 Điều 2 Hiệp ước Kellogg Briand (KBP) năm 1928
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập tự trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc nhằm nhữn
mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc.”4
Trên sở đó, trong tiến trình phát triển của luật pháp quốc tế, nguyên tắc này đã dần đư
cụ thể hóa thông qua nhiều văn kiện quốc tế giá trị pháp chính trị quan trọng. M
trong những văn kiện tiêu biểu Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉn
quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/01/1970. Tuyên bố đã đặt lên hàng đầ
nguyên tắc cấm dùng lực đe dọa dùng lực. Tuyên bố đã chỉ rõ:
Nội dung của nguyên tắc được thể hiện cụ thể như sau:
(1) Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc dùng lực trang vượt biên giới tiến vào
thổ quốc gia khác;
(2) Cấm cho quân vượt qua các giới tuyến quốc tế ( giới tuyến ngừng bắn hoặc giới tuyến h
bình );
(3) Câm các hành vi đe dọa, trấn áp bằng lực;
(4) Không cho phép các quốc gia bên ngoài sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm
chống nước thứ ba;
(5) Không tổ chức, xúi giục, khuyến khích, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hoặc tham g
vào các hành vi khủng bố tại quốc gia khác;
(6) Không tổ chức, hỗ trợ các băng đảng trang, các nhóm trang, lính đánh thuê đ
nhập phá hoại lãnh thổ của các quốc gia khác;
(7) Cấm tuyên truyền hay phổ biến chiến tranh xâm lược;
Từ những nội dung đã phân tích, thể nhận định rằng “sử dụng lực” về truyền thốn
được hiểu hành vi một quốc gia triển khai lực lượng trang nhằm xâm lược lãnh thổ qu
gia khác hoặc nhằm mục đích tự vệ. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế đương đạ
khái niệm này xu hướng được mở rộng thường được thay thế bằng thuật ngữ “sứ
mạnh”. “Điều này xuất phát từ sở cho rằng “sức mạnh” nội hàm rộng hơn phù h
hơn với thực tiễn quan hệ quốc tế ngày nay. Sức mạnh thể lực lượng trang,cũng
thế sức ép về kinh tế, chính trị, ngoại giao…” 6
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Đe dọa sử dụng lực được hiểu hành vi của một hoặc một số quốc gia, tuy không tr
tiếp tiến hành tấn công hay xâm lược, nhưng nhằm mục đích gây áp lực, buộc quốc gia khá
phải chấp thuận một yêu sách hoặc công nhận một tình trạng nhất định. Đây được xem yế
tố tiềm ẩn, khả năng dẫn tới việc sử dụng lực trên thực tế.
Hành vi đe dọa sử dụng lực thường được biểu hiện thông qua một số nh thức cụ thể nh
4 Khoản 4, Điều 2 Hiến Chương Liên Hợp Quốc năm 1945
5 Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970
6 Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình , Nxb Công an nhân dân, 2025, tr.82Công pháp quốc tế - quyển 1
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
(1) Tiến hành các cuộc tập trận quân sự tại khu vực giáp ranh biên giới với quốc gi
khác;
(2) Tổ chức diễn tập quân sự gần biên giới không tuân thủ hoặc trái với các thỏ
thuận đã được kết giữa các bên liên quan;
(3) Tập trung lực lượng hoặc thiết lập căn cứ quân s tại khu vực biên giới, vi phạm
các cam kết song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia hữu quan;
(4) Gửi tối hậu thư mang tính chất đe dọa, nhằm tạo sức ép buộc quốc gia khác phả
nhượng bộ.
Cả hành vi sử dụng lực hành vi đe dọa sử dụng lực, khi được thực hiện bởi các q
gia với cách những chủ thể chính của luật quốc tế đều bị xem “tội ác quốc
xâm hại trực tiếp đến nền hòa bình an ninh chung của cộng đồng quốc tế. Chính vậ
Liên hợp quốc, với vai trò tổ chức trách nhiệm duy trì hòa bình an ninh toàn cầu,
thẩm quyền áp dụng các biện pháp thích hợp, bao gồm cả trừng phạt, nhằm ngăn chặn lo
trừ những nguy xung đột phát sinh từ các hành vi vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng
dọa sử dụng lực.
Nội dung cốt lõi của nguyên tắc cấm sử dụng lực đe dọa sử dụng lực nghiêm c
mọi hành vi tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc các hình thức xâm lược trang dưới bất
hình thức nào.
Nghị quyết số 3314 (XXIX) ngày 12 tháng 4 năm 1974 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đ
xác định hành vi xâm lược bằng cách liệt cụ thể các hoạt động được xem xâm lược
“Bất kỳ hành động nào sau đây, tuyên chiến hay không, chiểu theo viện dẫn Điều
sẽ bị coi xâm lược:
a) Sử dụng lực lượng trang lấn chiếm hoặc tấn công lãnh thổ quốc gia khác; hoặc bất
hành động chiếm đóng nào tạm thời, kết quả của việc lấn chiếm tấn công nói trê
hoặc bất kỳ việc sáp nhập nào sử dụng lực nhằm vào lãnh thổ quốc gia khác;
b) Sử dụng lực lượng trang bắn phá vào lãnh thổ quốc gia khác, hoặc sử dụng bất kỳ
khí nào chống lại lãnh thổ quốc gia khác;
c) Phong tỏa hải cảng hay bờ biển của quốc gia khác bằng lực lượng trang;
d) Sử dụng lực lượng trang tấn công các lực lượng hải lục không quân, hoặc tầu ngầm h
hạm đội của quốc gia khác;
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
e) Sử dụng lực lượng trang trong lãnh thổ quốc gia khác theo thỏa thuận, không tuâ
thủ các điều khoản của thỏa thuận hoặc mở rộng sự hiện diện trong vùng lãnh thổ đó
quá thỏa thuận;
f) Cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để xâm lược nước thứ ba;
7 Tội ác quốc tế được xác định các hành động chống lại luật pháp quốc tế, phát sinh do hành vi vi
phạm nghĩa vụ của quốc gia, m hại nghiêm trọng đến hoà bình an ninh quốc tế.
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
g) Dưới danh nghĩa quốc gia, gửi hoặc cùng gửi các băng nhóm trang, không chính qu
hoặc đánh thuê, để thực hiện các hành động của lực lượng trang chống lại quốc gia khác
mức độ đủ nghiêm trọng như những hành động đã nêu trên, hoặc sự can dự của họ đó đư
coi đáng kể.”8
1.3. Ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử dụng lực đe dọa s dụng lực trong quan hệ
quốc tế
Theo nguyên tắc thì các hành vi sử dụng vuc lực đe dọa sử dụng lực sẽ được coi
hợp pháp tuy nhiên trong một số trường hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia bảo
nền hòa bình an ninh thế giới thì các quốc gia thể sử dụng lực một cách chính đáng.
Tự vệ chính đáng một hành vi được luật pháp quốc tế thừa nhận, phản ánh quyền tự nhi
vốn của mọi quốc gia trong việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ an ninh quốc
trước hành vi xâm lược trang. Chính được xem một quyền tự nhiên, quyền tự v
chính đáng tính độc lập nhất định so với các quy định khác trong Hiến chương Liên hợ
quốc, đồng thời được quy định tại Điều 51 của Hiến chương một ngoại lệ hợp pháp đ
với nguyên tắc cấm sử dụng lực.
Quyền tự vệ chính đáng được hiểu quyền của một quốc gia thể sử dụng vuc lực
chống lại hành vi xâm lược hoặc tấn công trang từ bên ngoài. Theo đó, khi một quốc g
chứng minh được rằng mình nạn nhân của một vụ xâm lược hay một cuộc tấn công v
trang, quốc gia đó hoàn toàn sở pháp để tiến hành các biện pháp tự vệ nhằm đáp
hành vi vi phạm. Tuy nhiên, quyền tự vệ chính đáng không đồng nghĩa với việc quốc gia c
thể tùy tiện áp dụng biện pháp lực trong mọi trường hợp, phải tuân thủ những giới h
nguyên tắc chặt chẽ của luật quốc tế. Cụ thể, theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quố
hành vi tự vệ chỉ được coi hợp pháp khi đáp ứng những điều kiện nhất định.
“Không một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ th
hay tập thể vốn trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công trang cho đ
khi Hội đồng bào an Liên hợp quốc chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy
hòa bình an ninh quốc tế. Những biện pháp các thành viên Liên hợp quốc áp dụn
trong việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an
không được ảnh hưởng đến quyền hạn trách nhiệm của Hội đồng bảo an, chiểu the
Hiến chương này, đối với việc Hội đồng bảo an áp dụng bất kỳ lúc nào những hành động m
Hội đồng bảo an thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hòa bình an ninh quốc tế”9
Điều kiện để hành vi sử dụng lực được xem tự vệ chính đáng bao gồm:
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
(1) Phải tồn tại một cuộc tấn công trang nhắm vào chính quốc gia đang thực hiện tự v
(2) Khi Hội đồng bảo an chưa quyết định áp dụng biện pháp cần thiết
(3) Những biện pháp sử dụng trong lúc tự vệ phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an v
không gây ảnh hưởng đến quyền hạn trách nhiệm của Hội đồng bảo an
Nhận thấy, Luật quốc tế chỉ công nhận hành vi tự vệ chính đáng khi đáp ứng đủ các điều k
trên, Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều tranh cãi liên quan đến khái niệm “tấn công trang
8 Điều 3 Nghị quyết số 3314(XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 12/4/1974
9 Chương VII, Điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc về Hành động trong trường hợp hòa bình bị đe
dọa, bị phá hoại hoặc hành vi xâm lược
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
với những hành vi, điều kiện nào để được xem “tấn công trang” .Trong phán quyết v
Hoạt động quân sự bán quân sự Nicaragua năm 1986 Tòa án công quốc tế ( ICJ) 10
giải thích cụ thể hơn về khái niệm “tự vệ chính đáng”. Theo Tòa:
“Tấn công trang phải hành vi sử dụng lực mức nghiêm trọng nhất” 11
Theo định nghĩa tại Điều 3 của Tuyên bố về định nghĩa hành vi xâm lược do Đại hội đồ
Liên hợp quốc thông qua năm 1975, một hành vi tấn công trang được coi tồn tại khi h
đủ một số yếu tố bản.
Thứ nhất, hành vi tấn công thể được thực hiện không chỉ bởi lực lượng trang chính q
vượt qua biên giới quốc gia khác, còn thể thông qua các lực lượng trang khôn
chính quy hoặc bán trang do một quốc gia tổ chức, tài trợ hoặc gửi đi.
Thứ hai, quy hậu quả của hành vi phải vượt quá phạm vi của một “xung đột biên g
thuần túy” tức chỉ dừng lại tranh chấp biên giới thông thường không mục đích
lược. Không chỉ các hành vi trực tiếp của lực lượng trang cả những hành vi hỗ tr
cung cấp phương tiện hoặc hậu cần từ các lực lượng liên quan cũng thể được coi
vi tấn công trang. Trong trường hợp này, việc thực thi quyền tự vệ phải đáp ứng ha
nguyên tắc cốt lõi: tính cần thiết tính tương xứng.
Thứ ba, quốc gia bị tấn công trách nhiệm xác định tuyên bố tình trạng bị tấn công
trang. ICJ cũng khẳng định nguyên tắc này khi cho rằng: “Chính quốc gia nạn nhân củ
một cuộc tấn công trang phải đưa ra tuyên bố quan điểm rằng mình đã bị tấn công.”
Trong trường hợp sử dụng lực trên s Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp qu
được xem một ngoại lệ hợp pháp đối với nguyên tắc cấm sử dụng lực trong quan
quốc tế, nhằm trừng phạt các hành vi vi phạm nghiêm trọng khi sự đe dọa hòa bình, p
vỡ hòa bình hoặc hành vi xâm lược. Theo Hiến chương Liên hợp quốc
“Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hòa bình, phá hoại hoà bình hoặc hành v
xâm lược đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợ
với các điều 41 42 để duy trì hoặc khôi phục hoà bình an ninh quốc tế”12
Trong trường hợp xảy ra hành vi xâm lược hoặc vi phạm nghiêm trọng đến hòa bình a
ninh quốc tế, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trước hết thể áp dụng các biện pháp phi
trang, chẳng hạn như đình chỉ toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biể
hàng không các phương tiện thông tin liên lạc khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại gia
Tuy nhiên, nếu những biện pháp này được đánh giá không phù hợp hoặc tỏ ra không
hiệu quả, Hội đồng Bảo an quyền quyết định sử dụng các hành động quân sự bằng lự
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lượng hải, lục, không quân họ cho cần thiết nhằm duy trì hoặc khôi phục hòa bình
an ninh quốc tế. Các biện pháp này thể bao gồm việc biểu dương lực lượng, phong tỏ
hoặc tiến hành các chiến dịch quân sự khác do lực lượng trang của các quốc gia thành vi
Liên hợp quốc thực hiện.13
10 Trong vụ việc này, Nicaragua đã cáo buộc Mỹ thông qua việc hỗ trợ tài chính, cung cấp khí, hỗ
trợ huấn luyện các nhóm trang chống chính phủ Nicaragua
11 Tòa ICJ, Vụ Nicaragua v. Mỹ, Phán quyết ngày 27/6/1986 đoạn 191
12 Điều 39 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
13 Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Hành vi sử dụng lực do Hội đồng Bảo an quyết định trong những trường hợp nêu trê
không được xem vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng lực trong quan hệ quốc tế. Theo ti
thần của Hiến chương Liên hợp quốc, quyền tự do hành động của các quốc gia trong khuô
khổ tự vệ chính đáng chỉ mang tính chất tạm thời. Khi Hội đồng Bảo an đã đưa ra quyết đị
toàn bộ vụ việc sẽ thuộc phạm vi thẩm quyền của quan này. Trong thực tiễn quan hệ qu
tế, quyền tự vệ chính đáng chế duy nhất cho phép quốc gia sử dụng lực một cách
pháp. Do đó, sự can thiệp của Hội đồng Bảo an trong những trường hợp này được coi m
chế kiểm s oát hữu hiệu nhằm ngăn chặn nguy lạm dụng lực từ phía các quốc g
Tuy nhiên, hiệu lực thực tiễn của s can thiệp này chỉ được bảo đảm khi các cường quốc đ
được sự đồng thuận trong việc cùng nhau hành động để ngăn chặn các hành vi sử dụng l
trái phép.
Đối với các quốc gia dân tộc đang tiến hành đấu tranh giành quyền tự quyết, bao gồm c
dân tộc thuộc địa tiến hành kháng chiến trang để giải phóng dân tộc, việc sử dụng l
trong hoàn cảnh này được xem phù hợp với tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, đặ
biệt nguyên tắc về quyền bình đẳng tự quyết của các dân tộc. Do đó, hành vi này khô
bị coi vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa hoặc sử dụng lực trong quan hệ quốc tế. Tro
khuôn khổ đó, các dân tộc quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết, bao gồm cả biện ph
trang phi trang, nhằm thực hiện quyền tự quyết giành lại độc lập dân tộc.
2. Thực tiến áp dụng nguyên tắc cấm s dụng lực đe dọa sử dụng lực trong
quan hệ quốc tế
2.1 Chiến sự giữa Nga Ukraine vào năm 2022
Cuộc xung đột quân sự giữa Nga Ukraine, bắt đầu từ năm 2022, đã trở thành một sự ki
toàn cầu với tác động sâu rộng, không chỉ đối với cấu trúc an ninh châu Âu còn cả c
diện chính trị quốc tế. Trong bối cảnh này, mọi nỗ lực ngoại giao, đối thoại đàm phá
được coi phương án khả thi nhất để hạ nhiệt căng thẳng, chấm dứt chiến sự tìm kiếm
thoát cho cuộc khủng hoảng.
Ngày 24/2/2022, Nga phát động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào Ukraine trong bối cảnh
không bất kỳ hành vi trang nào từ phía Ukraine thể được coi sở pháp
quyền phòng vệ của Nga. Lập luận được Moscow đưa ra việc Hoa Kỳ các nước phươn
Tây mở rộng NATO về phía Đông đã tạo ra sức ép đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc
của Nga. Tuy nhiên, do này khó sức thuyết phục bởi việc một quốc gia lựa chọn tha
gia NATO hay không quyền tự quyết dân tộc, được pháp luật quốc tế thừa nhận như mộ
biểu hiện của chủ quyền quốc gia, bao gồm cả quyền tự do định hướng chính sách đối ngoại
“Các quốc gia chủ quyền được độc lập tự quyết về vận mệnh dân tộc mình, kể cả đườn
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lối đối ngoại”14
Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy việc NATO mở rộng chưa thể hiện nguy hiện hữu đối v
an ninh của Nga. Nga vốn vẫn một cường quốc quân sự với kho khí hiện đại
biệt sức răn đe hạt nhân hàng đầu thế giới. Trong suốt lịch sử, ngay cả khi NATO g
đoạn phát triển mạnh nhất, tổ chức này cũng chưa từng ý định tiến hành chiến dịch quâ
sự nhằm vào Nga.
14 Hồ Nhân Ái, “Từ xung đột Nga–Ukraine, bàn về quyền tự vệ trong công pháp quốc tế xem tại
https://nghiencuuquocte.org/2022/04/06/tu-xung-dot-nga-ukraine-ban-ve-quyen-tu-ve-trong-cong-
phapquoc-te/
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
“Cơ cở quan trọng nhất của hành vi phòng vệ theo tinh thần của Điều 51 Hiến chương Ln
Hợp Quốc ‘một cuộc tấn công trang’ không tồn tại trước khi Nga phát động chiến dịc
quân sự chống Ukraine, do đó không sở cho việc ‘phòng vệ’ của Nga. Hay nói các
khác, các hành động quân sự của Nga Ukraine không thể được biện minh bởi do ‘phòn
vệ’, chưa kể đến việc các hành động quân sự đó đã vi phạm hàng loạt nguyên tắc quy đị
của pháp luật quốc tế. thể thấy hành vi của Nga được gọi ‘phòng vệ quá sớm’ tức
phòng vệ trước khi hành vi tấn công xảy ra. theo pháp luật, ’phòng vệ quá sớm’
phạm pháp luật.”15
Xu hướng giải quyết cuộc xung đột giữa Nga Ukraine
Ngay sau khi Liên bang Nga phát động cuộc tấn công quân sự toàn diện vào Ukraine
tháng 2 năm 2022, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức nhiều phiên họp khẩn cấ
nhằm thảo luận về tình hình xung đột đề xuất một nghị quyết lên án hành động quân
của Nga, đồng thời yêu cầu Nga rút toàn bộ lực lượng khỏi lãnh thổ Ukraine. Tuy nhiên, ng
quyết này đã không được thông qua do bị Nga với cách một trong năm thành vi
thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sử dụng quyền phủ quyết. do tươ
tự, Nga cũng đã nhiều lần phủ quyết các nghị quyết nội dung lên án hoặc đề xuất áp
biện pháp trừng phạt liên quan đến cuộc xung đột Ukraine. Điều này đã khiến Hội đồn
Bảo an không thể đưa ra bất kỳ biện pháp cưỡng chế hay phản ứng mạnh mẽ nào đối v
Nga.
Trước tình hình đó, Hội đồng Bảo an đã viện dẫn chế "Phiên họp đặc biệt khẩn cấp c
Đại hội đồng LHQ" tại đây Đại hội đồng đã thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt cu
xung đột Nga Ukraine với sự ủng hộ của 141/193 quốc gia thành viên.16
Song song với các nỗ lực ngoại giao tại Liên hợp quốc, nhiều cuộc đàm phán trực tiếp giữ
Nga Ukraine cũng đã được tiến hành, đặc biệt dưới sự trung gian của Thổ Nhĩ Kỳ 17
Liên hợp quốc. Tuy nhiên, các cuộc đối thoại này chưa đạt được kết quả thực chất, khi nhữn
thỏa thuận ngừng bắn tạm thời thường nhanh chóng đổ vỡ do hai bên không đạt được đồn
thuận về các điều kiện lâu dài.
Tổng thể, tình trạng bế tắc kéo dài trong cuộc xung đột Nga Ukraine phản ánh một thế đ
đầu không bên nào đạt được thắng lợi quyết định, dẫn đến chiến sự kéo dài triển vọng h
bình trở nên xa vời. Ukraine, với sự hỗ trợ quân s đáng kể từ các nước phương Tây, đã d
trì khả năng phòng thủ giành lại một số vùng lãnh thổ bị chiếm, nhưng chưa thể kiểm so
hoàn toàn các khu vực bị Nga chiếm đóng. Về phía Nga, mặc chịu nhiều tổn thất do c
biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế, nước này vẫn kiên định duy trì lập trường quân sự
tiếp tục chiến dịch tấn công tại Ukraine.
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
2.2. Xung đột Israel Hamas
Xung đột Israel Palestine nguồn gốc lịch sử sâu xa, bắt đầu từ việc Liên hợp quốc (LH
ra Nghị quyết ngày 29/11/1947 khuyến nghị phân chia lãnh thổ Palestine, khi đó thuộc địa
15 Hồ Nhân Ái, “Từ xung đột Nga–Ukraine, bàn về quyền tự vệ trong công pháp quốc tế xem tại
https://nghiencuuquocte.org/2022/04/06/tu-xung-dot-nga-ukraine-ban-ve-quyen-tu-ve-trong-cong-
phapquoc-te/
16 Báo Công an Thành phố Đà Nẵng, Liên hợp quốc thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt xung độ
Nga Ukraine
17 Báo Quân đội Nhân dân, Thổ Nhĩ Kỳ với vai trò trung gian hòa giải Nga Ukrain
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Anh, thành ba khu vực: dành cho Nhà nước Do Thái, các nước Arab khu vực Thánh đ
tách biệt. Ngay sau quyết định này, bạo lực đã bùng phát giữa phe Do Thái phe Arab. K
Israel tuyên bố độc lập vào ngày 14/5/1948, các nước láng giềng Arab lập tức tham chiến
dẫn tới việc Israel chiếm giữ gần một nửa lãnh thổ Liên hợp quốc dự định trao cho c
nước Arab.
Hamas nhiều nhóm Palestine coi việc thành lập Israel hành vi chiếm đoạt lãnh thổ, tron
khi những người ủng hộ Israel nhấn mạnh khu vực này quê hương tổ tiên của người D
Thái trước khi bị lưu đày bởi Đế quốc Babylon hơn 2.500 năm trước. Những mâu thuẫn lịc
sử này đã dẫn tới nhiều cuộc xung đột kéo dài, nổi bật như Chiến tranh Yom Kippur năm
1973 các cuộc đụng độ trong các năm 2008, 2012, 2014, 2021, khiến chảo lửa Trung
Đông luôn căng thẳng khủng hoảng nhân đạo ngày càng nghiêm trọng.
Ngày 1/10/2023, khoảng 250 người Do Thái xâm nhập thánh đường của người Hồi giáo,
khiến Hamas cáo buộc Israel xúc phạm Nhà thờ Al-Aqsa. Đến ngày 7/10/2023, Hamas tiến
hành chiến dịch tấn công quy lớn vào Israel, mang tên “Chiến dịch Bão Al-Aqsa”, phóng
khoảng 5.000 quả rocket, bắt cóc con tin triển khai nhiều mũi xâm nhập vào lãnh thổ Isra
bằng đường bộ, biển đường không. Lãnh đạo Hamas tuyên bố đây khởi đầu của “cuộ
chiến lớn nhất nhằm chấm dứt tình trạng chiếm đóng” tại Palestine.
Ngay trong ngày, Israel tuyên bố tình trạng chiến tranh, động viên lực lượng dự bị tiế
hành các cuộc tấn công đáp trả mạnh mẽ. Tính đến ngày 12/10, Lực lượng Phòng vệ Israe
(IDF) đã nhắm khoảng 3.600 mục tiêu Dải Gaza, bao gồm cả khu dân bệnh viện, v
tổng số bom sử dụng lên tới 6.000 quả. Đến ngày 31/10, các vụ tập kích Jabalia trại tị
lớn nhất Gaza khiến hơn 50 người thiệt mạng khoảng 150 người bị thương.
Tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, với nguy lan rộng ra các nước Trung Đôn
khác. Nếu không các biện pháp ngoại giao giảm leo thang kịp thời, xung đột Israel
Hamas thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình khu vực thế giới.
Những hành động của cả Hamas Israel đều dấu hiệu vi phạm nguyên tắc cấm sử dụn
lực trong quan hệ quốc tế.
Về phía Hamas việc nhóm này đưa lực lượng trang xâm nhập vào lãnh thổ Israel tiế:
hành các cuộc tấn công hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này:
“Mọi quốc gia nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng lực nhằm vi phạm sự
tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như biện pháp giải quyế
tranh chấp quốc tế, bao gồm tranh chấp về lãnh thổ các vấn đề liên quan đến biên giới.”1
09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Về phía Israel: mặc Israel bên bị tấn công, các hành động đáp trả không thể được coi
quyền tự vệ chính đáng nếu không tuân thủ nguyên tắc tương xứng kịp thời. Hành độn
phản công của Israel với quy lớn, nhắm vào cả khu dân cư, bệnh viện trại tị nạn,
gây ra khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng tại Dải Gaza. Theo Điều 51 Hiến chương Liên
hợp quốc,
18 Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945

Preview text:

09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan quốc tế và quá
trình áp dụng nguyên
tắc trong thực tiễn quan hệ quốc tế (The Principle o
Non-Use of Force or Threat of Force in International Relations and Its Application in Practice) TÓM TẮT:
Trước khi nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
đời, nhân loại đã phải trải qua những thảm họa kinh hoàng của cuộc Chiến tranh thế giới th
hai (1939 –1945). Sau sự kiện đó, các quốc gia trên thế giới đã lập ra một tổ chức quốc tế
tên là Liên hợp quốc . Với mục tiêu cao cả là “phòng ngừa cho thế hệ mai sau khỏi thảm
chiến tranh”, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực được thừa nhận như m
trong những nền tảng quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại, được khẳn
định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và nhiều điều ước quốc tế khác. Bài viết này nhằm
phân tích nội dung, phạm vi áp dụng cũng như giá trị pháp lý của nguyên tắc, đồng thời chỉ
những thách thức đang nổi lên trong bối cảnh quốc tế đầy biến động hiện nay. Sự phân mản
của luật quốc tế, cùng với xu hướng bảo hộ, dân túy và cạnh tranh chiến lược giữa các cườ
quốc, đã tạo nên nhiều sức ép mới đối với hiệu lực thực thi nguyên tắc này.
Đối tượng nghiên cứu của bài viết tập trung vào nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực dưới góc
pháp lý – chính trị trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Về phạm vi nghiên cứu, bài viết tập trung trình bày và phân tích về quá trình hình thành
phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ qu
tế, các vấn đề áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn quan hệ quốc tế so với quy định của H
chương Liên hợp quốc, và các văn bản của Luật quốc tế. Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyê
tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế còn có những ng
lệ, thông qua đó đánh giá và phân tích tính hợp pháp, tính phù hợp khi sử dụng ngoại lệ tro
thực tiễn áp dụng nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan
quốc tế và một số khuyến nghị đối với việc thực thi nguyên tắc trong thời kỳ hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích - tổng hợp kết hợp với tiếp cận so sánh lu
nghiên cứu tình huống và phương pháp lịch sử pháp lý nhằm làm rõ sự phát triển và thực ti áp dụng nguyên tắc.
Mục tiêu của nghiên cứu là nhận diện ý nghĩa, giới hạn cũng như đánh giá mức độ hiệu q
của nguyên tắc trong duy trì trật tự quốc tế dựa trên Hiến chương Liên Hợp Quốc, đồng th 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
chỉ ra những khoảng trống pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện.
Prior to the formal establishment of the principle prohibiting the threat or use of force in
international relations, humanity had already witnessed the catastrophic consequences of the
Second World War (1939-1945). In response to the unprecedented destruction and human
suffering caused by this global conflict, states collectively founded an international
organization-the United Nations-with the fundamental purpose of “saving succeeding
generations from the scourge of war.” Within this normative framework, the prohibition on
the use of force or its threat emerged as a cornerstone of the modern international legal order
enshrined not only in the United Nations Charter but also reinforced through a range of 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
subsequent international treaties and customary law instruments. This paper seeks to critically
examine the substance, scope of application, and legal significance of this principle, while
simultaneously identifying the contemporary challenges posed by an increasingly volatile and
fragmented international system. The ongoing fragmentation of international law, combined
with rising protectionist tendencies, populist political movements, and intensified strategic
competition among major powers, has created new pressures on the effective implementation
and enforcement of this foundational norm.
The focus of this study is the prohibition on the use of force, approached from both a lega
and political perspective, within the context of contemporary international relations. In terms
of scope, the paper provides a systematic analysis of the evolution and codification of the
principle, examines its practical application vis-à-vis the provisions of the United Nations
Charter, and considers relevant instruments of international law. Importantly, the principle’s
application is not absolute; it encompasses certain exceptions-such as the right to self-defense
under Article 51 and collective action authorized by the Security Council under Chapter VII-
that are critically assessed in terms of legality, proportionality, and normative coherence in
contemporary practice. In addition, this study offers evaluative insights and recommendations
regarding the operationalization of the principle in the modern era, highlighting the balance
between normative adherence and pragmatic considerations in international relations.
Methodologically, the research employs a combination of analytical and synthetic
approaches, comparative legal analysis, historical-legal examination, and case study
methodology to illuminate both the development and practical application of the principle.
The overarching aim is to assess the normative significance, operational limits, and efficacy
of the prohibition on the use of force in maintaining international order in accordance with
the United Nations Charter, while also identifying persisting legal gaps that warrant further
refinement and clarification in contemporary international law.
1. Khái quát chung về nguyên tắc cấm sử dụng vuc lực đe dọa sử dụng lực trong
quan hệ quốc tế
1.1. Nguồn gốc sự phát triển của nguyên tắc
Trong thời kỳ cổ đại, chiến tranh và việc sử dụng vũ lực được coi là công cụ phổ biến, th
chí là “phương tiện tất yếu” để giải quyết mâu thuẫn, xung đột quốc tế. Hành vi này dần hì
thành thành tập quán quốc tế1.
Tư tưởng hạn chế việc dùng vũ lực lần đầu tiên được thể hiện trong Công ước Den Haag 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
hòa bình và giải quyết tranh chấp quốc tế và Công ước về hạn chế sử dụng vũ lực đối
quốc gia vi phạm cam kết quốc tế. Tuy nhiên, các công ước này chỉ dừng lại ở việc khuy
khích các quốc gia ưu tiên biện pháp hòa giải, trung gian trước khi sử dụng vũ lực, nên hi
lực thực tiễn còn hạn chế. Dù vậy, đây là dấu mốc cho thấy nhận thức của cộng đồng quốc
bắt đầu thay đổi: chiến tranh không còn được mặc nhiên coi là quyền cơ bản của mỗi quố gia.
1 Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong quan hệ giữa c
quốc gia. Tập quán quốc tế được hình thành từ nghị quyết của các tổ chức quốc tế, phán quyết của t
án quốc tế, điều ước quốc tế. 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Bước tiến quan trọng tiếp theo là Hiệp ước Kellogg–Briand (1928), còn gọi là Hiệp ước
Paris. Hiệp ước do Ngoại trưởng Pháp Aristide Briand và Ngoại trưởng Mỹ Frank Kellogg
khởi xướng, được thừa nhận rộng rãi như một điều ước quốc tế đa phương.
Điều 1 của Hiệp ước ghi nhận: “Các bên trịnh trọng tuyên bố, nhân danh nước mình, lên án
việc dùng chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế khước từ chiến tranh trong quan hệ
quốc tế như một công cụ của chính sách nhà nước”;2
Điều 2 khẳng định: “Các bên tham gia Hiệp ước nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc
tế bằng các biện pháp hòa bình”.3
Nói một cách ngắn gọn: Hiệp ước này quy định từ bỏ việc sử dụng chiến tranh và kêu gọi g
quyết hòa bình mọi tranh chấp giữa các quốc gia, đồng thời ngăn cấm việc xảy ra xung đột
bất cứ lĩnh vực gì, hoặc của bất cứ nguồn nào có thể phát sinh ra chúng . Tuy nhiên, hiệp ư
quốc tế này có tính hiệu quả không cao vì nó không có bất kỳ biện pháp hay chính sách n
để trừng phạt những quốc gia vi phạm hiệp ước hoặc có thì cũng chỉ là chế tài trừng phạt n
về kinh tế hoặc chính trị mà chưa đủ sức răn đe. Ngoài ra,bằng việc không xác định rõ rà
ranh giới giữa “tự vệ” và “ xâm lược”, hiệp ước cho phép quá nhiều cách để biện minh c
chiến tranh mà điển hình là cuộc xâm lược Mãn Châu của Nhật Bản, Ý xâm chiếm Abyssinia
Nội chiến Tây Ban Nha, Đức xâm lược Ba Lan.
Sự ra đời của Hội Quốc Liên năm 1920 với mục tiêu giữ gìn hòa bình thế giới cũng thể h
nỗ lực kiểm soát việc sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, do thiếu cơ chế thực thi ràng buộc và th
sự tham gia của một số cường quốc, Hội đã thất bại, mà minh chứng rõ ràng nhất là sự bù
nổ Chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau những thất bại đó, sự kiện mang tính bước ngoặt là sự thành lập Liên Hợp Quốc ngà
24/10/1945. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã chính thức ghi nhận và nâng nguyên tắc cấm sử
dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực thành một trong những nguyên tắc cơ bản của luật ph
quốc tế hiện đại. Với sự tham gia rộng rãi của các quốc gia, đặc biệt là những cường qu
như Liên Xô (nay là Nga), Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Trung Quốc, nguyên tắc này có tính ràn
buộc chung, hiệu lực cao. Từ đây, mọi hành vi sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực tron
quan hệ quốc tế đều được coi là vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, kéo theo những c
tài trừng phạt nghiêm khắc mang tính răn đe mạnh mẽ.
1.2. Nội dung của nguyên tắc
Nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận m 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
cách rõ ràng tại Chương I, Điều 2, Khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.
Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định: “Tất cả các nước thành viên Liên
hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa sử dụng lực hoặc dùng lực chốn
2 Điều 1 Hiệp ước Kellogg Briand (KBP) năm 1928
3 Điều 2 Hiệp ước Kellogg Briand (KBP) năm 1928 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập tự trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc nhằm nhữn
mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc.”4
Trên cơ sở đó, trong tiến trình phát triển của luật pháp quốc tế, nguyên tắc này đã dần đư
cụ thể hóa thông qua nhiều văn kiện quốc tế có giá trị pháp lý và chính trị quan trọng. M
trong những văn kiện tiêu biểu là Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉn
quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/01/1970. Tuyên bố đã đặt lên hàng đầ
nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực. Tuyên bố đã chỉ rõ:
Nội dung của nguyên tắc được thể hiện cụ thể như sau:
(1) Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc dùng vũ lực vũ trang vượt biên giới tiến vào lã thổ quốc gia khác;
(2) Cấm cho quân vượt qua các giới tuyến quốc tế ( giới tuyến ngừng bắn hoặc giới tuyến h bình );
(3) Câm các hành vi đe dọa, trấn áp bằng vũ lực;
(4) Không cho phép các quốc gia bên ngoài sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lư chống nước thứ ba;
(5) Không tổ chức, xúi giục, khuyến khích, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hoặc tham g
vào các hành vi khủng bố tại quốc gia khác;
(6) Không tổ chức, hỗ trợ các băng đảng vũ trang, các nhóm vũ trang, lính đánh thuê đ
nhập phá hoại lãnh thổ của các quốc gia khác;
(7) Cấm tuyên truyền hay phổ biến chiến tranh xâm lược;
Từ những nội dung đã phân tích, có thể nhận định rằng “sử dụng vũ lực” về truyền thốn
được hiểu là hành vi một quốc gia triển khai lực lượng vũ trang nhằm xâm lược lãnh thổ qu
gia khác hoặc nhằm mục đích tự vệ. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế đương đạ
khái niệm này có xu hướng được mở rộng và thường được thay thế bằng thuật ngữ “sứ
mạnh”. “Điều này xuất phát từ cơ sở cho rằng “sức mạnh” có nội hàm rộng hơn và phù h
hơn với thực tiễn quan hệ quốc tế ngày nay. Sức mạnh có thể là lực lượng vũ trang,cũng
thế là sức ép về kinh tế, chính trị, ngoại giao…” 6 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Đe dọa sử dụng vũ lực được hiểu là hành vi của một hoặc một số quốc gia, tuy không tr
tiếp tiến hành tấn công hay xâm lược, nhưng nhằm mục đích gây áp lực, buộc quốc gia khá
phải chấp thuận một yêu sách hoặc công nhận một tình trạng nhất định. Đây được xem là yế
tố tiềm ẩn, có khả năng dẫn tới việc sử dụng vũ lực trên thực tế.
Hành vi đe dọa sử dụng vũ lực thường được biểu hiện thông qua một số hình thức cụ thể nh
4 Khoản 4, Điều 2 Hiến Chương Liên Hợp Quốc năm 1945
5 Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970
6 Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Công pháp quốc tế - quyển 1, Nxb Công an nhân dân, 2025, tr.82 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
(1) Tiến hành các cuộc tập trận quân sự tại khu vực giáp ranh biên giới với quốc gi khác;
(2) Tổ chức diễn tập quân sự gần biên giới mà không tuân thủ hoặc trái với các thỏ
thuận đã được ký kết giữa các bên liên quan;
(3) Tập trung lực lượng hoặc thiết lập căn cứ quân sự tại khu vực biên giới, vi phạm
các cam kết song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia hữu quan;
(4) Gửi tối hậu thư mang tính chất đe dọa, nhằm tạo sức ép buộc quốc gia khác phả nhượng bộ.
Cả hành vi sử dụng vũ lực và hành vi đe dọa sử dụng vũ lực, khi được thực hiện bởi các q
gia – với tư cách là những chủ thể chính của luật quốc tế – đều bị xem là “tội ác quốc
xâm hại trực tiếp đến nền hòa bình và an ninh chung của cộng đồng quốc tế. Chính vì vậ
Liên hợp quốc, với vai trò là tổ chức có trách nhiệm duy trì hòa bình và an ninh toàn cầu,
thẩm quyền áp dụng các biện pháp thích hợp, bao gồm cả trừng phạt, nhằm ngăn chặn và lo
trừ những nguy cơ xung đột phát sinh từ các hành vi vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng và dọa sử dụng vũ lực.
Nội dung cốt lõi của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực là nghiêm c
mọi hành vi tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc các hình thức xâm lược vũ trang dưới bất hình thức nào.
Nghị quyết số 3314 (XXIX) ngày 12 tháng 4 năm 1974 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đ
xác định hành vi xâm lược bằng cách liệt kê cụ thể các hoạt động được xem là xâm lược
“Bất kỳ hành động nào sau đây, dù có tuyên chiến hay không, chiểu theo và viện dẫn Điều
sẽ bị coi là xâm lược:
a) Sử dụng lực lượng vũ trang lấn chiếm hoặc tấn công lãnh thổ quốc gia khác; hoặc bất
hành động chiếm đóng nào dù tạm thời, là kết quả của việc lấn chiếm và tấn công nói trê
hoặc bất kỳ việc sáp nhập nào sử dụng vũ lực nhằm vào lãnh thổ quốc gia khác;
b) Sử dụng lực lượng vũ trang bắn phá vào lãnh thổ quốc gia khác, hoặc sử dụng bất kỳ
khí nào chống lại lãnh thổ quốc gia khác;
c) Phong tỏa hải cảng hay bờ biển của quốc gia khác bằng lực lượng vũ trang;
d) Sử dụng lực lượng vũ trang tấn công các lực lượng hải lục không quân, hoặc tầu ngầm h
hạm đội của quốc gia khác; 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
e) Sử dụng lực lượng vũ trang trong lãnh thổ quốc gia khác theo thỏa thuận, mà không tuâ
thủ các điều khoản của thỏa thuận hoặc mở rộng sự hiện diện trong vùng lãnh thổ đó vư quá thỏa thuận;
f) Cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để xâm lược nước thứ ba;
7 Tội ác quốc tế được xác định là các hành động chống lại luật pháp quốc tế, phát sinh do hành vi vi
phạm nghĩa vụ của quốc gia, xâm hại nghiêm trọng đến hoà bình và an ninh quốc tế. 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
g) Dưới danh nghĩa quốc gia, gửi hoặc cùng gửi các băng nhóm vũ trang, không chính qu
hoặc đánh thuê, để thực hiện các hành động của lực lượng vũ trang chống lại quốc gia khác
mức độ đủ nghiêm trọng như những hành động đã nêu trên, hoặc sự can dự của họ ở đó đư coi là đáng kể.”8
1.3. Ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử dụng lực đe dọa sử dụng lực trong quan hệ quốc tế
Theo nguyên tắc thì các hành vi sử dụng vuc lực và đe dọa sử dụng vũ lực sẽ được coi là
hợp pháp tuy nhiên trong một số trường hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia và bảo
nền hòa bình an ninh thế giới thì các quốc gia có thể sử dụng vũ lực một cách chính đáng.
Tự vệ chính đáng là một hành vi được luật pháp quốc tế thừa nhận, phản ánh quyền tự nhi
vốn có của mọi quốc gia trong việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc
trước hành vi xâm lược vũ trang. Chính vì được xem là một quyền tự nhiên, quyền tự v
chính đáng có tính độc lập nhất định so với các quy định khác trong Hiến chương Liên hợ
quốc, đồng thời được quy định rõ tại Điều 51 của Hiến chương là một ngoại lệ hợp pháp đ
với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực.
Quyền tự vệ chính đáng được hiểu là quyền của một quốc gia có thể sử dụng vuc lực
chống lại hành vi xâm lược hoặc tấn công vũ trang từ bên ngoài. Theo đó, khi một quốc g
chứng minh được rằng mình là nạn nhân của một vụ xâm lược hay một cuộc tấn công v
trang, quốc gia đó hoàn toàn có cơ sở pháp lý để tiến hành các biện pháp tự vệ nhằm đáp
hành vi vi phạm. Tuy nhiên, quyền tự vệ chính đáng không đồng nghĩa với việc quốc gia c
thể tùy tiện áp dụng biện pháp vũ lực trong mọi trường hợp, mà phải tuân thủ những giới h
và nguyên tắc chặt chẽ của luật quốc tế. Cụ thể, theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quố
hành vi tự vệ chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng những điều kiện nhất định.
“Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá th
hay tập thể vốn có trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đ
khi Hội đồng bào an Liên hợp quốc chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy
hòa bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp mà các thành viên Liên hợp quốc áp dụn
trong việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an
không được ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng bảo an, chiểu the
Hiến chương này, đối với việc Hội đồng bảo an áp dụng bất kỳ lúc nào những hành động m
Hội đồng bảo an thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”9
Điều kiện để hành vi sử dụng vũ lực được xem là tự vệ chính đáng bao gồm: 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
(1) Phải tồn tại một cuộc tấn công vũ trang nhắm vào chính quốc gia đang thực hiện tự v
(2) Khi Hội đồng bảo an chưa có quyết định áp dụng biện pháp cần thiết
(3) Những biện pháp sử dụng trong lúc tự vệ phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an v
không gây ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng bảo an
Nhận thấy, Luật quốc tế chỉ công nhận hành vi tự vệ chính đáng khi đáp ứng đủ các điều k
trên, Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều tranh cãi liên quan đến khái niệm “tấn công vũ trang
8 Điều 3 Nghị quyết số 3314(XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 12/4/1974
9 Chương VII, Điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc về Hành động trong trường hợp hòa bình bị đe
dọa, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
với những hành vi, điều kiện nào để được xem là “tấn công vũ trang” .Trong phán quyết v
Hoạt động quân sự và bán quân sự ở Nicaragua năm 1986
10 Tòa án công lý quốc tế ( ICJ)
giải thích cụ thể hơn về khái niệm “tự vệ chính đáng”. Theo Tòa:
“Tấn công trang phải hành vi sử dụng lực mức nghiêm trọng nhất” 11
Theo định nghĩa tại Điều 3 của Tuyên bố về định nghĩa hành vi xâm lược do Đại hội đồ
Liên hợp quốc thông qua năm 1975, một hành vi tấn công vũ trang được coi là tồn tại khi h
đủ một số yếu tố cơ bản.
Thứ nhất, hành vi tấn công có thể được thực hiện không chỉ bởi lực lượng vũ trang chính q
vượt qua biên giới quốc gia khác, mà còn có thể thông qua các lực lượng vũ trang khôn
chính quy hoặc bán vũ trang do một quốc gia tổ chức, tài trợ hoặc gửi đi.
Thứ hai, quy mô và hậu quả của hành vi phải vượt quá phạm vi của một “xung đột biên g
thuần túy” – tức chỉ dừng lại ở tranh chấp biên giới thông thường mà không có mục đích xâ
lược. Không chỉ các hành vi trực tiếp của lực lượng vũ trang mà cả những hành vi hỗ tr
cung cấp phương tiện hoặc hậu cần từ các lực lượng liên quan cũng có thể được coi là hà
vi tấn công vũ trang. Trong trường hợp này, việc thực thi quyền tự vệ phải đáp ứng ha
nguyên tắc cốt lõi: tính cần thiết và tính tương xứng.
Thứ ba, quốc gia bị tấn công có trách nhiệm xác định và tuyên bố tình trạng bị tấn công
trang. ICJ cũng khẳng định nguyên tắc này khi cho rằng: “Chính quốc gia là nạn nhân củ
một cuộc tấn công vũ trang phải đưa ra và tuyên bố quan điểm rằng mình đã bị tấn công.”
Trong trường hợp sử dụng vũ lực trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp qu
được xem là một ngoại lệ hợp pháp đối với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan
quốc tế, nhằm trừng phạt các hành vi vi phạm nghiêm trọng khi có sự đe dọa hòa bình, p
vỡ hòa bình hoặc hành vi xâm lược. Theo Hiến chương Liên hợp quốc
“Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hòa bình, phá hoại hoà bình hoặc hành v
xâm lược đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợ
với các điều 41 42 để duy trì hoặc khôi phục hoà bình an ninh quốc tế”12
Trong trường hợp xảy ra hành vi xâm lược hoặc vi phạm nghiêm trọng đến hòa bình và a
ninh quốc tế, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trước hết có thể áp dụng các biện pháp phi
trang, chẳng hạn như đình chỉ toàn bộ hoặc một phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biể
hàng không và các phương tiện thông tin liên lạc khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại gia
Tuy nhiên, nếu những biện pháp này được đánh giá là không phù hợp hoặc tỏ ra không cò
hiệu quả, Hội đồng Bảo an có quyền quyết định sử dụng các hành động quân sự bằng lự 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lượng hải, lục, không quân mà họ cho là cần thiết nhằm duy trì hoặc khôi phục hòa bình
an ninh quốc tế. Các biện pháp này có thể bao gồm việc biểu dương lực lượng, phong tỏ
hoặc tiến hành các chiến dịch quân sự khác do lực lượng vũ trang của các quốc gia thành vi
Liên hợp quốc thực hiện.13
10 Trong vụ việc này, Nicaragua đã cáo buộc Mỹ thông qua việc hỗ trợ tài chính, cung cấp vũ khí, hỗ
trợ huấn luyện các nhóm vũ trang chống chính phủ ở Nicaragua
11 Tòa ICJ, Vụ Nicaragua v. Mỹ, Phán quyết ngày 27/6/1986 đoạn 191
12 Điều 39 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
13 Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Hành vi sử dụng vũ lực do Hội đồng Bảo an quyết định trong những trường hợp nêu trê
không được xem là vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo ti
thần của Hiến chương Liên hợp quốc, quyền tự do hành động của các quốc gia trong khuô
khổ tự vệ chính đáng chỉ mang tính chất tạm thời. Khi Hội đồng Bảo an đã đưa ra quyết đị
toàn bộ vụ việc sẽ thuộc phạm vi thẩm quyền của cơ quan này. Trong thực tiễn quan hệ qu
tế, quyền tự vệ chính đáng là cơ chế duy nhất cho phép quốc gia sử dụng vũ lực một cách
pháp. Do đó, sự can thiệp của Hội đồng Bảo an trong những trường hợp này được coi là m
cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm dụng vũ lực từ phía các quốc g
Tuy nhiên, hiệu lực thực tiễn của sự can thiệp này chỉ được bảo đảm khi các cường quốc đ
được sự đồng thuận trong việc cùng nhau hành động để ngăn chặn các hành vi sử dụng vũ l trái phép.
Đối với các quốc gia và dân tộc đang tiến hành đấu tranh giành quyền tự quyết, bao gồm c
dân tộc thuộc địa tiến hành kháng chiến vũ trang để giải phóng dân tộc, việc sử dụng vũ l
trong hoàn cảnh này được xem là phù hợp với tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, đặ
biệt là nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc. Do đó, hành vi này khô
bị coi là vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Tro
khuôn khổ đó, các dân tộc có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết, bao gồm cả biện ph
vũ trang và phi vũ trang, nhằm thực hiện quyền tự quyết và giành lại độc lập dân tộc.
2. Thực tiến áp dụng nguyên tắc cấm sử dụng lực đe dọa sử dụng lực trong
quan hệ quốc tế
2.1 Chiến sự giữa Nga Ukraine vào năm 2022
Cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine, bắt đầu từ năm 2022, đã trở thành một sự ki
toàn cầu với tác động sâu rộng, không chỉ đối với cấu trúc an ninh châu Âu mà còn cả c
diện chính trị quốc tế. Trong bối cảnh này, mọi nỗ lực ngoại giao, đối thoại và đàm phá
được coi là phương án khả thi nhất để hạ nhiệt căng thẳng, chấm dứt chiến sự và tìm kiếm
thoát cho cuộc khủng hoảng.
Ngày 24/2/2022, Nga phát động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào Ukraine trong bối cảnh
không có bất kỳ hành vi vũ trang nào từ phía Ukraine có thể được coi là cơ sở pháp lý
quyền phòng vệ của Nga. Lập luận được Moscow đưa ra là việc Hoa Kỳ và các nước phươn
Tây mở rộng NATO về phía Đông đã tạo ra sức ép và đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc
của Nga. Tuy nhiên, lý do này khó có sức thuyết phục bởi việc một quốc gia lựa chọn tha
gia NATO hay không là quyền tự quyết dân tộc, được pháp luật quốc tế thừa nhận như mộ
biểu hiện của chủ quyền quốc gia, bao gồm cả quyền tự do định hướng chính sách đối ngoại
“Các quốc gia chủ quyền được độc lập tự quyết về vận mệnh dân tộc mình, kể cả đườn 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
lối đối ngoại”14
Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy việc NATO mở rộng chưa thể hiện nguy cơ hiện hữu đối v
an ninh của Nga. Nga vốn dĩ vẫn là một cường quốc quân sự với kho vũ khí hiện đại và
biệt là sức răn đe hạt nhân hàng đầu thế giới. Trong suốt lịch sử, ngay cả khi NATO ở g
đoạn phát triển mạnh nhất, tổ chức này cũng chưa từng có ý định tiến hành chiến dịch quâ sự nhằm vào Nga.
14 Hồ Nhân Ái, “Từ xung đột Nga–Ukraine, bàn về quyền tự vệ trong công pháp quốc tế xem tại
https://nghiencuuquocte.org/2022/04/06/tu-xung-dot-nga-ukraine-ban-ve-quyen-tu-ve-trong-cong- phapquoc-te/ 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
“Cơ cở quan trọng nhất của hành vi phòng vệ theo tinh thần của Điều 51 Hiến chương Liên
Hợp Quốc ‘một cuộc tấn công trang’ không tồn tại trước khi Nga phát động chiến dịc
quân sự chống Ukraine, do đó không sở cho việc ‘phòng vệ’ của Nga. Hay nói các
khác, các hành động quân sự của Nga Ukraine không thể được biện minh bởi do ‘phòn
vệ’, chưa kể đến việc các hành động quân sự đó đã vi phạm hàng loạt nguyên tắc quy đị
của pháp luật quốc tế. thể thấy hành vi của Nga được gọi ‘phòng vệ quá sớm’ tức
phòng vệ trước khi hành vi tấn công xảy ra. theo pháp luật, ’phòng vệ quá sớm’
phạm pháp luật.”15
Xu hướng giải quyết cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine
Ngay sau khi Liên bang Nga phát động cuộc tấn công quân sự toàn diện vào Ukraine và
tháng 2 năm 2022, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức nhiều phiên họp khẩn cấ
nhằm thảo luận về tình hình xung đột và đề xuất một nghị quyết lên án hành động quân
của Nga, đồng thời yêu cầu Nga rút toàn bộ lực lượng khỏi lãnh thổ Ukraine. Tuy nhiên, ng
quyết này đã không được thông qua do bị Nga – với tư cách là một trong năm thành vi
thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – sử dụng quyền phủ quyết. Vì lý do tươ
tự, Nga cũng đã nhiều lần phủ quyết các nghị quyết có nội dung lên án hoặc đề xuất áp
biện pháp trừng phạt liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraine. Điều này đã khiến Hội đồn
Bảo an không thể đưa ra bất kỳ biện pháp cưỡng chế hay phản ứng mạnh mẽ nào đối v Nga.
Trước tình hình đó, Hội đồng Bảo an đã viện dẫn cơ chế "Phiên họp đặc biệt khẩn cấp c
Đại hội đồng LHQ" và tại đây Đại hội đồng đã thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt cu
xung đột Nga – Ukraine với sự ủng hộ của 141/193 quốc gia thành viên.16
Song song với các nỗ lực ngoại giao tại Liên hợp quốc, nhiều cuộc đàm phán trực tiếp giữ
Nga và Ukraine cũng đã được tiến hành, đặc biệt là dưới sự trung gian của Thổ Nhĩ Kỳ 17
Liên hợp quốc. Tuy nhiên, các cuộc đối thoại này chưa đạt được kết quả thực chất, khi nhữn
thỏa thuận ngừng bắn tạm thời thường nhanh chóng đổ vỡ do hai bên không đạt được đồn
thuận về các điều kiện lâu dài.
Tổng thể, tình trạng bế tắc kéo dài trong cuộc xung đột Nga – Ukraine phản ánh một thế đ
đầu không bên nào đạt được thắng lợi quyết định, dẫn đến chiến sự kéo dài và triển vọng h
bình trở nên xa vời. Ukraine, với sự hỗ trợ quân sự đáng kể từ các nước phương Tây, đã d
trì khả năng phòng thủ và giành lại một số vùng lãnh thổ bị chiếm, nhưng chưa thể kiểm so
hoàn toàn các khu vực bị Nga chiếm đóng. Về phía Nga, mặc dù chịu nhiều tổn thất do c
biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế, nước này vẫn kiên định duy trì lập trường quân sự
tiếp tục chiến dịch tấn công tại Ukraine. 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
2.2. Xung đột Israel Hamas
Xung đột Israel – Palestine có nguồn gốc lịch sử sâu xa, bắt đầu từ việc Liên hợp quốc (LH
ra Nghị quyết ngày 29/11/1947 khuyến nghị phân chia lãnh thổ Palestine, khi đó là thuộc địa
15 Hồ Nhân Ái, “Từ xung đột Nga–Ukraine, bàn về quyền tự vệ trong công pháp quốc tế xem tại
https://nghiencuuquocte.org/2022/04/06/tu-xung-dot-nga-ukraine-ban-ve-quyen-tu-ve-trong-cong- phapquoc-te/
16 Báo Công an Thành phố Đà Nẵng, Liên hợp quốc thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt xung độ Nga – Ukraine
17 Báo Quân đội Nhân dân, Thổ Nhĩ Kỳ với vai trò trung gian hòa giải Nga – Ukrain 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Anh, thành ba khu vực: dành cho Nhà nước Do Thái, các nước Arab và khu vực Thánh đ
tách biệt. Ngay sau quyết định này, bạo lực đã bùng phát giữa phe Do Thái và phe Arab. K
Israel tuyên bố độc lập vào ngày 14/5/1948, các nước láng giềng Arab lập tức tham chiến
dẫn tới việc Israel chiếm giữ gần một nửa lãnh thổ mà Liên hợp quốc dự định trao cho c nước Arab.
Hamas và nhiều nhóm Palestine coi việc thành lập Israel là hành vi chiếm đoạt lãnh thổ, tron
khi những người ủng hộ Israel nhấn mạnh khu vực này là quê hương tổ tiên của người D
Thái trước khi bị lưu đày bởi Đế quốc Babylon hơn 2.500 năm trước. Những mâu thuẫn lịc
sử này đã dẫn tới nhiều cuộc xung đột kéo dài, nổi bật như Chiến tranh Yom Kippur năm
1973 và các cuộc đụng độ trong các năm 2008, 2012, 2014, 2021, khiến chảo lửa Trung
Đông luôn căng thẳng và khủng hoảng nhân đạo ngày càng nghiêm trọng.
Ngày 1/10/2023, khoảng 250 người Do Thái xâm nhập thánh đường của người Hồi giáo,
khiến Hamas cáo buộc Israel xúc phạm Nhà thờ Al-Aqsa. Đến ngày 7/10/2023, Hamas tiến
hành chiến dịch tấn công quy mô lớn vào Israel, mang tên “Chiến dịch Bão Al-Aqsa”, phóng
khoảng 5.000 quả rocket, bắt cóc con tin và triển khai nhiều mũi xâm nhập vào lãnh thổ Isra
bằng đường bộ, biển và đường không. Lãnh đạo Hamas tuyên bố đây là khởi đầu của “cuộ
chiến lớn nhất nhằm chấm dứt tình trạng chiếm đóng” tại Palestine.
Ngay trong ngày, Israel tuyên bố tình trạng chiến tranh, động viên lực lượng dự bị và tiế
hành các cuộc tấn công đáp trả mạnh mẽ. Tính đến ngày 12/10, Lực lượng Phòng vệ Israe
(IDF) đã nhắm khoảng 3.600 mục tiêu ở Dải Gaza, bao gồm cả khu dân cư và bệnh viện, v
tổng số bom sử dụng lên tới 6.000 quả. Đến ngày 31/10, các vụ tập kích ở Jabalia – trại tị
lớn nhất Gaza – khiến hơn 50 người thiệt mạng và khoảng 150 người bị thương.
Tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, với nguy cơ lan rộng ra các nước Trung Đôn
khác. Nếu không có các biện pháp ngoại giao và giảm leo thang kịp thời, xung đột Israel
Hamas có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình khu vực và thế giới.
Những hành động của cả Hamas và Israel đều có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc cấm sử dụn
vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Về phía Hamas: việc nhóm này đưa lực lượng vũ trang xâm nhập vào lãnh thổ Israel và tiế
hành các cuộc tấn công là hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này:
“Mọi quốc gia nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng lực nhằm vi phạm sự
tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như biện pháp giải quyế
tranh chấp quốc tế, bao gồm tranh chấp về lãnh thổ các vấn đề liên quan đến biên giới.”1 09:35, 06/01/2026
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - TÊN BÀI VIẾT: Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử - Studocu
Về phía Israel: mặc dù Israel là bên bị tấn công, các hành động đáp trả không thể được coi
quyền tự vệ chính đáng nếu không tuân thủ nguyên tắc tương xứng và kịp thời. Hành độn
phản công của Israel với quy mô lớn, nhắm vào cả khu dân cư, bệnh viện và trại tị nạn,
gây ra khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng tại Dải Gaza. Theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc,
18 Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945