



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC NHÓM 4 ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: Nhận diện và phê phán luận điểm cho rằng:
“Trong nền kinh tế tri thức, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân sẽ chuyển giao cho tầng lớp trí thức” Mã lớp học phần : 232_HCMI0121_21 Giảng viên hướng dẫn : TS. Đỗ Thị Phương Hoa Nhóm thực hiện : Nhóm 4 Hà Nội, tháng 3 năm 2024 MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN............................................................................3
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................4
PHẦN I: NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỂM: LUẬN ĐIỂM RA ĐỜI TRONG BỐI
CẢNH NÀO? NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ?............................................................5
1.1 Bối cảnh ra đời............................................................................................5
1.2 Mục đích ra đời..........................................................................................6
PHẦN II: PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỂM................................................................7 2.1
Khái niệm của kinh tế tri thức.............................................................7 2.2
Đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức..................................................7 2.3
Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân........9
2.3.1 Khái niệm của giai cấp công nhân........................................................9
2.3.2 Đặc điểm của giai cấp công nhân.......................................................11
2.3.3 Khái quát sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.............................11
2.4 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thể chuyển giao cho
tầng lớp trí thức..............................................................................................14
2.4.1 Những điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 14
2.4.2 Nền kinh tế tri thức đã dẫn đến những biến đổi quan trọng của GCCN
hiện đại:........................................................................................................17
2.4.3 Hạn chế cơ bản của tầng lớp trí thức..................................................25
2.4.4 Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của nền
kinh tế tri thức (đặc biệt là đội ngũ công nhân tri thức) và đưa ra lý lẽ, dẫn
chứng............................................................................................................26
KẾT LUẬN........................................................................................................26
TÀI LIỆU THAM KHẢO:...............................................................................26 2 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên MSV Lớp Nhiệm vụ Đánh giá 46 Vũ Xuân Huy 22D210100 K58U4 2.4.3 + 2.4.4 47 Cao Phương Huyền
22D210101 K58U2 Thuyết trình 48 Đào Thị Huyền 22D210102 K58U3 2.4.3 + 2.4.4 49 Nguyễn Thị Huyền 22D210104 K58U2 2.3 50 Nguyễn Thị Thu Huyền 22D210105 K58U4 Sửa bài 51 Phạm Thị Thanh Huyền 22D210106 K58U5 2.1 + 2.2 52 Nguyễn Duy Hùng 22D210107 K58U5 LMĐ + KL 53 Trần Văn Hùng 22D210108 K58U1 Phần I 54 Lê Quốc Hưng 22D210109 K58U2 PowerPoint 55 Trịnh Văn Hưng 22D210110 K58U4 2.4.1 + 2.4.2 56 Nguyễn Lan Hương
22D210112 K58U2 Thuyết trình 57
Phạm Thị Diệu Hương 22D210113 K58U3 2.4.1 + 2.4.2 58 Dương Thị Khánh 22D210115 K58U5 2.3 59 Cù Khánh Linh 22D210118 K58U3 Word 60 Đào Ngọc Linh (Nhóm
trưởng) 22D210119 K58U4 PowerPoint 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, chúng ta không thể không nhận thấy sự
thay đổi đáng kể trong vai trò và sứ mệnh của hai tầng lớp xã hội: giai cấp công
nhân và tầng lớp trí thức.
Giai cấp công nhân, từng là lực lượng chủ chốt trong cuộc chiến đấu cho quyền
lợi và cải thiện điều kiện sống, đã đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng nền
kinh tế và xã hội. Họ đã đứng lên, đấu tranh và đòi hỏi công bằng, làm nên
những thay đổi lớn lao trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học, công nghệ và giáo dục, tầng lớp trí
thức đang nắm giữ vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội. Họ không chỉ là
người tiếp tục nghiên cứu và phát triển tri thức, mà còn là những người đưa ra
giải pháp cho các vấn đề phức tạp…Họ sáng tạo, sử dụng tài sản trí tuệ nhằm
xây dựng, đồng thời ngày càng tối ưu hóa mô hình kinh tế tri thức.
Không thể phủ nhận những đóng góp của tầng lớp trí thức đối với nền kinh tế,
nhưng chừng ấy liệu đã đủ tầng lớp tri thức có thể bước lên nhận lại sứ mệnh
lịch sử từ giai cấp công nhân, khi mà chuyển giao là một quá trình dài, đầy thách thức? 4
PHẦN I: NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỂM: LUẬN ĐIỂM RA ĐỜI TRONG BỐI
CẢNH NÀO? NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ? 1.1 Bối cảnh ra đời
Luận điểm "Trong nền kinh tế tri thức, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
sẽ chuyển giao cho tầng lớp trí thức" phản ánh sự thay đổi trong cấu trúc xã hội
và vai trò của các tầng lớp trong một xã hội tiên tiến, đặc biệt là trong bối cảnh
của chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học, hay còn được gọi là
chủ nghĩa xã hội khoa học kỹ thuật, là một trường phái triết học và chính trị phát
triển trong thế kỷ 19 và 20. Theo quan điểm này, sự phát triển của xã hội phụ
thuộc chủ yếu vào việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, tạo ra sự
giàu có và tiến bộ. Chủ nghĩa xã hội khoa học tôn trọng sức mạnh của công nghệ
và quyền lực của công nhân, và đề xuất sử dụng chúng để tạo ra một xã hội công bằng và tiến bộ hơn.
Trong bối cảnh của chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân truyền thống,
người lao động chủ yếu trong ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa, bắt đầu
chuyển biến. Công nghiệp hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm
cho ngành công nghiệp trở nên hiện đại hơn, tự động hóa và cần ít lao động hơn.
Đồng thời, sự phát triển của tri thức và ngành dịch vụ tri thức (như công nghệ
thông tin, tài chính, y tế, giáo dục) trở nên ngày càng quan trọng và chiếm tỷ
trọng lớn hơn trong nền kinh tế.
Luận điểm được ra đời trong bối cảnh của sự chuyển đổi từ một xã hội dựa vào
lao động thủ công sang một xã hội dựa vào sản xuất công nghiệp và tri thức.
Trong bối cảnh của chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân truyền thống,
người lao động chủ yếu trong ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa, bắt đầu
chuyển biến. Công nghiệp hóa và sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm
cho ngành công nghiệp trở nên hiện đại hơn, tự động hóa và cần ít lao động hơn.
Đồng thời, sự phát triển của tri thức và ngành dịch vụ tri thức (như công nghệ
thông tin, tài chính, y tế, giáo dục) trở nên ngày càng quan trọng và chiếm tỷ 5
trọng lớn hơn trong nền kinh tế. Những người làm việc trong các lĩnh vực này
thường sở hữu kiến thức chuyên môn cao và thường xuyên cần cập nhật kiến
thức mới để theo kịp với sự tiến bộ của ngành. Kinh tế tri thức không chỉ là một
phần của cơ sở vật chất mà còn được ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản như lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và ý thức xã hội. Sự phát triển của kinh tế tri
thức tương tác với các yếu tố văn hóa, xã hội và chính trị, và có thể tạo ra các
tác động trên quy mô xã hội lớn.Trong bối cảnh của chủ nghĩa xã hội khoa học,
kinh tế tri thức không chỉ là một nguồn lực quan trọng cho sản xuất và phát triển
kinh tế mà còn là một yếu tố quan trọng trong quá trình biến đổi xã hội và xã hội
hóa tri thức. Sự phát triển của kinh tế tri thức có thể tạo ra cơ hội mới cho việc
phân phối công bằng nguồn lực và tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát
triển toàn diện của con người. Do đó, luận điểm trên cho rằng trong một nền
kinh tế tri thức, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sẽ dần chuyển giao cho tầng lớp trí thức. 1.2. Mục đích ra đời
Trong các thế kỷ trước, giai cấp công nhân đã đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của xã hội công nghiệp. Họ là những người lao động trực tiếp, tạo ra
giá trị và làm nền tảng cho sản xuất. Tuy nhiên, trong nền kinh tế tri thức đương
đại, vai trò của tầng lớp tri thức ngày càng trở nên quan trọng hơn, và có xu
hướng thay thế sự ưu tiên của giai cấp công nhân.Trong bối cảnh của xã hội tri
thức ngày nay, việc đánh giá lại vai trò và sứ mệnh của các giai cấp xã hội trở
nên cực kỳ quan trọng.Trong thời đại hiện đại, với sự bùng nổ của công nghệ
thông tin và tri thức, tầng lớp trí thức, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa xã
hội khoa học, đang nổi lên như là những nhà lãnh đạo tiềm năng trong việc xây
dựng một xã hội mới. Luận điểm này nhằm mục đích phân tích sự chuyển giao
sứ mệnh lịch sử từ giai cấp công nhân sang tầng lớp trí thức trong xã hội tri thức
và đề xuất những hướng phát triển mới cho xã hội. 6
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân từ luận điểm trên là đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội trong quá khứ. Trong
các thế kỷ trước, giai cấp công nhân đã là lực lượng chủ chốt đứng sau sự phát
triển của nền công nghiệp, làm nền móng cho sự tiến bộ xã hội thông qua lao
động và phong trào lao động. Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội và sự bùng
nổ của tri thức và công nghệ, luận điểm trên đề xuất rằng sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân đang truyền giao sang tầng lớp trí thức, đặc biệt là những
người theo chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều này không có nghĩa là vai trò của
giai cấp công nhân trở nên ít quan trọng hơn, mà là một quá trình chuyển đổi
trong cách mà xã hội đối phó với các thách thức và vấn đề mới. Sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân từ luận điểm trên là đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội trong quá khứ, và sự chuyển giao này
đang diễn ra sang tầng lớp trí thức.
PHẦN II: PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỂM
2.1 Khái niệm của kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là một khái niệm chỉ một hệ thống kinh tế trong đó sản
xuất hàng hóa và dịch vụ chủ yếu dựa trên các hoạt động sử dụng tri thức,
thông tin và sự đổi mới nhằm góp phần thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật và
khoa học. Kinh tế tri thức nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn con người,
tài sản trí tuệ và công nghệ thông tin trong việc tạo ra giá trị kinh tế.
2.2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức là nơi mà ở đó con người sử dụng các loại hình công cụ chủ
yếu là để thực hiện các thao tác trí tuệ. Nền kinh tế tri thức có 10 đặc trưng chủ yếu sau:
Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Ý tưởng đổi mới và phát triển công nghệ
mới trở thành chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất
lượng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh 7
Ứng dụng công nghệ thông tin được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh
vực; mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp, kết nối hầu hết các tổ chức,
gia đình. Công nghệ thông tin và truyền thông là những công cụ quan
trọng để thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối tri thức và thông tin. Mọi
lĩnh vực hoạt động xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin.
Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên
tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai. Các doanh nghiệp
đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có doanh nghiệp chuyên sản xuất
công nghệ, có thể gọi đó là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học sản
xuất được thể chế hoá, không còn phân biệt giữa phòng thí nghiệm và
công xưởng. Những người làm việc trong đó họ vừa là nhà nghiên cứu
vừa là nhà sản xuất, họ là những công nhân trí thức…
Xã hội học tập, giáo dục phát triển, đầu tư cho giáo dục khoa học chiếm
tỷ lệ cao. Đầu tư vô hình (con người, giáo dục, khoa học…) cao hơn đầu
tư hữu hình (cơ sở vật chất). Phát triển con người trở thành nhiệm vụ
trọng tâm. Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi người có thể học tập
ở bất cứ lúc nào. Trong khi đó, nền kinh tế liên quan mật thiết đến các
hoạt động giáo dục và nghiên cứu, những hoạt động này cung cấp nguồn
lực quan trọng, chất lượng cho việc phát triển tri thức và thông tin.
Tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức: Trong kinh tế
tri thức, các nguồn tài nguyên truyền thống như đất đai, nguồn lao động
và tài nguyên thiên nhiên không còn là yếu tố quan trọng nhất. Thay vào
đó, các nguồn thông tin, tri thức, tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ được
coi là những yếu tố quan trọng hàng đầu tạo sự tăng trưởng. Tri thức và
thông tin được tăng lên khi sử dụng, không mất đi khi sử dụng (các nguồn
vốn khác bị mất đi khi sử dụng).
Sáng tạo là linh hồn của đổi mới, sáng tạo là vô tận. Có thể khẳng định,
sự đổi mới là yếu tố then chốt để duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh
của các doanh nghiệp và quốc gia. Đổi mới thường xuyên là động lực
thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ rút 8
ngắn, có khi chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng. Các doanh nghiệp muốn
trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm, nâng cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tăng cường sự sáng tạo để cạnh tranh.
Dân chủ hoá, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá. Mọi người đều dễ
dàng truy cập thông tin mình cần. Điều này dẫn đến dân chủ hoá các hoạt
động và tổ chức điều hành xã hội. Người dân nào cũng có thể được thông
tin kịp thời về các chính sách của Nhà nước, các tổ chức và có ý kiến
ngay khi thấy không phù hợp.
Các doanh nghiệp vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển. Trong cùng
một lĩnh vực, khi một công ty thành công, lớn mạnh lên thì các công ty
khác phải tìm cách sáp nhập hoặc chuyển hướng hoạt động. Từ đó nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nền kinh tế toàn cầu hoá: Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu,
một sản phẩm được sản xuất từ bất kỳ nơi nào cũng có thể nhanh chóng
có mặt khắp nơi trên thế giới hoặc sản phẩm phần lớn được thực hiện từ
nhiều nơi trên thế giới, kết quả cao của công ty ảo, làm việc từ xa.
Sự thách đố văn hóa: Trong nền kinh tế tri thức- xã hội thông tin, văn hoá
có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội. Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ văn hoá nâng
cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng.
Nhu cầu thưởng thức của người dân cũng tăng cao, giao lưu văn hóa
thuận lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hoá giao thoa, để tiếp thu các tinh
hoa văn hoá của nhân loại để phát triển. Nhưng các nền văn hoá cũng
đứng trước nguy cơ rủi ro cao, dễ bị pha tạp, lai căng, dễ mất bản sắc văn hoá dân tộc..
2.3 Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
2.3.1 Khái niệm của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân trên phương diện kinh tế - xã hội 9
Thứ nhất, giai cấp công nhân với phương thức lao động công nghiệp trong
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những người lao động trực tiếp hay
gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày
càng hiện đại và xã hội hóa cao. Mô tả quá trình phát triển của giai cấp
công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: trong công trường thủ công
và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình còn
trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc.
+Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, công nhân công nghiệp công xưởng là bộ phận
tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện đại. Các ông nhấn mạnh
rằng, ...“Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển
của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền
đại công nghiệp” và “công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới,
giống như máy móc vậy”... “công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền
công nghiệp hiện đại”.
Thứ hai, giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đó
là giai cấp của những người lao động không sở hữu tư liệu sản xuất chủ
yếu của xã hội. Họ phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản
bóc lột giá trị thặng dư. Đối diện với nhà tư bản, công nhân là những
người lao động tự do, với nghĩa là tự do bán sức lao động của mình để
kiếm sống. Chính điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai
cấp đối kháng với giai cấp tư sản. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán
mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng
đem bán như bất cứ món hàng nào khác, vì thế, họ phải chịu hết mọi sự
may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường.
Giai cấp công nhân trên phương diện chính trị - xã hội
Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, sự thống trị của giai cấp tư sản, đặc biệt
của bộ phận tư sản đại công nghiệp là điều kiện ban đầu cho sự phát triển
giai cấp công nhân. “Nói chung, sự phát triển của giai cấp vô sản công 10
nghiệp được quy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp.
Chỉ có dưới sự thống trị của giai cấp này thì sự tồn tại của giai cấp vô sản
công nghiệp mới có được một quy mô toàn quốc, khiến nó có thể nâng
cuộc cách mạng của nó lên thành một cuộc cách mạng toàn quốc...”
Nghiên cứu giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) từ phương diện kinh tế -
xã hội và chính trị - xã hội trong chủ nghĩa tư bản, Mác và Ăngghen đã
không những đưa lại quan niệm khoa học về giai cấp công nhân mà còn
làm sáng tỏ những đặc điểm quan trọng của nó với tư cách là một giai cấp
cách mạng có sứ mệnh lịch sử thế giới.
Từ phân tích trên có thể hiểu về giai cấp công nhân theo khái niệm sau:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại; Là giai cấp đại diện
cho lực lượng sản xuất tiên tiến; Là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai
cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản
xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng
dư; Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động
làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích
chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình.
2.3.2 Đặc điểm của giai cấp công nhân
Có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân bao gồm:
Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp
cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại:
Đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân trong chế độ tư bản chủ nghĩa
theo C.Mác, Ph.Ăngghen, là giai cấp vô sản, “giai cấp công nhân làm thuê
hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức
lao động của mình để sống”. Tuy vậy, không chính xác khi gọi giai cấp vô 11
sản là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình
độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại.
Lao động bằng phương thức công nghiệp:
Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân là lao động bằng phương thức
công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng
suất lao động cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa. Đđây
là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ
sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.
Mô tả quá trình phát triển của GCCN, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ
rõ: trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công
nhân sử dụng công cụ của mình còn trong công xưởng thì người công
nhân phải phục vụ máy móc. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, công nhân
công nghiệp công xưởng là bộ phận tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện đại.
Và nhấn mạnh rằng, “ Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng
với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản
phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” và “ công nhân cũng là một
phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy”, “ công nhân
chính là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”.
Đặc điểm nổi bật: sản xuất bằng máy móc, lao động có tính chất xã hội
hóa, năng suất lao động cao,...
Đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến :
GCCN là sản phẩm của nền đại công nghiệp là chủ thể của quá trình sản
xuất vật chất hiện đại do vậy giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng
tiên tiến,phương thức sản xuất tiên tiến, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại.
Có tinh thần cách mạng triệt để 12
GCCN là giai cấp triệt để cách mạng do họ muốn xóa bỏ tận gốc người
bóc lột người của chế độ tư bản chủ nghĩa. Đi cùng với đó là công nhân
phải xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Làm được điều đó thì
giai cấp công không chỉ giải phóng mình mà còn giải phóng toàn thể xã
hội khỏi áp bức bóc lột bất công, cho thấy cái tính triệt để cách mạng của
giai cấp công nhân. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C.Mác khẳng
định rằng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp
tư sản thì giai cấp công nhân không có gì để mất bởi vì họ là giai cấp vô
sản, vì sao họ là giai cấp vô sản vì họ không có tư liệu sản xuất, nếu có
mất đi chăng nữa thì chỉ mất đi xiềng xích, nói một cách hình tượng tức là
mất đi cái địa vị là bị áp bức của mình còn nếu được thì sẽ được cả thế
giới về mình. Chính vì vậy mà giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng
rất triệt để. Họ tiên phong, đi đầu trong các cuộc cách mạng.
Có tổ chức, kỷ luật có tinh thần hợp tác tâm lý lao động
Thứ nhất là do yêu cầu của nền sản xuất hiện đại là sản xuất tập trung
theo dây chuyền đó là sự phân công lao động một cách sâu sắc theo dây
chuyền sản xuất nên nó buộc giai cấp công nhân phải có tính tổ chức kỷ luật cao.
Thứ 2 trong các cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, giai cấp tư sản
lại có nhiều thủ đoạn đi đàn áp phong trào công nhân, đặc biệt là giai cấp
tư sản nắm trong tay bộ phận nhà máy nhà nước khổng lồ do đó để phát
huy sức mạnh giai cấp công nhân cần có tính tổ chức và kỷ luật cao. Và tổ
chức cao nhất của giai cấp công nhân chính là chính đảng đảng cộng sản.
2.3.3 Khái quát sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và
cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử.
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân cần phải trải qua hai bước. 13
Bước thứ nhất: giai cấp công nhân biến thành giai cấp thống trị và giành
lấy chính quyền nhà nước vào tay giai cấp mình.
Bước thứ hai: giai cấp công nhân dùng sự thống trị của mình để từng
bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản để tập trung tất cả
những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước từ đó tiến hành tổ chức
xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Hai bước này quan hệ chặt chẽ
với nhau, giai cấp công nhân không thực hiện được bước thứ nhất thì
cũng không thực hiện được bước thứ hai nhưng bước thứ hai là quan
trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Vì vậy, sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân thông qua chính đảng
tiền phong, giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh
xóa bỏ các chế độ người bóc lột người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai
cấp công nhân nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức, nghèo nàn, lạc hậu xây
dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
Giai cấp mang sứ mệnh lịch sử cần đáp ứng yếu tố: Đông đảo về số lượng, chất
lượng ngày càng được nâng cao, đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, quan trọng
hơn là nắm trong những phương thức sản xuất hiện đại, tiến bộ; ra đời nhằm xóa
bỏ những tàn dư lạc hậu của giai cấp trước, và có vai trò đặc biệt quan trọng ở
mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị-xã hội, văn hoá-tư tưởng.
Thứ nhất là lĩnh vực kinh tế. Sứ mệnh của giai cấp công nhân là xóa bỏ
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới của
chế độ xã hội mới: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đây là nhân tố
hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công nhân cũng
là đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất về xu thế phát triển của
lịch sử xã hội. Trước hết, giai cấp công nhân tạo tiền đề vật chất kỹ thuật
cho sự ra đời của xã hội mới bởi nó đóng vai trò là chủ thể của quá trình
sản xuất vật chất để tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng
ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Mặt khác, tính chất xã hội hóa
cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi có một quan hệ sản xuất mới phù hợp,
tức là quan hệ sản xuất ở đây cũng phải có tính xã hội hóa cao, tiêu biểu 14
cho lợi ích chung của toàn xã hội. Giai cấp công nhân đấu tranh với lợi
ích chung của toàn xã hội, của toàn bộ giai cấp khác đặc biệt với giai cấp
nông dân. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá
trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu tổ chức xã hội mới về lao
động” để tăng năng suất lao động xã hội và thực hiện các nguyên tắc sở
hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Thứ hai là lĩnh vực chính trị - xã hội. Giai cấp công nhân cùng nhân dân
lao động lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao
động tiến hành cách mạng lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, xóa bỏ
chế độ áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản, giành quyền lực về tay giai
cấp công nhân và nhân dân lao động. Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang
bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội chủ
nghĩa của tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Giai cấp công nhân và nhân
dân lao động sử dụng nhà nước của mình, do mình làm chủ như một công
cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ và tổ chức xây dựng xã hội mới, phát
triển kinh tế và văn hóa, xây dựng nền chính trị dân chủ - pháp quyền,
quản lý kinh tế - xã hội và tổ chức đời sống xã hội phục vụ quyền và lợi
ích của nhân dân lao động.
Thứ ba là lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Giai cấp công nhân xây dựng nền
văn hóa mới trên nền tảng quan hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công
nhân. Trong tiến trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên lĩnh
vực văn hóa tư tưởng, giai cấp công nhân cần phải tập trung xây dựng hệ
giá trị mới: lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do. Hệ giá trị
mới này là sự phủ định các giá trị mang bản chất tư sản và phục vụ cho
giai cấp tư sản; những tàn dư các giá trị đã lỗi thời, lạc hậu của các xã hội
quá khứ. Hệ giá trị mới thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới xã hội
chủ nghĩa sẽ từng bước phát triển và hoàn thiện. Xây dựng và củng cố ý 15
thức hệ tiên tiến của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin,
đấu tranh để khắc phục ý thức hệ tư sản và các tàn dư còn sót lại của hệ tư
tưởng cũ. Phát triển văn hóa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa,
đạo đức và lối sống mới xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung
căn bản mà giai cấp công nhân cần thực hiện trong cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng.
2.4 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thể chuyển giao cho tầng lớp trí thức
2.4.1 Những điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân
Thứ nhất, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách
mạng nhất trong các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản.
+Trong nền sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân vừa là chủ thể trực
tiếp, vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó. Tất cả các
giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với đại công nghiệp,
còn giai cấp công nhân lại là sản phẩm của bản thân 2.4.1nền đại công nghiệp.
+Giai cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa.
Điều này có được là do yêu cầu khách quan của sự phát triển công
nghiệp trong thời đại mà khoa học và công nghệ đã và đang trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Thứ hai, do không có tư liệu sản xuất nên giai cấp công nhân phải
bán sức lao động của mình cho nhà tư bản và bị nhà tư bản chiếm
đoạt giá trị thặng dư, họ bị lệ thuộc hoàn toàn trong quá trình phân 16
phối các kết quả lao động của chính mình. Do vậy, về mặt lợi ích
giai cấp công nhân là giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản.
+Xét về bản chất, họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại
chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.
Thứ ba, giai cấp công nhân có lợi ích căn bản thống nhất với lợi ích
của toàn thể nhân dân lao động nên họ có thể tập hợp, đoàn kết,
lãnh đạo đông đảo quần chúng đi theo làm cách mạng chống lại giai cấp tư sản
Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân là yếu tố quan trọng nhất quy
định nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bởi nếu không có địa vị về
kinh tế là người đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ, không có địa vị về xã
hội là bị giai cấp tư sản bóc lột thì sẽ không có động lực về chính trị để thực
hiện cuộc cách mạng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân
Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất.
+Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền sản xuất đại công nghiệp,
phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp
nên nền sản xuất có trình độ phát triển cao đòi hỏi giai cấp công
nhân cần phải tiếp thu các kiến thức khoa học để vận hành được dây chuyền này.
+Giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến thể
hiện ở nhiệm vụ xóa bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất thiết lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn.
+Giai cấp công nhân được trang bị lí luận của chủ nghĩa Mác Lênin
là lý luận cách mạng khoa học và tiến bộ. Để có thể tiếp thu và vận
dụng lí luận này đòi hỏi giai cấp công nhân cần có trình độ lý luận nhất định.
Thứ hai, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. 17
+Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung
cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức
ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công
nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động.
+Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản -
là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế - kỹ thuật nên giai cấp công
nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.
Thứ ba, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất. vì
cách mạng của giai cấp công nhân hướng tới mục tiêu cuối là giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thể hiện
ở sự xóa bỏ mọi tình trạng áp bức bóc lột, nô dịch cả về vật chất lẫn
tinh thần. Giai cấp công nhân vừa phải giành chính quyền, vừa sử
dụng chính quyền để thực hiện mục tiêu đó.
Thứ tư, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.
+Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đều có chung một mục đích là
giải phóng mình đồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và
họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột.
+Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ
nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà chúng đã liên kết với nhau
thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vì vậy mà giai cấp công
nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình, cùng
nhau thực hiện sứ mệnh lịch sử.
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thể hiện
ở 2 nội dung: thứ nhất là về địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân và
thứ 2 là địa vị về chính trị xã hội của giai cấp công nhân và chính điều kiện
khách quan này là 1 trong các yếu tố để giai cấp công nhân hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình.
Điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 18
Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất
lượng giai cấp công nhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân
thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình.
+Chất lượng công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý
thức chính trị của một giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức
được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó
giai cấp công nhân phải được giác ngộ về lý luận khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
+Là giai cấp đại diện tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến,
chất lượng giai cấp công nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình
độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai
cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình
Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và
đảm nhận vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng
thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng.
+Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng
quan trọng nhất của Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp
công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp.
+Đảng Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công
nhân, của dân tộc và xã hội.
Đảng Cộng sản đề ra đường lối, tuyên truyền đưa đường lối vào
thực tiễn cuộc sống; tổ chức thực hiện và gương mẫu thực hiện đường lối. 19
2.4.2 Nền kinh tế tri thức đã dẫn đến những biến đổi quan trọng của GCCN hiện đại:
So với giai cấp công nhân truyền thống ở thế kỷ XIX thì giai cấp công nhân hiện
nay đã có những biến đổi mới trong điều kiện lịch sử mới. Đặc biệt, sự ra đời
của nền kinh tế tri thức đã dẫn đến những biến đổi quan trọng của GCCN hiện
đại. Cụ thể, những biến đổi đó được thể hiện qua những đặc điểm sau:
Tăng nhanh về số lượng, chất lượng Biểu hiện:
Giai cấp công nhân đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng, là giai cấp
đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với
phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Trong những
năm đổi mới, GCCN nước ta đã có những bước phát triển tích cực, mạnh
mẽ, đang tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời
chất lượng đội ngũ được nâng lên, đã xuất hiện bộ phận công nhân trí
thức. Cùng với các giai cấp, giai tầng xã hội khác trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, GCCN đã có đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
Trong thế kỷ XX, giai cấp nông dân chiếm số đông, nhưng hiện nay do
diễn ra quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, chuyển đổi sang nền
kinh tế tri thức nên giai cấp công nhân có sự gia tăng nhanh chóng. Là lực
lượng lao động có trình độ học vấn ngày càng được nâng cao, được đào
tạo nghề nghiệp nhất định trong cơ cấu lao động chung. So với giai cấp
nông dân và những người làm công việc giản đơn, giai cấp công nhân
được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp tốt hơn. Công nhân tri thức nắm
vững khoa học - công nghệ tiên tiến và công nhân trẻ được đào tạo nghề
theo chuẩn nghề nghiệp, có học vấn, văn hoá, được rèn luyện trong thực
tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội và là lực lượng chủ đạo.
Về mặt sản xuất, GCCN là lực lượng cơ bản, chủ yếu, có vai trò to lớn
trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù về số lượng GCCN ở nước ta chiếm
tỷ lệ không lớn trong tổng số dân cư (khoảng 13%) nhưng nắm giữ những 20