




Preview text:
23:23, 05/01/2026
Bài Tập Môn Công Pháp Quốc Tế: Giải Quyết Tình Huống Đánh Bắt Hải Sản - Studocu
Giải quyết tình huống pháp lý:
Tàu của nước A thực hiện việc đánh bắt hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế của nước B.
Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia B, tàu của quốc gia A thực hiện
đánh bắt hải sản. Vậy quốc gia B có quyền gì đối với tàu của quốc gia A hay
không? Để giải quyết tình huống này nhóm xin đặt ra 3 trường hợp sau:
- Thứ nhất, trong trường hợp quốc gia B cho phép tàu của quốc gia A được
khai thác đánh bắt số lượng cá dư thông qua các điều ước hoặc các thỏa
thuận khác tại Điều 62 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982
và đồng thời tàu của quốc gia A cũng đã tuân thủ các biện pháp bảo tồn và
các thể thức, các điều kiện khác được đề ra trong các luật và quy định của
quốc gia B thì việc tàu quốc gia A thực hiện đánh bắt hải sản trong vùng
đặc quyền kinh tế của quốc gia A là hợp pháp. Quốc gia B có các quyền
đối với tàu đánh bắt hải sản của quốc gia A về các vấn đề được quy định
tại Khoản 4 Điều 62 Công ước LHQ về Luật biển 1982.
Ví dụ: Vào năm 2000 giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và
Chính phủnước CHDCND Trung Hoa đã ký với nhau “Hiệp định hợp tác
nghề cá Vịnh Bắc Bộ”.Qua sáu vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề
cá, qua thương lượng, hai bên đãnhất trí hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc
Bộ bằng việc thiết lập một Vùng đánh cáchung. Phạm vi Vùng đánh cá
chung trong vịnh Bắc Bộ từ vĩ tuyến 20° Bắc xuốngđường đóng cửa Vịnh,
bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía; cótổng diện tích
là 33.500 km², khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Thời hạn của Vùng đánhcá
chung là 15 năm (12 năm chính thức và ba năm gia hạn).
- Thứ hai, đối với trường hợp cả hai nước đều không thỏa thuận hay ký kết
cácđiều ước cho phép khai thác đánh bắt số lượng cá dư ở quốc gia B, thì
lúc này việc đánh bắt cá của tàu quốc gia A là trái phép, không hợp pháp,
đã xâm phạm đến lợi íchvề quản lý khai thác tài nguyên sinh vật của quốc
gia B. Do đó, quốc gia B sẽ có các quyền tài phán xử lý hành vi vi phạm
theo quy định tại Điều 73 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982.
Quốc gia B có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám
xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các
quyđịnh mà họ đã ban hành theo đúng Công ước. Tuy nhiên, cần lưu ý:
Khi có sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay
chiếc tàu bịbắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này.-
Không được áp dụng các hình phạt giam giữ cũng như các hình phạt thân
thểkhác nếu không có thỏa thuận khác. 23:23, 05/01/2026
Bài Tập Môn Công Pháp Quốc Tế: Giải Quyết Tình Huống Đánh Bắt Hải Sản - Studocu
Phải thông báo ngay cho quốc gia A biết các biện pháp cũng như các
chế tàiáp dụng đối với hành vi đánh bắt cá trái phép đối với tàu của quốc gia A.
Ví dụ: Giới chức Philippines ngày 17/5/2016 xác nhận vụ bắt giữ hai tàu
cáTrung Quốc cùng 25 ngư dân, khi các tàu giả treo cờ Philippines và
đánh bắt trộm trong vùng biển nước này. Cảnh sát biển Philippines phối
hợp với Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản(BFAR) bắt giữ 2 tàu cá
Trung Quốc ở giữa khu vực vùng biển ngoài khơi đảoBabuyan và tỉnh
Batanes, phía Bắc Philippines.Vị trí hai tàu bị bắt gặp có hoạt động đánh
bắt trái phép nằm trong vùng đặcquyền kinh tế (EEZ) của Philippines,
không phải trong vùng biển tranh chấp ở BiểnĐông.
- Thứ ba, dựa vào vùng có tính chất lịch sử (ngư trường đánh bắt truyền
thống).Nếu tàu của quốc gia A đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế
của quốc gia B nhưng đây lại là vùng có tính chất lịch sử của quốc gia A
và quốc gia A đã có căn cứ chứng minh về vùng nước này thì việc đánh
bắt cá của tàu trong trường hợp này là hợp pháp. Bởi lẽ đây là vùng mà
ngư dân quốc gia A đã khai thác, sử dụng lâu đời được cộng đồng quốc tế
thừa nhận và đồng thời đây là vùng nước mang lại nguồn cung cấp kinh tế
rất lớn, chủ yếu cho quốc gia A nên tàu của quốc gia A có quyền đánh bắt
cá trên vùng có tính chất lịch sử của quốc gia mình hay còn gọi là ngư
trường đánh bắt truyền thống.
Ví dụ: Indonesia vốn không phải một bên trong cuộc tranh chấp trên biển
Đông,nhưng nước này đã bị kéo vào cuộc, sau khi Bắc Kinh tuyên bố
vùng đặc quyền kinh tế gần quần đảo Natuna của Indonesia là một phần
trong “ngư trường đánh cá truyền thống” của Trung Quốc và tàu cá Trung
Quốc được tự do đánh bắt trong khu vực này.Tất nhiên, Indonesia không
xem vùng đặc quyền kinh tế của mình là “ngưtrường truyền thống” của
Trung Quốc, luận điệu mà Bắc Kinh thường xuyên lặp lại.Thay vào đó,
Jakarta coi hoạt động đánh cá của các nước khác ở khu vực này là
trộmcắp.Bộ trưởng Các vấn đề hàng hải và ngư nghiệp Indonesia đã phát
biểu: “Chúngtôi không biết về điều này (như Trung Quốc tuyên bố),
chúng tôi không công nhận bấtkỳ tuyên bố chủ quyền của bên nào về ngư
trường bên trong vùng đặc quyền kinh tếcủa Indonesia; ngoại trừ một
vùng mà chúng tôi đã ký thỏa thuận với Malaysia ở EoMalacca”.
Dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), việc tàu
đánh cá của quốc gia A hoạt động ở các vùng biển của quốc gia B có những quy
định pháp lý khác nhau tùy theo vùng biển. Sau đây là cách xử lý từng tình huống: 23:23, 05/01/2026
Bài Tập Môn Công Pháp Quốc Tế: Giải Quyết Tình Huống Đánh Bắt Hải Sản - Studocu
1. Tàu đánh cá của quốc gia A hoạt động trong vùng lãnh hải của quốc gia B:
Vùng lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia B.
Quốc gia B có chủ quyền hoàn toàn trong vùng lãnh hải, bao gồm cả quyền đánh bắt cá.
Nếu tàu cá của quốc gia A hoạt động trong vùng lãnh hải của quốc gia B mà
không có sự cho phép của quốc gia B, thì hành vi này bị coi là vi phạm chủ quyền của quốc gia B.
Hậu quả: Quốc gia B có quyền bắt giữ tàu cá, xử phạt, hoặc tịch thu tài sản của
tàu cá quốc gia A, và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có.
Cách thức giải quyết: Quốc gia A và B có thể đàm phán giải quyết thông qua
con đường ngoại giao hoặc thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế theo UNCLOS 1982.
2. Tàu đánh cá của quốc gia A hoạt động trong vùng tiếp giáp lãnh hải của quốc gia B:
Vùng tiếp giáp lãnh hải nằm ngoài vùng lãnh hải và kéo dài 12 hải lý tiếp theo
(tức từ 12-24 hải lý tính từ đường cơ sở).
Quốc gia B có quyền thực thi các biện pháp kiểm soát cần thiết để ngăn chặn và
trừng phạt những hành vi vi phạm luật pháp về thuế quan, di trú, y tế, và hải
quan trong lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình.
Tuy nhiên, tàu cá của quốc gia A chỉ có thể bị kiểm soát khi có dấu hiệu vi phạm
luật pháp của quốc gia B liên quan đến các vấn đề trên, không phải vì đánh bắt cá.
Hậu quả: Nếu tàu cá của quốc gia A không vi phạm các điều luật trên, quốc gia
B không có quyền can thiệp. Nếu có vi phạm, quốc gia B có thể kiểm tra, xử phạt theo luật.
Cách thức giải quyết: Tương tự như trường hợp vùng lãnh hải, các vấn đề có thể
được giải quyết qua đàm phán hoặc thông qua cơ chế UNCLOS.
3. Tàu đánh cá của quốc gia A hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của quốc gia B:
Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài từ 12 đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trong EEZ, quốc gia B có quyền chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên cá.
Quốc gia A không có quyền tự do đánh bắt cá trong EEZ của quốc gia B nếu
không có sự cho phép của quốc gia B hoặc theo thỏa thuận song phương. 23:23, 05/01/2026
Bài Tập Môn Công Pháp Quốc Tế: Giải Quyết Tình Huống Đánh Bắt Hải Sản - Studocu
Hậu quả: Nếu tàu cá của quốc gia A đánh bắt cá mà không có sự cho phép, quốc
gia B có quyền bắt giữ tàu, xử phạt hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Cách thức giải quyết: Thông qua đàm phán, thỏa thuận song phương hoặc cơ chế UNCLOS 1982.
4. Tàu đánh cá của quốc gia A hoạt động trong vùng thềm lục địa của quốc gia B:
Thềm lục địa là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền dưới biển, kéo dài
từ đường cơ sở đến tối đa 350 hải lý. Quốc gia B có quyền chủ quyền đối với tài
nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa, nhưng quyền tự do hàng hải và các hoạt động
như đánh cá không bị hạn chế.
Tuy nhiên, tài nguyên sinh vật trong vùng thềm lục địa ngoài vùng EEZ thường
là tài sản chung của nhân loại, và quốc gia A có thể khai thác nếu không vi phạm
luật quốc tế hoặc các thỏa thuận quốc tế về bảo vệ tài nguyên sinh vật.
Hậu quả: Nếu việc khai thác vi phạm quyền chủ quyền của quốc gia B, quốc gia
B có thể đưa ra các biện pháp pháp lý để ngăn chặn và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Cách thức giải quyết: Tương tự, có thể giải quyết thông qua đàm phán hoặc cơ chế UNCLOS. Tóm lại:
Tàu cá quốc gia A hoạt động trong các vùng biển của quốc gia B cần tuân thủ
đúng các quy định về chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia B.
Hậu quả thường là bắt giữ, phạt tiền, hoặc yêu cầu bồi thường nếu có vi phạm.
Cách thức giải quyết chủ yếu thông qua đàm phán ngoại giao hoặc cơ chế UNCLOS 1982.
Hy vọng những thông tin này giúp bạn hiểu rõ hơn về cách xử lý các tình huống
theo Công ước Luật Biển 1982. 23:23, 05/01/2026
Bài Tập Môn Công Pháp Quốc Tế: Giải Quyết Tình Huống Đánh Bắt Hải Sản - Studocu