
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
ĐOÀN THU HÀ
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ LIỀU ĐIỀU TRỊ VÀ SỰ THAY ĐỔI CÁC
CHỈ SỐ CHỨC NĂNG GAN THẬN SAU 8 TUẦN ĐIỀU TRỊ BẰNG
THUỐC CHỐNG LAO HÀNG 1 Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH Y ĐA KHOA
HÀ NỘI – 2019

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS. Lê Thị Luyến
– Giảng viên khoa Y Dược – người luôn tận tâm hướng dẫn và dìu dắt em qua
từng bước đi quan trọng trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo cùng toàn thể
các thầy cô giáo Khoa Y Dược, những người đã tận tâm dạy dỗ, trang bị cho em các
kiến thức và kỹ năng trong học tập, nghiên cứu. Cảm ơn Ban Giám đốc, các bác sĩ và
điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, các cán bộ Phòng Kế hoạch tổng hợp, khoa Sinh
Hóa của bệnh viện K74 Trung ương, Phổi Hà Nội và Phổi Trung ương đã tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân và
bạn bè của mình, những người đã ở bên, quan tâm, tin tưởng, động viên em trong suốt
quá trình học tập.
Hà Nội, tháng 05
năm 2019
Đoàn Thu Hà
ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây nên
và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO), năm 2017, ước tính thế giới có khoảng 10 triệu người mắc lao và
khoảng 1,6 triệu người tử vong do căn bệnh này [37]. Việt Nam xếp thứ 20 trong 30
quốc gia có gánh nặng về bệnh lao cao nhất trên thế giới trong năm 2017, với 106.527
người mắc bệnh lao, 102.097 ca nhiễm mới và tái phát, lao phổi chiếm 81% [37].
Phương pháp điều trị bệnh lao hiện tại là đa hóa trị liệu, thường sử dụng từ 4 đến
5 loại thuốc và thời gian trị liệu kéo dài. Các thuốc được sử dụng là: Rifampicin,
Isoniazid, Ethambutol, Pyrazinamid , Streptomycin. Phác đồ điều trị lao thường kéo
dài và được chia thành 2 giai đoạn là giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì.
Bệnh nhân lao được điều trị thuốc đúng phác đồ, liều lượng, kiểm soát tốt các tác
dụng không mong muốn là nguyên tắc trong điều trị bệnh lao. Nếu bệnh nhân không
được điều trị đúng phác đồ, sử dụng thuốc không đúng liều lượng sẽ ảnh hưởng đến
hiệu quả điều trị cũng như tạo ra các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc gây nguy hiểm
cho cộng đồng [2,18].
Ngoài ra, mỗi thuốc chống lao đều có tác dụng không mong muốn trên bệnh nhân
và phải sử dụng phối hợp nhiều thuốc trong thời gian kéo dài nên việc xảy ra các tác
dụng không mong muốn là không tránh khỏi.
Việc phát hiện, giám sát và xử trí kịp thời các phản ứng có hại của các thuốc
chống lao đóng vai trò quan đối với hiệu quả điều trị bệnh lao. Các xét nghiệm cận lâm
sàng ngày càng được quan tâm hơn vì vai trò của chúng trong việc phát hiện và theo
dõi tác dụng không mong muốn của thuốc, xét nghiệm sinh hóa là một trong số đó.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu đánh giá liều điều trị và sự thay đổi
các chỉ số chức năng gan thận sau 8 tuần điều trị thuốc chống lao hàng 1 ở bệnh nhân
lao phổi” được thực hiện với những mục tiêu sau:

1. Đánh giá được sự phù hợp liều điều trị cho bệnh nhân lao phổi bằng các thuốc
chống lao hàng 1.
2. Mô tả được sự biến đổi các chỉ số sinh hóa (AST, ALT, Ure, Creatinin,
Clearance creatinin) sau 8 tuần đầu điều trị bằng các thuốc ch ống lao hàng 1 ở bệnh
nhân lao phổi.
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH LAO
1.1.1. Khái niệm về bệnh lao
Bệnh lao (Tuberculosis) là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao
Mycobacterium tuberculosis (MTB) gây nên, có thể chữa khỏi và phòng ngừa. Bệnh
lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể như: phổi, hạch, xương, khớp, thần kinh,
não, thận, sinh dục… trong đó lao phổi là thể phổ biến nhất (chiếm 80 – 85% tổng số
ca bệnh) và là nguồn lây chính cho những người xung quanh [4,9,17].
1.1.2. Dịch tễ
1.1.2.1. Trên thế giới
Trong lịch sử y học, lao là một trong những bệnh dịch gây chết người nhiều nhất.
Bệnh lao chịu tác động của nhiều yếu tố như: kinh tế xã hội, hoàn cảnh sống, chiến
tranh, thiên tai… Ở các nước phát triển, nhờ chất lượng cuộc sống cao mà vào nửa sau
thế kỉ XX, nguy cơ nhiễm lao giảm 4 – 5% mỗi năm trong khi ở các nước nghèo, sự
giảm tự nhiên này không xảy ra. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, tỉ lệ mắc lao cũng
tăng lên rõ rệt ở cả những nước thắng trận và bại trận [15].
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2017, ước tính thế giới có khoảng
10 triệu người mắc lao (khoảng 90% là người lớn, 58% là nam giới, 9% mắc kèm HIV)
và ước tính có khoảng 1,6 triệu người tử vong do căn bệnh này [37]. Trong số 10,4
triệu người mắc lao năm 2016 có khoảng 1,9 triệu người suy dinh dưỡng; 1 triệu người

đồng nhiễm HIV; 0,8 triệu người hút thuốc lá và 0,8 triệu người mắc bệnh tiểu đường
[36].
Trong những năm gần đây, trên thế giới, mỗi năm tỉ lệ tử vong do lao giảm
khoảng 3% còn tỉ lệ mắc giảm khoảng 2% [36]. Bệnh lao có thể gặp ở mọi nơi trên thế
giới. Tuy nhiên tỉ lệ mắc thường cao hơn ở các nước đang phát triển như các nước ở
khu vực Nam Phi, châu Mĩ La Tinh… [27,30,34-35] và thấp hơn ở những nước phát
triển [33]. Năm 2017, châu Phi chiếm 72% tổng số ca mắc và tám nước: Ấn Độ (27%),
Trung Quốc (9%), Indonesia (8%), Philippin (6%), Pakistan (5%), Nigeria (4%),
Bangladesh (4%) và Nam Phi (3%) chiếm tới 66,7% tổng số người mắc lao trên toàn
cầu trong khi đó con số này ở các nước châu Âu và châu Mĩ là 6% [37].
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Năm 2017, Việt Nam xếp thứ 20 trên 30 quốc gia có gánh nặng về bệnh lao cao
trên thế giới, khoảng 10,9% dân số tức 105.773 người mắc bệnh lao (năm 2016 là
106.527 người), trong đó 87% là nam giới; 97,11% là lao nhiễm mới và tái phát
(102.725 ca), lao phổi chiếm khoảng 80%, lao kháng thuốc là 21,2% [37].
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH LAO
1.2.1. Nguyên nhân gây bệnh lao
Lao là một bệnh cổ, nghiên cứu về hóa thạch cho thấy nó đã ảnh hưởng đến con
người trong hàng ngàn năm [29]. Năm 1882, vi khuẩn lao được phát hiện bởi Robert
Koch [3-5,20,32].
Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteria, dài 2 – 4 µm, rộng 0,3 – 0,5 µm, không có
lông, hai đầu tròn, thân có hạt. Vi khuẩn lao kháng cồn, kháng acid, có thể tồn tại trong
điều kiện tự nhiên khoảng vài tháng. Vi khuẩn lao là vi khuẩn hiếu khí, môi trường
phát triển cần có đủ oxy, do đó vi khuẩn lao thường khu trú ở phổi [12].
1.2.2. Phân loại bệnh lao
Có nhiều cách phân loại bệnh lao [7,9,25]
- Theo v ị trí giải phẫu:

Lao phổi: Bệnh lao tổn thương ở phổi – phế quản, bao gồm cả lao kê. Trường hợp
tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi.
Lao ngoài phổi: Màng phổi, màng bụng, màng não, màng tim, hạch, da, xương,
khớp…
- Theo kết quả xét nghiệm nhuộm soi trực tiếp: Lao phổi AFB (+), lao phổi AFB
(-).
- Theo kết quả xét nghiệm vi khuẩn: Người bệnh lao có bằng chứng vi khuẩn học,
người bệnh lao không có bằng chứng vi khuẩn học.
- Theo tiền sử điều trị lao:
Lao mới: Người bệnh chưa từng dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng dưới 1
tháng.
Lao tái phát: Người bệnh đã điều trị lao và được bác sĩ xác định là khỏi bệnh, hay
hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với xét nghiệm AFB (+).
Lao thất bại điều trị: Người bệnh có AFB (+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải
chuyển phác đồ điều trị, người bệnh AFB (-) sau 2 tháng điều trị có AFB (+), người
bệnh lao ngoài phổi xuất hiện lao phổi AFB (+) sau 2 tháng điều trị, người bệnh trong
bất kỳ thời điểm điều trị nào với thuốc chống lao hàng 1 có kết quả xác định chủng vi
khuẩn lao đa kháng thuốc.
Điều trị lại sau bỏ trị: Người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng trở lên
trong quá trình điều trị.
1.2.3. Chẩn đoán bệnh lao
1.2.3.1. Chẩn đoán lao phổi
Lao phổi là thể lao hay gặp và chiếm đa số trong các thể lao, chẩn đoán lao phổi
dựa vào:
Triệu chứng lâm sàng:
Cơ năng: Bệnh nhân mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân, sốt nhẹ kéo dài về chiều, ra
mồ hôi trộm về đêm…

Ho kéo dài, có có thể ho khan, ho có đờm hoặc ho ra máu, kèm khó thở, đau tức
ngực…
Thực thể: Giai đoạn đầu, triệu chứng thường nghèo nàn, nghe phổi có thể thấy
tiếng bệnh lý (ran ẩm, ran nổ, tiếng thổi hang…) [9].
Triệu chứng cận lâm sàng: Có 3 xét nghiệm đặc hiệu là tìm AFB trực tiếp trong
đờm bằng phương pháp Zhiel-Neelsen hoặc xét nghiệm Xpert MTB/RIF hoặc nuôi cấy
tìm vi khuẩn lao. Ngoài ra có thể xét nghiệm máu hoặc làm phản ứng Mantoux (phản
ứng da với Tuberculin) [9-10].
Nhuộm soi đờm trực tiếp tìm AFB: tất cả những người có triệu chứng nghi lao
phải được xét nghiệm đờm phát hiện lao phổi. Để thuận lợi cho người bệnh có thể chẩn
đoán được trong ngày đến khám bệnh, xét nghiệm 2 mẫu đờm tại chỗ cần được áp
dụng thay cho xét nghiệm 3 mẫu đờm như trước đây. Mẫu đờm tại chỗ cần được
hướng dẫn cẩn thận để người bệnh lấy đúng cách, thời điểm lấy mẫu 1 và mẫu 2 phải
cách nhau ít nhất là 2 giờ.
Xét nghiệm Xpert MTB/RIF cho kết quả sau khoảng 2 giờ với độ nhạy và độ đặc
hiệu cao. Các trường hợp AFB (+) cần được làm xét nghiệm Xpert để biết tình trạng
kháng thuốc Rifampicin trước khi cho phác đồ thuốc chống lao hàng 1.
Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: nuôi cấy trên môi trường đặc cho kết quả dương tính
sau 3 – 4 tuần. Nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT – BACTEC) cho kết quả dương
tính sau 2 tuần.
X-quang phổi thường quy: hình ảnh trên phim X-quang gợi ý lao phổi tiến triển là
thâm nhiễm, nốt, hang, có thể thấy hình ảnh co kéo ở 1/2 trên của phế trường, có thể 1
bên hoặc 2 bên. Ở người có HIV, hình ảnh X-quang phổi ít thấy hình hang, hay gặp tổn
thương tổ chức kẽ và có thể ở vùng thấp của phổi [9].
Chẩn đoán xác định: Chẩn đoán xác định lao phổi khi có tổn thương trên X-quang
phổi nghi lao và một trong 2 tiêu chuẩn sau:

Có bằng chứng về sự có mặt của vi khuẩn lao trong bệnh phẩm lâm sàng như
đờm, dịch phế quản, dịch dạ dày và các bệnh phẩm khác.
Chẩn đoán phân biệt: Giãn phế quản, ung thư phổi, viêm phổi, áp xe phổi, bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh phổi ký sinh trùng. Ở người có HIV cần phân biệt với
viêm phổi, nhất là viêm phổi do Pneumocystis jiroveci hay còn gọi là Pneumocystis
carinii (PCP). Trong quá trình quản lý các bệnh mạn tính do phổi như hen, COPD,
bệnh phổi kẽ, bụi phổi,… cần lưu ý sàng lọc lao phổi phối hợp [9].
1.2.3.2. Chẩn đoán lao ngoài phổi
Lao ngoài phổi là thể lao khó chẩn đoán. Do vậy, để tiếp cận chẩn đoán, người
thầy thuốc trong quá trình thăm khám người bệnh phải hướng tới và tìm kiếm các dấu
hiệu của bệnh lao, phân biệt với các bệnh lý ngoài lao khác và chỉ định làm các kỹ
thuật, xét nghiệm để từ đó chẩn đoán xác định dựa trên:
- Các triệu chứng, dấu hiệu ở cơ quan ngoài phổi nghi bệnh.
-Luôn tìm kiếm xem có lao phổi phối hợp không, sàng lọc ngay bằng X-quang
phổi. Nếu có lao phổi sẽ là cơ sở quan trọng cho chẩn đoán lao ngoài phổi.
- Lấy bệnh phẩm từ các vị trí tổn thương để xét nghiệm:
+ Tìm vi khuẩn bằng kỹ thuật nhuộm soi trực tiếp, nuôi cấy, Xpert MTB/RIF (với
bệnh phẩm dịch não tủy, đờm, dịch phế quản, dịch dạ dày, dịch (mủ) các màng, mủ tổn
thương hạch, xương, tai, khớp,…).
+ Xét nghiệm mô bệnh, tế bào học xác định hình ảnh tổn thương lao.
- Chẩn đoán lao ngoài phổi đơn thuần không kết hợp với lao phổi thường khó
khăn, cần dựa vào triệu chứng nghi lao (sốt về chiều kéo dài, ra mồ hôi ban đêm, sút
cân); triệu chứng tại chỗ nơi cơ quan bị tổn thương, nguy cơ mắc lao.
- Mức độ chính xác của chẩn đoán phụ thuộc nhiều vào khả năng phát hiện của
các kỹ thuật hỗ trợ như: X-quang, siêu âm, sinh thiết, xét nghiệm vi khuẩn học.
1.3. ĐIỀU TRỊ BỆNH LAO
1.3.1. Phân loại thuốc chống lao

Thuốc chống lao hàng 1:
- Các thuốc chống lao thiết yếu (hàng 1) là: Isoniazid (H), Rifampicin (R),
Pyrazinamid (Z), Streptomycin (S) và Ethambutol (E). Ngoài ra, hiện nay, WHO đã
khuyến cáo bổ sung 2 loại thuốc chống lao hàng 1 là Rifabutin (Rfb) và Rifapentin
(Rpt).
- Thuốc chống lao hiện nay được bào chế dưới dạng đơn chất hoặc phối hợp của 2
hay 3 thuốc lao như H+R, H+R+Z sẽ hạn chế được số lượng thuốc 1 lần uống, tiện lợi
trong quản lý điều trị, tránh dùng đơn trị, không lạm dụng R để điều trị bệnh ngoài lao
và đảm bảo đúng liều [9,17].
Thuốc chống lao hàng 2:
Các thuốc chống lao hàng 2 có thể phân thành các nhóm như sau:
Thuốc chống lao hàng 2 loại tiêm: Kanamycin (Km), Amikacin (Am),
Capreomycin (Cm).
Thuốc chống lao hàng 2 uống: Ethionamid (Eto), Prothionamid (Pto), Cycloserin
(Cs), Terizidon (Trd), Para-aminosalicylic acid (PAS); Para-aminosalicylat natri (PAS-
Na).
Thuốc chống lao hàng 2 thuộc nhóm Fluoroquinolon: Levofloxacin (Lfx),
Moxifloxacin (Mfx), Gatifloxacin (Gfx), Ciprofloxacin (Cfx), Ofloxacin (Ofx).
Thuốc chống lao hàng 2 thuộc nhóm 5 bao gồm: Bedaquilin (Bdq), Dekamanid
(Dlm), Meropenem (Mpm), Amoxicillin/Clavulanat (Amx/Clv), Clofazimin (Cfz),
Linezolid (Lzd), Thioacetazon (T), Clarithromycin (Clr) [17].
1.3.2. Các thuốc chống lao chủ yếu
1.3.2.1. Isoniazid (INH)
Dược lý và cơ chế tác dụng
Isoniazid là thuốc chống lao được lựa chọn hàng đầu, vừa có tác dụng diệt khuẩn
vừa có tác dụng kìm khuẩn. Thuốc có tính đặc hiệu cao, có tác dụng chống lại
Mycobacterium tuberculosis và một số Mycobacterium không điển hình khác như M.

bovis, M. kansasii. Tác dụng diệt khuẩn của isoniazid phụ thuộc vào nồng độ thuốc ở
vị trí tổn thương và mức độ nhạy cảm của vi khuẩn. Nồng độ tối thiểu kìm vi khuẩn lao
là 0,02 – 0,2 μg/ml. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn với các mycobacteria phân chia
nhanh nhưng chỉ có tác dụng kìm hãm các khuẩn đang không phân chia.
Cơ chế tác dụng chính xác của isoniazid vẫn chưa biết, nhưng có thể do thuốc ức
chế tổng hợp acid mycolic là thành phần quan trọng của thành tế bào Vi khuẩn nhạy
cảm, dẫn đến phá vỡ thành tế bào vi khuẩn lao.
Tác dụng không mong muốn (ADR)
Thực tế lâm sàng cho thấy ADR chiếm khoảng 5% tổng số người bệnh điều trị
INH. ADR thường gặp nhất là rối loạn chức năng gan và nguy cơ này tăng lên theo
tuổi người bệnh. Ngoài ra, các ADR như phản ứng mẫn cảm và viêm thần kinh ngoại
vi cũng thường xảy ra [8].
1.3.2.2. Rifampicin
Dược lý và cơ chế tác dụng
Rifampicin (RMP) là một kháng sinh bán tổng hợp dẫn xuất từ rifamycin B.
Rifampicin có hoạt tính với các vi khuẩn thuộc chủng Mycobacterium, đặc biệt là
M. tuberculosis, M. laprae và một số Mycobacterium khác như M. bovis, M. avium.
Rifampicin ức chế được sự phát triển của vi khuẩn lao ở nồng độ
0,005 – 0,2 µg/ml. Rifampicin làm tăng hoạt tính in vitro của streptomycin và
isoniazid nhưng không làm tăng hoạt tính của ethambutol, đối với M. tuberculosis.
Rifampicin có tác dụng diệt khuẩn ở vi khuẩn đang tích cực nhân lên cũng như ở pha
nghỉ.
1.3.3. Nguyên tắc điều trị bệnh lao
- Phải phối hợp các thuốc:
Mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn,
kìm khuẩn, môi trường vi khuẩn), vì vậy phải phối hợp các thuốc chống lao. Phối hợp

ít nhất 3 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn
duy trì.
Với lao đa kháng: phải phối hợp ít nhất 4 loại thuốc chống lao hàng 2 có hiệu lực
trong giai đoạn tấn công và duy trì [9,10].
- Phải dùng thuốc đúng liều:
Các thuốc chống lao có tác dụng hiệp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng
nhất định. Nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng
thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây tai biến [9].
1.3.4. Các phác đồ điều trị lao vi khuẩn nhạy cảm với thuốc
1.3.4.1. Các phác đồ điều trị lao vi khuẩn nhạy cảm với thuốc theo hướng
dẫn của CTCLQG năm 2015 [7] bao gồm:
- Phác đồ IA: 2RHZE(S)/4RHE
Chỉ định: Cho các trường hợp bệnh lao mới người lớn (chưa điều trị lao bao giờ
hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng). Điều trị lao màng tim có thể sử dụng
corticosteroid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên [7,24].
- Phác đồ IB: 2RHZE/4RH
Chỉ định: Cho các trường hợp bệnh lao mới trẻ em (chưa điều trị lao bao giờ hoặc
đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng). Điều trị lao màng tim có thể sử dụng
corticosteroid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên [7,24].
1.3.4.2. Các phác đồ điều trị lao vi khuẩn nhạy cảm với thuốc cập nhật theo
hướng dẫn của CTCLQG năm 2018 [9] bao gồm:
- Phác đồ A1: 2RHZE/4RHE
Chỉ định: Cho các trường hợp bệnh lao người lớn không có bằng chứng kháng
thuốc.
- Phác đồ A2: 2RHZE/4RH
Chỉ định: Cho các trường hợp bệnh lao trẻ em không có bằng chứng kháng thuốc.
1.3.5. Liều lượng thuốc

Liều dùng các thuốc chống lao được tính theo mg/kg cân nặng, dùng hàng ngày
cho người lớn và trẻ em được khuyến cáo trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, điều trị
và dự phòng bệnh lao – CTCLQG [7,9].
Bảng 1.1. Liều lượng các thuốc chống lao theo cân nặng
!"
#
!"
#
$%&'( )*+,-&.// 0/0/+0)-&.//
12&3 0/4+05 0)0/+5/
6&'&( 5)5/+./ .)./+*/
7&8 0)0)+5/ 5/0)+5)
93 0)05+04
(*) Trẻ em có cân nặng ≥ 25kg dùng thuốc theo thang cân nặng của người lớn
Số lượng viên, lọ thuốc đơn lẻ dùng hàng ngày cho người lớn theo cân nặng dùng
trong giai đoạn tấn công hàng ngày, giai đoạn duy trì hàng ngày và giai đọa duy trì –
tuần 3 lần được khuyến cáo trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng
bệnh lao – Chương trình phòng chống lao quốc gia [7,9].
Bảng 1.2. Số lượng viên, lọ thuốc đơn lẻ dùng hàng ngày cho người lớn theo cân
nặng
:"#;&8<
5)+.= */+)* ))+>/ ?>/
@& - A B
9CD#E
0//CD 5 . . .
10)/CD 5 . * )
F*//CD 5 . * )
7*//CD 5 5 . *
90E /G) /G>) 0 0
@&-(H
0//CD 5 . . .
10)/CD 5 . * )
7*//CD 5 5 . *
@&-(HI.I
0//CD 0 5 5 .

10)/CD 5 . * )
7*//CD 5 * , ,
Số viên hỗn hợp liều cố định dùng hàng ngày cho người lớn theo cân nặng dùng
trong giai đoạn tấn công hàng ngày, giai đoạn duy trì hàng ngày và giai đọa duy trì –
tuần 3 lần được khuyến cáo trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng
bệnh lao – Chương trình phòng chống lao quốc gia [7,9].
1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG THUỐC VÀ SỰ THAY
ĐỔI CÁC CHỈ SỐ SINH HÓA TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ BẰNG
THUỐC CHỐNG LAO
1.4.1. Nghiên cứu về sử dụng thuốc trong điều trị bệnh lao
Ở Việt Nam hiện dã có một số nghiên cứu về sử dụng thuốc trong điều trị bệnh
lao.
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà (2010) về sử dụng thuốc trên 105 bệnh nhân lao
phổi mới thấy: tỉ lệ lao phổi AFB (+) chiếm 57,14%, có 100% bệnh nhân được sử dụng
5 thuốc chống lao S, H, R, Z, E [12].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Liên (2010), nghiên cứu 30 bệnh nhân lao
phổi mới AFB (+) tại bệnh viện 19-8 cho kết quả: Tất cả các bệnh nhân đều được điều
trị theo phác đồ 2SRHZ/6HE, việc sử dụng thuốc tuân theo nguyên tắc điều trị. Liều
trung bình sử dụng thuốc thực tế của các thuốc chống lao đều trong giới hạn liều
khuyến cáo. Tỉ lệ bệnh nhân có liều dưới giới hạn của liều khuyến cáo cao nhất là
6,67%, có liều trên giới hạn của liều khuyến cáo cao nhất là 33,33% so với tổng số
bệnh nhân dùng thuốc nhưng sự chênh lệch so với liều khuyến cáo là không đáng kể
[13].
Nghiên cứu của Hoàng Thị Toán (2013) trên 103 bệnh nhân lao phổi mới tại
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên, thấy 100% bệnh nhân sử dụng 5 loại thuốc
lao S, R, H, Z, E; 100% bệnh nhân sử dụng phác đồ I để điều trị 2S(E)RH/6HE. Liều
dùng thuốc lao cho bệnh nhân đa số ở trong khoảng liều khuyến cáo (> 95%) [22].

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quốc Bảo (2015), phân tích tình hình sử dụng thuốc
điều trị lao tại bệnh viện Trung ương Huế thấy: Phác đồ I được sử dụng nhiều nhất
84,85%, có sự thay đổi trong áp dụng phác đồ điều trị từ 8 tháng 2S(E)RH/6HE
(40,3%) sang phác đồ 6 tháng 2RHZE/4RH (40,55%). Các thuốc R, H, Z được sử dụng
với tỉ lệ cao, lần lượt là 98,48%; 97,27%; 98,18%. S và E dược sử dụng với tỉ lệ thấp
hơn 53,64% và 65,45%. Viên hỗn hợp RHZ 625 mg với tên biệt dược Tuberzid được
sử dụng nhiều nhất (46,06%). Việc sử dụng thuốc chống lao tuân thủ các nguyên tắc
điều trị [1].
Nghiên cứu của Vũ Thị Lương (2017) tại Đồng Văn, Hà Giang cho thấy: Phác đồ
6 tháng 2RHZE(S)/4RH được áp dụng nhiều nhất (64,90%), có 25,53% bệnh nhân vẫn
được chỉ định phác đồ 2RHZE(S)/6HE theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2009. Thuốc
E được sử dụng với tỉ lệ 100%, H là 25,53%. Viên hỗn hợp RH được sử dụng với hàm
lượng cố định khác nhau [14].
1.4.2. Một số nghiên cứu về sự thay đổi các chỉ số sinh hóa trên bệnh nhân
điều trị bằng thuốc chống lao
Theo số liệu tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2015, tỉ lệ thuốc điều trị lao là
11,4% (sau nhóm kháng sinh) trong số các báo cáo ADR gửi đến trung tâm DI & ADR
Quốc gia [23]. Độc tính trên gan, thận là một trong những vấn đề khá được quan tâm.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (1997) về ảnh hưởng của thuốc chống lao tới
gan, thận ở cả 2 phác đồ có và không có R thấy chức năng thận không có biến đổi gì
lớn, hệ số thanh thải creatinin có xu hướng giảm nhưng vẫn ở trong giới hạn bình
thường. Các enzym gan có tăng cao trong 2 tháng đầu và về bình thường ở cuối tháng
thứ 2 [11].
Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Phương (1999) về hiệu quả của 2 phác đồ
2SHRZ/6HE và 2EHRZ/6HE ở giai đoạn tấn công cho thấy: Sau 1 tháng điều trị, tăng
transaminase gặp ở 6,7% bệnh nhân dùng phác đồ SRHZ và 10% bệnh nhân dùng phác
đồ ERHZ. Sau 2 tháng điều trị, tỉ lệ này là 3,3% và 6,7% [19].

Trần Văn Thắng (1999) nghiên cứu khả năng âm hóa AFB trong đờm và ảnh
hưởng đến transaminase ở bệnh nhân lao phổi mới điều trị bằng thuốc chống lao của Xí
nghiệp Dược phẩm Trung ương II trong giai đoạn tấn công thấy transaminase, bilirubin
ở các bệnh nhân dùng thuốc chống lao đều tăng cao có ý nghĩa sau tháng đầu điều trị
và trở lại bình thường sau 2 tháng. Không có bệnh nhân nào biểu hiện viêm gan trên
lâm sàng [21].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (2016) khảo sát trên 833 bệnh án của bệnh nhân
HIV sử dụng phác đồ dự phòng lao bằng INH tại phòng khám ngoại trú điều trị
HIV/AISD bệnh viện Bạch Mai: tỉ lệ bệnh nhân xuất hiện độc tính trên gan khá cao
(3,5%), độc tính trên gan thường xuất hiện 3 tháng đầu điều trị [16].
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên 68 bệnh nhân lao phổi điều trị nội trú tại Bệnh
viện K74 Trung ương, Bệnh viện Phổi Hà Nội và Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng
3 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018, đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn:
- Lao phổi người lớn
- Chấp thuận tham gia nghiên cứu
- Xác định có bằng chứng vi khuẩn lao: AFB dương tính hoặc MGIT BACTEC
dương tính
- Xác định không kháng RMP bằng Gen Xpert MTB+/RIF-
- Điều trị bằng thuốc chống lao hàng 1
- Chỉ số sinh hóa (AST, ALT, Ure, Creatinin) trước điều trị trong giới hạn bình
thường.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này nằm trong một nghiên cứu lớn thuộc đề tài nghiên cứu cấp nhà
nước HNQT/SPĐP/01.16.
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả tiến cứu so sánh trước và sau 8 tuần điều trị lao tại 3
bệnh viện.
(Các dữ liệu của nghiên cứu này được thu thập từ phiếu lâm sàng và kết quả xét
nghiệm sinh hóa của nghiên cứu lớn).
2.2.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu
Các thông tin về tình hình sử dụng thuốc và các chỉ số sinh hóa của bệnh nhân
trong 8 tuần đầu điều trị được thu thập chi tiết trong Phụ lục 1.
Các dữ liệu được đánh giá theo các nội dung sau:
2.2.2.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
- Phân bố theo nhóm tuổi người bệnh
- Phân bố theo giới người bệnh
- Phân bố theo cân nặng người bệnh
- Đặc điểm các bệnh mắc kèm
- Đặc điểm thể lao: lao phổi mới hay tái trị
- Kết quả xét nghiệm sinh hóa (AST, ALT, Ure, Creatinin) trước điều trị
2.2.2.2. Tình hình sử dụng thuốc lao
- Phác đồ điều trị
- Các thuốc lao đã sử dụng
- Liều dùng của thuốc lao trong thực tế điều trị
- Tỉ lệ các thuốc chống lao dùng ngoài khoảng khuyến cáo theo hướng dẫn của
CTCLQG
2.2.2.3. Sự thay đổi các chỉ số sinh hóa
- Các chỉ số sinh hóa theo dõi bao gồm AST, ALT, Ure, Creatinin máu.
- Đánh giá kết quả theo chỉ số bình thường của labo
Bảng 2.1 . Chỉ số sinh hóa bình thường của labo

:J%%K& :J%8H;&&8
LM6NOP LM>*QR LM6NQR
S9Q T)/U! T.>U! T.>U!
SQ T)/U! T*/U! T*0U!
U 5G4+>G5! 5G)+>G)! 0G>+4G.!
:&V >5+05>W! O&X,5Y05/
OZX).+0//
,5+05/W!
- Đánh giá mức độ tăng transaminase và creatinin theo khuyến cáo của CTCLQG
[7,9]
Bảng 2.2. Mức độ thay đổi chỉ số sinh hóa theo khuyến cáo của CTCLQG
:J% [\]%CJ%DI
[\/
LH
[\0
O^
[\5
Q
8H
[\.
OD
E
[\*
_(E&
S9Q T0G5) 0G5)+5G) ?5G)+)G/ ?)G/+0/G/ `0/G/
SQ T0G5) 0G5)+5G) ?5G)+)G/ ?)G/+0/G/ `0/G/
:&V T0G/ ?0G/+0G) ?0G)+.G/ ?.G/+,G/ ?,G/
- Trị số clearance creatinin được tính theo công thức Cockcroft-Gault
Các số liệu được xử lý bằng toán thống kê y học, sử dụng chương trình M. Excel
6.0 và R 3.3.3.
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu được thể hiện trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Độ tuổi trung bình của mẫu khảo sát là 42,44 ± 16,58 tuổi, nhóm tuổi trong độ
tuổi lao động từ 20 - 60 chiếm tỉ lệ 77,94%.
Số bệnh nhân nam là 41 chiếm 60,29%, cao gấp 1,52 lần nữ.
Cân nặng trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 49,75 ± 8,42 kg.
Không bệnh nhân nào có cân nặng dưới 25kg.
3.1.2. Phân bố bệnh nhân theo bệnh phối hợp
Tỉ lệ bệnh nhân phân theo bệnh phối hợp được thể hiện trong Bảng 3.2.
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo bệnh phối hợp
L<33 98<"
Oa,4
Qb<c
dBe8< *. ,.G5*
:8<ef gh& / /
9i / /
j( ) >G.)
L<-P 5 5G=*
_- * )G44
L<V . *G.)
L<BA3 0 0G*>
L<(k\ 5 5G=*
L<3 5 5G=*
MD&L!MD&: 0 0G*>
dBlBV > 0/G5=

Trong nghiên cứu, tỉ lệ bệnh nhân điều trị lao mắc bệnh kèm theo là 36,76%;
trong đó bệnh dạ dày chiếm tỉ lệ cao nhất (7,35%), chưa phát hiện bệnh nhân có tiền sử
suy thận, xơ gan.
3.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG LAO
3.2.1. Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị cụ thể theo thể lao của 68 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (bao
gồm lao tái phát, thất bại) được thể hiện trong Bảng 3.3.
Bảng 3.3. Các phác đồ điều trị lao
Qm& 6-n-k 9LO Qb<c
&3N 51F7!*1F7 *4 >/G)=
&3Nk 591F7!01F7!)17 5/ 5=G*0
QN% ,4 0//c
Tỉ lệ phác đồ 2RHZE/4RHZE và phác đồ 2RHZE/1RHZE/5RHE phù hợp với tỉ
lệ bệnh nhân trong mỗi thể lao phổi.
3.2.2. Các loại thuốc chống lao sử dụng cho bệnh nhân trong nghiên cứu
Trong 8 tuần đầu điều trị, tỉ lệ các thuốc chống lao sử dụng cho bệnh nhân trong
nghiên cứu được trình bày chi tiết trong Bảng 3.4.
Bảng 3.4. Các dạng thuốc và hàm lượng thuốc chống lao được sử dụng
QD
j
98<"
Oa,4
QJ<
c
Q8'(
MDop3
>)
10)/
F*//
), 45G.)
Q8
MDop3
0//
10)/
05 0>G,)
6&'&(
MDo
)// 0/ 0*G>0
7&8MDo *// ,4 0//
93E8P3&
VD
0/// 5/ 5=G*0
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.