Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội hiện nay | Bài kiểm tra giữa kỳ Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

Báo truyền hình ra đời trên cơ sở phát triển của khoa học- kĩ thuật, nhằm đáp ứng  nhu cầu thông tin của con người. Cùng với báo phát thanh, báo mạng điện tử, báo  in, báo ảnh, truyền hình là phương tiện cực kì quan trọng và không thể thiếu trong  truyền thông đại chúng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
19 trang 1 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội hiện nay | Bài kiểm tra giữa kỳ Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

Báo truyền hình ra đời trên cơ sở phát triển của khoa học- kĩ thuật, nhằm đáp ứng  nhu cầu thông tin của con người. Cùng với báo phát thanh, báo mạng điện tử, báo  in, báo ảnh, truyền hình là phương tiện cực kì quan trọng và không thể thiếu trong  truyền thông đại chúng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

77 39 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
----------
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn
Họ và tên sinh viên: Trần Diệu Thanh Vân
Mã sinh viên: 2255360045
Lớp tín chỉ: TC4.K42
Hà Nội, 2023
Đề tài nghiên cứu của nhóm em là “ Nhu cầu sử dụng các sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội hiện nay”
Phần I: Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
- Báo truyền hình ra đời trên cơ sở phát triển của khoa học- kĩ thuật, nhằm đáp
ứng nhu cầu thông tin của con người. Cùng với báo phát thanh, báo mạng
điện tử, báo in, báo ảnh, truyền hình là phương tiện cực kì quan trọng và
không thể thiếu trong truyền thông đại chúng.
- Hiện tại, truyền hình vẫn đang phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số
lượng. Sóng truyền hình được phủ sóng trên đại bộ phận của đất nước, từ
vùng hẻo lánh đến huyện đảo xa xôi. So với ngày đầu phát triển, số lượng
người sử dụng truyền hình đã gia tăng mạnh mẽ.
- Đây là công cụ vô cùng quan trọng trong đời sống hiện đại, chủ yếu phục vụ
nhu cầu tinh thần cho người dân. Bên cạnh đài truyền hình quốc gia, các đài
truyền hình địa phương cũng có nhiều hoạt động để duy trì và phát triển,
mang đậm màu sắc của từng vùng miền.
- Truyền hình đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhờ có
truyền hình, đời sống tinh thần của người dân mới trở nên phong phú và đa
dạng hơn. Kể từ khi mới xuất hiện, truyền hình luôn là loại hình báo chí hấp
dẫn công chúng, chứng tỏ được những ưu thế vượt trội của mình so với
nhiều loại hình báo chí khác. Đây cũng chính là phương tiện đắc lực để
tuyên truyền đường lối, chính sách, con đường phát triển của bộ máy chính
trị. Và đó cũng chính là điều mà mọi người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay
quan tâm và chú ý.
- Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, khi truyền thông phát triển mạnh mẽ,
internet được phổ biến rộng khắp đã làm thay đổi thói quen xem truyền hình
của bộ phận công chúng. Mạng Internet xuất hiện với sự bùng nổ của mạng
xã hội và báo mạng điện tử với ưu thế tiện lợi hơn đã làm sụt giảm đáng kể
khán giả xem truyền hình. Đặc biệt là sinh viên, một bộ phận công chúng
nhạy bén, trẻ trung ngày nay đang dần mất đi thói quen xem truyền hình, họ
dành ít thời gian để xem các sản phẩm truyền hình. Mà thay vào đó, họ sử
dụng Internet như một phương tiện chính để cập nhật thông tin, “hờ hững”
với truyền hình. Và vấn đề được đặt ra ở đây là truyền hình sẽ mất đi một
lượng khán giả lớn, đặc biệt là giới trẻ khi nhóm công chúng này đang dần
phụ thuộc vào mạng xã hội làm phương tiện chính để cập nhật thông tin và
tin tức.
- Trong xu thế phát triển công nghệ thông tin- truyền thông, các loại hình báo
chí- truyền thông đang có sự thay đổi nhanh chóng. Điều này đặt ra vấn đề
truyền hình cần phải liên tục đổi mới nội dung, chất lượng, bắt kịp với xu
thế thời đại, đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng, đặc biệt là giới trẻ- sinh
viên nhằm tăng cường tác động của báo chí nói chung và truyền hình nói
riêng đến bộ phận công chúng này.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu về nhu cầu tiếp cận các sản phẩm truyền hình là
việc làm cần thiết, có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn. Vì vậy, nhóm
chúng em quyết định chọn đề tài “Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền
hình của sinh viên Hà Nội hiện nay” để tìm hiểu về thói quen, nhu cầu sử
dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên, từ đó đưa ra một số giải
pháp phù hợp cho sự phát triển của truyền hình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ,
các sản phẩm báo chí, đặc biệt là báo truyền hình là một trong những
phương tiện thúc đẩy sự phát triển của văn hóa nhân loại. Nghiên cứu về
thực trạng nhu cầu, thói quen sử dụng truyền hình của công chúng là đề tài
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trên thế giới, những nghiên cứu này
đã được thực hiện từ thế kỷ 20.
- Ngày 2/11/1936, đánh dấu ngày khởi đầu của truyền hình thế giới khi đài
BBC phát đi sóng truyền hình đầu tiên tử cung điện Alexandra Palace
Victoria Ở phía Bắc Luân Đôn, lúc đó chỉ có khoảng 500 chiếc tivi được bắt
sóng của chương trình này. Đầu những năm 50-60, Ở anh và Pháp đã bắt đầu
nghiên cứu khán giả truyền hình. Người ta đã sản xuất được những thiết bị
hiện đại gắn vào các tivi để đo lường hành vi của người dùng. Có thể kể đến
khuynh hướng trong nghiên cứu công chúng xem truyền hình của Mỹ là
“khảo sát về sử dụng và thỏa mãn”. Khuynh hướng này phân tích thói quen
sử dụng truyền hình của khán giả, tìm hiểu phản ứng của công chúng với
từng loại sản phẩm truyền hình và sự khác biệt trong thái độ của từng nhóm
công chúng.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu sử dụng truyền hình
của công chúng.
- Năm 1998, luận án tiến sĩ xã hội của Trần Hữu Quang “Truyền thông đại
chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu
công chúng truyền thông, phân tích tương quan sử dụng giữa báo in, phát
thanh và truyền hình ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Năm 1999, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội, Ban Tư Tưởng - Văn hóa
Trung ương đã tiến hành cuộc điều tra “Về định hướng xem truyền hình ở
Việt Nam” tại 24 tỉnh thành với 3475 phiếu điều tra cá nhân. Trung tâm đã
tìm hiểu hành vi xem truyền hình của công chúng nhằm phục vụ trực tiếp
một số yêu cầu cải tiến chất lượng nội dung và kỹ thuật của đài truyền hình
Việt Nam.
- Đến năm 2002, trung tâm lại tiếp tục thực hiện cuộc điều tra “Thăm dò dư
luận khán giả đài truyền hình Việt Nam”, củng cố thêm các số liệu về nhu
cầu thói quen xem truyền hình của các nhóm công chúng, đánh giá ưu,
nhược điểm và nêu ra một số đề xuất với lại truyền hình Việt Nam.
- Năm 2001, “Nghiên cứu khán giả truyền hình Việt Nam” đã được thực
hiệnbởi Trung tâm đào tạo Phát thanh - Truyền hình (Đài truyền hình Việt
Nam). Nghiên cứu diễn ra tại 5 tỉnh với 2004 phiếu. Đề tài nghiên cứu mức
độ xem truyền hình của khán giả theo các nhóm giới tính, lứa tuổi, nghề
nghiệp,... đối vốicác chương trình truyền hình.
- Ta có thể kể đến (2005) do Đỗ Nam Liên “Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ”
chủ biên, đã nghiên cứu khá toàn diện về các hoạt động nghe nhìn, đánh giá
mức độ sử dụng, mong muốn của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh đối với
nghe nhìn nói chung và truyền hình nói riêng, từ đó đề ra những hướng phát
triển của truyền hình.
- Năm 2005, Phạm Hương Trà đã thực hiện Luận án Thạc sĩ Xã hội học với đề
tài “Nhu cầu xem truyền hình của thanh niên Hà Nội”, nghiên cứu sâu về
nhu cầu xem truyền hình, mức độ quan tâm của thanh niên Hà Nội dành cho
các kênh truyền hình.
- Năm 2011, luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng “Các chương trình giái
trí truyền hình với việc đáp ứng nhu cầu và sở thích giới trẻ hiện nay” (Khảo
sát kênh VTV3) của tác giả Đỗ Ngọc Sơn (Học viện Báo chí và Tuyên
truyền). Trên cơ sở xây dựng những luận điểm lý luận và nghiên cứu khảo
sát thực tiễn cácchương trình giải trí trên kênh VTV3, luận văn đã đề xuất
các giải pháp, hướng đi của việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích
của giới tré.
- Năm 2015, tác giả Phạm Thị Tố Như (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã
thực hiện luận văn Thạc sĩ Báo chí học với để tài “Truyền hình thành phố
Cần Thơ và công chúng thành phố Cần Thơ”. Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ
cơ sở lý luận về công chúng, công chúng truyền hình, luận văn phân tích
hoạt động giao tiếp đại chúng giữa truyền hình và công chúng ở thành phố
Cần Thơ, từ đó đề xuấtnhững giải pháp để truyền hình thành phố Cần Thơ
ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của khán giả, phục vụ yêu cầu
phát triển của đơn vị trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
- Trong nhóm sách và giáo trình nghiên cứu về các chương trình truyền hình,
có một số tài liệu như: “Tác phẩm báo chí truyền hình” của Khoa phát thanh
Truyền hình (Học viện báo chí và tuyên truyền), “Tin truyền hình” của tác
giả Đinh Thị Xuân Hòa, “Sản xuất chương trình truyền hình “ của tác giả
Trần Bảo Khánh, “Giáo trình báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân
Sơn,... Đây là những tài liệu cung cấp kiến thức nên tảng về truyền hình,
cách thức tổ chức sản xuất, sáng tạo nhằm mang lại các sản phẩm truyền
hình tốt nhất.
- Có thể nói, các tài liệu, công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần không
nhỏ vào vấn đề nghiên cứu lĩnh vực báo chí truyền hình ở nước ta. Các công
trình có tính ứng dụng cao, qua nhiều năm nghiên cứu, chắt lọc để hoàn
thiện đã đem lại cơ sở lí luận – thực tiễn cho những nghiên cứu này.
3. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội
hiện nay.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích khái niệm, thực trạng, nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của
sinh viên Hà Nội.
- Đề tài nghiên cứu nhằm tiếp cận xu hướng, thói quen sử dụng, tìm hiểu sự
tiếp nhận, đánh giá, những mong đợi của sinh viên Hà Nội đối với sản
phẩm truyền hình.
- Đề ra giải pháp để thay đổi, nâng cao chất lượng chương trình, phù hợp với
nhu cầu giới trẻ nói chung và sinh viên Hà Nội nói riêng.
- Đánh giá, nhận định phù hợp để khuyến khích, nâng cao khả năng tiếp cận
các sản phẩm truyền hình của sinh viên, góp phần định hướng tư tưởng, văn
hóa cho giới trẻ.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nghiên cứu xu hướng, sở thích, hình thức thu hút, mức độ nhu cầu, thói
quen, tần suất, không gian, thời gian sử dụng, mức độ tương tác với các sản
phẩm truyền hình, phương thức tiếp cận truyền hình của sinh viên Hà Nội.
- Nghiên cứu sự đánh giá của nhóm công chúng đối với chất lượng nội dung
của các chương trình truyền hình.
- Nghiên cứu mong muốn, đóng góp ý kiến của công chúng đối với sản phẩm
truyền hình.
- Chỉ ra những vấn đề còn tồn tại ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng. Phân tích
tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến các sản phẩm truyền hình kém thu hút,
chưa đáp ứng nhu cầu khán giả trẻ.
- Đưa ra một số giải pháp khắc phục để nâng cao khả năng ảnh hưởng của
truyền hình đến sinh viên, định chiếu chiến lược phát triển của truyền hình
Việt Nam.
- Dự báo khả năng biến đổi của các yếu tố tác động đến nhu cầu và xu hướng
xem truyền hình.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu:
Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình.
- Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên các trường đại học trong địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu trong địa bàn thành phố Hà Nội, nơi tập trung nhiều trường đại học
với lực lượng sinh viên đông đảo. Ta có thể tiến hành nghiên cứu ở một số trường
đại học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học
Thương mại, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế
Quốc dân,... và rất nhiều trường đại học trong địa bàn thành phố.
+ Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của
sinh viên Hà Nội 2 năm trở lại đây, tức từ năm 2021-2023.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1:
Các chương trình có nội dung giáo dục, truyền tải thông tin, kiến thức, thời sự hiện
nay chưa được sinh viên quan tâm nhiều đến mà thay vào đó là các sản phẩm
truyền hình mang tính giải trí
- Giả thuyết 2:
Trong thời đại số, các sản phẩm truyền hình chưa có nhiều sự cải tiến để bắt kịp
với thị hiếu của một bộ phận khán giả trẻ mặc dù sản xuất nhiều nội dung phong
phú, đa dạng, sáng tạo
- Giả thuyết 3:
Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của đối tượng là sinh viên ngày
càng ít trong khi sự phát triển của Internet bùng nổ mạnh mẽ, các nền tảng mạng
xã hội mới ra đời như TikTok, Locket, Snapchat, YouTube,... với nhiều tính năng
thu hút, đáp ứng nhu cầu người dùng
- Giả thuyết 4:
Trong tương lai, truyền hình sẽ có những bước nhảy vọt đáng kể, cải tiến để bắt kịp
với công nghệ số; nội dung cập nhật xu hướng, gần gũi với đối tượng công chúng
trẻ. Từ đó, sự quan tâm, hứng thú của các bạn sinh viên với sản phẩm truyền hình
sẽ tăng lên
- Giả thuyết 5:
Thông qua truyền hình, người xem có thể tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng với những
nguồn thông tin có tính xác thực cao, chính thống, bổ ích, sáng tạo,... Nói cách
khác truyền hình có thể được xem là công cụ truyền tải thông tin hữu ích, có hiệu
quả nhất
6 .Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học.
1. Phương pháp luận.
- Tìm hiểu mô hình truyền thông hiện nay đã gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu
sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên.
- Tìm hiểu cơ chế vận hành của các sản phẩm truyền hình.
- Tìm hiểu xu hướng đám đông, cộng đồng, để mở rộng hệ quy chiếu của
công trình ngiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp thu thập, thống kê tài liệu:
- Thu thập các tài liệu, diễn biến, tin bài, tổng hợp các khái niệm, định nghĩa
vấn đề “Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên ở Hà Nội”
thông qua các công trình nghiên cứu khoa học khác, bài báo điện tử, tư liệu,
quan điểm các nhân liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng các số liệu thông kê từ các khảo sát có được trong quá trình thu
thập để hệ thóng, khái quát hóa, từ đó rút ra được những mặt hạn chế.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nhu cầu sử dụng của các sản
phẩm truyền hình trên các đầu báo trọng yếu, các ý kiến của những người có
chuyên môn,... để làm cơ sở lí luận để phân tích và đánh giá.
+ Bài nghiên cứu còn tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học khác, sách
báo, trang thông tin điện tử... Phân tích các khảo sát, thống kê, cũng như ý kiến của
các chuyên gia để củng cố tính khách quan cho luận điển dưa ra.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh:
+Phân tích các tài liệu, ấn phẩm, sản phẩm thông tin xung quanh vấn đề
nghiên cứu từ đó nhận xét và đưa ra giải phap cần thiết góp phần đạt hiệu quả
mạnh mẽ nhất.
- Phương pháp điều tra:
+ Lập hệ thống các câu hỏi nhất định liên quan đến vấn đề nghiên cứu để
trực tiếp khảo sát và phỏng vấn các sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội, trên
cở sở đó rút ra những nhận xét, phân tích và đánh giá thực tế nhất vấn đề nghiên
cứu.
- Tuy vậy, có nhiều các phương pháp nghiên cứu khác được dùng đan xen để
bổ trợ lẫn nhau tốt hơn trong việc truyền tải nội dung của bài nghiên cứu.
7. Điểm mới của đề tài
- Tính mục đích: Đề tài nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng sản
phẩm truyền hình, phương thức tiếp cận, xu hướng, thói quen sử dụng, sự
tiếp nhận, đánh giá, những mong đợi của sinh viên, sử dụng sản phẩm truyền
hình của sinh viên Hà Nội hiện nay.
- Tính thực tiễn: Đề tài tiến hành nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển,
nắm bắt xu thế, làm chủ công nghệ truyền hình thời 4.0, chỉ ra những yếu tố
kém thu hút ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình thông
qua phân tích, tổng hợp, khảo sát nguyên nhân của sinh viên Hà Nội.
- Tính khoa học: Đề tài trình bày cơ sở lý luận, pháp lý, cơ sở thực tiễn làm
chỗ dựa cho việc định hướng vấn đề nêu ra trong đề tài. Đề tài hệ thống hoá
các vấn đề, làm rõ các khái niệm, thực trạng nhu cầu sử dụng sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội.
- Khả năng vận dụng: Đề tài định hướng, khuyến nghị phù hợp và khả thi,
tăng cường nhu cầu xem truyền hình, hướng tới xu hướng xã hội hóa truyền
hình của sinh viên Hà Nội nói riêng và giới trẻ nói chung.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận:
- Những kết quả đạt được của đề tài có thể hoàn thiện, bổ sung các lý luận báo
chí, các nghiên cứu thực tiễn truyền hình
Ý nghĩa thực tiễn:
- Từ nội dung đề tài, các đánh giá về nhu cầu tiếp cận sản phẩm truyền hình,
đưa đến các biện pháp gia tăng nhu cầu xem truyền hình với khán giả trẻ,
đặc biệt là các bạn sinh viên.
- Đồng thời đề tài cũng là đóng góp với các nhà sản xuất tạo ra các sản phẩm
chương trình truyền hình chất lượng, giải quyết các tồn tại, yếu điểm
- Đề tài góp phần tăng nhận thức của các bạn sinh viên với sản phẩm truyền
hình, cung cấp các tài liệu tham khảo về nhu cầu xem truyền hình của bộ
phận khán giả trẻ hiện nay
Phần II: Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Một số khái niệm liên quan
- Truyền hình: là vô tuyến truyền hình, máy thu hình, máy phát hình, hay
vô tuyến là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín
hiệu vô tuyến hoặc hữu tuyến để chuyển thành hình ảnh và âm thanh.
- Tiếp cận: Miêu tả mức độ của một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ hoặc môi trường có
thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt. Sự tiếp cận có thể được xem như
khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất.
1.2. Vai trò của sản phẩm truyền hình đối với đời sống sinh viên Hà Nội
- Chức năng thông tin, giao tiếp
- Chức năng tư tưởng
- Chức năng khai sáng, giải trí
- Chức năng quản lý, giám sát, phản biện xã hội
- Chức năng kinh tế, dịch vụ
1.3. Quan điểm, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực báo chí
- Luật báo chí ( năm 1999) quy định: “ Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội;
là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, là
diễn đàn của nhân dân”
- Công tác báo chí là bộ phận cấu thành hữu cơ trong hoạt động của Đảng ta, là yếu
tố cấu thành hoạt động tư tưởng; lý luận; là vũ khí xung kích trên mặt trận này
- Báo chí góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường, quan điểm của Đảng, pháp luật, chính sách của
Nhà nước.
1.4. Bối cảnh xã hội hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông
tin đại chúng
- Bộ Thông tin và Truyền thông đề ra kế hoạch trung hạn 2023-2025; định hướng
đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu đến 2025, báo chí, truyền thông thực hiện sứ
mệnh phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, tuyên truyền đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước, lan tỏa năng lượng tích cực, tạo đồng thuận và
niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, góp phần
tạo ra sức mạnh tinh thần cho Việt Nam bứt phá vươn lên trở thành nước phát triển.
- Các nhiệm vụ tiếp theo được đề ra là đến năm 2025 là 100% người dân ở vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tiếp cận ít nhất một loại hình báo chí phục vụ
nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu.
- Các cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền cổ vũ ý chí quyết tâm, lập trường
nhất quán của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ con người Việt
Nam, nâng cao đời sống tinh thần cho toàn dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn...
bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; xây dựng văn hóa,
1.5. Xu hướng phát triển của truyền hình hiện nay:
- Đa dạng thông tin
- Tăng tính tương tác
- Phát triển các kênh dịch vụ giải trí, tăng cường chuyên môn hoá
- Phát triển truyền hình Internet, truyền hình theo yêu cầu
- Phát triển các dịch vụ quảng cáo, đẩy mạnh đầu tư, đổi mới các chương
trình truyền hình
- Mang đến cho khán giả trải nghiệm tốt hơn
Chương II: Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên
Hà Nội dựa trên việc tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp
đã nêu:
2.1. Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội
* Mục đích sử dụng
Tiến hành khảo sát người dùng tin sinh viên tại trường
ĐHKHXH&NVHN, sinh viên ngoài việc sử dụng thư viện nhằm mục
đích học tập, nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức, họ còn có nhu
cầu giải trí sau những giờ học tập căng thẳng.
Phần lớn họ có nhu cầu tìm tài liệu theo chuyên ngành học tập của mình,
cụ thể: Các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên
cứu... phục vụ cho mục đích học tập. Các báo cáo nghiên cứu khoa học,
đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp... cũng là những tài liệu
tham khảo phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, họ còn tìm
đọc các tác phẩm văn học nghệ thuật, tài liệu khoa học công nghệ... phục
vụ cho mục đích giải trí. Cụ thể, ta có một số câu hỏi liên quan đến như
cầu của sinh viên và kết quả như sau:
1. Bạn có thường đến sử dụng thư viện trường không?
40% sinh viên trả lời là thường xuyên; 50% trả lời là không thường xuyên sử dụng;
6% trả lời không sử dụng.
2. Nếu có bạn dành bao nhiêu thời gian sử dụng mỗi ngày?
Sử dụng thư viện từ 1-2 giờ/ ngày có: 53%; Từ 2-4 giờ: 32%; Trên 4 giờ: 5%;
Khác: 6%.
3. Loại hình tài liệu nào bạn thường xuyên sử dụng?
Sinh viên có nhu cầu sử dụng tài liệu là sách: 83%; sinh viên có nhu cầu sử dụng
báo, tạp chí: 52%; có nhu cầu sử dụng Luận án tiến sĩ: 5%; Cơ sở dữ liệu trực
tuyến 3%; CD-ROM 2%; Luận văn Thạc sĩ: 7%; 7% sinh viên sử
dụng tài liệu nghe nhìn; 35% sinh viên sử dụng Internet; 13% sử dụng khóa luận
tốt nghiệp; 5% sử dụng đề tài nghiên cứu khoa học.
4. Bạn sử dụng tài liệu thư viện nhằm mục đích?
Phục vụ học tập: 87%; nghiên cứu khoa học: 33%; giải trí: 45%; mục đích khác:
2%.
5. Về loại hình ngôn ngữ nào bạn thường tìm đọc?
92% sinh viên sử dụng tài liệu tiếng Việt; 20% sử dụng tài liệu tiếng Anh;
3% sinh viên sử dụng tiếng Trung; tiếng Pháp: 2%, tiếng Hàn Quốc: 2%; Ngôn
ngữ khác: 2%. Tiếng Nhật, tiếng Nga không có sinh viên nào sử dụng. 6. Lĩnh vực
tri thức nào được bạn thường xuyên quan tâm?
Lịch sử: 17%; Tôn giáo: 2%; Ngôn ngữ: 10%; Triết học & Tâm lý: 5%; Văn học:
27%; Nghệ thuật: 23%; Giáo dục: 25%; Khoa học Xã hội: 47%; Công nghệ thông
tin: 12%; Kinh tế: 2%; Chính trị: 7%; Pháp luật: 12%: Văn hóa: 30%; Lĩnh vực
khác: 3%.
7. Hình thức nào giúp bạn nhận được thông tin nhanh nhất?
20% khai thác Internet; 48% tự lựa chọn tài liệu; 32% mượn qua phiếu yêu cầu;
7% hình thức tuyên truyền, giới thiệu tài liệu của thư viện; 2% có được
tài liệu qua triển lãm.
8. Đánh giá về nguồn lực thông tin của Thư viện trong việc thỏa mãn nhu cầu tin?
28% sinh viên trả lời thỏa mãn hoàn toàn; 58% thỏa mãn một phần; 13% không
được thỏa mãn.
9. Đánh giá về chất lượng phục vụ của thư viện?
27% hài lòng hoàn toàn với dịch vụ của thư viện; 58% hài lòng một phần; không
có sinh viên nào trả lời không hài lòng.
10. Những đề xuất của bạn đối với thư viện?
62% đề nghị nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin; 50% đề xuất nâng cao chất
lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện; 45% sinh viên cho rằng cần đa
dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện; 33% có nhu cầu là thư viện
cần tăng cường cơ sở vật chất: máy tính, diện tích sử dụng, bàn ghế... 7% có nhu
cầu bổ sung thêm tài liệu về lĩnh vực pháp luật, chính trị, tâm lý, triết học, lịch sử
Qua việc thống kê và phản ánh nhu cầu tin của sinh viên trường ĐH
KHXH&NVHN, chúng tôi có những nhận định như sau: Nhu cầu tin của sinh viên
khá rõ ràng và cụ thể, họ tới thư viện với mục đích chính là học tập 87%, tuy nhiên
nhu cầu giải trí cũng chiếm tới 45% trong khi đó nhu cầu nghiên cứu khoa học chỉ
có 33%, điều này chứng tỏ ngoài mục đích học tập, nghiên cứu, thư viện thực sự là
giảng đường thứ hai - nơi sinh viên muốn tìm đến để giải trí sau những giờ học tập
vất vả.
* Một số chương trình yêu thích của sinh viên Hà Nội hiện nay
- “Shark Tank” là một chương trình gọi vốn đầu tư. Đặc biệt đối với đa số tính
cách của các bạn sinh viên Hà Nội hiện nay, bản lĩnh và đầy tham
vọng. Shark Tank dường như có sức hút vô cùng mãnh liệt với các bạn sinh viên.
Chương trình giúp các bạn sinh viên phát triển hơn về mặt tư duy và nâng cao khả
năng sáng tạo. Đồng thời đem lại tự tin cũng như sự tin tưởng vào chính bản thân
mình.
- “2 ngày 1 đêm” là chương trình truyền hình trải nghiệm thực tế do đài truyền
hình thành phố và công ty Đông Tây Promotion phối hợp thực hiện. Chương trình
giúp cho các bạn sinh viên Hà Nội có một cái nhìn rộng mở hơn về quang cảnh và
văn hoá trên mọi vùng miền Việt Nam.Bên cạnh đó còn chương trình còn khơi gợi
thêm tình yêu quê hương của các bạn sinh viên đối với quê hương mình.
- Hình thức các sản phẩm truyền hình; mong muốn, nhu cầu của sinh viên
Hà Nội về các sản phẩm truyền hình
2.2. Các vấn đề đặt ra đối với truyền hình hiện nay: Từ thực trạng trên, ta rút ra
được những ưu điểm, khuyết điểm của truyền hình trong giai đoạn hiện nay
- Ưu điểm:
+ Trước hết, truyền hình có thể hiểu đơn giản đó là kĩ thuật truyền tín hiệu bằng
hình ảnh và âm thanh đến với người xem bằng thị giác và thính giác của con người
được tác động bởi những hình ảnh chuyển động và những âm thanh sống động trên
màn hình.
+ Truyền hình là kênh thông tin có độ tin cậy cao, chính xác và hội tụ những trang
thiết bị, kĩ thuật hiện đại. Hầu hết bất cứ sự kiện, vấn đề gì trong hiện thực đều có
thể biểu đạt, phản ánh qua các chương trình truyền hình. Điều này tạo cho truyền
hình có một khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu cầu
thông tin xã hội. Đó là hiệu quả vô cùng quan trọng ẩn chứa ở tầng thông tin thứ
hai của truyền hình.
+ Tầng thông tin đó không cần có sự miêu tả mà bản thân hình ảnh đã nói lên điều
đó.
a) Tính thời sự: Là thế mạnh của loại hình truyền thông này chính là sự kết hợp
giữa hai yếu tố âm thanh và hình ảnh làm cho người ta thấy tính chân thực của sự
kiện, làm cho người xem như đang tham gia vào sự kiện ấy. Đặc biệt là những
chương trình truyền hình trực tiếp và những chương trình cầu truyền hình đã khắc
họa rõ tính chân thực của truyền hình đồng thời mang tính thời sự rất đặc trưng.
b) Khả năng tương tác: Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển
với trình độ chóng mặt đã cho phép nhiều loại hình báo chí khai thác thế mạnh này
để kéo công chúng về phía mình. Báo mạng thì sau mỗi bài viết có hẳn một thư
mục để người đọc đánh giá, bình luận thông tin bài báo đưa ra, còn các chương
trình phát thanh người nghe có thể đưa ra ý kiến, đánh giá ,bình luận trực tiếp về
một vấn đề thông qua các phương tiện hỗ trợ như điện thoại, gửi tin nhắn....
c) Tính tương tác của truyền hình: Người xem truyền hình có thể gọi điện đến
chương trình để đặt câu hỏi cho các nhân vật, hoặc gửi tin nhắn đánh giá, bình luận
- Nhược điểm:
+ Không lưu trữ được: Truyền hình truyền tải một lượng thông tin liên tục và
+ Truyền tín hiệu với dung lượng rất lớn nên truyền hình buộc người ta phải theo
dõi sự kiện đó từ đầu đến cuối chứ không thể vừa làm việc vừa theo dõi.
+ Thông tin nhanh ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của công chúng: Với tín hiệu hình
ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm cho đối tượng công
chúng bị động hoàn toàn về tốc dộ, trình tự tiếp nhận thông tin...
+ Ngoài ra, truyền hình còn có một số hạn chế khác như: Sự cồng kềnh của các
phương tiện kĩ thuật ghi hình và chuyển phát song không cho phép người ta tiếp
cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố trung tâm hay ở những nơi địa
hình núi non hiểm trở. Các chương trình lặp lại nhiều về nội dung, về đề tài có thể
dẫn đến nhàm chán. Quảng cáo có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của truyền hình nhưng lại tạo ra ức chế ,tâm lí nặng nề đối với công
chúng. Sự thiếu trách nhiệm hay ý đồ không lành mạnh của người sản xuất chương
trình truyền hình rất dễ ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, văn hóa, lối sống
và cả về đời sống chính trị xã hội, những mảnh đất cho sự tiếp tục của sách, báo,
phát thanh và điện ảnh... làm cho truyền hình không thể là kẻ thống trị tuyệt đối
trong lĩnh vực truyền thông đại chúng như nhiều người dự đoán
2.3. Các yếu tố tác động đến thực trạng sử dụng các sản phẩm truyền hình của
sinh viên Hà Nội
- Nguyên nhân khách quan: Thế giới ngày càng hiện đại hơn bao giờ hết và việc
tiếp cận với các sản phẩm truyền hình là một điều thiết yếu đối với các sinh viên
Hà Nội hiện nay
- Nguyên nhân chủ quan: Sinh viên muốn được mở mang kiến thức ngoài thế giới,
được tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ và bên cạnh đó sử dụng các sản phẩm
truyền hình như một phương thức giải trí
Chương III: Giải pháp tăng cường nhu cầu sử dụng các sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội
3.1. Đối với sinh viên
+ Cần tiếp nhận những sản phẩm truyền hình phù hợp, mang ý nghĩa nhân văn,
giúp phát triển tư duy và bản thân,...
3.2. Đối với truyền hình
+ Nắm bắt xu thế, đầu tư và làm chủ công nghệ truyền hình thời 4.0, lan toả nội
dung, tăng tính chủ động của sinh viên
+ Đầu tư nội dung, không ngừng thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ
+ Xác định khán giả là trung tâm của hoạt động xây dựng thương hiệu
Phần III: Kết luận
- Truyền hình thực tế hiện đang rất phát triển ở Việt Nam. Sự xuất hiện của
hàng loạt các chương trình truyền hình thực tế đã làm cho thực đơn giải trí
của người Việt thêm đa dạng, phong phú. Sinh viên được tiếp cận với các
phương pháp làm truyền hình hiện đại, mới lạ, đem lại nhiều xúc cảm thẩm
mỹ.
- Thông qua các chương trình truyền hình thực tế, sinh viên cũng được tiếp
cận với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới, qua đó có thể trau dồi
kiến thức, bổ sung các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Sự phát triển của
truyền hình thực tế chính là sự phát triển tất yếu của truyền hình hiện đại..
Sinh viên Hà Nội có quyền được thưởng thức những chương trình truyền
hình chất lượng, đảm bảo tính chân thực và tính nhân văn.
- Hiện nay, truyền hình thực tế ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển
“bùng nổ”. Sự xuất hiện ồ ạt của hàng loạt các chương trình truyền hình thực
tế, các dịch vụ đi kŽm đã khiến không ít người đánh giá đó là sự phát triển
“bát nháo” - một sự phát triển có tính thời vụ và không bền vững.
- Tuy còn có nhiều ý kiến trái chiều nhưng vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận
rằng,các sản phẩm truyền hình hiện nay có một vị trí nhất định trong đời
sống và sự phát triển của sinh viên Hà Nội..
- Do đó, cần có một sự nghiên cứu nghiêm túc về các sản phẩm truyền hình t
để sớm đưa những đặc điểm của truyền hình thực tế bổ sung vào lý luận và
thực tiễn hoạt động báo chí.
- Từ đó tạo cơ sở cho các nhà quản lý sớm hoạch định những chiến lược phát
triển bền vững cho các sản phẩm truyền hình. Có như thế truyền hình mới
đảm bảo phát triển đúng định hướng, mang đậm bản sắc dân tộc, thực hiện
tốt các chức năng giáo dục, thẩm mỹ, … giúp sinh viên Hà Nội ngày càng
phát triển về mặt nhận thức.
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Phần I. Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5. Giả thuyết nghiên cứu
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
7. Điểm mới của đề tài
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Phần II. Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội dựa
trên việc tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp đã nêu
Chương III: Giải pháp tăng cường nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của
sinh viên Hà Nội
Phần III: Kết luận
| 1/19

Preview text:

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ----- ----- BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Họ và tên sinh viên: Trần Diệu Thanh Vân Mã sinh viên: 2255360045 Lớp tín chỉ: TC4.K42 Hà Nội, 2023
Đề tài nghiên cứu của nhóm em là “ Nhu cầu sử dụng các sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội hiện nay” Phần I: Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
- Báo truyền hình ra đời trên cơ sở phát triển của khoa học- kĩ thuật, nhằm đáp
ứng nhu cầu thông tin của con người. Cùng với báo phát thanh, báo mạng
điện tử, báo in, báo ảnh, truyền hình là phương tiện cực kì quan trọng và
không thể thiếu trong truyền thông đại chúng.
- Hiện tại, truyền hình vẫn đang phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số
lượng. Sóng truyền hình được phủ sóng trên đại bộ phận của đất nước, từ
vùng hẻo lánh đến huyện đảo xa xôi. So với ngày đầu phát triển, số lượng
người sử dụng truyền hình đã gia tăng mạnh mẽ.
- Đây là công cụ vô cùng quan trọng trong đời sống hiện đại, chủ yếu phục vụ
nhu cầu tinh thần cho người dân. Bên cạnh đài truyền hình quốc gia, các đài
truyền hình địa phương cũng có nhiều hoạt động để duy trì và phát triển,
mang đậm màu sắc của từng vùng miền.
- Truyền hình đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhờ có
truyền hình, đời sống tinh thần của người dân mới trở nên phong phú và đa
dạng hơn. Kể từ khi mới xuất hiện, truyền hình luôn là loại hình báo chí hấp
dẫn công chúng, chứng tỏ được những ưu thế vượt trội của mình so với
nhiều loại hình báo chí khác. Đây cũng chính là phương tiện đắc lực để
tuyên truyền đường lối, chính sách, con đường phát triển của bộ máy chính
trị. Và đó cũng chính là điều mà mọi người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay quan tâm và chú ý.
- Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, khi truyền thông phát triển mạnh mẽ,
internet được phổ biến rộng khắp đã làm thay đổi thói quen xem truyền hình
của bộ phận công chúng. Mạng Internet xuất hiện với sự bùng nổ của mạng
xã hội và báo mạng điện tử với ưu thế tiện lợi hơn đã làm sụt giảm đáng kể
khán giả xem truyền hình. Đặc biệt là sinh viên, một bộ phận công chúng
nhạy bén, trẻ trung ngày nay đang dần mất đi thói quen xem truyền hình, họ
dành ít thời gian để xem các sản phẩm truyền hình. Mà thay vào đó, họ sử
dụng Internet như một phương tiện chính để cập nhật thông tin, “hờ hững”
với truyền hình. Và vấn đề được đặt ra ở đây là truyền hình sẽ mất đi một
lượng khán giả lớn, đặc biệt là giới trẻ khi nhóm công chúng này đang dần
phụ thuộc vào mạng xã hội làm phương tiện chính để cập nhật thông tin và tin tức.
- Trong xu thế phát triển công nghệ thông tin- truyền thông, các loại hình báo
chí- truyền thông đang có sự thay đổi nhanh chóng. Điều này đặt ra vấn đề
truyền hình cần phải liên tục đổi mới nội dung, chất lượng, bắt kịp với xu
thế thời đại, đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng, đặc biệt là giới trẻ- sinh
viên nhằm tăng cường tác động của báo chí nói chung và truyền hình nói
riêng đến bộ phận công chúng này.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu về nhu cầu tiếp cận các sản phẩm truyền hình là
việc làm cần thiết, có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn. Vì vậy, nhóm
chúng em quyết định chọn đề tài “Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền
hình của sinh viên Hà Nội hiện nay” để tìm hiểu về thói quen, nhu cầu sử
dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên, từ đó đưa ra một số giải
pháp phù hợp cho sự phát triển của truyền hình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ,
các sản phẩm báo chí, đặc biệt là báo truyền hình là một trong những
phương tiện thúc đẩy sự phát triển của văn hóa nhân loại. Nghiên cứu về
thực trạng nhu cầu, thói quen sử dụng truyền hình của công chúng là đề tài
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trên thế giới, những nghiên cứu này
đã được thực hiện từ thế kỷ 20.
- Ngày 2/11/1936, đánh dấu ngày khởi đầu của truyền hình thế giới khi đài
BBC phát đi sóng truyền hình đầu tiên tử cung điện Alexandra Palace
Victoria Ở phía Bắc Luân Đôn, lúc đó chỉ có khoảng 500 chiếc tivi được bắt
sóng của chương trình này. Đầu những năm 50-60, Ở anh và Pháp đã bắt đầu
nghiên cứu khán giả truyền hình. Người ta đã sản xuất được những thiết bị
hiện đại gắn vào các tivi để đo lường hành vi của người dùng. Có thể kể đến
khuynh hướng trong nghiên cứu công chúng xem truyền hình của Mỹ là
“khảo sát về sử dụng và thỏa mãn”. Khuynh hướng này phân tích thói quen
sử dụng truyền hình của khán giả, tìm hiểu phản ứng của công chúng với
từng loại sản phẩm truyền hình và sự khác biệt trong thái độ của từng nhóm công chúng.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu sử dụng truyền hình của công chúng.
- Năm 1998, luận án tiến sĩ xã hội của Trần Hữu Quang “Truyền thông đại
chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu
công chúng truyền thông, phân tích tương quan sử dụng giữa báo in, phát
thanh và truyền hình ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Năm 1999, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội, Ban Tư Tưởng - Văn hóa
Trung ương đã tiến hành cuộc điều tra “Về định hướng xem truyền hình ở
Việt Nam” tại 24 tỉnh thành với 3475 phiếu điều tra cá nhân. Trung tâm đã
tìm hiểu hành vi xem truyền hình của công chúng nhằm phục vụ trực tiếp
một số yêu cầu cải tiến chất lượng nội dung và kỹ thuật của đài truyền hình Việt Nam.
- Đến năm 2002, trung tâm lại tiếp tục thực hiện cuộc điều tra “Thăm dò dư
luận khán giả đài truyền hình Việt Nam”, củng cố thêm các số liệu về nhu
cầu thói quen xem truyền hình của các nhóm công chúng, đánh giá ưu,
nhược điểm và nêu ra một số đề xuất với lại truyền hình Việt Nam.
- Năm 2001, “Nghiên cứu khán giả truyền hình Việt Nam” đã được thực
hiệnbởi Trung tâm đào tạo Phát thanh - Truyền hình (Đài truyền hình Việt
Nam). Nghiên cứu diễn ra tại 5 tỉnh với 2004 phiếu. Đề tài nghiên cứu mức
độ xem truyền hình của khán giả theo các nhóm giới tính, lứa tuổi, nghề
nghiệp,... đối vốicác chương trình truyền hình.
- Ta có thể kể đến “Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ” (2005) do Đỗ Nam Liên
chủ biên, đã nghiên cứu khá toàn diện về các hoạt động nghe nhìn, đánh giá
mức độ sử dụng, mong muốn của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh đối với
nghe nhìn nói chung và truyền hình nói riêng, từ đó đề ra những hướng phát triển của truyền hình.
- Năm 2005, Phạm Hương Trà đã thực hiện Luận án Thạc sĩ Xã hội học với đề
tài “Nhu cầu xem truyền hình của thanh niên Hà Nội”, nghiên cứu sâu về
nhu cầu xem truyền hình, mức độ quan tâm của thanh niên Hà Nội dành cho các kênh truyền hình.
- Năm 2011, luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng “Các chương trình giái
trí truyền hình với việc đáp ứng nhu cầu và sở thích giới trẻ hiện nay” (Khảo
sát kênh VTV3) của tác giả Đỗ Ngọc Sơn (Học viện Báo chí và Tuyên
truyền). Trên cơ sở xây dựng những luận điểm lý luận và nghiên cứu khảo
sát thực tiễn cácchương trình giải trí trên kênh VTV3, luận văn đã đề xuất
các giải pháp, hướng đi của việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích của giới tré.
- Năm 2015, tác giả Phạm Thị Tố Như (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã
thực hiện luận văn Thạc sĩ Báo chí học với để tài “Truyền hình thành phố
Cần Thơ và công chúng thành phố Cần Thơ”. Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ
cơ sở lý luận về công chúng, công chúng truyền hình, luận văn phân tích
hoạt động giao tiếp đại chúng giữa truyền hình và công chúng ở thành phố
Cần Thơ, từ đó đề xuấtnhững giải pháp để truyền hình thành phố Cần Thơ
ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của khán giả, phục vụ yêu cầu
phát triển của đơn vị trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
- Trong nhóm sách và giáo trình nghiên cứu về các chương trình truyền hình,
có một số tài liệu như: “Tác phẩm báo chí truyền hình” của Khoa phát thanh
Truyền hình (Học viện báo chí và tuyên truyền), “Tin truyền hình” của tác
giả Đinh Thị Xuân Hòa, “Sản xuất chương trình truyền hình “ của tác giả
Trần Bảo Khánh, “Giáo trình báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân
Sơn,... Đây là những tài liệu cung cấp kiến thức nên tảng về truyền hình,
cách thức tổ chức sản xuất, sáng tạo nhằm mang lại các sản phẩm truyền hình tốt nhất.
- Có thể nói, các tài liệu, công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần không
nhỏ vào vấn đề nghiên cứu lĩnh vực báo chí truyền hình ở nước ta. Các công
trình có tính ứng dụng cao, qua nhiều năm nghiên cứu, chắt lọc để hoàn
thiện đã đem lại cơ sở lí luận – thực tiễn cho những nghiên cứu này.
3. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội hiện nay. 3.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích khái niệm, thực trạng, nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội.
- Đề tài nghiên cứu nhằm tiếp cận xu hướng, thói quen sử dụng, tìm hiểu sự
tiếp nhận, đánh giá, những mong đợi của sinh viên Hà Nội đối với sản phẩm truyền hình.
- Đề ra giải pháp để thay đổi, nâng cao chất lượng chương trình, phù hợp với
nhu cầu giới trẻ nói chung và sinh viên Hà Nội nói riêng.
- Đánh giá, nhận định phù hợp để khuyến khích, nâng cao khả năng tiếp cận
các sản phẩm truyền hình của sinh viên, góp phần định hướng tư tưởng, văn hóa cho giới trẻ.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nghiên cứu xu hướng, sở thích, hình thức thu hút, mức độ nhu cầu, thói
quen, tần suất, không gian, thời gian sử dụng, mức độ tương tác với các sản
phẩm truyền hình, phương thức tiếp cận truyền hình của sinh viên Hà Nội.
- Nghiên cứu sự đánh giá của nhóm công chúng đối với chất lượng nội dung
của các chương trình truyền hình.
- Nghiên cứu mong muốn, đóng góp ý kiến của công chúng đối với sản phẩm truyền hình.
- Chỉ ra những vấn đề còn tồn tại ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng. Phân tích
tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến các sản phẩm truyền hình kém thu hút,
chưa đáp ứng nhu cầu khán giả trẻ.
- Đưa ra một số giải pháp khắc phục để nâng cao khả năng ảnh hưởng của
truyền hình đến sinh viên, định chiếu chiến lược phát triển của truyền hình Việt Nam.
- Dự báo khả năng biến đổi của các yếu tố tác động đến nhu cầu và xu hướng xem truyền hình.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu:
Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình. - Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên các trường đại học trong địa bàn thành phố Hà Nội. - Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu trong địa bàn thành phố Hà Nội, nơi tập trung nhiều trường đại học
với lực lượng sinh viên đông đảo. Ta có thể tiến hành nghiên cứu ở một số trường
đại học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học
Thương mại, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế
Quốc dân,... và rất nhiều trường đại học trong địa bàn thành phố.
+ Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của
sinh viên Hà Nội 2 năm trở lại đây, tức từ năm 2021-2023.
5. Giả thuyết nghiên cứu - Giả thuyết 1:
Các chương trình có nội dung giáo dục, truyền tải thông tin, kiến thức, thời sự hiện
nay chưa được sinh viên quan tâm nhiều đến mà thay vào đó là các sản phẩm
truyền hình mang tính giải trí - Giả thuyết 2:
Trong thời đại số, các sản phẩm truyền hình chưa có nhiều sự cải tiến để bắt kịp
với thị hiếu của một bộ phận khán giả trẻ mặc dù sản xuất nhiều nội dung phong phú, đa dạng, sáng tạo - Giả thuyết 3:
Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình của đối tượng là sinh viên ngày
càng ít trong khi sự phát triển của Internet bùng nổ mạnh mẽ, các nền tảng mạng
xã hội mới ra đời như TikTok, Locket, Snapchat, YouTube,... với nhiều tính năng
thu hút, đáp ứng nhu cầu người dùng - Giả thuyết 4:
Trong tương lai, truyền hình sẽ có những bước nhảy vọt đáng kể, cải tiến để bắt kịp
với công nghệ số; nội dung cập nhật xu hướng, gần gũi với đối tượng công chúng
trẻ. Từ đó, sự quan tâm, hứng thú của các bạn sinh viên với sản phẩm truyền hình sẽ tăng lên - Giả thuyết 5:
Thông qua truyền hình, người xem có thể tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng với những
nguồn thông tin có tính xác thực cao, chính thống, bổ ích, sáng tạo,... Nói cách
khác truyền hình có thể được xem là công cụ truyền tải thông tin hữu ích, có hiệu quả nhất
6 .Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học. 1. Phương pháp luận.
- Tìm hiểu mô hình truyền thông hiện nay đã gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu
sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên.
- Tìm hiểu cơ chế vận hành của các sản phẩm truyền hình.
- Tìm hiểu xu hướng đám đông, cộng đồng, để mở rộng hệ quy chiếu của công trình ngiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp thu thập, thống kê tài liệu:
- Thu thập các tài liệu, diễn biến, tin bài, tổng hợp các khái niệm, định nghĩa
vấn đề “Nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên ở Hà Nội”
thông qua các công trình nghiên cứu khoa học khác, bài báo điện tử, tư liệu,
quan điểm các nhân liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng các số liệu thông kê từ các khảo sát có được trong quá trình thu
thập để hệ thóng, khái quát hóa, từ đó rút ra được những mặt hạn chế.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nhu cầu sử dụng của các sản
phẩm truyền hình trên các đầu báo trọng yếu, các ý kiến của những người có
chuyên môn,... để làm cơ sở lí luận để phân tích và đánh giá.
+ Bài nghiên cứu còn tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học khác, sách
báo, trang thông tin điện tử... Phân tích các khảo sát, thống kê, cũng như ý kiến của
các chuyên gia để củng cố tính khách quan cho luận điển dưa ra.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh:
+Phân tích các tài liệu, ấn phẩm, sản phẩm thông tin xung quanh vấn đề
nghiên cứu từ đó nhận xét và đưa ra giải phap cần thiết góp phần đạt hiệu quả mạnh mẽ nhất. - Phương pháp điều tra:
+ Lập hệ thống các câu hỏi nhất định liên quan đến vấn đề nghiên cứu để
trực tiếp khảo sát và phỏng vấn các sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội, trên
cở sở đó rút ra những nhận xét, phân tích và đánh giá thực tế nhất vấn đề nghiên cứu.
- Tuy vậy, có nhiều các phương pháp nghiên cứu khác được dùng đan xen để
bổ trợ lẫn nhau tốt hơn trong việc truyền tải nội dung của bài nghiên cứu.
7. Điểm mới của đề tài
- Tính mục đích: Đề tài nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng sản
phẩm truyền hình, phương thức tiếp cận, xu hướng, thói quen sử dụng, sự
tiếp nhận, đánh giá, những mong đợi của sinh viên, sử dụng sản phẩm truyền
hình của sinh viên Hà Nội hiện nay.
- Tính thực tiễn: Đề tài tiến hành nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển,
nắm bắt xu thế, làm chủ công nghệ truyền hình thời 4.0, chỉ ra những yếu tố
kém thu hút ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng sản phẩm truyền hình thông
qua phân tích, tổng hợp, khảo sát nguyên nhân của sinh viên Hà Nội.
- Tính khoa học: Đề tài trình bày cơ sở lý luận, pháp lý, cơ sở thực tiễn làm
chỗ dựa cho việc định hướng vấn đề nêu ra trong đề tài. Đề tài hệ thống hoá
các vấn đề, làm rõ các khái niệm, thực trạng nhu cầu sử dụng sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội.
- Khả năng vận dụng: Đề tài định hướng, khuyến nghị phù hợp và khả thi,
tăng cường nhu cầu xem truyền hình, hướng tới xu hướng xã hội hóa truyền
hình của sinh viên Hà Nội nói riêng và giới trẻ nói chung.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa lý luận:
- Những kết quả đạt được của đề tài có thể hoàn thiện, bổ sung các lý luận báo
chí, các nghiên cứu thực tiễn truyền hình Ý nghĩa thực tiễn:
- Từ nội dung đề tài, các đánh giá về nhu cầu tiếp cận sản phẩm truyền hình,
đưa đến các biện pháp gia tăng nhu cầu xem truyền hình với khán giả trẻ,
đặc biệt là các bạn sinh viên.
- Đồng thời đề tài cũng là đóng góp với các nhà sản xuất tạo ra các sản phẩm
chương trình truyền hình chất lượng, giải quyết các tồn tại, yếu điểm
- Đề tài góp phần tăng nhận thức của các bạn sinh viên với sản phẩm truyền
hình, cung cấp các tài liệu tham khảo về nhu cầu xem truyền hình của bộ
phận khán giả trẻ hiện nay Phần II: Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Một số khái niệm liên quan
- Truyền hình: là vô tuyến truyền hình, máy thu hình, máy phát hình, hay
vô tuyến là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín
hiệu vô tuyến hoặc hữu tuyến để chuyển thành hình ảnh và âm thanh.
- Tiếp cận: Miêu tả mức độ của một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ hoặc môi trường có
thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt. Sự tiếp cận có thể được xem như
khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất.
1.2. Vai trò của sản phẩm truyền hình đối với đời sống sinh viên Hà Nội
- Chức năng thông tin, giao tiếp - Chức năng tư tưởng
- Chức năng khai sáng, giải trí
- Chức năng quản lý, giám sát, phản biện xã hội
- Chức năng kinh tế, dịch vụ
1.3. Quan điểm, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực báo chí
- Luật báo chí ( năm 1999) quy định: “ Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội;
là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, là
diễn đàn của nhân dân”
- Công tác báo chí là bộ phận cấu thành hữu cơ trong hoạt động của Đảng ta, là yếu
tố cấu thành hoạt động tư tưởng; lý luận; là vũ khí xung kích trên mặt trận này
- Báo chí góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường, quan điểm của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước.
1.4. Bối cảnh xã hội hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng
- Bộ Thông tin và Truyền thông đề ra kế hoạch trung hạn 2023-2025; định hướng
đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu đến 2025, báo chí, truyền thông thực hiện sứ
mệnh phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, tuyên truyền đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước, lan tỏa năng lượng tích cực, tạo đồng thuận và
niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, góp phần
tạo ra sức mạnh tinh thần cho Việt Nam bứt phá vươn lên trở thành nước phát triển.
- Các nhiệm vụ tiếp theo được đề ra là đến năm 2025 là 100% người dân ở vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tiếp cận ít nhất một loại hình báo chí phục vụ
nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu.
- Các cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền cổ vũ ý chí quyết tâm, lập trường
nhất quán của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với nhiệm vụ con người Việt
Nam, nâng cao đời sống tinh thần cho toàn dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn...
bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; xây dựng văn hóa,
1.5. Xu hướng phát triển của truyền hình hiện nay: - Đa dạng thông tin - Tăng tính tương tác
- Phát triển các kênh dịch vụ giải trí, tăng cường chuyên môn hoá
- Phát triển truyền hình Internet, truyền hình theo yêu cầu
- Phát triển các dịch vụ quảng cáo, đẩy mạnh đầu tư, đổi mới các chương trình truyền hình
- Mang đến cho khán giả trải nghiệm tốt hơn
Chương II: Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên
Hà Nội dựa trên việc tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp đã nêu:
2.1. Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội * Mục đích sử dụng
Tiến hành khảo sát người dùng tin sinh viên tại trường
ĐHKHXH&NVHN, sinh viên ngoài việc sử dụng thư viện nhằm mục
đích học tập, nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức, họ còn có nhu
cầu giải trí sau những giờ học tập căng thẳng.
Phần lớn họ có nhu cầu tìm tài liệu theo chuyên ngành học tập của mình,
cụ thể: Các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên
cứu... phục vụ cho mục đích học tập. Các báo cáo nghiên cứu khoa học,
đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp... cũng là những tài liệu
tham khảo phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, họ còn tìm
đọc các tác phẩm văn học nghệ thuật, tài liệu khoa học công nghệ... phục
vụ cho mục đích giải trí. Cụ thể, ta có một số câu hỏi liên quan đến như
cầu của sinh viên và kết quả như sau:
1. Bạn có thường đến sử dụng thư viện trường không?
40% sinh viên trả lời là thường xuyên; 50% trả lời là không thường xuyên sử dụng;
6% trả lời không sử dụng.
2. Nếu có bạn dành bao nhiêu thời gian sử dụng mỗi ngày?
Sử dụng thư viện từ 1-2 giờ/ ngày có: 53%; Từ 2-4 giờ: 32%; Trên 4 giờ: 5%; Khác: 6%.
3. Loại hình tài liệu nào bạn thường xuyên sử dụng?
Sinh viên có nhu cầu sử dụng tài liệu là sách: 83%; sinh viên có nhu cầu sử dụng
báo, tạp chí: 52%; có nhu cầu sử dụng Luận án tiến sĩ: 5%; Cơ sở dữ liệu trực
tuyến 3%; CD-ROM 2%; Luận văn Thạc sĩ: 7%; 7% sinh viên sử
dụng tài liệu nghe nhìn; 35% sinh viên sử dụng Internet; 13% sử dụng khóa luận
tốt nghiệp; 5% sử dụng đề tài nghiên cứu khoa học.
4. Bạn sử dụng tài liệu thư viện nhằm mục đích?
Phục vụ học tập: 87%; nghiên cứu khoa học: 33%; giải trí: 45%; mục đích khác: 2%.
5. Về loại hình ngôn ngữ nào bạn thường tìm đọc?
92% sinh viên sử dụng tài liệu tiếng Việt; 20% sử dụng tài liệu tiếng Anh;
3% sinh viên sử dụng tiếng Trung; tiếng Pháp: 2%, tiếng Hàn Quốc: 2%; Ngôn
ngữ khác: 2%. Tiếng Nhật, tiếng Nga không có sinh viên nào sử dụng. 6. Lĩnh vực
tri thức nào được bạn thường xuyên quan tâm?
Lịch sử: 17%; Tôn giáo: 2%; Ngôn ngữ: 10%; Triết học & Tâm lý: 5%; Văn học:
27%; Nghệ thuật: 23%; Giáo dục: 25%; Khoa học Xã hội: 47%; Công nghệ thông
tin: 12%; Kinh tế: 2%; Chính trị: 7%; Pháp luật: 12%: Văn hóa: 30%; Lĩnh vực khác: 3%.
7. Hình thức nào giúp bạn nhận được thông tin nhanh nhất?
20% khai thác Internet; 48% tự lựa chọn tài liệu; 32% mượn qua phiếu yêu cầu;
7% hình thức tuyên truyền, giới thiệu tài liệu của thư viện; 2% có được tài liệu qua triển lãm.
8. Đánh giá về nguồn lực thông tin của Thư viện trong việc thỏa mãn nhu cầu tin?
28% sinh viên trả lời thỏa mãn hoàn toàn; 58% thỏa mãn một phần; 13% không được thỏa mãn.
9. Đánh giá về chất lượng phục vụ của thư viện?
27% hài lòng hoàn toàn với dịch vụ của thư viện; 58% hài lòng một phần; không
có sinh viên nào trả lời không hài lòng.
10. Những đề xuất của bạn đối với thư viện?
62% đề nghị nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin; 50% đề xuất nâng cao chất
lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện; 45% sinh viên cho rằng cần đa
dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện; 33% có nhu cầu là thư viện
cần tăng cường cơ sở vật chất: máy tính, diện tích sử dụng, bàn ghế... 7% có nhu
cầu bổ sung thêm tài liệu về lĩnh vực pháp luật, chính trị, tâm lý, triết học, lịch sử
Qua việc thống kê và phản ánh nhu cầu tin của sinh viên trường ĐH
KHXH&NVHN, chúng tôi có những nhận định như sau: Nhu cầu tin của sinh viên
khá rõ ràng và cụ thể, họ tới thư viện với mục đích chính là học tập 87%, tuy nhiên
nhu cầu giải trí cũng chiếm tới 45% trong khi đó nhu cầu nghiên cứu khoa học chỉ
có 33%, điều này chứng tỏ ngoài mục đích học tập, nghiên cứu, thư viện thực sự là
giảng đường thứ hai - nơi sinh viên muốn tìm đến để giải trí sau những giờ học tập vất vả.
* Một số chương trình yêu thích của sinh viên Hà Nội hiện nay
- “Shark Tank” là một chương trình gọi vốn đầu tư. Đặc biệt đối với đa số tính
cách của các bạn sinh viên Hà Nội hiện nay, bản lĩnh và đầy tham
vọng. Shark Tank dường như có sức hút vô cùng mãnh liệt với các bạn sinh viên.
Chương trình giúp các bạn sinh viên phát triển hơn về mặt tư duy và nâng cao khả
năng sáng tạo. Đồng thời đem lại tự tin cũng như sự tin tưởng vào chính bản thân mình.
- “2 ngày 1 đêm” là chương trình truyền hình trải nghiệm thực tế do đài truyền
hình thành phố và công ty Đông Tây Promotion phối hợp thực hiện. Chương trình
giúp cho các bạn sinh viên Hà Nội có một cái nhìn rộng mở hơn về quang cảnh và
văn hoá trên mọi vùng miền Việt Nam.Bên cạnh đó còn chương trình còn khơi gợi
thêm tình yêu quê hương của các bạn sinh viên đối với quê hương mình.
- Hình thức các sản phẩm truyền hình; mong muốn, nhu cầu của sinh viên
Hà Nội về các sản phẩm truyền hình
2.2. Các vấn đề đặt ra đối với truyền hình hiện nay: Từ thực trạng trên, ta rút ra
được những ưu điểm, khuyết điểm của truyền hình trong giai đoạn hiện nay - Ưu điểm:
+ Trước hết, truyền hình có thể hiểu đơn giản đó là kĩ thuật truyền tín hiệu bằng
hình ảnh và âm thanh đến với người xem bằng thị giác và thính giác của con người
được tác động bởi những hình ảnh chuyển động và những âm thanh sống động trên màn hình.
+ Truyền hình là kênh thông tin có độ tin cậy cao, chính xác và hội tụ những trang
thiết bị, kĩ thuật hiện đại. Hầu hết bất cứ sự kiện, vấn đề gì trong hiện thực đều có
thể biểu đạt, phản ánh qua các chương trình truyền hình. Điều này tạo cho truyền
hình có một khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu cầu
thông tin xã hội. Đó là hiệu quả vô cùng quan trọng ẩn chứa ở tầng thông tin thứ hai của truyền hình.
+ Tầng thông tin đó không cần có sự miêu tả mà bản thân hình ảnh đã nói lên điều đó.
a) Tính thời sự: Là thế mạnh của loại hình truyền thông này chính là sự kết hợp
giữa hai yếu tố âm thanh và hình ảnh làm cho người ta thấy tính chân thực của sự
kiện, làm cho người xem như đang tham gia vào sự kiện ấy. Đặc biệt là những
chương trình truyền hình trực tiếp và những chương trình cầu truyền hình đã khắc
họa rõ tính chân thực của truyền hình đồng thời mang tính thời sự rất đặc trưng.
b) Khả năng tương tác: Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển
với trình độ chóng mặt đã cho phép nhiều loại hình báo chí khai thác thế mạnh này
để kéo công chúng về phía mình. Báo mạng thì sau mỗi bài viết có hẳn một thư
mục để người đọc đánh giá, bình luận thông tin bài báo đưa ra, còn các chương
trình phát thanh người nghe có thể đưa ra ý kiến, đánh giá ,bình luận trực tiếp về
một vấn đề thông qua các phương tiện hỗ trợ như điện thoại, gửi tin nhắn....
c) Tính tương tác của truyền hình: Người xem truyền hình có thể gọi điện đến
chương trình để đặt câu hỏi cho các nhân vật, hoặc gửi tin nhắn đánh giá, bình luận - Nhược điểm:
+ Không lưu trữ được: Truyền hình truyền tải một lượng thông tin liên tục và
+ Truyền tín hiệu với dung lượng rất lớn nên truyền hình buộc người ta phải theo
dõi sự kiện đó từ đầu đến cuối chứ không thể vừa làm việc vừa theo dõi.
+ Thông tin nhanh ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của công chúng: Với tín hiệu hình
ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm cho đối tượng công
chúng bị động hoàn toàn về tốc dộ, trình tự tiếp nhận thông tin...
+ Ngoài ra, truyền hình còn có một số hạn chế khác như: Sự cồng kềnh của các
phương tiện kĩ thuật ghi hình và chuyển phát song không cho phép người ta tiếp
cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố trung tâm hay ở những nơi địa
hình núi non hiểm trở. Các chương trình lặp lại nhiều về nội dung, về đề tài có thể
dẫn đến nhàm chán. Quảng cáo có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của truyền hình nhưng lại tạo ra ức chế ,tâm lí nặng nề đối với công
chúng. Sự thiếu trách nhiệm hay ý đồ không lành mạnh của người sản xuất chương
trình truyền hình rất dễ ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, văn hóa, lối sống
và cả về đời sống chính trị xã hội, những mảnh đất cho sự tiếp tục của sách, báo,
phát thanh và điện ảnh... làm cho truyền hình không thể là kẻ thống trị tuyệt đối
trong lĩnh vực truyền thông đại chúng như nhiều người dự đoán
2.3. Các yếu tố tác động đến thực trạng sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội
- Nguyên nhân khách quan: Thế giới ngày càng hiện đại hơn bao giờ hết và việc
tiếp cận với các sản phẩm truyền hình là một điều thiết yếu đối với các sinh viên Hà Nội hiện nay
- Nguyên nhân chủ quan: Sinh viên muốn được mở mang kiến thức ngoài thế giới,
được tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ và bên cạnh đó sử dụng các sản phẩm
truyền hình như một phương thức giải trí
Chương III: Giải pháp tăng cường nhu cầu sử dụng các sản phẩm
truyền hình của sinh viên Hà Nội 3.1. Đối với sinh viên
+ Cần tiếp nhận những sản phẩm truyền hình phù hợp, mang ý nghĩa nhân văn,
giúp phát triển tư duy và bản thân,...
3.2. Đối với truyền hình
+ Nắm bắt xu thế, đầu tư và làm chủ công nghệ truyền hình thời 4.0, lan toả nội
dung, tăng tính chủ động của sinh viên
+ Đầu tư nội dung, không ngừng thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ
+ Xác định khán giả là trung tâm của hoạt động xây dựng thương hiệu Phần III: Kết luận
- Truyền hình thực tế hiện đang rất phát triển ở Việt Nam. Sự xuất hiện của
hàng loạt các chương trình truyền hình thực tế đã làm cho thực đơn giải trí
của người Việt thêm đa dạng, phong phú. Sinh viên được tiếp cận với các
phương pháp làm truyền hình hiện đại, mới lạ, đem lại nhiều xúc cảm thẩm mỹ.
- Thông qua các chương trình truyền hình thực tế, sinh viên cũng được tiếp
cận với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới, qua đó có thể trau dồi
kiến thức, bổ sung các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Sự phát triển của
truyền hình thực tế chính là sự phát triển tất yếu của truyền hình hiện đại..
Sinh viên Hà Nội có quyền được thưởng thức những chương trình truyền
hình chất lượng, đảm bảo tính chân thực và tính nhân văn.
- Hiện nay, truyền hình thực tế ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển
“bùng nổ”. Sự xuất hiện ồ ạt của hàng loạt các chương trình truyền hình thực
tế, các dịch vụ đi kŽm đã khiến không ít người đánh giá đó là sự phát triển
“bát nháo” - một sự phát triển có tính thời vụ và không bền vững.
- Tuy còn có nhiều ý kiến trái chiều nhưng vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận
rằng,các sản phẩm truyền hình hiện nay có một vị trí nhất định trong đời
sống và sự phát triển của sinh viên Hà Nội..
- Do đó, cần có một sự nghiên cứu nghiêm túc về các sản phẩm truyền hình t
để sớm đưa những đặc điểm của truyền hình thực tế bổ sung vào lý luận và
thực tiễn hoạt động báo chí.
- Từ đó tạo cơ sở cho các nhà quản lý sớm hoạch định những chiến lược phát
triển bền vững cho các sản phẩm truyền hình. Có như thế truyền hình mới
đảm bảo phát triển đúng định hướng, mang đậm bản sắc dân tộc, thực hiện
tốt các chức năng giáo dục, thẩm mỹ, … giúp sinh viên Hà Nội ngày càng
phát triển về mặt nhận thức. Tài liệu tham khảo Mục lục Phần I. Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5. Giả thuyết nghiên cứu
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
7. Điểm mới của đề tài
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Phần II. Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng sử dụng sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội dựa
trên việc tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp đã nêu
Chương III: Giải pháp tăng cường nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền hình của sinh viên Hà Nội Phần III: Kết luận