lOMoARcPSD| 61531195
NỘI DUNG ÔN TẬP CNXHKH KỲ 2022.2
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩ xã hội khoa học
1. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1. Điều kiện kinh tế biểu hiện sự phát triển của chủ nghĩa bản phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong những năm 40 của thế kỉ 19, dưới sự tác động của cách mạng công nghiệp, chủ
nghĩa bản (CNTB) đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu thuẫn
nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sự phát triển quan trọng ở đây đó CNTB hình thành chưa đầy 1 thế kỉ nhưng đã
tạo ra một khối lượng lực lượng sản xuất khổng lồ bằng tất cả các xã hội trước cộng lại.
Chính sự phát triển rất nhanh của LLSX đã tác động tới PTSX dẫn tới mâu thuẫn giữa
LLXS mang tính Xã hội hóa ngày càng cao với QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về
TLSX.
Bằng chứng thể hiện một cách nhất mâu thuẫn này chính các cuộc khủng hoảng
kinh tế mang nh chu (1825, 1836, 1847, 1857) cho thấy mâu thuẫn ngày càng nhanh hơn,
gay gắt hơn.
Các cuộc khủng hoảng là minh chứng cho sự mất cân bằng cung và cầu trên thị trường.
Khi cung lớn hơn cầu thì dẫn tới khủng hoàng thừa, sau khủng hoảng thừa thì người ta lại hạn
chế sản xuất, thu hẹp quy mô sản xuất dẫn tới cung nhỏ hơn cầu và dẫn tới khủng hoảng thiếu.
Qua đó ta thấy được học thuyết kinh tế bàn tay vô hình (để thị trường tự điều tiết) không
còn phù hợp nữa. Tất yếu nó cần được thay thế bằng một học thuyết kinh tế khác.
Đó do các nhà kinh tế đã đưa ra các quan điểm về sự điều tiết của nhà nước dưới
góc độ vĩ mô để tránh các tổn thất của các cuộc khủng hoảng.
1.2. Điều kiện hội cho sự ra đời chnghĩa hội khoa học biểu hiện sự phát
triển về xã hội thông qua sự phát triển của phong trào công nhân
Cùng với sự phát triển của CNTB đã tạo ra giai cấp sản, những người trực tiếp vận
hành trong các dây chuyền sản xuất và cũng là người đại diện cho lực lượng sản xuất. Đến thời
điểm này, giai cấp công nhân đã có sự phát triển về số lượng và chất lượng.
Cùng với sự phát triển của GCCN cũng đã hình thành nên những mâu thuẫn của GCCN
với GCTS. Mâu thuẫn này không chỉ thể hiện một cách đơn thuần như trước đã biểu hiện
một cách gay gắt và những mâu thuẫn này là những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa
được, thể hiện thông qua 3 phòng trào đấu tranh:
+ Phong trào Hiến chương ở Anh (1836-1848) đòi quyền chính trị nghị viện, cải cách dân
chủ
+ Phong trào công nhân dệt ở Đức (1844) chống lại sự hà khắc của giới chủ
+ Phong trào công nhân dệt ở thành phố Lion, Pháp (1831 và 1834): mang tính chính trị rõ
nét. Năm 1831 với khẩu hiệu thuần tính chất kinh tế “sống có việc làm hay chết trong đấu
tranh” tới 1834, khẩu hiệu chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”
Tất cả phong trào đấu tranh có thể diễn ra 1 lần, 2 lần hay diễn ra trong 1 thời gian dài
nhưng tóm lại đều đấu tranh tự phát, chịu ảnh hưởng của tưởng sản, sớm hay muộn
cũng bị giai cấp tư sản đàn áp và thất bại.
Chính những phong trào đấu tranh của GCCN đã đi đến một yêu cầu đặt ra đối với thực
tiễn để GCCN có thể đấu tranh chiến thắng GCTS thì họ cần một luận cách mạng soi
đường.
lOMoARcPSD| 61531195
Đặt ra yêu cầu cho các nkhoa học nghiên cứu thực tiễn để khái quát thành luận.
Từ đó, Mác và Ăng-gen trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về kinh tế, sự phát triển của phong trào
công nhân đã tạo ra những điều kiện khách quan để cho ra đời CNXHKH.
Chính những điều kiện Kinh Tế - Hội này mảnh đất hiện thực cho sự ra
đời của CNXHKH.
2. Tiền đề khoa học tự nhiên tưởng
luận2.1. Tiền đề khoa học tự nhiên:
Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vượt thời đại trong vật lý học sinh học đã
tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng:
a. Học thuyết tiến hóa:
Đây sở khoa học tự nhiên để khẳng định rằng giữa các loài trong thế giới đều mối
quan hệ đến nhau, bởi vì theo học thuyết, tất cả các loài đều sinh ra từ các loài trước đó bằng
con đường chọn lọc tự nhiên
Đây cũng chính một bằng chứng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần học xây
dựng quan điểm duy vật sở để các nhà khoa học tiếp thu những nhận thức mới, hiểu
biết hơn về giới tự nhiên
b. Học thuyết tế bào:
Bác bỏ phương pháp duy siêu hình để hình thành nên phương pháp duy biện chứng
khi xem xét sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên.
Đây là cơ sở khoa học tự nhiên khẳng định rằng giữa động vật và thực vật không tách
rời nhau mà chúng có chung nguồn gốc và hình thái, đó là các tế bào.
c. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng:
Thể hiện sự thông nhất của thế giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với
thế giới vật chất. Các dạng năng lượng trong thế giới, rộng hơn là các sự vật hiện tượng
không tách rời nhau, và trong các điều kiện nhất định có thể chuyển hoá cho nhau.
Trên đây là 3 phát minh vĩ đại cấu thành nên nền tảng KHTN của quan điểm duy vật
biện chứng duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập Chủ nghĩa
hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị- xã hội đương thời.
2.2. Tiền đề tư tưởng lý luận:
Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu
đáng ghi nhận:
a. Triết học cổ điển Đức
(Đại biểu Heghen và Phơbách)
Mác thừa kế phép biện chứng của Hêghen trên cơ sở loại bỏ các yêu tố duy tâm thần bí
trong hệ thống triết học của Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bộ của
Phơbách để xây dựng phép biện chứng duy vật.
b. Kinh tế chính trị học cổ điển Anh
(Đại biểu là Adam Smith và D. Ricado)
Trong tưởng của các nhà không tưởng, kinh tế chính trị cổ điển Anh tMác đã kế
thừa được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư.
Qua nghiên cứu GTTD thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của GCTS
cũng chỉ ra được hình thức bóc lột của gia cấp sản đối với GCCN bóc lột GTTD. Từ đó
Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối lập với GCTS thì giai cấp công dân là
giai cấp cách mạng.
lOMoARcPSD| 61531195
c. Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp
(Đại biểu là XanhXimong và Phurie,…)
Nguồn gốc luận trực tiếp cho sự ra đời của CNXHKH và sự ra đời này đã đóng góp
nhiều giá trị tích cực:
+ Phê phán chế độ phong kiến, CNTB sâu sắc, toàn diện,
+ Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân
phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối
lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò
lịch sử của nhà nước...;
+ Chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà
xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao
động trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy
bất công, xung đột.
- Hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng:
Không phát hiện ra được quy luật vận động phát triển của xã hội loài người nói
chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng
Không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách
mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là giai cấp công nhân
Không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo hội áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.
Chính những hạn chế y đã đặt ra yêu cầu cho Mác phải đi giải quyết, khắc phục. Và
việc Mác khắc phục CNXHKT đầu thế kỷ 19 cũng chính là cơ sở ra đời lý luận CNXHKH
Kết luận : Chính những tiền đề khoa học tự nhiên và tiền đề tư tưởng lý luận là
những vấn đề thực tiễn đặt ra để Mác Ăng-gen kế thừa, cải tạo sự chọn lọc phát
triển lên học thuyết của mình, cho ra đời CNXHKH sau này.
Câu 2: Vai trò của C.Mác Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học?
Vai trò tổng quát:
+ Gắn liền nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn
+ Trả lời được các vấn đề thời đại đặt ra một cách khoa học, từng bước hình thành học
thuyết của mình
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
Trước năm 1842, C.Mác Ăngghen những thanh niên sôi nổi, nhân đạo, đam
với triết học nhưng vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng.
Tháng 10/1843, Mac sang Paris để viết Niên giám Pháp Đức đã đánh dấu bước hoàn
thành sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chỉ nghĩa duy vật. Trong bài “Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Heghen Lời nói đầu” được in trong Niên giám Pháp Đức,
Mác đã chỉ ra “cái khả năng tích cực” của giai cấp vô sản. Tư tưởng về vai trò lịch sử toàn thế
giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Đối với Ph. Ăngghen, từ năm 1843 với các tác phẩm “Tình cảnh nước Anh”, “Lược
khảo khoa kinh tế - chính trị” ông đã chuyển từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy
vật, từ lập trường dân chcách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa. Ph.Ăngghen cho ra
đòi tác phẩm Gia đình thần thánh (1885), Luận cương về Phoiơbắc (1845),…
1847 đến đầu 1848,: C.Mác Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản”.
lOMoARcPSD| 61531195
Trong một khoảng thời gian vừa gắn nghiên cứu lý luận với hoạt động thực tiễn
thì Mác Ăng-ghen đã có sự chuyển biến về lập trường triết học và lập trường chính trị. Từ
đó giúp các ông khẳng định một cách dứt khoát,kiên định và nhất quán tư tưởng này. Nếu
không có chuyển biến này thì sẽ không có CN Mác sau này.
2. Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen:
Ba phát kiến vĩ đại gắn liền với ba lĩnh vực cụ thể là triết học, KTCT và CNXHKH.
a. Chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Trên cơ sở kế thừa “cái hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng và lọc bỏ quan điểm duy
tâm, thần của Triết học Ph.Hêghen, kế thừa những giá trị duy vật loại bỏ quan điểm siêu
hình của Triết học L.Phoiơbắc, đồng thời nghiên cứu thành tựu khoa học tự nhiên, C.Mác
Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nghiên cứu quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
+Là thế giới quan, nhân sinh quan của GCCN – đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động
trong thời đại nay.
+ Sự vận động của các HTKT-XH
+ Là cơ sở lý luận và phương pháp luận chung cho CNXH khoa học b.
Học thuyết về giá trị thặng dư:
Từ việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác Ph.Ăngghen đi sâu nghiên cứu
nền sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã sáng tạo ra bộ “tư bản”, mà giá trị
to lớn nhất của “Học thuyết về giá trị thặng dư”-phát kiến đại thứ hai của C.Mác
Ph.Ăngghen.
Nghiên cứu quy luật về mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng của cải trong những trình độ nhất định của sự phát triển hội loài
người.
Đặc biệt những quy luật trong xã hội TBCN và quá trình chuyển biến tất yếu (về kinh
tế) từ CNTB lên CNXH trong thời đại nay
c. Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân:
Trên cơ sở hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng
dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai
cấp công nhân, giai cấp sứ mênh thủ tiêu chủ nghĩa bản, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế tính lịch sử của chủ nghĩa hội không tưởngphê
phán đã được khắc phục một cách triệt để; đồng thời đã luận chứng khẳng định về phương
diện chính trị-xã hội sự diệt vọng không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu
của chủ nghĩa xã hội.
Từ những cơ sở về CN duy vật lịch sử và học thuyết GTTD, giúp cho Mác đã 1 lời
giải trên sở khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chính sự ra đời của học
thuyết này đã giúp cho CN mác trở thành một học thuyết cách mạng, một học thuyết giúp
chúng ta nhận thức và cải tạo thế giới
3. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa
học:
24/2/1848, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và Ăngghen soạn thảo lần đầu tiên
được công bố trước toàn thế giới
Tác phẩm đánh dấu sự hình thành của CN Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: triết học,
kinh tế chính trị học, và chủ nghĩa xã hội khoa học.
lOMoARcPSD| 61531195
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn là Cương lĩnh chính trị, là kim chỉ nam hành động
của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Bốn luận điểm tiêu biểu và nổi bật của tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu và phân tích ,một cách có hệ thống lịch sử và
logic hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất,đầy đủ, súc tích và chặt chẽ nhất thâu tóm hầu
như toàn bộ những luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học trong đó tiêu biểu và nổi bật
những luân điểm sau :
+ Cuộc đấu tranh của giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến một giai đoạn
mà giai cấp công nhân không thể tự giải phóng mình nếu không đồng thời giải phóng vĩnh
viễn xã hội ra khỏi tình trạng phân chia giai cấp, áp bức,bóc lột và đấu tranh giai cấp.
Song,giai cấp vô sản không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tổ chức ra chính đảng
của giai cấp, Đảng được hình thành và phát triển từ chính sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân
+ Lôgic phát triển tất yếu của xã hội tư sản và cũng là của thời đại TBCN đó là sự sụp đổ
của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu như nhau
+ Giai cấp công nhân, do có địa vị KT-XH đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến,có
sứ mệnh lịch sử thủ tiêu CNTB, đồng thời là lực lượng tiên phong trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa công sản.
+ Những người cộng sản trong cuộc đấu tranh chống CNTB, cần thiết phải thiết lập sự
liên minh với các lực lượng dân chủ để đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời
không quên đấu tranh cho mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Những người công sản
phải tiến hành cách mạng không ngừng nhưng phải có chiến lược khôn khéo vào tiên quyết.
Câu 3: Trình bày điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân thông qua chính đảng tiên phong,
giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc
lột người, xóa bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi áp lực,
bóc lộ, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh 1. Diều kiện khách
quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 1.1. Do địa vị kinh tế-xã hội của
giai cấp công nhân:
a. Thứ nhất, Giai cấp công nhân là con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, có
tính hội hóa ngày càng cao, chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. thế, GCCN
đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và LLSX hiện đại.
b. Thứ hai, Do lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại, GCCN
là người sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho hội, làm giàu cho xã hội, có vai trò quyết
định sự phát triển của xã hội hiện đại.
c. Thứ ba, Điều kiện khách quan này nhân tố kinh tế quy định GCCN lực
lượng phá vỡ quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai
cấp “tự nó” thành giai cấp “vì nó”. GCCN trở thành đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch
sử, là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện để tổ chức và lãnh đạo xã hội, xây dựng và phát triển
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng
chủ nghĩa hội với cách một chế độ hội kiểu mới, không còn chế độ người áp bức,
bóc lột người.
Địa vị KT-XH của GCCN yếu tố quan trọng nhất quy định nên SMLS CỦA
GCCN bởi nếu k địa vị về ktế là người đại diện cho LLSX tiến bộ, k địa vị về xh
bị giai cấp sản bóc lột thì sẽ không động lực về chính trị để thực hiện cuộc cách mạng
xóa bỏ CNTB để xây dựng CNXH.
1.2 Do địa vị chính trị-xã hội của giai cấp công nhân:
lOMoARcPSD| 61531195
a. Thứ nhất, GCCN là giai cấp tiên tiến nhất.
- GCCN là đại biết cho phương thức sản xuất tiên tiên, gắn liền với những thành
tựu
KH-CN hiện đại
- GCCN đại diện cho LLSX tiên tiến thể hiện ở nhiệm vụ xóa bỏ QHSX dựa trên
chếđộ tư hữu về TLSX thiết lập quan hệ sx mới tiến bộ hơn.
- GCCN được trang bị luận của chủ nghĩa Mác Nin luận cách mạng
khoahọc và tiến bộ. Đểthể tiếp thu và vận dụng lí luận này đòi hỏi GCCM cần có trình
độ lí luận nhất định.
- GCCN luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng
b. Thứ hai, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao.
- Môi trường làm việc của giai cấp công nhân sản xuất tập trung cao và có trình
độkỹ thuật ngày càng hiện đại, cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền
buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động.
- Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp sản - một giai
cấp cótiềm lực về kinh tế - kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ
luật của mình.
- Đặc biệt ý thức này càng phát triển cao khi Đảng Cộng sản lãnh đạo.c. Thứ
ba, GCCN có tinh thần cách mạng triệt để nhất.
- Điều kiện sống lao động trong chế độ TBCN đã cho họ thấy: chỉ có thể giải
phóngđược giai cấp mình khi giải phóng toàn xã hội khỏi áp bức bóc lột
- Trong quá trình xây dựng CNXH: giai cấp công nhân cũng kiên định trong cuộc
đấutranh xóa bỏ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu
d. Thứ tư, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.
- Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đềuchung một mục đích là giải phóng
mìnhđồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp
tư sản bóc lột.
- Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản,
giaicấp tư sản khi mà chúng đã liên kết với nhau thành tập đoàn bản, chủ nghĩa đế quốc, vì
vậy giai cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình, ng nhau
thực hiện SMLS
ĐK khách quan quy định SMLS của GCCN thể hiện ở 2 nội dung: 1 về địa vị KT-
XH của gccn và thứ 2 là địa vị về chính trị xã hội của GCCN chính điều kiện khách quan
này là 1 trong các yếu đố đẻ GCCN hoàn thành SMLS của mình.
2. Điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình?
Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiên phong, giai cấp
công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người,
xóa bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi áp lực, bóc lộ, nghèo
nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
2.1. Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng:
-Số lượng: Cùng với sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá làm số lượng GCCN tăng
mạnh mẽ
- Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp
côngnhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình.
lOMoARcPSD| 61531195
Chất lượng công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một
giai cấp cách mạng, tức tự giác nhận thức được vai trò trọng trách của giai cấp mình đối
với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ về lý luận khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Leenin.
- giai cấp đại diện tiêu biển cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai
cấpcông nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
2.2. Đảng Cộng sản nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân
thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
- Đảng Cộng sản-đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời đảm nhận vai
tròlãnh đạo cuộc cách mạng dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân
với tư cách là giai cấp cách mạng.
- Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất
củaĐảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham
mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công
nhân, của dân tộc và xã hội.
- Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản:
+ Đề ra đường lối,
+ Tuyên truyền vận dụng đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống;
+ Tổ chức thực hiện đường lối
+ Gương mẫu thực hiện đường lối.
2.3. Sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác (trí thức, tiểu thương,…) do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của
nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Để cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN đi
tới thắng lợi, phải có sự liên minh giai cấp giữa GCCN với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác do GCCN thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Chỉ duy nhất giai cấp công nhân sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa bản, từng
bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Câu 4: Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH a.
Khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá đô lên chủ nghĩa xã hộ i là thời kỳ cải tạo cách mạng sâu sắc, triệ t để xã hộ
i tư  bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hôi, xây dựng từng
bước  cơ sở vât chất- kỹ thuậ t và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hộ i. Đó là thời kỳ lâu
dài, gian  khổ bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao đông giành được chính quyền
đến khi  xây dựng thành công chủ nghĩa xã hôi.
Nội dung tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
a.Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản có sự khác nhau về chất nên muốn có được CNXH
phải trải qua thời kỳ quá độ
lOMoARcPSD| 61531195
CNXH
Chế độ công hữu về TLSX
Không còn tình trạng áp bức bóc
lột
Không còn đối kháng giai cấp
Nhà nước của đại đa số trấn áp thiểu số
CNTB
Chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN
về TLSX
Áp bức bóc lột bất công
Đối kháng giai cấp
Nhà nước của thiểu số trấn áp đại
đa số
b. Tiền đề KT của CNXH là kết quả cải tạo và xây dựng do GCCN tiến hành
Chủ nghĩa bản phát triển tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH nhưng để sở
vật chất đó phục vụ cho CNXH thì cần có thời gian để tổ chức, sắp xếp lại
Về bản chất những nước đã qua chủ nghĩa tư bản thì có nền đại công nghiệp do CNTB
tạo ra, nhưng chủ yếu phục vụ cho thiểu số trong xã hội ( do phần lớn sức lao động của
CN chuyển thành giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm) khi nhân dân lao động
giành chính quyền muốn sử dụng sở vật chất đó phục vụ cho CNXH thì cần thời
gian.
Những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản tiến lên CNXH cần có thời gian dài để tiến
hành CNH- HĐH XHCN. Thời gian đó chính là thời kì quá độ .
c. Các quan hệ kinh tế của CNXH không thể tự phát ra ở trong lòng CNTB, các quan hệ đó
làquá trình cải tạo và xây dựng do GCCN tiến hành
Cụ thể quan hệ kinh tế ở đây chính là quan hệ sản xuất dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất.
d.Xây dựng CNXH là công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp cần nhiều thời gian đề GCCN
làm quen và thực hiện
Trước đây khi GCCN chưa giành được chính quyền vậy sau khi giành được chính quyền, họ
cần sự dụng chính quyền để cải tạo, xây dựng, tổ chức, quản lý kinh tế, chính trị văn hóa xã
hội. Rõ ràng đây là công việc mới đối với giai cấp công nhân.
=> Muốn có CNXH phải trải qua thời kì quá độ nên Quá độ lên CNXH là một tất yếu
Câu 5: Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin
1. Khái niệm dân tộc:
Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Sự biến đổi
của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
Khái niệm dân tộc được hiểu theo 2 nghĩa: (rộng và hẹp)
Theo nghĩa rộng: dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một
nước, lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, ngôn ngữ chung ý thức về sự
thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và
truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
2. Căn cứ đề ra cương lĩnh dân tộc:
- Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
+ Các phong trào dân tộc đều mang tính chất giai cấp sâu sắc
lOMoARcPSD| 61531195
+ Thực chất của áp bức dân tộc là áp bức giai cấp, cơ sở để giải phóng các dân tộc bị áp bức,
xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc là xóa bỏ sự phân chia giai cấp và áp bức giai
cấp
+ Theo quan điểm của Mác - Lenin, vấn đề dân tộc là một bộ phận của vấn đề giai cấp, giải
quyết vấn đề dân tộc phải đứng trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân và thông
qua cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Kinh nghiệm của việc giải quyết các vấn đề dân tộc ở nước Nga.
- Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc:
+ Xu hướng thứ nhất: công đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng
dân tộc độc lập.
+ Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc
nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
3. Nội dung cương lĩnh dân tộc:
Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tộc như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các
dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.”
a. Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
- Đây quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn
hay nhỏ, ởtrình độ phát triển cao hay thấp. c dân tộc đều có nghĩa vịquyền lợi
ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực đời sống hội, không dân tộc nào được giữ đặc
quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa.
- Trong quan hệ hội ng như trong quan hệ quốc tế, không một dân
tộc nào cóquyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều dân
tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên sở pháp lý, nhưng quan
trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế.
- Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình
trạng áp bứcgiai cấp, trên cơ sở đó xóa bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh
chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Quyền bình đẳng
giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan
hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Ý nghĩa: Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc mục tiêu phấn đấu
của các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng. Nó là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và
xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc.
b. Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết:
- Đó là quyền các dân tộc tự quyết lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền
tự lựa chọnchế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
- Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia
dân tộc độclập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ
sở bình đẳng.
- Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người
thiểu sốtrong một quốc gia đa tộc người, nhất việc phân lập thành quốc gia độc
lập. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực phản động,
thù địch lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của
các nước, hoặc kích động đòi lỳ khai các dân tộc.
lOMoARcPSD| 61531195
Ý nghĩa: Quyền dân tộc tự quyết một quyền bản của dân tộc. Nó là cơ sở để xóa
bỏ sự hiềm khích, thù hằn giữa các dân tộc, phát huy tiềm năng của các dân tộc vào sự phát
triển chung của nhân loại.
c. Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:
- Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng
dân tộc vàgiải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn chặt chgiữa tinh thần của chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
- Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc sở vững chắc để đoàn
kết các tầnglớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc độc lập dân tộc tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung này vừa là nội
dung chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh
dân tộc thành một chính thể.
Ý nghĩa: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội dung cơ bản nhất trong
cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân
+ Phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc giải phóng giai
cấp.
+ Đảm bảo cho phong trào giải phóng dân tộc đủ sức mạnh để giành thắng
lợi.
+ điều kiện thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Do
đó, là cơ sở để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giải phòng dân tộc bị áp bức.
+ Liên kết cả ba nội dung thành một chỉnh thể.
Câu 6: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Leenin về bản chất, nguồn gốc nguyên tắc giải
quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên CNXH?
1. Về bản chất của tôn giáo:
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội tiêu cực vì:
+ Khác với sự sáng tạo ra ngôn ngữ, công cự sản xuất, … những sáng tạp này là điều kiện giúp
con người vươn lên làm chủ tự nhiên, hội thì con người sinh ra tôn giáp song lại bị phụ thuộc,
sợ hãi và phục tùng tôn giáo vô điều kiện.
+ Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với
thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của CN Mác-Lenin.
Một số tôn giáo thông qua các giáo thuyết và các hành vi cực đoan khác đã kìm hãm nhận thức
khả năng vươn lên của con người, trước hết những tín độ, thậm chí đẩy họ đến những hành
động đi ngược lại trào lưu xu thế văn minh.
Ở một số khía cạnh nhất định, tôn giáo có tính tích cực: Hầu hết tôn giáo đều có giá trị về mặt
đạo đức, có giá trị về mặt văn hóa và có khả năng đoàn kết nhân dân.
2. Về nguồn gốc của tôn giáo:
a. Ngu n gốc tự nhiên, kinh tế - xã hôi 
+ Nguồn gốc kinh tế:
Kinh tế trình độ còn thấp kém: trong hội công nguyên thủy, do lực lượng sảnxuất
chưa phát triển, con người sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên trước thiên nhiên hùng con
người cảm thấy yếu đuối, bất lực nên tự gán cho tự nhiên những sức mạnh thần bí
Kinh tế trình độ cao: con người không phải lo lắng quá nhiều về chuyện cơm ăn
áomặc, có nhiều thời gian
+ Nguồn gốc xã hội:
lOMoARcPSD| 61531195
Mâu thuẫn giai cấp, không giải ch được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức
bóc lột bất công, tội ác… cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người
trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế
Bất ổn của đời sống hội: chiến tranh Nga-Ukraine cầu nguyện cho trái đất hòa
bình…
b. Ngu n gốc nhân thức
- môt giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, hội
chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại,
khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông qua
lăng kính các tôn giáo.
- Do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, mảnh
đấtcho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển.
- Do trình độ cao: con người đạt được duy trừu tượng, suy nghĩ suy diễn, sự
tuyệtđối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhân thức con người, biến cái nội dung khách qua
thành cái siêu nhiên, thần thánh.
- Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu
mặtchủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần
thánh.
c. Ngu n gốc tâm lý
- Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc ốm đau,
bệnh tật;ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một
việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu sự nghiêp kinh doanh…), con người cũng
dễ tì đến với tôn giáo.
- Thâm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng
đối vớị những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo (ví dụ:
thờ các anh hùng dân tôc, thờ các thành hoàng làng…).
3. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo:
a. Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân
dân:
- Do tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng
nhândân.
- Tôn trọng bảo đảm nhu cầu đó thể hiện bản chất cùa nền dân chủ hội
chủnghĩa.
- Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng thể hiện ở chỗ với mọi
ngườidân theo hay không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ.
b. Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo:
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi
bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ
nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là phải xác lập được một thế giới hiện
thực không có áp bức, bất công, nghèo đói, thất học, tệ nạn. Đó là một quá trình lâu dài, và
không thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
c. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng của tôn giáo trong quá trình giải quyết
vấn đề tôn giáo
- Mặt tư tưởng: Phản ánh mâu thuẫn không đối kháng giữa những người theo tôn
giáo khác nhau hoặc giữa những người không theo tôn giáo và theo tôn giáo.
lOMoARcPSD| 61531195
Giải quyết: Giáo dục, thuyết phục giải thích để nhân dân nhận thức đúng vấn đề,
tránh những sai lầm không đáng có. Phải lâu dài, kiên trì mới đạt hiệu quả.
- Mặt chính trị: Phản ánh mâu thuẫn đối kháng giữa các thế lực lợi dụng tôn giáo
để thực hiện mục đích xấu. Trái với nhân dân lao động nhằm xây dựng đất nước, xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Giải quyết: Kịp thời, dứt khoát, thận trọng.
d. Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng.
Tôn giáo luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện
kinh tế - xã hội – lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có quá trình tồn tại và
phát triển nhất định, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối
với đời sống xã hội khác nhau. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh
giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Câu 7. Phân tích các chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành , duy trì và củng cố chủ
yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những
quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm, mang lại giá trị hạnh phúc, sự hài hoà trong đời sống
cá nhân của mỗi thành viên và là cầu nối giữa cá nhân với xã hội. Chức năng của gia đình là
một yếu tố then chốt giúp duy trì sự tồn tại của xã hội.
1. Chức năng tái sàn xuất ra con người (sinh đẻ)
- chức năng đặc thù của gia đình, không một cộng đồng nào thể thay thế.
Chứcnăng này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý của con người, đáp ứng nhu cầu duy trì
nòi giống cùa gia đình, dòng họ mà còn đáp ứng nhu cầu về sức lao động của xã hội.
- Quyết định mật độ dân cư nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế,
mộtyếu tố cấu thành của tồn tại xã hội.
- Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người diễn ra trong từng gia
đình,nhưng không chỉ việc riêng của gia đình là vấn đhội. Trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động mà gia đình cung cấp.
2. Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục Đây là chức năng cơ bản của gia đình
- Bên cạnh chức năng tái sản xuất ra con người, gia đình còn có trách nhiệm
nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái trở thành người có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội. Chức
năng này thể hiện tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm của cha mẹ với con cái, đồng thời thể
hiện trách nhiệm của gia đình với xã hội. Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người.
- Gia đình là một môi trường văn hóa, giáo dục, trong môi trường này, mỗi thành
viên đều là những chủ thể sáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thể giáo dục đồng thời cũng là
những người thụ hưởng giá trị văn hóa, và là khách thể chịu sự giáo dục của các thành viên
khác trong gia đình.
- Mỗi thành viên trong gia đình đều có vị trí, vai trò nhất định, vừa là chủ thể
vừa là khách thể trong việc nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình. Giáo dục của gia đình gắn liền
với giáo dục của xã hội. Do vậy, cần tránh khuynh hướng coi trọng giáo dục gia đình mà hạ
thấp giáo dục của xã hội hoặc ngược lại. Thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, đòi
lOMoARcPSD| 61531195
hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ phải có kiến thức cơ bản, tương đối toàn diện về mọi mặt, văn
hóa, học vấn, đặc biệt là phương pháp giáo dục.
3. Chức năng kinh tế, tổ chức tiêu dùng
- Gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà các đơn vị kinh tế khác không có
được, là ở chỗ, gia đình là đơn vị duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra
sức lao động cho xã hội.
- Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản xuất ra của cải
vật chất và sức lao động, mà còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội.
- Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau và ngay
cả ở một hình thức gia đình, nhưng tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng
kinh tế của gia đình có sự khác nhau, về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và cách thức
tổ chức sản xuất và phân phối. Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế
gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau.
- Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu
vật chất, tinh thần của các thành viên trong gia đình, không những tạo cho gia đình có cơ sở
để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạy con cái, mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã
hội.
4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình
Đây là chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn như cầu về tình cảm, văn
hóa, tinh thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. Việc quan tâm
chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình cảm, vừa trách
nhiệm, đạo lý, lương tâm mỗi con người. thế gia đình không chỉ chỗ dựa vững chắc về
mặt vật chất mà còn là chõ dựa về mặt tinhthần. Việc duy trì tình cảm trong gia đình cũng giúp
đảm bảo sự ổn định và phát triển cho hội, khi các mối quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì
các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan vỡ.
5. Ngoài các chức năng trên, gia đình còn có các chức năng: Văn hóa. chính trị:
- Với chức năng văn hóa: gia đình nơi lưu giữ truyền thống văn hóa của dân
tộccũng như tộc người.
- Với chức năng chính trị: gia đình một tổ chức chính trị của xã hội, nơi tổ
chứcthực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước và quy chế của làng xã. đồng thời hưởng lợi
từ hệ thống pháp luật, chính sách và quy chế đó. Gia đình cũng là cầu nối của mối quan hệ giữa
nhà nước với công dân.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61531195
NỘI DUNG ÔN TẬP CNXHKH KỲ 2022.2
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩ xã hội khoa học
1. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1. Điều kiện kinh tế biểu hiện ở sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong những năm 40 của thế kỉ 19, dưới sự tác động của cách mạng công nghiệp, chủ
nghĩa tư bản (CNTB) đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu thuẫn
nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sự phát triển quan trọng ở đây đó là CNTB hình thành chưa đầy 1 thế kỉ nhưng nó đã
tạo ra một khối lượng lực lượng sản xuất khổng lồ bằng tất cả các xã hội trước cộng lại.
Chính sự phát triển rất nhanh của LLSX đã tác động tới PTSX dẫn tới mâu thuẫn giữa
LLXS mang tính Xã hội hóa ngày càng cao với QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX.
Bằng chứng thể hiện một cách rõ nhất mâu thuẫn này chính là các cuộc khủng hoảng
kinh tế mang tính chu kì (1825, 1836, 1847, 1857) cho thấy mâu thuẫn ngày càng nhanh hơn, gay gắt hơn.
Các cuộc khủng hoảng là minh chứng cho sự mất cân bằng cung và cầu trên thị trường.
Khi cung lớn hơn cầu thì dẫn tới khủng hoàng thừa, sau khủng hoảng thừa thì người ta lại hạn
chế sản xuất, thu hẹp quy mô sản xuất dẫn tới cung nhỏ hơn cầu và dẫn tới khủng hoảng thiếu.
Qua đó ta thấy được học thuyết kinh tế bàn tay vô hình (để thị trường tự điều tiết) không
còn phù hợp nữa. Tất yếu nó cần được thay thế bằng một học thuyết kinh tế khác.
Đó là lý do các nhà kinh tế đã đưa ra các quan điểm về sự điều tiết của nhà nước dưới
góc độ vĩ mô để tránh các tổn thất của các cuộc khủng hoảng.
1.2. Điều kiện xã hội cho sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học biểu hiện ở sự phát
triển về xã hội thông qua sự phát triển của phong trào công nhân
Cùng với sự phát triển của CNTB đã tạo ra giai cấp vô sản, là những người trực tiếp vận
hành trong các dây chuyền sản xuất và cũng là người đại diện cho lực lượng sản xuất. Đến thời
điểm này, giai cấp công nhân đã có sự phát triển về số lượng và chất lượng.
Cùng với sự phát triển của GCCN cũng đã hình thành nên những mâu thuẫn của GCCN
với GCTS. Mâu thuẫn này không chỉ thể hiện một cách đơn thuần như trước mà đã biểu hiện
một cách gay gắt và những mâu thuẫn này là những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa
được, thể hiện thông qua 3 phòng trào đấu tranh:
+ Phong trào Hiến chương ở Anh (1836-1848) đòi quyền chính trị ở nghị viện, cải cách dân chủ
+ Phong trào công nhân dệt ở Đức (1844) chống lại sự hà khắc của giới chủ
+ Phong trào công nhân dệt ở thành phố Lion, Pháp (1831 và 1834): mang tính chính trị rõ
nét. Năm 1831 với khẩu hiệu thuần tính chất kinh tế “sống có việc làm hay chết trong đấu
tranh” tới 1834, khẩu hiệu chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”
Tất cả phong trào đấu tranh có thể diễn ra 1 lần, 2 lần hay diễn ra trong 1 thời gian dài
nhưng tóm lại đều là đấu tranh tự phát, chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, sớm hay muộn
cũng bị giai cấp tư sản đàn áp và thất bại.
Chính những phong trào đấu tranh của GCCN đã đi đến một yêu cầu đặt ra đối với thực
tiễn là để GCCN có thể đấu tranh chiến thắng GCTS thì họ cần có một lý luận cách mạng soi đường. lOMoAR cPSD| 61531195
Đặt ra yêu cầu cho các nhà khoa học nghiên cứu thực tiễn để khái quát thành lý luận.
Từ đó, Mác và Ăng-gen trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về kinh tế, sự phát triển của phong trào
công nhân đã tạo ra những điều kiện khách quan để cho ra đời CNXHKH.
Chính những điều kiện Kinh Tế - Xã Hội này là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của CNXHKH. 2.
Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý
luận2.1. Tiền đề khoa học tự nhiên:
Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vượt thời đại trong vật lý học và sinh học đã
tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng:
a. Học thuyết tiến hóa:
Đây là cơ sở khoa học tự nhiên để khẳng định rằng giữa các loài trong thế giới đều có mối
quan hệ đến nhau, bởi vì theo học thuyết, tất cả các loài đều sinh ra từ các loài trước đó bằng
con đường chọn lọc tự nhiên

Đây cũng chính là một bằng chứng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần học xây
dựng quan điểm duy vật và là cơ sở để các nhà khoa học tiếp thu những nhận thức mới, hiểu
biết hơn về giới tự nhiên
b. Học thuyết tế bào:
Bác bỏ phương pháp tư duy siêu hình để hình thành nên phương pháp tư duy biện chứng
khi xem xét sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên.
Đây là cơ sở khoa học tự nhiên khẳng định rằng giữa động vật và thực vật không tách
rời nhau mà chúng có chung nguồn gốc và hình thái, đó là các tế bào.
c. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng:
Thể hiện sự thông nhất của thế giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với
thế giới vật chất. Các dạng năng lượng trong thế giới, rộng hơn là các sự vật hiện tượng
không tách rời nhau, và trong các điều kiện nhất định có thể chuyển hoá cho nhau.

 Trên đây là 3 phát minh vĩ đại cấu thành nên nền tảng KHTN của quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, Là cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập Chủ nghĩa xã
hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị- xã hội đương thời.
2.2. Tiền đề tư tưởng lý luận:
Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận:
a. Triết học cổ điển Đức
(Đại biểu Heghen và Phơbách)
Mác thừa kế phép biện chứng của Hêghen trên cơ sở loại bỏ các yêu tố duy tâm thần bí
trong hệ thống triết học của Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bộ của
Phơbách để xây dựng phép biện chứng duy vật.
b. Kinh tế chính trị học cổ điển Anh
(Đại biểu là Adam Smith và D. Ricado)
Trong tư tưởng của các nhà không tưởng, kinh tế chính trị cổ điển Anh thì Mác đã kế
thừa được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư.
Qua nghiên cứu GTTD thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của GCTS và
cũng chỉ ra được hình thức bóc lột của gia cấp tư sản đối với GCCN là bóc lột GTTD. Từ đó
Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối lập với GCTS thì giai cấp công dân là giai cấp cách mạng. lOMoAR cPSD| 61531195
c. Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp
(Đại biểu là XanhXimong và Phurie,…)
Nguồn gốc lý luận trực tiếp cho sự ra đời của CNXHKH và sự ra đời này đã đóng góp
nhiều giá trị tích cực:
+ Phê phán chế độ phong kiến, CNTB sâu sắc, toàn diện,
+ Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân
phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối
lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò
lịch sử của nhà nước...;
+ Chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà
xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao
động trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột.
- Hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng: •
Không phát hiện ra được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người nói
chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng •
Không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách
mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là giai cấp công nhân •
Không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.
Chính những hạn chế này đã đặt ra yêu cầu cho Mác phải đi giải quyết, khắc phục. Và
việc Mác khắc phục CNXHKT đầu thế kỷ 19 cũng chính là cơ sở ra đời lý luận CNXHKH
Kết luận : Chính những tiền đề khoa học tự nhiên và tiền đề tư tưởng lý luận là
những vấn đề thực tiễn đặt ra để Mác Ăng-gen kế thừa, cải tạo có sự chọn lọc và phát
triển lên học thuyết của mình, cho ra đời CNXHKH sau này.

Câu 2: Vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học? Vai trò tổng quát:
+ Gắn liền nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn
+ Trả lời được các vấn đề mà thời đại đặt ra một cách khoa học, từng bước hình thành học thuyết của mình
1. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị:
Trước năm 1842, C.Mác và Ăngghen là những thanh niên sôi nổi, nhân đạo, đam mê
với triết học nhưng vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng.
Tháng 10/1843, Mac sang Paris để viết Niên giám Pháp – Đức đã đánh dấu bước hoàn
thành sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chỉ nghĩa duy vật. Trong bài “Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Heghen – Lời nói đầu” được in trong Niên giám Pháp – Đức,
Mác đã chỉ ra “cái khả năng tích cực” của giai cấp vô sản. Tư tưởng về vai trò lịch sử toàn thế
giới của giai cấp vô sản là điểm xuất phát của chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Đối với Ph. Ăngghen, từ năm 1843 với các tác phẩm “Tình cảnh nước Anh”, “Lược
khảo khoa kinh tế - chính trị” ông đã chuyển từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy
vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa. Ph.Ăngghen cho ra
đòi tác phẩm Gia đình thần thánh (1885), Luận cương về Phoiơbắc (1845),…
1847 đến đầu 1848,: C.Mác và Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. lOMoAR cPSD| 61531195
Trong một khoảng thời gian vừa gắn nghiên cứu lý luận với hoạt động thực tiễn
thì Mác Ăng-ghen đã có sự chuyển biến về lập trường triết học và lập trường chính trị. Từ
đó giúp các ông khẳng định một cách dứt khoát,kiên định và nhất quán tư tưởng này. Nếu
không có chuyển biến này thì sẽ không có CN Mác sau này.

2. Ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen:
Ba phát kiến vĩ đại gắn liền với ba lĩnh vực cụ thể là triết học, KTCT và CNXHKH.
a. Chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Trên cơ sở kế thừa “cái hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng và lọc bỏ quan điểm duy
tâm, thần bí của Triết học Ph.Hêghen, kế thừa những giá trị duy vật và loại bỏ quan điểm siêu
hình của Triết học L.Phoiơbắc, đồng thời nghiên cứu thành tựu khoa học tự nhiên, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nghiên cứu quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
+Là thế giới quan, nhân sinh quan của GCCN – đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động trong thời đại nay.
+ Sự vận động của các HTKT-XH
+ Là cơ sở lý luận và phương pháp luận chung cho CNXH khoa học b.
Học thuyết về giá trị thặng dư:

Từ việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đi sâu nghiên cứu
nền sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã sáng tạo ra bộ “tư bản”, mà giá trị
to lớn nhất của nó là “Học thuyết về giá trị thặng dư”-phát kiến vĩ đại thứ hai của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Nghiên cứu quy luật về mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng của cải trong những trình độ nhất định của sự phát triển xã hội loài người.
Đặc biệt là những quy luật trong xã hội TBCN và quá trình chuyển biến tất yếu (về kinh
tế) từ CNTB lên CNXH trong thời đại nay
c. Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân:
Trên cơ sở hai phát kiến vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng
dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có phát kiến vĩ đại thứ ba, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai
cấp công nhân, giai cấp có sứ mênh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Với phát kiến thứ ba, những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hội không tưởngphê
phán đã được khắc phục một cách triệt để; đồng thời đã luận chứng và khẳng định về phương
diện chính trị-xã hội sự diệt vọng không tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
 Từ những cơ sở về CN duy vật lịch sử và học thuyết GTTD, giúp cho Mác đã có 1 lời
giải trên cơ sở khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chính sự ra đời của học
thuyết này đã giúp cho CN mác trở thành một học thuyết cách mạng, là một học thuyết giúp
chúng ta nhận thức và cải tạo thế giới
3. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học:
24/2/1848, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và Ăngghen soạn thảo lần đầu tiên
được công bố trước toàn thế giới
Tác phẩm đánh dấu sự hình thành của CN Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: triết học,
kinh tế chính trị học, và chủ nghĩa xã hội khoa học. lOMoAR cPSD| 61531195
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn là Cương lĩnh chính trị, là kim chỉ nam hành động
của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Bốn luận điểm tiêu biểu và nổi bật của tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu và phân tích ,một cách có hệ thống lịch sử và
logic hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất,đầy đủ, súc tích và chặt chẽ nhất thâu tóm hầu
như toàn bộ những luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học trong đó tiêu biểu và nổi bật là
những luân điểm sau :
+
Cuộc đấu tranh của giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến một giai đoạn
mà giai cấp công nhân không thể tự giải phóng mình nếu không đồng thời giải phóng vĩnh
viễn xã hội ra khỏi tình trạng phân chia giai cấp, áp bức,bóc lột và đấu tranh giai cấp.
Song,giai cấp vô sản không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tổ chức ra chính đảng
của giai cấp, Đảng được hình thành và phát triển từ chính sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân +
Lôgic phát triển tất yếu của xã hội tư sản và cũng là của thời đại TBCN đó là sự sụp đổ
của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu như nhau +
Giai cấp công nhân, do có địa vị KT-XH đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến,có
sứ mệnh lịch sử thủ tiêu CNTB, đồng thời là lực lượng tiên phong trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa công sản. +
Những người cộng sản trong cuộc đấu tranh chống CNTB, cần thiết phải thiết lập sự
liên minh với các lực lượng dân chủ để đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời
không quên đấu tranh cho mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Những người công sản
phải tiến hành cách mạng không ngừng nhưng phải có chiến lược khôn khéo vào tiên quyết.
Câu 3: Trình bày điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiên phong,
giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc
lột người, xóa bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi áp lực,
bóc lộ, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh 1. Diều kiện khách
quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 1.1. Do địa vị kinh tế-xã hội của giai cấp công nhân:
a.
Thứ nhất, Giai cấp công nhân là con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, có
tính xã hội hóa ngày càng cao, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Vì thế, GCCN
đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và LLSX hiện đại. b.
Thứ hai, Do lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại, GCCN
là người sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội, làm giàu cho xã hội, có vai trò quyết
định sự phát triển của xã hội hiện đại. c.
Thứ ba, Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế quy định GCCN là lực
lượng phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai
cấp “tự nó” thành giai cấp “vì nó”. GCCN trở thành đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch
sử, là lực lượng duy nhất có đủ điều kiện để tổ chức và lãnh đạo xã hội, xây dựng và phát triển
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng
chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, không còn chế độ người áp bức, bóc lột người.
Địa vị KT-XH của GCCN là yếu tố quan trọng nhất quy định nên SMLS CỦA
GCCN bởi nếu k có địa vị về ktế là người đại diện cho LLSX tiến bộ, k có địa vị về xh là
bị giai cấp tư sản bóc lột thì sẽ không có động lực về chính trị để thực hiện cuộc cách mạng
xóa bỏ CNTB để xây dựng CNXH.

1.2 Do địa vị chính trị-xã hội của giai cấp công nhân: lOMoAR cPSD| 61531195
a. Thứ nhất, GCCN là giai cấp tiên tiến nhất.
- GCCN là đại biết cho phương thức sản xuất tiên tiên, gắn liền với những thành tựu KH-CN hiện đại
- GCCN đại diện cho LLSX tiên tiến thể hiện ở nhiệm vụ xóa bỏ QHSX dựa trên
chếđộ tư hữu về TLSX thiết lập quan hệ sx mới tiến bộ hơn.
- GCCN được trang bị lí luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin là lí luận cách mạng
khoahọc và tiến bộ. Để có thể tiếp thu và vận dụng lí luận này đòi hỏi GCCM cần có trình
độ lí luận nhất định.
- GCCN luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng
b. Thứ hai, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. -
Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình
độkỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền
buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. -
Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản - là một giai
cấp cótiềm lực về kinh tế - kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình. -
Đặc biệt ý thức này càng phát triển cao khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo.c. Thứ
ba, GCCN có tinh thần cách mạng triệt để nhất. -
Điều kiện sống và lao động trong chế độ TBCN đã cho họ thấy: chỉ có thể giải
phóngđược giai cấp mình khi giải phóng toàn xã hội khỏi áp bức bóc lột -
Trong quá trình xây dựng CNXH: giai cấp công nhân cũng kiên định trong cuộc
đấutranh xóa bỏ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu
d. Thứ tư, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế. -
Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đều có chung một mục đích là giải phóng
mìnhđồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột. -
Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản,
giaicấp tư sản khi mà chúng đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vì
vậy mà giai cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình, cùng nhau thực hiện SMLS
ĐK khách quan quy định SMLS của GCCN thể hiện ở 2 nội dung: 1 về địa vị KT-
XH của gccn và thứ 2 là địa vị về chính trị xã hội của GCCN và chính điều kiện khách quan
này là 1 trong các yếu đố đẻ GCCN hoàn thành SMLS của mình.

2. Điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình?
Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiên phong, giai cấp
công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người,
xóa bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi áp lực, bóc lộ, nghèo
nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
2.1. Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng:
-Số lượng: Cùng với sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá làm số lượng ở GCCN tăng mạnh mẽ -
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp
côngnhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. lOMoAR cPSD| 61531195
Chất lượng công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một
giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối
với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Leenin. -
Là giai cấp đại diện tiêu biển cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai
cấpcông nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, nhất là trong điều kiện hiện nay.
2.2. Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân
thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. -
Đảng Cộng sản-đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai
tròlãnh đạo cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân
với tư cách là giai cấp cách mạng. -
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất
củaĐảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham
mưu chiến đấu của giai cấp. Đảng Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công
nhân, của dân tộc và xã hội. -
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản: + Đề ra đường lối,
+ Tuyên truyền vận dụng đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống;
+ Tổ chức thực hiện đường lối
+ Gương mẫu thực hiện đường lối.
2.3. Sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác (trí thức, tiểu thương,…) do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của
nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Để cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN đi
tới thắng lợi, phải có sự liên minh giai cấp giữa GCCN với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác do GCCN thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Chỉ duy nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, từng
bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Câu 4: Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH a.
Khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá đô lên chủ nghĩa xã hộ i là thời kỳ cải tạo cách mạng sâu sắc, triệ t để xã hộ
i tư ̣ bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hôi, xây dựng từng
bước ̣ cơ sở vât chất- kỹ thuậ t và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hộ i. Đó là thời kỳ lâu
dài, gian ̣ khổ bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao đông giành được chính quyền
đến khi ̣ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hôi.̣
Nội dung tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
a.Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản có sự khác nhau về chất nên muốn có được CNXH
phải trải qua thời kỳ quá độ lOMoAR cPSD| 61531195 CNXH CNTB
• Chế độ công hữu về TLSX
• Chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX
• Không còn tình trạng áp bức bóc lột
• Áp bức bóc lột bất công
• Không còn đối kháng giai cấp • Đối kháng giai cấp
• Nhà nước của đại đa số trấn áp thiểu số
• Nhà nước của thiểu số trấn áp đại đa số
b. Tiền đề KT của CNXH là kết quả cải tạo và xây dựng do GCCN tiến hành
• Chủ nghĩa tư bản phát triển tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH nhưng để cơ sở
vật chất đó phục vụ cho CNXH thì cần có thời gian để tổ chức, sắp xếp lại
• Về bản chất những nước đã qua chủ nghĩa tư bản thì có nền đại công nghiệp do CNTB
tạo ra, nhưng chủ yếu phục vụ cho thiểu số trong xã hội ( do phần lớn sức lao động của
CN chuyển thành giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm) khi nhân dân lao động
giành chính quyền muốn sử dụng cơ sở vật chất đó phục vụ cho CNXH thì cần thời gian.
• Những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản tiến lên CNXH cần có thời gian dài để tiến
hành CNH- HĐH XHCN. Thời gian đó chính là thời kì quá độ .
c. Các quan hệ kinh tế của CNXH không thể tự phát ra ở trong lòng CNTB, các quan hệ đó
làquá trình cải tạo và xây dựng do GCCN tiến hành
Cụ thể quan hệ kinh tế ở đây chính là quan hệ sản xuất dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất.
d.Xây dựng CNXH là công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp cần nhiều thời gian đề GCCN
làm quen và thực hiện

Trước đây khi GCCN chưa giành được chính quyền vậy sau khi giành được chính quyền, họ
cần sự dụng chính quyền để cải tạo, xây dựng, tổ chức, quản lý kinh tế, chính trị văn hóa xã
hội. Rõ ràng đây là công việc mới đối với giai cấp công nhân.
=> Muốn có CNXH phải trải qua thời kì quá độ nên Quá độ lên CNXH là một tất yếu
Câu 5: Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin
1. Khái niệm dân tộc:
Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Sự biến đổi
của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
Khái niệm dân tộc được hiểu theo 2 nghĩa: (rộng và hẹp)
Theo nghĩa rộng: dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một
nước, có lãnh thổ quốc gia, có nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự
thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và
truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
2. Căn cứ đề ra cương lĩnh dân tộc:
- Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
+ Các phong trào dân tộc đều mang tính chất giai cấp sâu sắc lOMoAR cPSD| 61531195
+ Thực chất của áp bức dân tộc là áp bức giai cấp, cơ sở để giải phóng các dân tộc bị áp bức,
xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc là xóa bỏ sự phân chia giai cấp và áp bức giai cấp
+ Theo quan điểm của Mác - Lenin, vấn đề dân tộc là một bộ phận của vấn đề giai cấp, giải
quyết vấn đề dân tộc phải đứng trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân và thông
qua cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Kinh nghiệm của việc giải quyết các vấn đề dân tộc ở nước Nga.
- Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc:
+ Xu hướng thứ nhất: công đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập.
+ Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở
nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
3. Nội dung cương lĩnh dân tộc:
Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tộc như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các
dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.”
a. Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
- Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn
hay nhỏ, ởtrình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vị và quyền lợi
ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc
quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa.
- Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân
tộc nào cóquyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều dân
tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan
trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế.
- Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình
trạng áp bứcgiai cấp, trên cơ sở đó xóa bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh
chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Quyền bình đẳng
giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan
hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Ý nghĩa: Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc và là mục tiêu phấn đấu
của các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng. Nó là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và
xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc.
b. Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết:
- Đó là quyền các dân tộc tự quyết lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền
tự lựa chọnchế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
- Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia
dân tộc độclập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
- Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các tộc người
thiểu sốtrong một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc
lập. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực phản động,
thù địch lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của
các nước, hoặc kích động đòi lỳ khai các dân tộc. lOMoAR cPSD| 61531195
Ý nghĩa: Quyền dân tộc tự quyết là một quyền cơ bản của dân tộc. Nó là cơ sở để xóa
bỏ sự hiềm khích, thù hằn giữa các dân tộc, phát huy tiềm năng của các dân tộc vào sự phát
triển chung của nhân loại.
c. Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:
- Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng
dân tộc vàgiải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
- Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn
kết các tầnglớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung này vừa là nội
dung chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh
dân tộc thành một chính thể.
Ý nghĩa: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội dung cơ bản nhất trong
cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân
+ Phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
+ Đảm bảo cho phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.
+ Là điều kiện thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Do
đó, là cơ sở để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giải phòng dân tộc bị áp bức.
+ Liên kết cả ba nội dung thành một chỉnh thể.
Câu 6: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Leenin về bản chất, nguồn gốc và nguyên tắc giải
quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên CNXH?
1. Về bản chất của tôn giáo:
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội tiêu cực vì:
+ Khác với sự sáng tạo ra ngôn ngữ, công cự sản xuất, … những sáng tạp này là điều kiện giúp
con người vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội thì con người sinh ra tôn giáp song lại bị phụ thuộc,
sợ hãi và phục tùng tôn giáo vô điều kiện.
+ Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với
thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của CN Mác-Lenin.
Một số tôn giáo thông qua các giáo thuyết và các hành vi cực đoan khác đã kìm hãm nhận thức
và khả năng vươn lên của con người, trước hết là những tín độ, thậm chí đẩy họ đến những hành
động đi ngược lại trào lưu xu thế văn minh.
Ở một số khía cạnh nhất định, tôn giáo có tính tích cực: Hầu hết tôn giáo đều có giá trị về mặt
đạo đức, có giá trị về mặt văn hóa và có khả năng đoàn kết nhân dân.
2. Về nguồn gốc của tôn giáo:
a. Ngu n gốc tự nhiên, kinh tế - xã hôi ̣ + Nguồn gốc kinh tế: •
Kinh tế ở trình độ còn thấp kém: trong xã hội công xã nguyên thủy, do lực lượng sảnxuất
chưa phát triển, con người sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên trước thiên nhiên hùng vĩ con
người cảm thấy yếu đuối, bất lực nên tự gán cho tự nhiên những sức mạnh thần bí •
Kinh tế ở trình độ cao: con người không phải lo lắng quá nhiều về chuyện cơm ăn
áomặc, có nhiều thời gian + Nguồn gốc xã hội: lOMoAR cPSD| 61531195 •
Mâu thuẫn giai cấp, không giải tích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức
bóc lột bất công, tội ác… cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người
trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế •
Bất ổn của đời sống xã hội: chiến tranh Nga-Ukraine → cầu nguyện cho trái đất hòa bình…
b. Ngu n gốc nhân thức ̣ -
Ở môt giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và ̣
chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại,
khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo. -
Do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh
đấtcho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. -
Do trình độ cao: con người đạt được tư duy trừu tượng, có suy nghĩ suy diễn, có sự
tuyệtđối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhân thức con người, biến cái nội dung khách quaṇ
thành cái siêu nhiên, thần thánh. -
Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu
mặtchủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.
c. Ngu n gốc tâm lý -
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc ốm đau,
bệnh tật;ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một
việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu sự nghiêp kinh doanh…), con người cũng
dễ tìṃ đến với tôn giáo. -
Thâm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng
đối vớị những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo (ví dụ:
thờ các anh hùng dân tôc, thờ các thành hoàng làng…).̣
3. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo:
a. Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân: -
Do tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhândân. -
Tôn trọng và bảo đảm nhu cầu đó thể hiện bản chất cùa nền dân chủ xã hội chủnghĩa. -
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng thể hiện ở chỗ với mọi
ngườidân theo hay không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ.
b. Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo:
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi
bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ
nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là phải xác lập được một thế giới hiện
thực không có áp bức, bất công, nghèo đói, thất học, tệ nạn. Đó là một quá trình lâu dài, và
không thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
c. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng của tôn giáo trong quá trình giải quyết
vấn đề tôn giáo -
Mặt tư tưởng: Phản ánh mâu thuẫn không đối kháng giữa những người theo tôn
giáo khác nhau hoặc giữa những người không theo tôn giáo và theo tôn giáo. lOMoAR cPSD| 61531195
Giải quyết: Giáo dục, thuyết phục giải thích để nhân dân nhận thức đúng vấn đề,
tránh những sai lầm không đáng có. Phải lâu dài, kiên trì mới đạt hiệu quả. -
Mặt chính trị: Phản ánh mâu thuẫn đối kháng giữa các thế lực lợi dụng tôn giáo
để thực hiện mục đích xấu. Trái với nhân dân lao động nhằm xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Giải quyết: Kịp thời, dứt khoát, thận trọng.
d. Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng.
Tôn giáo luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện
kinh tế - xã hội – lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có quá trình tồn tại và
phát triển nhất định, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối
với đời sống xã hội khác nhau. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh
giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Câu 7. Phân tích các chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành , duy trì và củng cố chủ
yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những
quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm, mang lại giá trị hạnh phúc, sự hài hoà trong đời sống
cá nhân của mỗi thành viên và là cầu nối giữa cá nhân với xã hội. Chức năng của gia đình là
một yếu tố then chốt giúp duy trì sự tồn tại của xã hội.
1. Chức năng tái sàn xuất ra con người (sinh đẻ) -
Là chức năng đặc thù của gia đình, không một cộng đồng nào có thể thay thế.
Chứcnăng này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý của con người, đáp ứng nhu cầu duy trì
nòi giống cùa gia đình, dòng họ mà còn đáp ứng nhu cầu về sức lao động của xã hội. -
Quyết định mật độ dân cư và nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế,
mộtyếu tố cấu thành của tồn tại xã hội. -
Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người diễn ra trong từng gia
đình,nhưng không chỉ là việc riêng của gia đình mà là vấn đề xã hội. Trình độ phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động mà gia đình cung cấp.
2. Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục Đây là chức năng cơ bản của gia đình -
Bên cạnh chức năng tái sản xuất ra con người, gia đình còn có trách nhiệm
nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái trở thành người có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội. Chức
năng này thể hiện tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm của cha mẹ với con cái, đồng thời thể
hiện trách nhiệm của gia đình với xã hội. Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người. -
Gia đình là một môi trường văn hóa, giáo dục, trong môi trường này, mỗi thành
viên đều là những chủ thể sáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thể giáo dục đồng thời cũng là
những người thụ hưởng giá trị văn hóa, và là khách thể chịu sự giáo dục của các thành viên khác trong gia đình. -
Mỗi thành viên trong gia đình đều có vị trí, vai trò nhất định, vừa là chủ thể
vừa là khách thể trong việc nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình. Giáo dục của gia đình gắn liền
với giáo dục của xã hội. Do vậy, cần tránh khuynh hướng coi trọng giáo dục gia đình mà hạ
thấp giáo dục của xã hội hoặc ngược lại. Thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, đòi lOMoAR cPSD| 61531195
hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ phải có kiến thức cơ bản, tương đối toàn diện về mọi mặt, văn
hóa, học vấn, đặc biệt là phương pháp giáo dục.
3. Chức năng kinh tế, tổ chức tiêu dùng -
Gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình mà các đơn vị kinh tế khác không có
được, là ở chỗ, gia đình là đơn vị duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra
sức lao động cho xã hội. -
Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản xuất ra của cải
vật chất và sức lao động, mà còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội. -
Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau và ngay
cả ở một hình thức gia đình, nhưng tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng
kinh tế của gia đình có sự khác nhau, về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và cách thức
tổ chức sản xuất và phân phối. Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế
gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau. -
Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu
vật chất, tinh thần của các thành viên trong gia đình, không những tạo cho gia đình có cơ sở
để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạy con cái, mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội.
4. Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình
Đây là chức năng thường xuyên của gia đình nhằm thỏa mãn như cầu về tình cảm, văn
hóa, tinh thần, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình. Việc quan tâm
chăm sóc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu về tình cảm, vừa là trách
nhiệm, đạo lý, lương tâm mỗi con người. Vì thế gia đình không chỉ là chỗ dựa vững chắc về
mặt vật chất mà còn là chõ dựa về mặt tinhthần. Việc duy trì tình cảm trong gia đình cũng giúp
đảm bảo sự ổn định và phát triển cho xã hội, khi các mối quan hệ trong gia đình bị rạn nứt thì
các mối quan hệ tình cảm trong xã hội cũng tan vỡ.
5. Ngoài các chức năng trên, gia đình còn có các chức năng: Văn hóa. chính trị: -
Với chức năng văn hóa: gia đình là nơi lưu giữ truyền thống văn hóa của dân
tộccũng như tộc người. -
Với chức năng chính trị: gia đình là một tổ chức chính trị của xã hội, là nơi tổ
chứcthực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước và quy chế của làng xã. đồng thời hưởng lợi
từ hệ thống pháp luật, chính sách và quy chế đó. Gia đình cũng là cầu nối của mối quan hệ giữa
nhà nước với công dân.