lOMoARcPSD| 61431571
ÔN TẬP CUỐI TRIET I.
Dạng bài:
Tự luận (2 câu 3 điểm, 2 câu 2 điểm) Cấm kỵ:
Gạch đầu dòng. Thay vào ngắt ý, xuống dòng.
Viết tắt
II. Nội dung chính
1. Chương 1: Vấn đề cơ bản của triết học (Mối quan hệ giữa vật chất ý thức) <Thời
gian: 20’> Ví dụ:
Chủ nghĩa duy tâm, duy vật đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học như thế nào?
Hai câu hỏi lớn mà các trường phái triết học tập trung giải quyết là gì?
Vấn đề thứ nhất: Vấn đề của bản thể luận trả lời cho câu hỏi: “Vật chất có trước hay
ý thức có trước?”. Chủ nghĩa duy tâm quan niệm... Chủ nghĩa duy vật quan niệm...
Vấn đề cơ bản thứ hai: Các nhà triết học đi tìm câu trả lời cho câu hỏi....
Kết luận: Tóm lại (hoặc...)
Trả lời:
1. Mở đầu vấn đề o Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất của con người về
thế giới; về tự nhiên hội duy; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới
đó.
o Triết học đã ra đời phát triển trên hai ngàn năm. mỗi thời kỳ lịch sử khác
nhau, triết học đối tượng nghiên cứu khác nhau; song tổng kết toàn bộ lịch
sử triết học, Ph.Ăngghen đã khái quát: "Vấn đề bản lớn của mọi triết học,
đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại", giữa ý
thức và vật chất, giữa con người và giới tự nhiên.
o Vấn đề bản của triết học hai mặt. o - Thứ nhất, giữa ý thức vật chất:
cái nào có trước, cái nào sau? Cái nào quyết định i nào? o - Thứ hai, con
người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
2. Vấn đề thứ nhất: Vấn đề của bản thể luận trả lời cho câu hỏi: Vật chất có trước
hay ý thức có trước?”
- Chủ nghĩa duy vật một trong những trường phái triết học lớn trong lịch sử, bao gồm
trong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lập trường duy vật trong
việc giải quyết vấn để cơ bản của triết học, đó là: “Vật chất là tính thứ nhất, ý thức hay
tinh thần chỉ nh thhai của mọi tồn tại trong thế giới” - tức thừa nhận minh
chứng rằng: suy đến cùng, bản chấtsở của mọi tồn tại trong thế giới tự nhiên và
xã hội chính là vật chất.
- Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức, đó là:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác với hình thức điển hình của là các học thuyết triết học
duy vật thời cổ ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp.
lOMoARcPSD| 61431571
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học
duy vật thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) các nước Tây Âu (tiêu biểu chủ nghĩa
duy vật cận đại nước Anh và Pháp).
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác Ph. Ăngghen sáng lập từ giữa thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức - trình
độ phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học, vì những lý do sau:
- Dó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việcgiải các tồn tại trong giới tự
nhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật
trong việc giải thích c hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người
đó chính là những quan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Do không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức
vàcải tạo thế giới còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy. Từ đó
tạo nên sự đúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới.
- Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức, tinh thần trước quyết định giới tự
nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.
- Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là: + Chủ
nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng
định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của nhân, của chủ thể.
Ví dụ quan niệm của Beccơly.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức,
nhng đó không phải ý thức nhân tinh thần khách quan trước
và tồn tại độc lập với con ngời, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và
duy. thường được mang những tên gọi khác nhau nh ý niệm, ý niệm
tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụ quan niệm của Platon,
Hêghen.
=> Ta xét thấy cả chủ nghĩa duy vật chủ nghĩa duy tâm đều nguồn gốc hội
nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc hội của chủ nghĩa duy vật các lực lợng hội, các
giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn
nguồn gốc hội của chủ nghĩa duy tâm làc lực lợng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ;
nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình
thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.
Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm chủ nghĩa
duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của duy triết học. Đồng thời,
biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội
Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới từ
một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhà triết học nhị nguyên luận. Họ
xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất tinh thần để giải thích mọi hiện tợng của thế
lOMoARcPSD| 61431571
giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ
nguyên thể tinh thần. Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm,
nhng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển
tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.
3. Vấn đề thứ 2: Các nhà triết học đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Con người
khả năng nhận thức được thế giới hay không?” (trang 39)
- Nhận thức là gì?
Quá trình nhận thức giúp cho chúng ta phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan những khách thể tác động vào con người trong quá trình hoạt động của họ. Nhờ nhận
thức mà con người có xúc cảm, tình cảm, đặt ra được mục đích và dựa vào đó mà hành động. Như
vậy, quá trình nhận thức xuất phát từ hành động, làm tiền đề cho các quá trình tâm lý khác. Đồng
thời tính chân thực của quá trình nhận thức cũng được kiểm nghiệm qua hành động: hành động
kết quả chứng tỏ chúng ta phản ánh đúng hành động, không có kết quả chứng tỏ ta phản ánh sai.
Nhờ quá trình nhận thức, chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta, cả hiện thực
của bản thân ta nữa, không chỉ phản ánh cái bên ngoài cả cái bản chất bên trong, không chỉ
phản ánh cái hiện tại cả cái đã qua cả cái stới, cái quy luật phát triển của hiện thực nữa.
Như thế có nghĩa quá trình nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, ở những mức độ phản
ánh khác nhau: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Những quá trình này sẽ cho chúng
ta những sản phẩm khác nhau, còn gọi những cấu tạo tâm khác nhau (hình tượng, biểu tượng,
khái niệm). Đại thể có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành 2 giai đoạn lớn: nhận thức cảm
tính (gồm cảm giác tri giác) nhận thức tính. Trong hoạt động nhận thức của con người,
giai đoạn cảm tính tính có quan hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ lẫn nhau. V.I.Lênin đã tổng
kết quy luật đó của hoạt động nhận thức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến duy
trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức
chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
- Quan điểm duy tâm
Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là
sự phản ánh hiện thực khách quan.
- Duy tâm chủ quan, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là phức hợp những cảm giác của con người.
Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác, biểu tượng của con người.
- Duy tâm khách quan, mặc không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận
thứccũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận của ý niệm, tư
tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người.
lOMoARcPSD| 61431571
- Thuyết hoài nghi nghi ngờ nh xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên
tắcnhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài.
- Thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với họ, thế giới không
thểbiết được, trí của con người tính chất hạn chế ngoài giới hạn của cảm giác ra, con
người không thể biết được gì nữa. Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết đã
bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Thừa nhận con người khả năng nhận thức thế giới coi nhận thức sự phản ánh hiện thực
khách quan vào bộ óc người. Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực quan nên
chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học những vấn
đề của lý luận nhận thức.
Nhìn chung chủ nghĩa duy vật trước C.Mác chưa thấy đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức.
Chứng minh Con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Lut-vich-Phoi-ơ-bắc khẳng định : Con người khả năng nhận thức được thế giới tự nhiên, một
người thì không nhận thức được hoàn toàn, nhưng toàn bộ loài người thông qua các thế hệ thì có
thể nhận thức được.
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta hoàn toàn khả năng nhận thức thế giới khách quan nhờ
các giác quan, nhờ hoạt động của não bộ. Cụ thể hơn các sự vật, hiện tượng của thế giới khách
quan khi tác động vào cơ quan cảm giác sẽ gây ra cảm giác.Đó nhận biết đầu tiên của con ngừơi
về thế giới khách quan.Con người có 5 giác quan, mỗi giác quan thu nhận một loại cảm giác nhất
định.Cơ quan cảm giác có thể phân biệt một cách tinh tế các tác động từ bên ngoài.Tuy nhiên hoàn
toàn không phải mọi cái trong thế giới chúng ta đều thể ?trong tận mắt, bắt tận tay?.Chẳng hạn
chúng ta không thể sờ những làn sóng vô tuyến bằng tay, không thể nghe trực tiếp làn âm thanh có
bước sóng không phù hợp với tai người.Thế nhưng bằng trí óc con người thể phát minh ra
những công cụ và thiết bị khoa học tiên tiến dựa vào đó để phát hiện ra những hiện tượng đó
Khả năng nhận thức của con người ngày càng tăng
Sự vật hiện tượng của thế giới dù cho chúng tồn tại dưới những dạng khác nhau, dù việc tìm hiểu
quan sát chúng khó khăn, phải dựa vào các phương tiện kỹ thuật, con người vẫn thể nhận
biết được chúng.
Hiện nay trong thế giới bao la đầy huyền còn nhiều điều con người chưa biết.Khoa học còn
khám phá ra những dạng vật chất mới với khát vọng ý chí vươn lên làm chủ thế giới, tất cả
những sự vật, hiện tượng dù kì lạ đến đâu.
Những tác động vào thế giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người
- Khai khẩn đất hoang.
- Xây dựng nhà máy thủy điện.
lOMoARcPSD| 61431571
- Đắp đê.
- Xây dựng công trình.
Với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật như hiên nay, khả năng sáng tạo của con người ngày
càng lớn.
- Những tác động vào giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người như đắpđê
ngăn lũ, đắp đập ngăn sông để tạo hồ thủy lợi, thủy điện, thụ phấn nhân tạo cho cây trồng…
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nếu không các nguyên thóa học, các nhiễm sắc thể vốn có,
cùng hàng loạt các quy luật hóa học biến đổi gen… thì các phát minh kia cũng không thể thực hiện
được.
Con người không thể tạo ra giới tự nhiên, nhưng có thể cải tạo giới tự nhiên trên cơ sở tuân theo
những quy luật vận động khách quan vốn có của nó.
Ngược lại làm trái các quy luật khách quan, con người sẽ hứng chịu những hậu quả khôn lường
Hậu Quả Phải Hứng Chịu :
- Ô nhiễm môi trường nước…- Ô nhiễm bầu khí quyển… …Và...
…còn nhiều hậu quả khôn lường khác
Khả Năng Cải Tạo Của Con Người :
- Những tác động vào giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người như đắpđê
ngăn lũ, đắp đập ngăn sông để tạo hồ thủy lợi, thủy điện, thụ phấn nhân tạo cho cây trồng…
Chương 2: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chép nguyên văn định nghĩa.
Ngắt 3 ý Thứ nhất: … Thứ 2:…. Thứ 3:…..Nêu dụ lớn rồi lồng ghép 3 ý ptich
Phân tích ví dụ (not only đưa ra ví dụ).
Bài học
(Độ dài: một trang rưỡi)
Từ định nghĩa của Lê-nin, ta có thể rút ra bài học sau:
Thứ nhất: Vật chất k phải là vật thể, vchat là 1 bản thể rộng lớn bao là
Bài học : k đc đồng nhất vật chất là vật thể
Thứ 2: Vật chất đem lại choc ta cảm giác, nó chỉ là sự phản ảnh của cta về thế giới vật chất,
nên ta k đc chủ quan áp đặt, bảo thủ, thiên kiế n về người khác, về hiện tượng khác, qua đó
có đc cái nhìn đa chiều, tư duy phản biện.
Bài học: Những gì mình cảm nhận chỉ là cảm giác của chính mình, sự thoải mái của
mình về thế giới nhận thực. Cho nên không được chủ quan, áp đặt, bảo thủ với ý kiến của
Nội dung 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin. Lấy ví dụ minh họa. Rút ra
bài học cho bản thân
(3 điểm)
Vật chất
lOMoARcPSD| 61431571
người khác. Từ đó, ta cái nhìn đa chiều duy phản biện, phải tôn trọng ý kiến,
duy của người khác.
Thứ 3: Vật chất k tồn tại lệ thuộc vào cảm giác, => giúp ta tránh hoang tưởng ảo tưởng,
thiếu thực tế.
Nội dung 2: Ý thức
dụ: Ý thức của con người được từ đâu? Ý thức của con người nguồn gốc
như thế nào? Nêu bài học vận dụng cho bản thân. (tr 152) Nguồn gốc tự nhiên:
Nguồn gốc xã hội: Có 2 yếu tố: Lao động và ngôn ngữ.(tr 154)
Rút ra bài học cho bản thân: Chăm sóc bộ não để hoàn thiện, khỏe mạnh.
Phát triển ngôn ngữ cũng như chăm chỉ lao động sẽ phát triển ý thức. Ngược lại những người
tự ngắt nguồn gốc này sẽ khó phát triển hoặc thụt lùi.
Bản chất của ý thức:
dụ: Em hãy phân tích chứng minh luận điểm sau: “Ý thức sự phản ánh thế
giới khách quan và bộ não của con người một cách năng động và sáng tạo.”
Năng động: thể hiện sự chủ động lựa chọn thông tin đầu vào để phản ánh chủ thể. Tự
phân loại thông tin, thu nhận thông tin.
Sáng tạo: làm mới hình ảnh đấy (làm đẹp lên, cũng thể làm xấu đi) tùy thuộc vào
trình độ phản ánh của chủ thể.
Nguồn gốc:
lOMoARcPSD| 61431571
Rút ra bài học: Ý thức chính là sự phản ánh cho nên chúng ta muốn phát triển ý thức
cần phải nâng cấp trình độ của ý thức bằng cách nơi tiếp nhận, thu nhận, công cụ phản
ánh các giác quan (nơi thu nhận thông tin đầu vào). Xử thông tin đầu ra cần phụ
thuộc vào độ tuổi, trình độ, trải nghiệm và giới tính.
Kết cấu ý thức theo chiều ngang
Ví dụ: Tri thức tại sao nói là yếu tố quan trọng nhất của ý thức theo chiều ngang?
- Ý thức gồm tri thức, cảm xúc, ý chí. Tri thức bphận quan trọng nhất nền
tảng, sở để định hướng tình cảm ý chí đúng đắn. Tuy vậy, không thể phủ nhận
tình cảm và ý chí là chất xúc tác tác động tới chủ thể.
- Như Triết học của chủ nghĩa Mac-Lenin khẳng định: ý thức mộtphạm trù triết học
dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thếgiới vật chất diễn ra trong não
người, hình thành trong quá trình vàđược diễn đạt nhờ ngôn ngữ.
- Bản chất của ý thức thể hiện ở sự phản ánhnăng động, sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ óc con người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan. Ý thức gồm các yếu tố
cấu thành như:tình cảm, ý chí, tri thức.
- Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất.Như chúng ta đã biết, tri thức (sự hiểu biết
về các lĩnh vực của đờisống hội) kết quả của quá trình nhận thức của con người
về thế giớihiện thực , i hiện trong duy những thuộc tính , những quy luật của thếgiới
ấy và diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ.
- Từ đó ta có thể nhận thấy được :
+ Tri thức phương thức tồn tại cơ bản của ý thức và là điều kiện để ýthức phát triển.
+ Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức
+ Nếu ý thức không bao hàm tri thức , không dựa vào tri thức thì sự trừu tượng trống
rỗng, không giúp ích thực tiễn gì cho con người
+ Tri thức định hướng sự phát triển quy định mức độ biểu hiện củacác yếu tố khác cấu
thành ý thức
+ Mọi hoạt động của con người đều có tri thức , được tri thức định hướng
Kết cấu ý thức theo chiều dọc
dụ: Vai trò của tự ý thức, tiềm thức thức trong kết cấu của ý thức theo
chiều dọc? Nêu bài học vận dụng cho bản thân. (trang 166)
Tự ý thức: Đây là phần tỉnh táo nhất, lý trí nhất của ý thức vì nó cung cấp cho chúng ta
những dữ liệu, thông tin chính xác, khách quan và giúp chúng ta ra quyết định dựa trên
việc phân tích đúng sai, phân biệt được yêu ghét, cái gì nên, cái gì không nên. Từ đó
giúp chúng ta trả lời 2 câu hỏi lớn:
- Tôi là ai? (hay tự nhận thức về bản thân);
- Tôi có mối quan hệ như thế nào với môi trường xung quanh? (Môi trường xung quanh
là 2 môi trường: Môi trường tự nhiên( ý thức bảo vệ môi trường) và môi trường xã hội
lOMoARcPSD| 61431571
(Tôi ai với những người xung quanh tôi?)). Tuy nhiên chúng ta chỉ sử dụng 10% tự
ý thức, 90% nhờ tiềm thức và vô thức. (quyết định theo xu hướng tự động)
Tiềm thức: Được hiểu những kho dữ liệu chứa đựng thông tin, âm thanh, hình ảnh
sự kiện có sẵn ở dạng tiềm tàng. Nó được đánh thức bởi: cơ chế lặp lại (theo thói quen,
khi thấy 1 hình ảnh, âm thanh, sự kiện tương tự) khi cường độ cảm xúc cao, cảm xúc
mạnh liệt (cảm xúc tích cực hoặc cảm xúc tiêu cực).
thức: phần nằm đáy sau cùng của ý thức, những cái dữ liệu, thông tin bị đè
nén, chôn vùi, che giấu. (là những thứ rất quý giá trong tâm trí, tâm hồn). Chí Phèo đã
trở thành người xấu nhưng vẫn có bản lĩnh đàn ông trong vô thức để nhận ra những nét
đẹp của Thị Nở hay Thị Nở có lòng trắc ẩn, yêu 1 kẻ xấu, ko ai công nhận. Những dục
vọng đê hèn trong giấc mơ, những thứ bị ẩn dấu, gặp người mình iu thương ngoài
đời tỏ ra như k chuyện j xảy ra. Đè nén có thể do nhiều yếu tố nhội hay tự tu
dưỡng không tốt, giải tỏa sự căng thẳng của não bộ và giúp chúng ta cân bằng.
Tác hại của vô thức: Làm cho ta hành động quá bản năng, thiếu kiểm soát. ( Khi
được chửi bậy ta đc giải tỏa hơn, đang nói chuyện thì lỡ lời ) Mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức Một vài liên hệ thực tiễn :
+ Khi đang đi trên đường , ta thấy một cái cây bị đổ chắn ngang đường đi( đây là vật thể ta
thấy ), ta thấy sẽ làm cản trở đường gây nguy hiểm cho mọi người tham gia giao
thông ( đến đây vật chất đã tạo ra ý thức của con người ) , sau đó ta quyết định di chuyển
cây gỗ đi ( từ nhận thức về sự nguy hiểm của cây , nhận thức lại tác động ngược lại và điều
khiển hành vi của con người phải di chuyển cây gỗ)
+ Hôm nay em nấu cơm nhưng do bỏ nhiều nước cơm bị nhão (đây là vật chất), e muốn ăn
cơm khô ý thức được bỏ ít nước lại (vật chất đã quyết định ý thức)
+ Ông cha ta dạy: “ Được voi, đòi tiên” -> Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo Trong
câu này khi vật chất của cải càng tăng thì lòng tham của con người cũng càng tăng hơn
+ Ở Việt Nam, nhận thức của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba về công nghệ thông tin còn
rất yếu. Nguyên nhân là do thiếu máy móc cũng như thiếu đội ngũ giảng viên. Nhưng nếu
đáp ứng được vấn đề hạ tầng thì trình độ tin học của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba của
sẽ tốt hơn rất nhiều.Nhận thức được tình hình đó nhà nước ta bộ giáo dục làm những
cải cách để học sinh thể được tiếp cận nhiều hơn như phổ biến nhiều về những mặt lợi
khi biết thêm công nghệ, đầu trong việc giảng dạy phát triển thiết bị thực hành cho
mỗi địa phương để tiện cho việc giáo dục
+ Trong học tập, chúng ta ý thức được thiếu tài liệu, sách giáo trình thì ta sẽ phải tự chủ
động tìm nguồn mua trên mạng hoặc liên hệ mua lại của các anh chị khóa trước. + Trong
môi trường học tập mới, để thích nghi được thì chúng ta phải ý thức xây dựng các mối
quan hệ bạn bè, chủ động hơn trong quá trình học tập.
+ Khi quan sát 1 cái y thì chính ngoại hình, đặc điểm, màu sắc sẽ phản ánh vào bộ não
chúng ta thì YT sẽ xuất hiện hình ảnh cái cây đó. Trong TH này VC là cái cây có trước sẽ
phản ánh vào bộ não là YT là cái có sau.
lOMoARcPSD| 61431571
+ Đại dịch covid-19 (vật chất) đang diễn ra phức tạp, nhận thức được sự nguy hiểm đó
mỗi nhân chúng ta cần phải ý thức thực hiện qui tắc 5K để tác động lại vật chất đó
đẩy lùi dịch bệnh.
+ Khi đi ăn một quán ăn ngon, trong ý thức ta sẽ tự động ghi nhớ tên của quán để lần sau
ghé lại
Chương 3: 6 cặp phạm trù
Đầu tiên: Nêu lí thuyết, mqh giữa 2 cặp phạm trù VD:
cái riêng - cái chung:
3 KN: Cái chung, cái riêng, cái đơn nhất => MQH giữa 3 cái:
- Cái riêng là cái toàn bộ, 2 cái còn lại là bộ phận.
- Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau
=> bài học vận dụng: Cái chung cho ta biết về bản chất của sự vật hiện tượng. ( cái chung
của 8 tỷ ng trên tgioi => bản chất của con người)
- Cái đơn nhất cái giúp ta phân biệt được c sự vật với nhau. => Lúc nào nên phát
huy cái chung, lúc nào nên phát huy cái đơn nhất. ( Để thành công trong gtiep, ta nên
phát huy cái chung. Trong bán hàng ta cũng thường hay tạo những điểm chung với
người đối diện. Nhưng để gây ấn tượng ta cần phát huy cái đơn nhất.
a. Cặp phạm trù Cái chung – Cái riêng(tr208)
Khái niệm:
Cái chung: hé lộ cho cta về bản chất của sự vật, htg
Cái riêng: cái toàn bộ
Cái đơn nhất: giúp chúng ta phân biệt được các sự vật
Mối quan hệ giữa 3 cái: Riêng = Chung + Đơn nhất
Vận dụng: lúc phát huy cái chung (trong giao tiếp để tạo thiện
cảm như bán hàng...), lúc phát huy cái đơn nhất (để gây ấn
tượng trong kinh doanh, khoa học...)
- trg giao tiếp ban đầu: + tăng cái chung >< trg mqh tình bạn, tình yêu: tăng cái đơn nhất
- nghề kiểm toán: tăng cái chung (trình độ, kĩ năng)
>< thái độ làm việc: tăng cái đơn nhất b.
Khái niệm: một chuỗi và chuyển hóa cho nhau phải xem nguyên nhân nào nguyên
nhân chính.
Cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả (tr217)
lOMoARcPSD| 61431571
- Nguyên nhân: những tác động qua lại giữa các mặt, bộ phận, thuộc tính trong sự vật
hoặc các sự việc
- Kết quả: phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân
tạo ra
NN (tác động) - Kết quả ( biến đổi) -
mối quan hệ qua lại, cụ thể:
Thứ nhất: Nguyên nhân sản sinh ra kết quả.
Nguyên nhân cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn trước kết quả.
Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện bắt đầu tác động. Tuy
nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu
hiện mối liên hệ nhân quả.
Cùng một nguyên nhân thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại, cùng một kết quả thể được gây nên bởi những nguyên
nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc.
Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây
nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu các
nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy
yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau.
Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả,
có thể phân loại nguyên nhân thành:
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu.
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài.
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Thứ hai: Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ
vai trò thụ động đối với nguyên nhân, sẽ ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối
với nguyên nhân.
Thứ ba: Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả.
Điều này xảy ra khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác
nhau. Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này nguyên nhân thì trong mối
quan hệ khác là kết quả và ngược lại.
lOMoARcPSD| 61431571
Một hiện tượng nào đó là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt
mình sẽ trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… quá trình này tiếp tục
mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận. Trong chuỗi đó
không có khâu nào là bắt đầy hay cuối cùng.
VD: Mưa => đường trơn => tai nạn gt tăng => tử vong tăng => trẻ mồ côi tăng
Bài học: Tìm những nguyên nhân cùng chiều thông minh, chăm chỉ và nhà giàu để kết
quả đến nhanh hơn.
c. Cặp phạm trù Nội dung – Hình thức tr222
Khái niệm: Nội dung quyết định hình thức hình thức tác động lại nội dung, cho
phong phú hơn.
- Nội dung phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả c mặt, yếu tố, các quá trình tạo
nên sự vật
- Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các
mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật
Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung hình thức *sự
thống nhất giữa nội dung và hình thức :
Nội dung hình thức gắn hết sức chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau. Bất
sự vật nào cũng nội dung hình thức . Không một hình thức nào lại không chứa
đựng một nội dung nhất định, cũng như không có nội dung nào lại không tồn tại trong
một hình thức xác định. Khi khẳng định nội dung và hình thức tồn tại không tách rời
nhau, không có nghĩa chúng ta khẳng định một nội dung bao giờ cũng chỉ gắn liền
với một hình thức nhất định và một hình thức chỉ chứa đựng một nội dung nhất định.
Cùng 1 nội dung thể được thể hiện qua nhiều hình thức .ngược lại, cùng một hình
thức có thể truyền tải dc nhiều nội dung khác nhau.
+Cùng một nội dụng có thể được thể hiện qua nhiều hình thức:
dụ : Qtrình sản xuất một sản phẩm thể bao gồm những yếu tố , nội dung
giống nhau như: con người, công cụ sản xuất , vật liệu... nhưng cách tổ chức, phân
công quá trình sản xuất có thể khác nhau.
+Cùng 1 hình thức có thể truyền tải được nhiều nội dung : ví dụ : Cùng một hình thức
tổ chức sản xuất như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực,
lOMoARcPSD| 61431571
với những yếu tố vật chất khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm khác nhau * Nội
dung quyết định hình thức:
-Nội dung có khuynh hướng biến đổi, còn hình thức có khuynh hướng ổn định tương
đối, biến đổi chậm hơn nội dung. Vì vậy, sự biến đổi phát triển của sự vật bao giờ
cũng bắt đầu từ nộidung, nội dung biến đổi trước, hình thức biến đổi sau cho phù hợp
với nội dung.
Ví dụ:
Trong mỗi phương thức sản xuất, tlực lượng sản xuất nội dung quan hệ sản
xuất là hình thức. Lựcợng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, luôn luôn
biến đổi. Sự biến đổi của lực lượng sản xuất đến một mức độ o đó sẽ mâu thuẫn sâu
sắc với quan hệ sản xuất; quan hệ sản xuất do biến đổi chậm hơn, lúc này trở nên
lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành yếu tố kìm hãm
lực lượng sản xuất phát triển. Để giải phóng và phát triển hơn nữa lực lượng sản xuất,
đòi hỏi phải phá bỏ quan hệ sản xuất , thay vào đó quan hệ sản xuất mới phù hợp
với lực lượng sản xuất. Như vậy, sự biến đổi của nội dung quy định sự biến đổi hình
thức.
* Hình thức có tính tác động trở lại đối với nội dung
Hình thức phù hợp với nội dung sẽ thúc đẩy nội dung phát triển
.– Hình thức không phù hợp với nội dung sẽ làm kìm hãm sự phát triển của nội dung.
Song sự kìm hãm ấy chỉ mang tính tạm thời, theo tính tất yếu khách quan hình thức cũ
phải được thay thế bằng hình thức mới cho phù hợp với nội dung -Nội dung và hình
thức có thể chuyển hóa cho nhau.
d. Cặp phạm trù Bản chất – Hiện tượng tr225
(Nội dung có thể thay đổi nhưng bản chất ko thay đổi được (thuộc nd). Htg tdoi khi điều kiện thay đổi
Khái niệm: Bất kỳ nội dung nào cũng nói lên một bản chất nào đó. Cho nên ta không nên
bỏ qua bất kỳ một nội dung nào. Từ một hiện tượng không thể quyết định bản chất, đôi
khi phải tạo ra hiện tượng giả định để truy tìm bản chất.
lOMoARcPSD| 61431571
- Bản chất phạm trù triết học chỉ tổng hợp mọi mặt, mối liên hệ tất nhiên, tương đối
ổn định bên trong sự vật, quyết định sự vận động và phát triển của sự vật - Hiện tượng
phạm trù triết học chỉ cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất - Mối quan h
biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bản chất hiện ợng mối quan
hệ biện chứng như sau:
- Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan trong cuộc sống:
- – Cả bản chất và hiện tượng đều có thực, tồn tại khách quan bất kể con người có nhận
thức được hay không.
- Lý do là vì:
+ Bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định. Các yếu tố ấy tham
gia vào những mối liên hệ qua lại, đan xen chằng chịt với nhau, trong đó những
mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định. Những mối liên hệ này tạo nên bản chất của
sự vật.
+ Sự vật tồn tại khách quan. những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định lại
bên trong sự vật, do đó, đương nhiên là chúng cũng tồn tại khách quan.
+ Hiện tượng chỉ là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài để chúng ta nhìn thấy, nên
hiện tượng cũng tồn tại khách quan.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:
- Không những tồn tại khách quan, bản chất và hiện tượng còn có mối liên hệ hữu cơ,
gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau.
- Sự thống nhất đó thể hiện trước hết ở chỗ:
+Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng. Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ
qua những hiện tượng tương ứng.
+ Hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất. Bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự
bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó nhiều hoặc ít.
- Về căn bản, bản chất và hiện ợng phù hợp với nhau. Không bản chất nào tồn tại
một cách thuần túy, không cần hiện tượng. Ngược lại, cũng không hiện tượng
nào lại không phải là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.
- Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra những hiện tượng khác nhau:
- Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng tương ứng với nó cũng sẽ thay đổi theo. Khi bản
chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất đi.
- Chính nhờ sự thống nhất giữa bản chất hiện tượng, giữa cái quy định sự vận
động, phát triển của sự vật với những biểu hiện nghìn hình, vạn vẻ của nó mà ta có thể
tìm ra cái chung trong nhiều hiện tượng biệt, tìm ra quy luật phát triển của những
hiện tượng ấy.
- Bản chất và hiện tượng cũng có sự mâu thuẫn:
– Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng.Tức là, trong sự
thống nhất ấy đã bao hàm sự khác biệt. Nói cách khác, tuy bản chất hiện tượng thống
nhất với nhau, về căn bản phù hợp với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với
nhau hoàn toàn.
lOMoARcPSD| 61431571
- Sở như vậy bản chất của sự vật bao giờ cũng được thể hiện ra thông qua sự
tương tác của sự vật ấy với những sự vật xung quanh. Các sự vật xung quanh này trong
quá trình ơng tác đã ảnh hưởng đến hiện tượng, đưa vào nội dung của hiện ợng
những thay đổi nhất định.
- Kết quả là, hiện tượng biểu hiện bản chất nhưng không phải sự biểu hiện y nguyên
bản chất.
– Sự không hoàn toàn trùng khớp khiến cho sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là
một sự thống nhất mang tính mâu thuẫn.
- Tính u thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất hiện tượng thể hiện chỗ: + Bản
chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại phát triển của sự vật.
Còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt.
- vậy, cùng một bản chất thể biểu hiện ra ngoài bằng số hiện tượng khác nhau
tùy theo sự biến đổi của của điều kiện và hoàn cảnh.
- Nội dung cụ thể của mỗi hiện tượng phụ thuộc không những vào bản chất, mà còn vào
hoàn cảnh cụ thể, trong đó bản chất được biểu hiện. Chính thế, hiện ợng phong phú
hơn bản chất. Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn hiện tượng.
+ Bản chất mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan. Còn hiện tượng
mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy.
- Các hiện tượng biểu hiện bản chất không phải dưới dạng y nguyên như bản chất vốn
mà dưới hình thức đã được cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thực sự của bản chất.
Ví dụ: Nhúng một phần cái thước vào chậu nước, ta thấy cái thước gấp khúc, trong khi
thực tế cái thước vẫn thẳng.
Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm. Còn hiện tượng không ổn định, nó luôn luôn
trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất.
- Có tình hình đó là do nội dung của hiện tượng được quyết định không chỉ bởi bản chất
của sự vật, còn bởi những điều kiện tồn tại bên ngoài của nó, bởi tác động qua lại
của nó với các sự vật xung quanh.
- Các điều kiện tồn tại n ngoài đó và sự tác động qua lại của sự vật y với sự vật khác
lại thường xuyên biến đổi. vậy, hiện tượng thường xuyên biến đổi, trong khi bản chất
vẫn giữa nguyên.
- Tuy nhiên, điều đó không nghĩa là bản chất luôn giữ nguyên như từ lúc ra đời cho
đến lúc mất đi. bản chất cũng biến đổi, nhưng biến đổi rất chậm so với hiện tượng.
- Ví dụ: Lối sống của hssv ngày nay: sự kết hợp giữa bản chất truyền thống và đức tính
hiện đại
- Biểu hiện: + năng động, sáng tạo, nhạy bén với đời sống
+ khắc phục những đkien bất lợi để vươn lên với đời sống
+ sống có ích, trân trọng nh điều tốt đẹp của cs
- Một bộ phận tiếp thu những thói tật xấu trong chế mở cửa” của thế giới: Bài
bạc, Ma túy, hút chích,….
- Kết luận : Có thể bản chất không xấu, song lại hiểu sai lệch bản chất của ý niệm “người
trưởng thành" nên những hành vi tiêu cực. => luận hội lại đánh đồng bản chất
lOMoARcPSD| 61431571
với hiện tượng trên là một nên có cái nhìn phiến diện về toàn thế giới trẻ. => Khi đánh
giá, nhìn nhận về một vấn đề trong đời sống, cần phân biệt ràng giữa bản chất
hiện tượng, có cái nhìn khách quan, tổng thể trước khi đưa ra sự đánh giá.
-
e.
Khái niệm: Trong một kết quả đều tồn tại cả ngẫu nhiên và tất nhiên. Tất nhiên là kết quả
do nguyên nhân chủ quan gây ra. Ngẫu nhiên do nguyên nhân khách quan, sự trùng
hợp,.. gây ra.
-
-
B, Tất nhiên ngẫu nhiên đều tồn tại nhưng không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần
túy cx như ko có ngẫu nhiên thuần túy
Cặp phạm trù Tất nhiên - Ngẫu nhiên(tr219)
lOMoARcPSD| 61431571
f.
Khái niệm: Luôn tồn tại những khả năng, những khuynh hướng thể trở thành hiện
thực khi kết hợp với những điều kiện xác định.
- Hiện thực là phạm trù triết học chỉ mọi cái đang tồn tại thực sự trong tự nhiên, xã hội,
tư duy
- Khả năng phạm trù triết học chỉ những xu hướng, những cái đang còn mầm mống,
tồn tại trong hiện thực, trong sự vật, trong sự vận động của chúng sẽ xuất hiện khi
có điều kiện tương ứng
- Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
– Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau và luôn
luôn chuyển hóa lẫn nhau. Điều này được thể hiện, phát triển một quá trình trong đó
lOMoARcPSD| 61431571
khả năng và hiện thực thống nhất biện chứng với nhau, khả năng chuyển hóa thành hiện
thực còn hiện thực vì những quá trình phát triển nội tại của nh lại sinh ra các khả năng
mới, các khả năng mới ấy trong những điều kiện thích hợp lại biến thành hiện thực và cứ
tiếp tục như thế mãi mãi, đó là một quá trình vô tận.
- Do mối liên hchặt chẽ giữa khả năng hiện thực nên dễ mắc phải sai lầm nếu
tách rời khả năng hiện thực. Kết quả trong hoạt động thực tiễn hoặc sẽ không
nhìn thấy khả năng tiềm tàng trong sự vật, do đó không xác định được tương lai phát
triển của nó; hoặc không thấy được khả năng thể biến thành hiện thực, do đó không
tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến này hoặc ngăn cản nó tùy
theo yêu cầu của mình.
- Tuy nhiên, nếu quá nhất mạnh mối quan hệ khăng khít giữa khả năng và hiện thực
quên đi sự khác biệt về chất giữa chúng, lẫn lộn giữa khả năng và hiện thực thì cũng
sẽ dẫn tới sai lầm, khuyết điểm. Trong hoạt động thực tiễn, nếu dựa lầm vào cái mới
tồn tại khả năng chứ chưa phải hiện thực thì sẽ đưa lại hậu quả hết sức tai hại.
– Để một khnăng nào đó biến thành hiện thực thường cần có không chỉ một điều kiện,
mà là một tập hợp điều kiện. Tập hợp điều kiện được gọi là cần đủ, nếu nó thì khả
năng nhất định sẽ chuyển hóa thành hiện thực.
- Ví dụ: Để cách mạng chủ nghĩa có thể nổ ra cần có các điều kiện sau: thứ nhất là giai
cấp thống trị không thể giữ nguyên sự thống trị của mình dưới dạng cũ nữa; thứ hai
giai cấp bị trị bị bần cùng hóa quá mức bình thường; thứ ba là tính tích cực của quần
chúng tăng lên đáng kể; thứ tư là giai cấp cách mạng có đủ năng lực tiến hành những
hành động cách mạng mạnh mẽ đủ sức đập tạn bộ máy chính quyền cũ. Thiếu một trong
các điều kiện này, cách mạng hội chủ nghĩa không thể nổ ra. Quá trình biến khả
năng thành hiện thực diễn ra ở trong tự nhiên và trong xã hội không giống nhau.
- Trong giới tự nhiên, quá trình khả năng biến thành hiện thực chyếu là quá trình khách
quan. Nói chủ yếu vì không phải trong giới tự nhiên mọi khả năng đều biến thành hiện
thực một cách tự phát, mà nó có thể xảy ra ba trường hợp sau:
+ Loại khả năng chỉ có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên, đó là trường
hợp của quá trình vũ trụ và địa chất;
+ Loại khả năng thbiến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên nhưng nhờ con
người. dụ: bằng cách thay đổi điều kiện sống gây đột biến, con người biến khả năng
tạo ra giống mới thành hiện thực.
+ Loại khả năng mà trọng hiện thực hiện nay không sự tham gia của con người thì
không thể biến thành hiện thực. Các khả năng này vốn khách thể nhưng để biến chúng
thành hiện thực cần phải điều kiện do con người tạo ra. Ví dụ: việc chế tạo ra các sợi
tổng hợp, tạo ra các con tàu vũ trụ.
- Trong lĩnh vực hội, bên cạnh các điều kiện khách quan muốn biến khả năng thành
hiện thực còn cần cđiều kiện chủ quan hoạt động thực tiễn của con người.
đây, khả năng không khi nào tự nó biến thành hiện thực mà không có sự tham gia của
con người.
lOMoARcPSD| 61431571
lOMoARcPSD| 61431571
Ví dụ: vận dụng quy luật lượng chất vào quá trình phát triển bản thân?
Ta nói về khái niệm, sau đó nói về nội dung của quy luật. Khi lượng thay đổi đến một lượng
nhất định thì chất cũng thay đổi ngược lại. VD: Mỗi ngày thay đổi một chút ... thì s
thành kết quả lớn. Không phải cứ tích lũy thay đổi về chất mà phải tích lũy đủ lượng thì
mới thay đổi (dục tốc bất đạt). Vì vậy quá trình trong hành trình phát triển bản thân là rất
quan trọng. Phát hiện được điểm nút (hay mốc, giai đoạn) trong nh trình phát triển bản
thân.
Khái niệm:
Độ: là vùng an toàn, cần xác định vùng an toàn tốt, vùng an toàn cần vượt qua để khám
phá giới hạn của bản thân.
Bước nhảy: Biết phải kiên trì, nhẫn nại những cũng cần tích cực đổi mới, sáng tạo trong
phương pháp học tập, rèn luyện, cần phải thực hiện những bước nhảy vọt:
Chươ
ng 4: Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.
Quy luật chuyển
hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại
lOMoARcPSD| 61431571
Bằng cách đánh đổi. VD: bỏ bớt đam mê, bỏ vui chơi để nhảy vọt.
Bằng đòn bẩy: tìm người trợ giúp, tìm nguồn lực này thay bằng nguồn lực khác. VD: tìm thầy,
bạn trợ giúp.
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Khái niệm: nhiều cách phân chia các loại mâu thuẫn. Việc các mâu thuẫn cùng tồn
tại trong hành trình phát triển bản thân đó nhận thức khách quan về mâu thuẫn, không
sợ cũng không né tránh, giải quyết mâu thuẫn mới tạo ra sự phát triển.
Bước để giải quyết mâu thuẫn:
Phát hiện ra mâu thuẫn. Thừa nhận mâu thuẫn.
Phân loại mâu thuẫn
Thúc đẩy cho khuynh hướng trội (tích cực) và kìm hãm khuynh hướng trội (tiêu cực)
Các bước giải quyết mâu thuẫn:
Phát hiện mâu thuẫn. Quá khắc nghiệt với bản thân, toàn điểm xấu, k thấy điểm tốt.
Thừa nhận nó: Phát hiện rồi, nhưng biện hộ cho nó
Phân loại, xem mặt đối lập nào nên là khuynh hướng trội. Mình gất thông minh nhưng
thỉ thoảng lười => không quá đáng ngại, chấp nhận mâu thuẫn này tuy nhiên tìm cách
hạn chế khuynh hướng tiêu cực
Thúc đẩy cho khuynh hướng trội tích cưucj
Kìm hãm khuynh hướng trội nhưng tiêu cực
Nên tập trung giải quyết mâu thuẫn bên trong, là nguồn gốc của sự ptr
Nên giải quyết mâu thuẫn bên trong vì mâu thuẫn bên trong mới là bản chất của
vấn đề.
3.Quy luật phủ định của phủ định
Khái niệm: Phủ định biện chứng khác phủ định thông thường. Phủ định thông thường
chối bỏ hoàn toàn, phủ nhận hoàn toàn. Phủ định biện chứng kế thừa, phát huy
hoặc phát triển, tức là nó chỉ loại bỏ một phần không hợp lí chứ không vứt đi hết.
Ví dụ: “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Hãy phân tích và
chứng minh luận điểm trên.
“Con người thực thể tự nhiên mang bản tính hội”. Phân tích chứng minh luận điểm
trên.
Con người bị tha hóa về bản chất trong những điều kiện nào?
Vấn đề phát triển con người hiện nay ở Việt Nam?
Tha hóa là quá trình thay đổi chiều hướng tiêu cực, k giữ đc ban đầu
Chương 5. Bản chất của con người. Triết học về con người.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61431571
ÔN TẬP CUỐI KÌ TRIET I. Dạng bài:
Tự luận (2 câu 3 điểm, 2 câu 2 điểm)  Cấm kỵ: •
Gạch đầu dòng. Thay vào ngắt ý, xuống dòng. • Viết tắt II. Nội dung chính
1. Chương 1: Vấn đề cơ bản của triết học (Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức)
gian: 20’> Ví dụ: •
Chủ nghĩa duy tâm, duy vật đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học như thế nào? •
Hai câu hỏi lớn mà các trường phái triết học tập trung giải quyết là gì? •
Vấn đề thứ nhất: Vấn đề của bản thể luận trả lời cho câu hỏi: “Vật chất có trước hay
ý thức có trước?”. Chủ nghĩa duy tâm quan niệm... Chủ nghĩa duy vật quan niệm... •
Vấn đề cơ bản thứ hai: Các nhà triết học đi tìm câu trả lời cho câu hỏi.... •
Kết luận: Tóm lại (hoặc...) Trả lời:
1. Mở đầu vấn đề o Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất của con người về
thế giới; về tự nhiên xã hội và tư duy; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.
o Triết học đã ra đời và phát triển trên hai ngàn năm. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác
nhau, triết học có đối tượng nghiên cứu khác nhau; song tổng kết toàn bộ lịch
sử triết học, Ph.Ăngghen đã khái quát: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học,
đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại", giữa ý
thức và vật chất, giữa con người và giới tự nhiên.
o Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. o - Thứ nhất, giữa ý thức và vật chất:
cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? o - Thứ hai, con
người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
2. Vấn đề thứ nhất: Vấn đề của bản thể luận trả lời cho câu hỏi: “ Vật chất có trước
hay ý thức có trước?”
- Chủ nghĩa duy vật là một trong những trường phái triết học lớn trong lịch sử, bao gồm
trong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lập trường duy vật trong
việc giải quyết vấn để cơ bản của triết học, đó là: “Vật chất là tính thứ nhất, ý thức hay
tinh thần chỉ là tính thứ hai của mọi tồn tại trong thế giới” - tức là thừa nhận và minh
chứng rằng: suy đến cùng, bản chất và cơ sở của mọi tồn tại trong thế giới tự nhiên và
xã hội chính là vật chất.
- Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức, đó là:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học
duy vật thời cổ ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp. lOMoAR cPSD| 61431571
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học
duy vật thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là chủ nghĩa
duy vật cận đại nước Anh và Pháp).
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập từ giữa thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập là hình thức - trình
độ phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học, vì những lý do sau:
- Dó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việc lý giải các tồn tại trong giới tự
nhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật
trong việc giải thích các hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người
đó chính là những quan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Do nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức
vàcải tạo thế giới mà còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy. Từ đó
tạo nên sự đúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới.
- Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự
nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.
- Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là: + Chủ
nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng
định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể.
Ví dụ quan niệm của Beccơly.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức,
nhng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước
và tồn tại độc lập với con ngời, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và
tư duy. Nó thường được mang những tên gọi khác nhau nh ý niệm, ý niệm
tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụ quan niệm của Platon, Hêghen.
=> Ta xét thấy cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và
nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lợng xã hội, các
giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn
nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lợng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ;
nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình
thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.
Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa
duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học. Đồng thời, nó
biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội
Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới từ
một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhà triết học nhị nguyên luận. Họ
xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện tợng của thế lOMoAR cPSD| 61431571
giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ
nguyên thể tinh thần. Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm,
nhng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển
tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.
3. Vấn đề thứ 2: Các nhà triết học đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Con người có
khả năng nhận thức được thế giới hay không?” (trang 39)
- Nhận thức là gì?
Quá trình nhận thức giúp cho chúng ta phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan – những khách thể tác động vào con người trong quá trình hoạt động của họ. Nhờ nhận
thức mà con người có xúc cảm, tình cảm, đặt ra được mục đích và dựa vào đó mà hành động. Như
vậy, quá trình nhận thức xuất phát từ hành động, làm tiền đề cho các quá trình tâm lý khác. Đồng
thời tính chân thực của quá trình nhận thức cũng được kiểm nghiệm qua hành động: hành động có
kết quả chứng tỏ chúng ta phản ánh đúng hành động, không có kết quả chứng tỏ ta phản ánh sai.
Nhờ quá trình nhận thức, chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta, mà cả hiện thực
của bản thân ta nữa, không chỉ phản ánh cái bên ngoài mà cả cái bản chất bên trong, không chỉ
phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cả cái sẽ tới, cái quy luật phát triển của hiện thực nữa.
Như thế có nghĩa là quá trình nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, ở những mức độ phản
ánh khác nhau: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Những quá trình này sẽ cho chúng
ta những sản phẩm khác nhau, còn gọi là những cấu tạo tâm lý khác nhau (hình tượng, biểu tượng,
khái niệm). Đại thể có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành 2 giai đoạn lớn: nhận thức cảm
tính (gồm cảm giác và tri giác) và nhận thức lý tính. Trong hoạt động nhận thức của con người,
giai đoạn cảm tính và lý tính có quan hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ lẫn nhau. V.I.Lênin đã tổng
kết quy luật đó của hoạt động nhận thức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức
chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
.
- Quan điểm duy tâm
Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là
sự phản ánh hiện thực khách quan.
- Duy tâm chủ quan, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là phức hợp những cảm giác của con người.
Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác, biểu tượng của con người.
- Duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận
thứccũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận của ý niệm, tư
tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người. lOMoAR cPSD| 61431571
- Thuyết hoài nghi nghi ngờ tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên
tắcnhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài.
- Thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với họ, thế giới không
thểbiết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con
người không thể biết được gì nữa. Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết đã
bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào bộ óc người. Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực quan nên
chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học những vấn
đề của lý luận nhận thức.
Nhìn chung chủ nghĩa duy vật trước C.Mác chưa thấy đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. 
Chứng minh Con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Lut-vich-Phoi-ơ-bắc khẳng định : Con người có khả năng nhận thức được thế giới tự nhiên, một
người thì không nhận thức được hoàn toàn, nhưng toàn bộ loài người thông qua các thế hệ thì có
thể nhận thức được.

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta hoàn toàn có khả năng nhận thức thế giới khách quan nhờ
các giác quan, nhờ hoạt động của não bộ. Cụ thể hơn các sự vật, hiện tượng của thế giới khách
quan khi tác động vào cơ quan cảm giác sẽ gây ra cảm giác.Đó là nhận biết đầu tiên của con ngừơi
về thế giới khách quan.Con người có 5 giác quan, mỗi giác quan thu nhận một loại cảm giác nhất
định.Cơ quan cảm giác có thể phân biệt một cách tinh tế các tác động từ bên ngoài.Tuy nhiên hoàn
toàn không phải mọi cái trong thế giới chúng ta đều có thể ?trong tận mắt, bắt tận tay?.Chẳng hạn
chúng ta không thể sờ những làn sóng vô tuyến bằng tay, không thể nghe trực tiếp làn âm thanh có
bước sóng không phù hợp với tai người.Thế nhưng bằng trí óc con người có thể phát minh ra
những công cụ và thiết bị khoa học tiên tiến dựa vào đó để phát hiện ra những hiện tượng đó

Khả năng nhận thức của con người ngày càng tăng
Sự vật hiện tượng của thế giới dù cho chúng tồn tại dưới những dạng khác nhau, dù việc tìm hiểu
quan sát chúng có khó khăn, phải dựa vào các phương tiện kỹ thuật, con người vẫn có thể nhận biết được chúng.
Hiện nay trong thế giới bao la đầy huyền bí còn nhiều điều con người chưa biết.Khoa học còn
khám phá ra những dạng vật chất mới với khát vọng và ý chí vươn lên làm chủ thế giới, tất cả
những sự vật, hiện tượng dù kì lạ đến đâu.

Những tác động vào thế giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người
- Khai khẩn đất hoang.
- Xây dựng nhà máy thủy điện. lOMoAR cPSD| 61431571 - Đắp đê.
- Xây dựng công trình.
Với những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật như hiên nay, khả năng sáng tạo của con người ngày càng lớn.
- Những tác động vào giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người như đắpđê
ngăn lũ, đắp đập ngăn sông để tạo hồ thủy lợi, thủy điện, thụ phấn nhân tạo cho cây trồng…
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, nếu không có các nguyên tố hóa học, các nhiễm sắc thể vốn có,
cùng hàng loạt các quy luật hóa học biến đổi gen… thì các phát minh kia cũng không thể thực hiện được.
Con người không thể tạo ra giới tự nhiên, nhưng có thể cải tạo giới tự nhiên trên cơ sở tuân theo
những quy luật vận động khách quan vốn có của nó.
Ngược lại làm trái các quy luật khách quan, con người sẽ hứng chịu những hậu quả khôn lường
Hậu Quả Phải Hứng Chịu :
- Ô nhiễm môi trường nước…- Ô nhiễm bầu khí quyển… …Và...
…còn nhiều hậu quả khôn lường khác…
Khả Năng Cải Tạo Của Con Người :
- Những tác động vào giới tự nhiên và cải tạo tự nhiên theo hướng có lợi cho con người như đắpđê
ngăn lũ, đắp đập ngăn sông để tạo hồ thủy lợi, thủy điện, thụ phấn nhân tạo cho cây trồng…
Chương 2: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nội dung 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin. Lấy ví dụ minh họa. Rút ra
bài học cho bản thân (3 điểm)
Chép nguyên văn định nghĩa. •
Ngắt 3 ý Thứ nhất: … Thứ 2:…. Thứ 3:…..Nêu ví dụ lớn rồi lồng ghép 3 ý và ptich 
Phân tích ví dụ (not only đưa ra ví dụ). • Bài học
Vật chất (Độ dài: một trang rưỡi)
Từ định nghĩa của Lê-nin, ta có thể rút ra bài học sau:
Thứ nhất: Vật chất k phải là vật thể, vchat là 1 bản thể rộng lớn bao là
Bài học : k đc đồng nhất vật chất là vật thể
Thứ 2: Vật chất đem lại choc ta cảm giác, nó chỉ là sự phản ảnh của cta về thế giới vật chất,
nên ta k đc chủ quan áp đặt, bảo thủ, thiên kiế n về người khác, về hiện tượng khác, qua đó
có đc cái nhìn đa chiều, tư duy phản biện.
Bài học: Những gì mình cảm nhận chỉ là cảm giác của chính mình, sự thoải mái của
mình về thế giới nhận thực. Cho nên không được chủ quan, áp đặt, bảo thủ với ý kiến của lOMoAR cPSD| 61431571
người khác. Từ đó, ta có cái nhìn đa chiều và tư duy phản biện, phải tôn trọng ý kiến, tư duy của người khác.
Thứ 3: Vật chất k tồn tại lệ thuộc vào cảm giác, => giúp ta tránh hoang tưởng ảo tưởng, thiếu thực tế.
Nội dung 2: Ý thức
Nguồn gốc:
Ví dụ: Ý thức của con người có được từ đâu? Ý thức của con người có nguồn gốc
như thế nào? Nêu bài học vận dụng cho bản thân. (tr 152)
 Nguồn gốc tự nhiên: •
Nguồn gốc xã hội: Có 2 yếu tố: Lao động và ngôn ngữ.(tr 154) •
Rút ra bài học cho bản thân: Chăm sóc bộ não để hoàn thiện, khỏe mạnh.
Phát triển ngôn ngữ cũng như chăm chỉ lao động sẽ phát triển ý thức. Ngược lại những người
tự ngắt nguồn gốc này sẽ khó phát triển hoặc thụt lùi.
Bản chất của ý thức:
Ví dụ: Em hãy phân tích và chứng minh luận điểm sau: “Ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan và bộ não của con người một cách năng động và sáng tạo.”

Năng động: thể hiện sự chủ động lựa chọn thông tin đầu vào để phản ánh chủ thể. Tự
phân loại thông tin, thu nhận thông tin. •
Sáng tạo: làm mới hình ảnh đấy (làm đẹp lên, cũng có thể làm xấu đi) tùy thuộc vào
trình độ phản ánh của chủ thể. lOMoAR cPSD| 61431571 •
Rút ra bài học: Ý thức chính là sự phản ánh cho nên chúng ta muốn phát triển ý thức
cần phải nâng cấp trình độ của ý thức bằng cách nơi tiếp nhận, thu nhận, công cụ phản
ánh là các giác quan (nơi thu nhận thông tin đầu vào). Xử lí thông tin đầu ra cần phụ
thuộc vào độ tuổi, trình độ, trải nghiệm và giới tính.
Kết cấu ý thức theo chiều ngang
Ví dụ: Tri thức tại sao nói là yếu tố quan trọng nhất của ý thức theo chiều ngang?
- Ý thức gồm tri thức, cảm xúc, ý chí. Tri thức là bộ phận quan trọng nhất vì nó là nền
tảng, cơ sở để định hướng tình cảm và ý chí đúng đắn. Tuy vậy, không thể phủ nhận
tình cảm và ý chí là chất xúc tác tác động tới chủ thể.
- Như Triết học của chủ nghĩa Mac-Lenin khẳng định: ý thức là mộtphạm trù triết học
dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thếgiới vật chất diễn ra trong não
người, hình thành trong quá trình vàđược diễn đạt nhờ ngôn ngữ.
- Bản chất của ý thức thể hiện ở sự phản ánhnăng động, sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ óc con người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan. Ý thức gồm các yếu tố
cấu thành như:tình cảm, ý chí, tri thức.
- Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất.Như chúng ta đã biết, tri thức (sự hiểu biết
về các lĩnh vực của đờisống xã hội) là kết quả của quá trình nhận thức của con người
về thế giớihiện thực , tái hiện trong tư duy những thuộc tính , những quy luật của thếgiới
ấy và diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ.
- Từ đó ta có thể nhận thấy được :
+ Tri thức phương thức tồn tại cơ bản của ý thức và là điều kiện để ýthức phát triển.
+ Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức
+ Nếu ý thức mà không bao hàm tri thức , không dựa vào tri thức thì sự trừu tượng trống
rỗng, không giúp ích thực tiễn gì cho con người
+ Tri thức định hướng sự phát triển và quy định mức độ biểu hiện củacác yếu tố khác cấu thành ý thức
+ Mọi hoạt động của con người đều có tri thức , được tri thức định hướng
Kết cấu ý thức theo chiều dọc
Ví dụ: Vai trò của tự ý thức, tiềm thức và vô thức trong kết cấu của ý thức theo
chiều dọc? Nêu bài học vận dụng cho bản thân.
(trang 166) •
Tự ý thức: Đây là phần tỉnh táo nhất, lý trí nhất của ý thức vì nó cung cấp cho chúng ta
những dữ liệu, thông tin chính xác, khách quan và giúp chúng ta ra quyết định dựa trên
việc phân tích đúng sai, phân biệt được yêu ghét, cái gì nên, cái gì không nên. Từ đó nó
giúp chúng ta trả lời 2 câu hỏi lớn:
- Tôi là ai? (hay tự nhận thức về bản thân);
- Tôi có mối quan hệ như thế nào với môi trường xung quanh? (Môi trường xung quanh
là 2 môi trường: Môi trường tự nhiên( ý thức bảo vệ môi trường) và môi trường xã hội lOMoAR cPSD| 61431571
(Tôi là ai với những người xung quanh tôi?)). Tuy nhiên chúng ta chỉ sử dụng 10% tự
ý thức, 90% nhờ tiềm thức và vô thức. (quyết định theo xu hướng tự động) •
Tiềm thức: Được hiểu là những kho dữ liệu chứa đựng thông tin, âm thanh, hình ảnh và
sự kiện có sẵn ở dạng tiềm tàng. Nó được đánh thức bởi: cơ chế lặp lại (theo thói quen,
khi thấy 1 hình ảnh, âm thanh, sự kiện tương tự) và khi cường độ cảm xúc cao, cảm xúc
mạnh liệt (cảm xúc tích cực hoặc cảm xúc tiêu cực). •
Vô thức: Là phần nằm đáy sau cùng của ý thức, là những cái dữ liệu, thông tin bị đè
nén, chôn vùi, che giấu. (là những thứ rất quý giá trong tâm trí, tâm hồn). Chí Phèo đã
trở thành người xấu nhưng vẫn có bản lĩnh đàn ông trong vô thức để nhận ra những nét
đẹp của Thị Nở hay Thị Nở có lòng trắc ẩn, yêu 1 kẻ xấu, ko ai công nhận. Những dục
vọng đê hèn trong giấc mơ, những thứ bị ẩn dấu, gặp người mình iu thương dù ngoài
đời tỏ ra như k có chuyện j xảy ra. Đè nén có thể do nhiều yếu tố như xã hội hay tự tu
dưỡng không tốt, giải tỏa sự căng thẳng của não bộ và giúp chúng ta cân bằng.
Tác hại của vô thức: Làm cho ta hành động quá bản năng, thiếu kiểm soát. ( Khi
được chửi bậy ta đc giải tỏa hơn, đang nói chuyện thì lỡ lời ) Mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức
Một vài liên hệ thực tiễn :
+ Khi đang đi trên đường , ta thấy một cái cây bị đổ chắn ngang đường đi( đây là vật thể ta
thấy ), ta thấy nó sẽ làm cản trở đường và gây nguy hiểm cho mọi người tham gia giao
thông ( đến đây vật chất đã tạo ra ý thức của con người ) , sau đó ta quyết định di chuyển
cây gỗ đi ( từ nhận thức về sự nguy hiểm của cây , nhận thức lại tác động ngược lại và điều
khiển hành vi của con người phải di chuyển cây gỗ)
+ Hôm nay em nấu cơm nhưng do bỏ nhiều nước cơm bị nhão (đây là vật chất), e muốn ăn
cơm khô ý thức được bỏ ít nước lại (vật chất đã quyết định ý thức)
+ Ông cha ta dạy: “ Được voi, đòi tiên” -> Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo Trong
câu này khi vật chất của cải càng tăng thì lòng tham của con người cũng càng tăng hơn
+ Ở Việt Nam, nhận thức của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba về công nghệ thông tin còn
rất yếu. Nguyên nhân là do thiếu máy móc cũng như thiếu đội ngũ giảng viên. Nhưng nếu
đáp ứng được vấn đề hạ tầng thì trình độ tin học của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba của
sẽ tốt hơn rất nhiều.Nhận thức được tình hình đó nhà nước ta và bộ giáo dục làm những
cải cách để học sinh có thể được tiếp cận nhiều hơn như phổ biến nhiều về những mặt lợi
khi biết thêm công nghệ, đầu tư trong việc giảng dạy và phát triển thiết bị thực hành cho
mỗi địa phương để tiện cho việc giáo dục
+ Trong học tập, chúng ta ý thức được thiếu tài liệu, sách giáo trình thì ta sẽ phải tự chủ
động tìm nguồn mua trên mạng hoặc liên hệ mua lại của các anh chị khóa trước. + Trong
môi trường học tập mới, để thích nghi được thì chúng ta phải ý thức xây dựng các mối
quan hệ bạn bè, chủ động hơn trong quá trình học tập.
+ Khi quan sát 1 cái cây thì chính ngoại hình, đặc điểm, màu sắc sẽ phản ánh vào bộ não
chúng ta thì YT sẽ xuất hiện hình ảnh cái cây đó. Trong TH này VC là cái cây có trước sẽ
phản ánh vào bộ não là YT là cái có sau. lOMoAR cPSD| 61431571
+ Đại dịch covid-19 (vật chất) đang diễn ra phức tạp, nhận thức được sự nguy hiểm đó
mỗi cá nhân chúng ta cần phải ý thức thực hiện qui tắc 5K để tác động lại vật chất đó là đẩy lùi dịch bệnh.
+ Khi đi ăn một quán ăn ngon, trong ý thức ta sẽ tự động ghi nhớ tên của quán để lần sau ghé lại
Chương 3: 6 cặp phạm trù
Đầu tiên: Nêu lí thuyết, mqh giữa 2 cặp phạm trù VD: cái riêng - cái chung:
3 KN: Cái chung, cái riêng, cái đơn nhất => MQH giữa 3 cái:
- Cái riêng là cái toàn bộ, 2 cái còn lại là bộ phận.
- Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau
=> bài học vận dụng: Cái chung cho ta biết về bản chất của sự vật hiện tượng. ( cái chung
của 8 tỷ ng trên tgioi => bản chất của con người)
- Cái đơn nhất là cái giúp ta phân biệt được các sự vật với nhau. => Lúc nào nên phát
huy cái chung, lúc nào nên phát huy cái đơn nhất. ( Để thành công trong gtiep, ta nên
phát huy cái chung. Trong bán hàng ta cũng thường hay tạo những điểm chung với
người đối diện. Nhưng để gây ấn tượng ta cần phát huy cái đơn nhất.
a. Cặp phạm trù Cái chung – Cái riêng(tr208) Khái niệm:
Cái chung: hé lộ cho cta về bản chất của sự vật, htg
Cái riêng: là cái toàn bộ
Cái đơn nhất: giúp chúng ta phân biệt được các sự vật •
Mối quan hệ giữa 3 cái: Riêng = Chung + Đơn nhất
Vận dụng: lúc phát huy cái chung (trong giao tiếp để tạo thiện
cảm như bán hàng...), lúc phát huy cái đơn nhất (để gây ấn
tượng trong kinh doanh, khoa học...)
- trg giao tiếp ban đầu: + tăng cái chung >< trg mqh tình bạn, tình yêu: tăng cái đơn nhất
- nghề kiểm toán: tăng cái chung (trình độ, kĩ năng)
Cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả (tr217)
>< thái độ làm việc: tăng cái đơn nhất b.
Khái niệm: là một chuỗi và chuyển hóa cho nhau và phải xem nguyên nhân nào là nguyên nhân chính. lOMoAR cPSD| 61431571
- Nguyên nhân: là những tác động qua lại giữa các mặt, bộ phận, thuộc tính trong sự vật
hoặc các sự việc
- Kết quả: là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tạo ra
NN (tác động) - Kết quả ( biến đổi) -
mối quan hệ qua lại, cụ thể:
Thứ nhất: Nguyên nhân sản sinh ra kết quả.
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả.
Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động. Tuy
nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu
hiện mối liên hệ nhân quả.

Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại, cùng một kết quả có thể được gây nên bởi những nguyên
nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc.

Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây
nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu các
nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy
yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau.

Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả,
có thể phân loại nguyên nhân thành:
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu.
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài.
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Thứ hai: Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ
vai trò thụ động đối với nguyên nhân, mà sẽ có ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân.
Thứ ba: Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả.
Điều này xảy ra khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác
nhau. Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối
quan hệ khác là kết quả và ngược lại.
lOMoAR cPSD| 61431571
Một hiện tượng nào đó là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt
mình sẽ trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… Và quá trình này tiếp tục
mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận. Trong chuỗi đó
không có khâu nào là bắt đầy hay cuối cùng.

VD: Mưa => đường trơn => tai nạn gt tăng => tử vong tăng => trẻ mồ côi tăng
Bài học: Tìm những nguyên nhân cùng chiều thông minh, chăm chỉ và nhà giàu để kết quả đến nhanh hơn.
c. Cặp phạm trù Nội dung – Hình thức tr222
Khái niệm: Nội dung quyết định hình thức và hình thức tác động lại nội dung, là cho phong phú hơn.
- Nội dung là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, yếu tố, các quá trình tạo nên sự vật
- Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các
mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật
Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức *sự
thống nhất giữa nội dung và hình thức :
Nội dung và hình thức gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau. Bất kì
sự vật nào cũng có nội dung và hình thức . Không có một hình thức nào lại không chứa
đựng một nội dung nhất định, cũng như không có nội dung nào lại không tồn tại trong
một hình thức xác định. Khi khẳng định nội dung và hình thức tồn tại không tách rời
nhau, không có nghĩa là chúng ta khẳng định một nội dung bao giờ cũng chỉ gắn liền
với một hình thức nhất định và một hình thức chỉ chứa đựng một nội dung nhất định.
Cùng 1 nội dung có thể được thể hiện qua nhiều hình thức .ngược lại, cùng một hình
thức có thể truyền tải dc nhiều nội dung khác nhau.
+Cùng một nội dụng có thể được thể hiện qua nhiều hình thức:
Ví dụ : Quá trình sản xuất một sản phẩm có thể bao gồm những yếu tố , nội dung
giống nhau như: con người, công cụ sản xuất , vật liệu... nhưng cách tổ chức, phân
công quá trình sản xuất có thể khác nhau.
+Cùng 1 hình thức có thể truyền tải được nhiều nội dung : ví dụ : Cùng một hình thức
tổ chức sản xuất như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực, lOMoAR cPSD| 61431571
với những yếu tố vật chất khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm khác nhau * Nội
dung quyết định hình thức:
-Nội dung có khuynh hướng biến đổi, còn hình thức có khuynh hướng ổn định tương
đối, biến đổi chậm hơn nội dung. Vì vậy, sự biến đổi và phát triển của sự vật bao giờ
cũng bắt đầu từ nộidung, nội dung biến đổi trước, hình thức biến đổi sau cho phù hợp với nội dung. Ví dụ:
Trong mỗi phương thức sản xuất, thì lực lượng sản xuất là nội dung và quan hệ sản
xuất là hình thức. Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, luôn luôn
biến đổi. Sự biến đổi của lực lượng sản xuất đến một mức độ nào đó sẽ mâu thuẫn sâu
sắc với quan hệ sản xuất; quan hệ sản xuất do biến đổi chậm hơn, và lúc này trở nên
lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành yếu tố kìm hãm
lực lượng sản xuất phát triển. Để giải phóng và phát triển hơn nữa lực lượng sản xuất,
đòi hỏi phải phá bỏ quan hệ sản xuất , thay vào đó là quan hệ sản xuất mới phù hợp
với lực lượng sản xuất. Như vậy, sự biến đổi của nội dung quy định sự biến đổi hình thức.
* Hình thức có tính tác động trở lại đối với nội dung
– Hình thức phù hợp với nội dung sẽ thúc đẩy nội dung phát triển
.– Hình thức không phù hợp với nội dung sẽ làm kìm hãm sự phát triển của nội dung.
Song sự kìm hãm ấy chỉ mang tính tạm thời, theo tính tất yếu khách quan hình thức cũ
phải được thay thế bằng hình thức mới cho phù hợp với nội dung -Nội dung và hình
thức có thể chuyển hóa cho nhau.
d. Cặp phạm trù Bản chất – Hiện tượng tr225
(Nội dung có thể thay đổi nhưng bản chất ko thay đổi được (thuộc nd). Htg tdoi khi điều kiện thay đổi
Khái niệm: Bất kỳ nội dung nào cũng nói lên một bản chất nào đó. Cho nên ta không nên
bỏ qua bất kỳ một nội dung nào. Từ một hiện tượng không thể quyết định bản chất, đôi
khi phải tạo ra hiện tượng giả định để truy tìm bản chất. lOMoAR cPSD| 61431571
- Bản chất là phạm trù triết học chỉ tổng hợp mọi mặt, mối liên hệ tất nhiên, tương đối
ổn định bên trong sự vật, quyết định sự vận động và phát triển của sự vật - Hiện tượng
là phạm trù triết học chỉ cái là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
- Mối quan hệ
biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bản chất và hiện tượng có mối quan hệ biện chứng như sau:
- Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan trong cuộc sống:
- – Cả bản chất và hiện tượng đều có thực, tồn tại khách quan bất kể con người có nhận thức được hay không. - Lý do là vì:
+ Bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định. Các yếu tố ấy tham
gia vào những mối liên hệ qua lại, đan xen chằng chịt với nhau, trong đó có những
mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định. Những mối liên hệ này tạo nên bản chất của sự vật.
+ Sự vật tồn tại khách quan. Mà những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định lại ở
bên trong sự vật, do đó, đương nhiên là chúng cũng tồn tại khách quan.
+ Hiện tượng chỉ là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài để chúng ta nhìn thấy, nên
hiện tượng cũng tồn tại khách quan.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:
- – Không những tồn tại khách quan, bản chất và hiện tượng còn có mối liên hệ hữu cơ,
gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau.
- Sự thống nhất đó thể hiện trước hết ở chỗ:
+Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng. Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ
qua những hiện tượng tương ứng.
+ Hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất. Bất kỳ hiện tượng nào cũng là sự
bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó nhiều hoặc ít.
- Về căn bản, bản chất và hiện tượng phù hợp với nhau. Không có bản chất nào tồn tại
một cách thuần túy, không cần có hiện tượng. Ngược lại, cũng không có hiện tượng
nào lại không phải là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.
- Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra những hiện tượng khác nhau:
- Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng tương ứng với nó cũng sẽ thay đổi theo. Khi bản
chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất đi.
- Chính nhờ có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa cái quy định sự vận
động, phát triển của sự vật với những biểu hiện nghìn hình, vạn vẻ của nó mà ta có thể
tìm ra cái chung trong nhiều hiện tượng cá biệt, tìm ra quy luật phát triển của những hiện tượng ấy.
- Bản chất và hiện tượng cũng có sự mâu thuẫn:
– Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng.Tức là, trong sự
thống nhất ấy đã bao hàm sự khác biệt. Nói cách khác, tuy bản chất và hiện tượng thống
nhất với nhau, về căn bản là phù hợp với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàn toàn. lOMoAR cPSD| 61431571
- Sở dĩ như vậy là vì bản chất của sự vật bao giờ cũng được thể hiện ra thông qua sự
tương tác của sự vật ấy với những sự vật xung quanh. Các sự vật xung quanh này trong
quá trình tương tác đã ảnh hưởng đến hiện tượng, đưa vào nội dung của hiện tượng
những thay đổi nhất định.
- Kết quả là, hiện tượng biểu hiện bản chất nhưng không phải là sự biểu hiện y nguyên bản chất.
– Sự không hoàn toàn trùng khớp khiến cho sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là
một sự thống nhất mang tính mâu thuẫn.
- Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ: + Bản
chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt.
- Vì vậy, cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài bằng vô số hiện tượng khác nhau
tùy theo sự biến đổi của của điều kiện và hoàn cảnh.
- Nội dung cụ thể của mỗi hiện tượng phụ thuộc không những vào bản chất, mà còn vào
hoàn cảnh cụ thể, trong đó bản chất được biểu hiện. Chính vì thế, hiện tượng phong phú
hơn bản chất. Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn hiện tượng.
+ Bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan. Còn hiện tượng là
mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy.
- Các hiện tượng biểu hiện bản chất không phải dưới dạng y nguyên như bản chất vốn có
mà dưới hình thức đã được cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thực sự của bản chất.
Ví dụ: Nhúng một phần cái thước vào chậu nước, ta thấy cái thước gấp khúc, trong khi
thực tế cái thước vẫn thẳng.
– Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm. Còn hiện tượng không ổn định, nó luôn luôn
trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất.
- Có tình hình đó là do nội dung của hiện tượng được quyết định không chỉ bởi bản chất
của sự vật, mà còn bởi những điều kiện tồn tại bên ngoài của nó, bởi tác động qua lại
của nó với các sự vật xung quanh.
- Các điều kiện tồn tại bên ngoài đó và sự tác động qua lại của sự vật này với sự vật khác
lại thường xuyên biến đổi. Vì vậy, hiện tượng thường xuyên biến đổi, trong khi bản chất vẫn giữa nguyên.
- Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất luôn giữ nguyên như cũ từ lúc ra đời cho
đến lúc mất đi. Mà bản chất cũng biến đổi, nhưng là biến đổi rất chậm so với hiện tượng.
- Ví dụ: Lối sống của hssv ngày nay: sự kết hợp giữa bản chất truyền thống và đức tính hiện đại
- Biểu hiện: + năng động, sáng tạo, nhạy bén với đời sống
+ khắc phục những đkien bất lợi để vươn lên với đời sống
+ sống có ích, trân trọng nh điều tốt đẹp của cs
- Một bộ phận tiếp thu những thói hư tật xấu trong cơ chế “mở cửa” của thế giới: Bài
bạc, Ma túy, hút chích,….
- Kết luận : Có thể bản chất không xấu, song lại hiểu sai lệch bản chất của ý niệm “người
trưởng thành" nên có những hành vi tiêu cực. => Dư luận xã hội lại đánh đồng bản chất lOMoAR cPSD| 61431571
với hiện tượng trên là một nên có cái nhìn phiến diện về toàn thế giới trẻ. => Khi đánh
giá, nhìn nhận về một vấn đề trong đời sống, cần phân biệt rõ ràng giữa bản chất và
hiện tượng, có cái nhìn khách quan, tổng thể trước khi đưa ra sự đánh giá. -
e. Cặp phạm trù Tất nhiên - Ngẫu nhiên(tr219)
Khái niệm: Trong một kết quả đều tồn tại cả ngẫu nhiên và tất nhiên. Tất nhiên là kết quả
do nguyên nhân chủ quan gây ra. Ngẫu nhiên là do nguyên nhân khách quan, sự trùng hợp,.. gây ra. - -
B, Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại nhưng không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần
túy cx như ko có ngẫu nhiên thuần túy lOMoAR cPSD| 61431571
f. Cặp phạm trù Khả năng – Hiện thực tr228
Khái niệm: Luôn tồn tại những khả năng, những khuynh hướng và có thể trở thành hiện
thực khi kết hợp với những điều kiện xác định.
- Hiện thực là phạm trù triết học chỉ mọi cái đang tồn tại thực sự trong tự nhiên, xã hội, tư duy
- Khả năng là phạm trù triết học chỉ những xu hướng, những cái đang còn là mầm mống,
tồn tại trong hiện thực, trong sự vật, mà trong sự vận động của chúng sẽ xuất hiện khi
có điều kiện tương ứng

- Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
– Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau và luôn
luôn chuyển hóa lẫn nhau. Điều này được thể hiện, phát triển là một quá trình trong đó lOMoAR cPSD| 61431571
khả năng và hiện thực thống nhất biện chứng với nhau, khả năng chuyển hóa thành hiện
thực còn hiện thực vì những quá trình phát triển nội tại của mình lại sinh ra các khả năng
mới, các khả năng mới ấy trong những điều kiện thích hợp lại biến thành hiện thực và cứ
tiếp tục như thế mãi mãi, đó là một quá trình vô tận.

- Do có mối liên hệ chặt chẽ giữa khả năng và hiện thực nên dễ mắc phải sai lầm nếu
tách rời khả năng và hiện thực. Kết quả là trong hoạt động thực tiễn hoặc sẽ không
nhìn thấy khả năng tiềm tàng trong sự vật, do đó không xác định được tương lai phát
triển của nó; hoặc không thấy được khả năng có thể biến thành hiện thực, do đó không
tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến này hoặc ngăn cản nó tùy
theo yêu cầu của mình.

- Tuy nhiên, nếu quá nhất mạnh mối quan hệ khăng khít giữa khả năng và hiện thực mà
quên đi sự khác biệt về chất giữa chúng, lẫn lộn giữa khả năng và hiện thực thì cũng
sẽ dẫn tới sai lầm, khuyết điểm. Trong hoạt động thực tiễn, nếu dựa lầm vào cái mới
tồn tại khả năng chứ chưa phải hiện thực thì sẽ đưa lại hậu quả hết sức tai hại.

– Để một khả năng nào đó biến thành hiện thực thường cần có không chỉ một điều kiện,
mà là một tập hợp điều kiện. Tập hợp điều kiện được gọi là cần và đủ, nếu có nó thì khả
năng nhất định sẽ chuyển hóa thành hiện thực.

- Ví dụ: Để cách mạng chủ nghĩa có thể nổ ra cần có các điều kiện sau: thứ nhất là giai
cấp thống trị không thể giữ nguyên sự thống trị của mình dưới dạng cũ nữa; thứ hai là
giai cấp bị trị bị bần cùng hóa quá mức bình thường; thứ ba là tính tích cực của quần
chúng tăng lên đáng kể; thứ tư là giai cấp cách mạng có đủ năng lực tiến hành những
hành động cách mạng mạnh mẽ đủ sức đập tạn bộ máy chính quyền cũ. Thiếu một trong
các điều kiện này, cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể nổ ra. – Quá trình biến khả
năng thành hiện thực diễn ra ở trong tự nhiên và trong xã hội không giống nhau.

- Trong giới tự nhiên, quá trình khả năng biến thành hiện thực chủ yếu là quá trình khách
quan. Nói chủ yếu vì không phải trong giới tự nhiên mọi khả năng đều biến thành hiện
thực một cách tự phát, mà nó có thể xảy ra ba trường hợp sau:

+ Loại khả năng chỉ có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên, đó là trường
hợp của quá trình vũ trụ và địa chất;
+ Loại khả năng có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên nhưng nhờ con
người. Ví dụ: bằng cách thay đổi điều kiện sống gây đột biến, con người biến khả năng
tạo ra giống mới thành hiện thực.

+ Loại khả năng mà trọng hiện thực hiện nay không có sự tham gia của con người thì
không thể biến thành hiện thực. Các khả năng này vốn có ở khách thể nhưng để biến chúng
thành hiện thực cần phải có điều kiện do con người tạo ra. Ví dụ: việc chế tạo ra các sợi
tổng hợp, tạo ra các con tàu vũ trụ.

- Trong lĩnh vực xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan muốn biến khả năng thành
hiện thực còn cần có cả điều kiện chủ quan là hoạt động thực tiễn của con người. Ở
đây, khả năng không khi nào tự nó biến thành hiện thực mà không có sự tham gia của con người.
lOMoAR cPSD| 61431571 lOMoAR cPSD| 61431571
Chươ ng 4: Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại
Ví dụ: vận dụng quy luật lượng chất vào quá trình phát triển bản thân?
Ta nói về khái niệm, sau đó nói về nội dung của quy luật. Khi lượng thay đổi đến một lượng
nhất định thì chất cũng thay đổi và ngược lại. VD: Mỗi ngày thay đổi một chút ... thì sẽ
thành kết quả lớn. Không phải cứ tích lũy là thay đổi về chất mà phải tích lũy đủ lượng thì
mới thay đổi (dục tốc bất đạt). Vì vậy quá trình trong hành trình phát triển bản thân là rất
quan trọng. Phát hiện được điểm nút (hay mốc, giai đoạn) trong hành trình phát triển bản thân. • Khái niệm:
Độ: là vùng an toàn, cần xác định vùng an toàn tốt, vùng an toàn cần vượt qua để khám
phá giới hạn của bản thân. •
Bước nhảy: Biết phải kiên trì, nhẫn nại những cũng cần tích cực đổi mới, sáng tạo trong
phương pháp học tập, rèn luyện, cần phải thực hiện những bước nhảy vọt: lOMoAR cPSD| 61431571
Bằng cách đánh đổi. VD: bỏ bớt đam mê, bỏ vui chơi để nhảy vọt.
Bằng đòn bẩy: tìm người trợ giúp, tìm nguồn lực này thay bằng nguồn lực khác. VD: tìm thầy, bạn trợ giúp.
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Khái niệm: Có nhiều cách phân chia các loại mâu thuẫn. Việc các mâu thuẫn cùng tồn
tại trong hành trình phát triển bản thân đó là nhận thức khách quan về mâu thuẫn, không
sợ cũng không né tránh, giải quyết mâu thuẫn mới tạo ra sự phát triển. •
Bước để giải quyết mâu thuẫn:
Phát hiện ra mâu thuẫn.  Thừa nhận mâu thuẫn. • Phân loại mâu thuẫn •
Thúc đẩy cho khuynh hướng trội (tích cực) và kìm hãm khuynh hướng trội (tiêu cực)
Các bước giải quyết mâu thuẫn: •
Phát hiện mâu thuẫn. Quá khắc nghiệt với bản thân, toàn điểm xấu, k thấy điểm tốt. •
Thừa nhận nó: Phát hiện rồi, nhưng biện hộ cho nó •
Phân loại, xem mặt đối lập nào nên là khuynh hướng trội. Mình gất thông minh nhưng
thỉ thoảng lười => không quá đáng ngại, chấp nhận mâu thuẫn này tuy nhiên tìm cách
hạn chế khuynh hướng tiêu cực •
Thúc đẩy cho khuynh hướng trội tích cưucj •
Kìm hãm khuynh hướng trội nhưng tiêu cực •
Nên tập trung giải quyết mâu thuẫn bên trong, là nguồn gốc của sự ptr •
Nên giải quyết mâu thuẫn bên trong vì mâu thuẫn bên trong mới là bản chất của vấn đề.
3.Quy luật phủ định của phủ định
Khái niệm: Phủ định biện chứng khác phủ định thông thường. Phủ định thông thường
là chối bỏ hoàn toàn, phủ nhận hoàn toàn. Phủ định biện chứng có kế thừa, phát huy
hoặc phát triển, tức là nó chỉ loại bỏ một phần không hợp lí chứ không vứt đi hết. •
Ví dụ: “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Hãy phân tích và
chứng minh luận điểm trên.
“Con người là thực thể tự nhiên mang bản tính xã hội”. Phân tích và chứng minh luận điểm trên.
Con người bị tha hóa về bản chất trong những điều kiện nào?
Vấn đề phát triển con người hiện nay ở Việt Nam? •
Tha hóa là quá trình thay đổi chiều hướng tiêu cực, k giữ đc ban đầu
Chương 5. Bản chất của con người. Triết học về con người.