-
Thông tin
-
Quiz
Ôn tập Hệ thống chính trị với quản lý xã hội | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Quản lý xã hội là gì? Trình bày đặc điểm QLXH. Trình bày khái niệm, nguyên tắc và phương pháp QLXH. Trình bày tư tưởng của trường phái Đạo gia về QLXH. Trình bày tư tưởng của trường phái Nho gia về QLXH. Trình bày tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia về quản lý xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Hệ thống chính trị quản lý xã hội 7 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Ôn tập Hệ thống chính trị với quản lý xã hội | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Quản lý xã hội là gì? Trình bày đặc điểm QLXH. Trình bày khái niệm, nguyên tắc và phương pháp QLXH. Trình bày tư tưởng của trường phái Đạo gia về QLXH. Trình bày tư tưởng của trường phái Nho gia về QLXH. Trình bày tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia về quản lý xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Hệ thống chính trị quản lý xã hội 7 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỚI QUẢN LÝ XÃ HỘI I.
CÂU TÁI HIỆN 4 ĐIỂM
1. Quản lý xã hội là gì? Trình bày đặc điểm QLXH
Để vận hành xã hội và phát triển ổn định, đòi hỏi phải quản lý xã hội. Sự tác động này có ý thức, có hệ thống
đến xã hội nhằm chấn chỉnh và hoàn thiện cơ cấu hoạt động xã hội trong quá trình phát triển nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
KN QUẢN LÝ XÃ HỘI: Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của các chủ thể lên các lĩnh vực của
đời sống XH ( KT, CT, VH, XH) và các đối tượng có liên quan nhằm duy trì và phát triển XH theo quy luật
khách quan và đặc trưng của XH
ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ XÃ HỘI: -
Quản lý xã hội rất khó khăn, phức tạp: bởi vì
Trước hết, đối tượng bị quản lý rất lớn và đa dạng, bao hàm tất cả dân cư trên địa bàn lãnh thổ đất nước và
cả ở nước ngoài, với trình độ, điều kiện nhận thức khác nhau.
Thứ hai, cùng hội nhập với quá trình toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nhân loại , Các tác
động của quản lý XH của mỗi quốc gia phải tính đến sự chi phối của các quốc gia khác.
Thứ ba, chủ thể quản lý xã hội không thuần nhất, phần lớn phụ thuộc vào nhà nước – chủ thể hữu hình của
QLXH phần khác lệ thuộc vào các lực lượng khác của XH -
Quản lý xã hội là hoạt động có tính liên tục và kế thừa:
Công tác QLXH gắn liền với sự tồn tại, phát triển của các QG, dân tộc. Còn các mối quan hệ xã hội thì còn
hoạt động qlxh; dòng chảy của dân tộc không bao giờ ngừng thì qlxh cũng thường xuyên, liên tục được tiếp nối.
Nhìn lại lịch sử các quốc gia, sự chuyển đổi từ chế độ này sang chế độ khác là sự kế thừa phát triển xh theo
hướng tích cực, khi giai cấp thống trị k thể cai trị được xã hội nữa và người dân không thể chịu đựng hơn
được nữa, buộc phải cùng dậy đấu tranh lật đổ chế độ cũ thiết lập chế độ mới.
Đặc điểm này đòi hỏi các nhà lãnh đạo và quản lý xh phải luôn đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động
quản lý của mình, luôn gắn bó mật thiết với lợi ích tiến bộ của dân tộc và xã hội, nếu không sớm muộn họ sẽ
bị lịch sử đào thảo, thay thế. -
Quản lý xã hội có tính quy luật :
Quy luật quản lý xã hội đặc trưng cho những mối liên hệ tất yếu, cơ bản giữa các yếu tố của hệ thống quản
lý xã hội, giữa chủ thể và khách thể quản lý trong quá trình thông qua và thực hiện quyết định quản lý.
Quy luật quản lý xã hội cũng xác định cơ cấu nội tại của chủ thể quản lý, cơ cấu và thành phần các yếu tố
của nó, trình tự tương tác giữa chúng.
Quy luật quản lý xh sinh ra từ các đặc điểm của khách thể xh, từ bản chất của nó và từ sự hình thành tác
động bằng quản lý để đạt được mục đích. Qlxh tổ chức và chấn chỉnh hệ thống quan hệ xh, đem lại phương
hướng cần thiết cho hoạt động của con người nhờ tác động tới lợi ích của họ , cái quy định bản chất và nội dung của quy luật xh.
Các quy luật quản lý xh chủ yếu là:
Sự phù hợp về lợi ích giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý
Tác động toàn diện từ chủ thể tới khách thể
Đạt tới lợi ích chung thông qua việc thực hiện lợi ích riêng
Sự phù hợp giữa các trình độ phát triển của khách thể và chủ thể qlxh. -
Quản lý xã hội liên quan đến việc trao đổi thông tin:
QLXH được diễn ra nhờ các tín hiệu của mình là thông tin.
Thông tin là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho các hoạt động quản lý.
Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng thì phải đưa ra các thông tin.
Còn đối tượng quản lý muốn định hướng hoạt động của mình thì phải tiếp nhận các thông tin điều khiển của cấp trên.
Sau khi đưa ra các quyết định và đảm bảo vật chất cho đối tượng thực hiện thì chủ thể quản lý phải thường
xuyên theo dõi kết quả thực hiện các quyết định của đối tượng quản lý thông qua các thông tin phản hồi –
các mối liên hệ ngược. -
Quản lý xã hội vừa là khoa học vừa là nghệ thuật:
QLXH có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng; Nó đòi hỏi:
việc xử lý linh hoạt và có hiệu quả việc quản lý trong các điều kiện cụ thể của xh.
sự đóng góp công sức sáng tạo của mọi người, mọi thể chế trong xã hội dưới sự quản lý, điều
hành của các chủ thể qlxh.
Vì khách thể và đối tượng quản lý xã hội rất rộng lớn, phức tạp, nên chủ thể qlxh phải vận dụng kết hợp
nhiều phương pháp, khi cứng rắn, khi mềm dẻo, linh hoạt, để tác động nhằm đạt mục tiêu đè ra.
Cán bộ quản lý không chỉ phải làm việc với cá nhân hoặc các nhóm xh, mà còn phải thông qua các đối
tượng đó cùng với các nguồn lực khác nhau như thiết bị, công nghệ phù hợp để đạt được các mục tiêu đề ra.
Nên họ phải có kĩ năng làm việc, kĩ năng điều hành, kĩ năng tổ chức và vận hành bộ máy.
Vì vậy, người quản lý trước hết phải được đào tạo có hệ thống về khoa học quản lý và về ngành nghề
chuyên môn của mình, đồng thời được đào tạo về lý luận chính trị, tư tưởng. -
Trong xã hội có giai cấp, quản lý xã hội mang tính chính trị và bị đinh hướng bởi giai cấp cầm quyền:
Trong xã hội có giai cấp quan hệ xã hội chủ yếu là quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội.
Giai cấp thống trị áp đặt ý chí của mình lên toàn xã hội, buộc các giai cấp khác phải tuân thủ và phục tùng.
Các giai cấp bị trị tìm mọi cách để đấu tranh chống lại giai cấp cầm quyền, tuyên truyền phổ biến quan điểm của mình.
Trong xã hội thường xuyên tồn tại mâu thuẫn giai cấp, tập trungg nhất là mâu thuẫn giữa giai cấp cầm
quyền và giai cấp đối kháng.
Để duy trì và bảo vệ sự thống trị, giai cấp cầm quyền đưa ra các phương pháp, nội dung quản lý xã hội phù
hợp với lợi ích của họ. đảng cầm quyền sẽ vạch ra mục tiêu chính trị, nhà nước sẽ đề ra các biện pháp quản
lý xã hội hướng tới mục tiêu đó.
2. Trình bày khái niệm, nguyên tắc và phương pháp QLXH
Để vận hành xã hội và phát triển ổn định, đòi hỏi phải quản lý xã hội. Sự tác động này có ý thức, có hệ thống
đến xã hội nhằm chấn chỉnh và hoàn thiện cơ cấu hoạt động xã hội trong quá trình phát triển nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
KN QUẢN LÝ XÃ HỘI: Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của các chủ thể lên các lĩnh vực của
đời sống XH ( KT, CT, VH, XH) và các đối tượng có liên quan nhằm duy trì và phát triển XH theo quy luật
khách quan và đặc trưng của XH
Nguyên tắc QLXH được hình thành từ mục đích đặc trưng của xã hội; mối tương quan giữa nhà nước và các
chủ thể, các phân hệ, các công nhân trong xã hội; phù hợp với thông lệ chung nhất của cộng đồng xã hội đương thời
NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ XÃ HỘI: -
Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế :
Lãnh đạo chính trị là việc định hướng cho sự phát triển toàn xã hội trong giai đoạn dài và cho từng giai đoạn
cụ thể, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
Vì vậy hoạt động quản lý xã hội phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng. Đảng vạch ra phương hướng chính trị
nhằm phát triển toàn diện các lĩnh của đời sống xã hội phương hướng chính trị trước hết là phải xây dựng
dựa trên cơ sở phát triển sản xuất, nền tảng tư tưởng của xã hội, tương quan lực lượng giữa các giai cấp; tình
hình quốc tế, trong nước…
Sự lãnh đạo kinh tế thể hiện ở chỗ: vạch ra được cái chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cụ thể cho từng ngành, từng
lĩnh vực sản xuất, nhằm thực hiện các chỉ tiêu kinh tế. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu kinh tế
đòi hỏi phải bảo đảm nguyên tắc thống nhất lãnh đạo giữa chính trị và kinh tế. Được các chỉ tiêu kinh tế
đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện cho được các mục tiêu chính trị. Sự thống nhất này phải được thể
hiện ngay trong quá trình xây dựng phương hướng, mục tiêu kinh tế, trong toàn bộ quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch
giữa chính trị và kinh tế nhiều khi nảy sinh mâu thuẫn đòi hỏi chủ thể chính trị phải phát hiện và giải quyết
kịp thời nhằm tìm ra các biện pháp thích hợp thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Thống nhất lãnh đạo chính trị
và kinh tế là tiền đề cho quản lý kinh tế xã hội thúc đẩy sản xuất phát triển. Nếu ngược lại sẽ làm cho sự
phát triển trì trệ và xã hội có thể rối ren -
Nguyên tắc pháp quyền:
Trong xã hội hiện đại quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật là nguyên tắc quan trọng
xã hội được quản lý bởi nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của các tổ chức cá nhân đều tuân thủ theo pháp luật
pháp luật bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
các mối quan hệ xã hội chủ yếu đều được quy định bởi pháp luật
chính quyền chỉ được phép làm những gì pháp luật quy định còn người dân được phép làm tất cả những gì pháp luật không cấm -
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, địa phương và vùng lãnh thổ:
Nguyên tắc này được hình thành do 2 xu hướng khách quan của phát triển sản xuất - xã hội quy định:
chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo địa phương, vùng lãnh thổ
2 xu hướng này quan hệ mật thiết với nhau và tương tác để thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển -
Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích liên quan đến hệ thống:
Quản lý, suy cho cùng là quản lý con người là cách thức tổ chức nhằm khơi dậy tính tích cực sáng tạo
của con người trong lao động.
Con người hoạt động đều xuất phát từ nguyện vọng và nhu cầu nhất định
lợi ích là sự thỏa mãn nguyện vọng và nhu cầu, do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý
xã hội là phải chủ ý đến lợi ích của con người để khuyến khích có hiệu quả tính tích cực lao động của họ.
lợi ích là phương tiện của quản lý, cho nên phải dùng nó để động viên quản lý
nội dung của nguyên tắc này là phải kết hợp hài hòa các tiện ích có liên quan đến hệ thống trên cơ sở
những đòi hỏi của các quy luật khách quan -
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả:
Tiết kiệm và hiệu quả là 2 yếu tố quan trọng trong quản lý xã hội
Tiết kiệm luôn là một yêu cầu và cũng là phương thức bảo đảm cho hoạt động thực hiện mục đích
Hiệu quả là thước đo kết quả cuối cùng của hoạt động
Tiết kiệm phải hướng tới hiệu quả còn trong hiệu quả có bao hàm kết quả tiết kiệm
Tiết kiệm và hiệu quả luôn đi đôi với nhau nên nó cũng là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của
quản lý; nó thể hiện tính khoa học của hoạt động quản lý
Vì vậy cần sử dụng phương thức quản lý tiên tiến nhất thì mới tiết kiệm được chi phí và đem lại hiệu quả cao nhất -
Nguyên tắc chuyên môn hóa:
Là nguyên tắc đòi hỏi việc quản lý phải được thực hiện bởi những người có chuyên môn, được đào tạo
có kinh nghiệm và tay nghề theo đúng vị trí trong guồng máy của hệ thống.
Đây là cơ sở của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức
Một mặt những người hoạt động trong guồng máy hệ thống phải nắm vững chuyên môn nghề nghiệp ở
vị trí công tác của mình, mặt khác họ phải ý thức được mối quan hệ của mình với những người khác và
bộ phận khác thuộc guồng máy chung của cả hệ thống PHƯƠNG PHÁP QLXH: -
Giáo dục chính trị và tư tưởng - Tâm lý xã hội - Hành chính - Tổ chức điều kiện - kinh tế
3. Trình bày tư tưởng của trường phái Đạo gia về QLXH
4. Trình bày tư tưởng của trường phái Nho gia về QLXH
5. Trình bày tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia về quản lý xã hội
6. Trình bày tư tưởng quản lý xã hội phương Tây thời kỳ cổ đại - trung đại.
7. Trình bày tư tưởng quản lý xã hội phương Tây thời kỳ Cận đại.
8. Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò chính trị trong quản lý xã hội
9. Trình bày tư tưởng Hồ chí Minh về vai trò chính trị trong quản lý xã hội
10. Trình bày vai trò, phương thức của Đảng trong lãnh đạo công tác quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay
* Khái niệm Đảng lãnh đạo
Đảng lãnh đạo là việc Đảng xây dựng, ban hành Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, tuyên truyền, vận
động nhân dân tin theo và tổ chức thực hiện, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. *Vai trò
Đảng chính trị có vai trò rất quan trọng đối với quản lý xã hội. Đối với đảng cầm quyền, vai trò lãnh đạo đối với
xh được thể hiện như sau: -
Đảng định hướng cho sự phát triển xã hội:
Trong xã hội hiện đại, xây dựng nhà nước pháp quyền là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới.
Trong nhà nước pháp quyền, hiến pháp và pháp luật là tối cao, nó quy định hầu hết các mối quan hệ, những
hành vi cơ bản của các tổ chức, mọi người trong xã hội.
Với vị trí đặc biệt của mình, đảng cầm quyền có chức năng hoạch định đường lối phát triển cho xã hội và
đường lối đó được thể chế hóa thành hiến pháp, pháp luật và các văn bản dưới luật thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước.
Như vậy, sự phát triển của xã hội trước hết phụ thuộc vào hoạt động của đảng cầm quyền -
Đảng cầm quyền có vai trò thực hiện đường lối đối nội đối ngoại, lãnh đạo nhà nước và các tổ chức xã
hội quản lý xã hội:
Đảng cầm quyền trong xã hội hiện nay có vai trò tổ chức nhằm mục tiêu quản lý xã hội theo định hướng chính trị của mình.
Trình độ quản lý xã hội của một quốc gia phụ thuộc khá lớn vào trình độ tổ chức của đảng cầm quyền.
Uy tín của đảng cầm quyền thể hiện rõ nhất ở mức độ dân chủ của xã hội và sự phát triển bền vững về mọi mặt của XH *Phương thức -
Đảng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra cương lĩnh chiến lược, đường lối lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội:
Từ lãnh đạo nhà nước phát huy vai trò trong quản lý xã hội, lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội tham gia
quản lý xã hội; đến việc ra nghị quyết nhắn quản lý các lĩnh vực cụ thể.
Đó là những quan điểm, nguyên tắc, tư tưởng, chỉ đạo để nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị
vận dụng sáng tạo phù hợp với chức năng của từng tổ chức để quản lý các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hóa, nhằm giữ vững nền độc lập dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng xã hội cho nhân dân -
Đảng lãnh đạo công tác quản lý xã hội trước hết thông qua nhà nước và các đoàn thể chính trị -xã hội:
Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự trong sạch vững mạnh, là nhà nước
thực sự của dân, do dân, vì dân để đủ năng lực quản lý nền kinh tế thị trường.
Lãnh đạo nhà nước phát huy vai trò quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội là phương thức lãnh đạo quản
lý xã hội quan trọng nhất của đảng.
Đảng lãnh đạo đề cương lĩnh, đướng lối của đảng được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật.
Khi nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước cũng tức là thực hiện đường lối của đảng. -
Đảng lãnh đạo công tác quản lý xã hội thông qua công tác cán bộ:
Thông qua các đảng đoàn, ban cán sự tỏng các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân.
Đảng lãnh đạo, hướng đầu tư vào khâu trung tâm là nguồn nhâ lực thông qua chiến lược đòa tạo đội ngũ cán
bộ quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ -
Đảng lãnh đạo công tác quản lý xã hội thông qua kiểm tra giám sát hoạt động của nhà nước và của cả
hệ thống chính trị.
Đảng kiển tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm, nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo của đảng về quản lý
xã hội thông qua các tổ chức dảng và đảng viên trong hệ thống chính trị. Đồng thời, đảng cũng thực hiện sự
kiểm tra thông qua ý kiến của nhân dân về quản lý xã hội.
Chính qua sự kiểm tra mà đảng sơ kết, tổng kết để không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của đảng.
Đảng còn là người tổ chức, phối hợp sự kiểm tra của đảng, của nhà nước và của nhân dân nhằm thực hiện
tốt những mục tiêu chung về quản lý xã hội trong từng thời kì cách mạng
11. Trình bày vai trò, nhiệm vụ và đặc điểm của Nhà nước trong quản lý xã hội ở nước ta.
Vai trò nhà nước trong quản lý xã hội
Nhà nước đóng vai trò là chủ thể lớn nhất, quyết định nhất và là nhân tố cơ bản nhất giúp cho xã hội tồn tại,
hoạt động, phát triển hoặc suy thoái. Với vai tò quản lý xã hội, trong giai đoạn hiện nay nhà nước có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
1. Bảo vệ sự an toàn, yên ổn của mọi công dân trong xã hội; giữ vững được độc lập chủ quyền quốc gia và
toàn vẹn lãnh thổ đất nước:
Nếu các thị tộc, bộ lạc được hình thành theo quan hệ huyết thống, thì nhà nước là bộ máy quyền lực tập
trung trên một cơ cấu lãnh thổ quốc gia thống nhất. Đây là đặc điểm quan trọng bậc nhất mà thế giới ngày
nay vẫn đang thực hiện và là mầm mống của các cuộc xung đột, các cuộc chiến tranh biên giới giữa các quốc gia.
Nhà nước thông qua việc thiết lập bộ máy quyền lực xã hội, bộ máy quyền lực công này dường như “tách
ra” ngoài xh, “đứng trên xh” để trực tiếp cai trị xh.
Ngày nay nó thường là một bộ máy đồ sộ gồm các cơ quan quản lý các lĩnh vưc của đời sống xh.
Chính dấu hiệu này đã đen lại lợi ích cho những người có quyền thực thi quyền lực nhà nước và mong muốn
có quyền lực là mong muốn to lớn của mọi giai cấp, tập đoàn, cá nhân.
2. Đảm bảo cho xã hội phát triển, các công dân đạt được nguyện vọng chính đáng của mình:
Nhà nước phải tạo đủ việc làm cho xã hội, phải cung cấp hàng loạt các dịch vụ và hàng hóa công cho xã hội;
tạo môi trường và hỗ trợ cho các hoạt động KT, VH, XH của cá nhân và cộng đồng phát triển; Thực hiện
dân chủ và công bằng xã hội…
Trên thực tế chỉ có nhà nước XHCN mới quan tâm đáp ứng giải quyết những nguyện vọng chính đáng của
công dân. Các nhà nước TBCN trước hết phải phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, chỉ khi đạt đến một
trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao họ mới thực hiện một phần nhiệm vụ này.
3. Thay mặt xã hội tiến hành hoạt động đối ngoại thông qua đó tạo điều kiện thực hiện tốt các nhiệm vụ đối nội:
Chức năng đối ngoại của nhà nước bao gồm: bảo vệ lợi ích của nhà nước trên quan hệ quốc tế; Bảo đảm sự
phòng thủ của đất nước; Phát triển quan hệ bình thường với các nước; phát triển mối quan hệ hợp tác và
tham gia vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu.
Như vậy nhà nước vừa là một thiết chế xh, vừa là một tổ chức xh. Là một thiết chế xã hội nhà nước là công
cụ của giai cấp thống trị; là một tổ chức xã hội, nhà nước đồng thời là bộ máy cộng quyền của xh, đưuocj sử
dụng để duy trì trật tự xã hội vì lợi ích của giai cấp thống trị và của toàn xh. Nhiệm vụ -
Bảo vệ sự an toàn, yên ổn cho mọi công dân trong xã hội; giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia và toàn ven lãnh thổ đất nước; -
Đảm bảo cho xã hội phát triển, các công dân đạt được nguyện vọng chính đáng của mình; -
Thay mặt xã hội tiến hành hoạt động đối ngoại, qua đó tạo điều kiện thực hiện tốt các nhiệm vụ đối nội.
Đặc điểm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước đối với xã hội là một hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để
điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, giữ gìn trật tự xh và phát triển
xh theo mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước đối với xã hội có một số đặc điểm sau: -
Quản lý xã hội của nhà nước mang tính chính trị của giai cấp cầm quyền -
Quản lý xã hội của nhà nước mang tính cưỡng chế (bằng pháp luật và các công cụ chuyên chính) -
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao. Mệnh lệnh nhà nước mang tính đơn
phương. Khách thể quản lý phải phục tùng chủ thể quản lý, nếu không thì phải truy cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật -
Quản lý nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch để thực hiện mục tiêu. -
Quản lý nhà nước có tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực
lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất và cuộc sống của con người trên địa bàn,
lãnh thổ theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, thoe nguyên tắc tập trung dân chủ. -
Quản lý nhà nước phải đảm bảo tính liên tục và ổn định trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước. Các
quyết định quản lý nhà nước phải tương đối ổn định và phải được lưu trữ.
12. Thiết chế nhà nước là gì. Trình bày thiết chế nhà nước trong quản lý xã hội ở nước ta.
Khái niệm thiết chế nhà nước:
Thiết chế nhà nước là hệ thống bộ máy các cơ quan tổ chức có cơ sở vật chất, định chế pháp luật và con
người…được thiết lập theo một thể chế nhà nước nhất định nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chung về an
ninh, trật tự, an toàn xã hội hay nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động của xã hội theo mục tiêu, yêu cầu của giai cấp thống trị đã đề ra
Nội dung thiết chế nhà nước CHXHCNVN -
Nguyên tắc tổ chức nhà nước:
Là các nguyên tắc quy định chế độ CT, KT, VH XH, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân , nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ qua nhà nước.
Tập quyền XHCN. Quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất; phân công phối hợp thực hiện quyền lực:
Quyền Lập pháp - Quyền Hành Pháp- Quyền Tư pháp. -
Hệ thống bộ máy nhà nước:
Là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo những nguyên tắc
chung thống nhất, tạo thành một chế độ đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.
Thiết lập trên cơ sở thống nhất phân cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở, gắn với chức năng, quyền hạn do
luật định để thực hiện nhiệm vụ xã hội đặt ra. -
Nguyên tắc hoạt động của Nhà nước
Duy trì địa vị lãnh đạo của giai cấp cầm quyền nhà nước.
Duy trì sự phát triển bền vững của xã hội theo định hướng của giai cấp cầm quyền.
Trấn áp các lực lượng thù địch và chống đối nhà nước. Nhà nước Việt Nam -
Nguyên tắc tập trung dân chủ, Thực hiện nền DCXHCN; nguyên tắc pháp quyền XHCN. -
Nhà nước của dân, do dân vì nhân dân; toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN. -
Bảo vệ độc lập thống nhất chủ quyền quốc gia dân tộc; lợi ích nhân dân; thay mặt XH tiến hành hoạt động
đối ngoại - hòa bình - hữu nghị- hợp tác phát triển.
13. Trình bày hoạt động cơ bản của Nhà nước trong quản lý xã hội ở Việt Nam
Hoạt động quản lý của nhà nước đối với xã hội -
Ban hành hiến pháp và các văn bản pháp luật:
Hiến pháp là tất cả các quy tắc pháp lý quan trọng của quốc gia. Quy định chế độ chính trị, khinh tế văn hóa,
xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của cơ quan nhà nước, thể chế khác trong xã hội. Hiến pháp là đạo luật cơ bản đạo luật gốc của mỗi
quốc gia ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử.
Pháp luật là tổng thể những quy tắc xử sự được nhà nước ban hành, bắt buộc mọi người dân phải thực hiện,
tuân thủ. Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, tính chính xác chặt chẽ về mặt hình thức và được bảo đảm bằng nhà nước -
Hình thành thể chế hành chính
Hệ thống các văn bản pháp luật do nhà nước đặt ra để quản lý sự phát triển kinh tế - xh trên mọi phương
diện, bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, an toàn, bền vững; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền
của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ công vụ và các quy chế công chức
Nhà nước thiếp lập hệ thống các chế định về tài phán hành chính nhằm giải quyết các mâu thuẫn phát sinh,
khiếu tố, khiếu nại và sự vi phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội. -
Hoàn thiện chính sách, xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước
Đường lối của một đảng cầm quyền là chương trình hoạt động lâu dài nhằm thực thi ý tưởng của đảng mình,
nó không thể được hoàn thiện trong một lúc mà là cả một quá trình vừa thực hiện vừa điều chỉnh cho phù
hợp với thực tế, tương quan lực lượng bên ngoài.
Đường lối phát triển kinh tế đất nước là mục đích lâu dài cần đạt được do chính đảng cầm quyền dặt ra,
nhằm hướng toàn bộ quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của công dân các quan hệ đối ngoại từng bước đạt mục đích -
Ban hành và thực thi các chính sách quản lý đất nước
Chính sách quản lý nói chung, chính sách kinh tế - xã hội nói riêng là tổng thể các quan điểm các chuẩn mực xã
hội các biện pháp thủ thuật mà chủ thể quản lý sử dụng nhằm tác động lên đối tượng và khách thể quản lý để
đạt đến những mục tiêu chiên lược của đất nước một cách tốt nhất -
Sử dụng các công cụ quản lý xã hội
Để tiến hành các hoạt động kinh tế - xã hội, nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý của mình với tư
cách là môi trường, vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủ thể lên đối tượng đối tượng qunar lý và khách thể quản lý
Các công cụ quản lý nhà nước gồm: các chính sách, công sở, công vụ; công sản; ngân sách; đất đai; công
khổ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xh; pháp luật; kế hoạch; các quyết định hành chính nhà nước; các lực lượng
chuyên chính; văn hóa truyền thống dân tộc; -
Duy trì , cải biến , đổi mới các thiết chế xã hội
Đó là các thiết chế kinh tế, văn hóa, gia đình, xã hội, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ công
dân. các thiết chế này sẽ đảm nhiệm nhiều chức năng quản lý xã hội bổ sung, hoàn thiện cho chức năng của nhà
nước như: hoạt động tự quản, bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng nếp sống văn hóa, phòng chống các tệ nạn xã hội…
14. Trình bày định hướng cơ bản của Nhà nước trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
Nội dung định hướng quản lý xã hội của Nhà nước -
Hệ thống chính sách của nhà nước phải được xây dựng phù hợp với sự vận động của thực tiễn -
Nhà nước xây dựng hệ thống chính sách phải dảm bảo công bằng xã hội -
Xác định rõ ranh giới giữa phạm vi điều tiết của nhà nước và sự tự điều chỉnh của xã hội -
Nhà nước xử lý tốt các mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, con người, văn hóa và môi trường
15. Trình bày chức năng và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý lĩnh vực chính trị ở nước ta
Khái niệm tổ chức chính trị - xãhội Chức năng cơ bản -
Phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp xã hội; -
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân ; -
Tuyên truyền, giáo dục, tổ chức vận độngnhân dân thực hiện đường lốichính sách của đảng cầm quyền
và nhà nước; bổ xung thay thế chức năng nhà nước ở một số khu vực nhất định; kiểm tra giám sát đối
với các cơ quan tổ chức trong hệ thống chính trị.
Vai trò các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý lĩnh vực chính trị -
Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật Nhà nước. -
Đoàn kết tầng lớp nhân dân tạo sức mạnh thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật Nhà nước. -
Cầu nối Đảng - Nhà nước - Nhân dân tạo đồng thuận xã hội; phát huy sức mạnh toàn dân tộc dưới sự
lãnh đạo của Đảng thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH. II.
CÂU HỎI VẬN DỤNG 4 ĐIỂM
16. Phân tích con người chính trị với tư cách là chủ thể quản lý xã hội ở Việt Nam.
* Khái niệm con người chính trị:
Con người chính trị là con người tham gia hoạt động chính trị vừa với tư cách cá nhân, vừa với tư cách thành
viên của một giai cấp, tổ chức chính trị, và có tác động nhất định đến đời sống chính trị.
* Nội dung con người chính trị với tư cách chủ thể quản lý xã hội:
Sự tham gia tích cực của cá nhân vào đời sống chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám phá đầy đủ các
tiềm năng, sự sáng tạo của con người trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ xã hội. Trong lĩnh vực chính trị,
con người ngày càng trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của các tổ chức chính trị, các hoạt động và các quá
trình chính trị. Hoạt động QLXH của con người chính trị có những đặc điểm sau:
1) Cá nhân tham gia vào đời sống chính trị như là một chủ thể QLXH luôn gắn liền với một hệ thống chính trị của xã hội.
Thông qua hệ thống chính trị, nhân dân có thể tham gia điều hành và quản lý nhà nước, làm cho quan hệ con
người với con người trong chính trị trở nên dân chủ hơn. Tham gia vào các quá trình chính trị, con người tự
khẳng định mình, hình thành và phát triển kỹ năng QLXH, phát chính ngay nhu cầu tham gia vào đời sống
chính trị - xã hội của con người và tự hoàn thiện mình.
Con người phát triển toàn diện sẽ đồng thời là một nhà QLXH hiệu quả. Việc tham gia vào quá trình QLNN và
xã hội của mỗi người thể hiện quyền công dân trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị - đạo đức, hoặc phục vụ
các mong muốn khác nhau. Dĩ nhiên, hoạt động chính trị là công việc gắn liền trực tiếp với các cá nhân trong
giới lãnh đạo của nhà nước, các đảng phái.
Và để tham gia được vào các hoạt động như vậy, đầu tiên anh ta phải có các điều kiện cần thiết về ăn, ở, mặc,
phải có những quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa sự phồn vinh của xã hội với sự phát triển của hệ thống
chính trị của xã hội đó.
2) Môi trường xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành quan điểm chính trị của cá nhân với tư cách là chủ thể QLXH:
Các yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc, học vấn,... có một ảnh hưởng lớn đến quá trình này.
Chính Lênin cũng đã cho rằng, người mù chữ đứng ngoài chính trị. Không có tri thức, không thể trở thành các
chủ thể tự giác của hoạt động chính trị, mà chỉ tham gia vào như một bộ phận thuộc đối tượng bị điều khiển, có tính chất phụ thuộc.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người có học vấn cao sẽ có tình cảm, trách nhiệm cao hơn, muốn đóng góp
hiệu quả hơn vào hoạt động chính trị, quan tâm nhiều hơn đến đời sống chính trị, có khả năng phát triển nhận
thức chính trị, thảo luận các vấn đề chính trị, tổ chức các hoạt động chính trị,...
Môi trường chính trị, thể chế chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến sự tham gia của cá nhân vào các hoạt động chính
trị. Bên cạnh những yếu tố văn hóa chính trị, văn hóa hành chính cũng có ảnh hưởng lớn đến quán trình chính trị.
3) Các nhà lãnh đạo, QLXH luôn hoạt động trong một tổ chức chính trị, gắn liền với một hệ thống quản lý nhất định.
Các chủ thể chính trị thực hiện chức năng lãnh đạo trong QLXH gắn liền với hệ thống chính trị của xã hội,
trước hết là các cán bộ lãnh đạo đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị khác. Đó là các nhà chính trị chuyên
nghiệp đang lãnh đạo các tổ chức chính trị, hoạt động chính trị nhằm duy trì, phát triển các đặc trưng cơ bản của
xã hội, đạt được các mục tiêu xã hội trong những điều kiện nhất định. Họ có tuy duy logic, là bộ óc của tổ chức,
biết phân tích chính xác hoàn cảnh, đánh giá đúng tương quan lực lượng, đưa ra các quyết định chính xác và kịp
thời phù hợp với quy luật khách quan, phối hợp được mọi nguồn lực để thực hiện tốt nhất các kế hoạch đặt ra.
Đó là những người hội đủ những kỹ năng lãnh đạo từ tư duy đến tổ chức, từ khả năng làm việc với con người
đến các khâu kỹ thuật tác nghiệp. Tùy theo các cấp QLXH khác nhau mà các yêu cầu này cũng khác nhau, đảm
bảo cho các chủ thể chính trị có thể thực hiện tốt nhất chức năng lãnh đạo của mình.
Với một “tầm” tri thức rộng lớn, chủ thể chính trị cần có những phẩm chất đạo đức – tinh thần, những phẩm
chất cá nhân đáp ứng được vai trò lãnh đạo trong QLXH.
Con người chính trị tham gia QLXH ở các mức độ với các hình thức khác nhau. Điều đó phụ thuộc trước hết
vào vai trò và vị trí của cá nhân trong các cơ cấu quyền lực, trong hệ thống cấp bậc, chức vụ của một tổ chức,
trong hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung. Hoạt động của các chủ thể chính trị có thể được
thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình QLXH.
4) Trong QLXH, con người chính trị, cũng như các chủ thể khác khi quản lý các đối tượng, phải thực hiện các
chức năng quản lý cơ bản:
Dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, thông tin và kiểm tra. Các chủ thể QLXH có thể là các thiết
chế xã hội khác nhau, nhưng xét đến cùng đều do con người, thông qua các cá nhân. Các chủ thể chính trị là
một bộ phận quan trọng nhất trong các chủ thể QLXH, bởi vì các chủ thể chính trị gắn liền với các cơ quan
quyền lực nhà nước, với hệ thống chính trị của xã hội.
Con người chính trị tham gia chuẩn bị và ban hành các quyết định trong QLXH. Khác với con vật, hoạt động
của con người có tính mục đích, có ý thức. Con người luôn đề ra những nhiệ vụ, mục tiêu cho mình trên cơ sở
nhận thức các điều kiện, quy luật khách quan. Đó không chỉ là nhiệm vụ, mục tiêu của một cá thể, mà bao giờ
cũng mang ý nghĩa xã hội, gắn với những tập thể, giai cấp và xã hội. Trong QLXH, trước hết trong việc chuẩn
bị và ra quyết định quản lý, tính mục đích thể hiện một cách rõ ràng và các chủ thể chính trị thực hiện chức
năng này một cách trực tiếp.
5) Con người – chủ thể QLXH phải xác định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ cho đối tượng quản lý, chỉ rõ phương
hướng công tác và các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra.
Để xác định được các mục tiêu, nhiệm vụ, cá cá nhân chủ thể phỉa nghiên cứu đánh giá thực trạng của tổ chức,
đánh giá đúng các tiền đề, thu nhập và xử lý thông tin để có được các phương án cụ thể, từ đó lựa chọn một
phương án hợp lý nhất để ra quyết định. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của con người chính trị. Ví
dụ, việc xác định các mục tiêu chính trị - xã hội không quá cao, không quá thấp, đảm bảo tính hệ thống. Khi xác
định mục tiêu, phải chúng ý đến “tính có giới hạn” của chính các chủ thể, của các yếu tố bên trong và bên ngoài
tổ chức. Khi ra quyết định, buộc phải chấp nhận một mức độ mạo hiểm nhất định, tùy thuộc vào các tình huống cụ thể.
6) Con người – chủ thể quản lý xã hội phỉa thấy được tính đa dạng của các loại quyết định, phạm vi tác động
của nó, các đối tượng cần tác động, điều chỉnh, tính chất đặc thù của các quyết định này.
Thông thường, các chủ thể lãnh đạo, quản lý thể hiện các quyết định của mình dưới hình thức văn bản như:
cương lĩnh của đảng chính trị, nghị quyết đại hội đảng, hội nghị BCH TW,... các nghị quyết này thể hiện quan
điểm, đường lối của Đảng đối với toàn xã hội cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là những nghị định
của các cơ quan nhà nước từ TW đến địa phương, là các đạo luật, các chỉ thị, thông tư, các mệnh lệnh quản lý
do các cơ quan, những người lãnh đạo khác nhau ban hành.
Một trong những quyết định QLXH quan trọng là kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các kế hoạch này chỉ rõ
những nhiệm vụ cơ bản, những con đường và phương tiện chủ yếu để giải quyết các nhiệm vụ ấy. Đây là một
trong những hình thức hoạt động chủ quan quan trọng của con người dựa trên các quy luật khách quan. Con
người quản lý phải nhận thức đúng các quy luật, phát hiện ra cơ chế tác động của nó, vận dụng khéo léo và việc
QLXH. Bản thân các chế hoạch kinh tế - xã hội này nhằm thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền và
hiện thực hóa vai trò QLXH của nhà nước. Các kế hoạch này không chỉ mang tính chất xã hội – chính trị mà
còn mang tính giai cấp. Nó không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến các lĩnh vực chính trị -
văn hóa, xã hội. Điều đó đòi hỏi các chủ thể QLXH phải có một quan điểm hệ thống toàn diện trong quá trình
lập kế hoạch và ra quyết định.
7) Với công tác tổ chức thực hiện quyết định, con người QLXH thể hiện năng lực tổ chức của mình.
Công tác tổ chức là một hình thái lao động quản lý quan trọng, một chức năng của QLXH. Bản chất của công
tác này là ở chỗ làm sao thực hiện được quyết định một cách có tổ chức tạo ra một mạng lưỡi những quan hệ
bảo đảm tính hoàn chỉnh của hệ thống được quản lý, bảo đảm mối quan hệ qua lại hữu cơ, có hiệu quả nhất giữa
các yếu tố của hệ thống, những quan hệ phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Đó là tổng thể các thao
tác, những nỗ lực của chủ thể nhằm xây dựng phân hệ quản lý và phân hệ bị quản lý, kênh liên lạc và bảo đảm
thông tin. Lao động tổ chức là lao động xây dựng trạng thái trật tự của chủ thể và khách thể quản lý với những quan hệ tương ứng.
Khi thực hiện công tác tổ chức trong QLXH, con người với tư cách chủ thể quản lý luôn quan tâm giải quyết
những nhiệm vụ cốt yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức – bộ máy, công tác cán bộ, nhân sự, thiết chế hệ thống
quyền lực, hệ thống chức vị, hệ thống thông tin và cơ chế hoạt động của toàn bộ hệ thống cũng như của từng bộ
phận, từng cấp quản lý xã hội.
8) Trong QLXH, chức năng kiểm tra là khâu cuối của chu trình quản lý:
Nhằm phát hiện các sai lầm, sai lệch trong quá trình tổ chức thực hiện các quyết định, các kế hoạch, từ đó sửa
chữa, điều chỉnh nhưamf thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu xã hội đã đề ra. Con người – chủ thể chính trị
bao giờ cũng nhận thức rõ “tính hạn ché” trong quá trình ra quyết định, nên luôn cố gắng bổ sung thêm vào kế
hoạch phù hợp với quá trình thực hiện các mục tiêu đã đặt ra. Các chủ thể quản lý thực hiện việc kiểm tra đã
lường trước ngay trước khi đưa kế hoạch vào thực nghiệm, kiểm tra mọi khâu trong quá trình thực hiện kế
hoạch, kiểm tra sau khi đã hoàn thành kế hoạch. Họ cần thực hiện đầy đủ nội dung và các bước của công tác
kiểm tra, phải bổ sung, hoàn thiện, các cơ quan kiểm tra với những cán bộ kiểm tra chuyên nghiệm có đủ năng lực và phẩm chất.
Chủ thể QLXH phải nhận thức được cái mới, ủng hộ cái mới, dọn đường cho nó, dỡ bỏ những chướng ngại trên
đường đi tới cái mới. Đó là một công việc khó khăn, phức tạp. Nhạy cảm với cái mới là một phẩm chất quan
trọng không thể thiếu được của chủ thể chính trị trong QLXH. Cái mới vừa đa dạng, vừa khó được chấp nhận
ngay, thậm chí bị cái cũ chống đối kịch liệt, nó cũng đe dọa sự ổn định của hệ thống trong thời gian nhất định.
Thích nghi với cái mới, đối mới quản lý và quản lý đổi mới là một quá trình phức tạp, đòi hỏi các nhà lãnh đạo,
quản lý phải có một năng lực và bản lĩnh vững vàng, đủ để giải quyết được các nhiệm vụ mới mẻ đang đặt ra.
Đó là quá trình điều chỉnh vừa đổi mới, vừa giữ được sự ổn định, duy trì sự cân bằng vận động của hệ thống xã
hội tiến tới các mục tiêu đã đặt ra.
17. Phân tích chủ trương của Đảng trong lãnh đạo hoạt động quản lý kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
* Quan niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của
văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất,
xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần
làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế
mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hóa
giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và
mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng
sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản
lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế
để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực
lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và
khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông
qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực của đất nước.
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang
trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế
độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những
khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan
niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
* Nội dung Chủ trương của Đảng
+ Phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu.
+ Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường, phát huy mặt tích cực, đồng
thời hạn chế những tiêu cực của thị trường;
+ Nhà nước tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển.
+ Đơn giản hóa các thủ tục hành chính , công khai hóa việc thực hiện đúng trách nhiệm quyền hạn của các cơ
quan nhà nước trong quan hệ với doanh nghiệp và nhân dân
+ Đổi mới chính sách và kiện toàn hệ thống tài chính- tiền tệ; cải cách hệ thống thuế phù hợp với tình hình đất
nước và cam kết quốc tế
+ Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước tăng dần tỷ lệ tích lũy cho đầu tư phát triển, phân định rõ hoạt động sự
nghiệp và quản lý hành chính công để có chính sách tài chính thích hợp; cải cách tiền lương và đi liền với tinh
giản biên chế bộ máy và cải cách thủ tục hành chính
+ Đổi mới chính sách tài trợ giải quyết việc làm, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, giúp đỡ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
+ Hình thành môi trường minh bạch, lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động tiền tệ - ngân hàng
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp .
18. Phân tích nội dung đổi mới lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý kinh tế ở nước ta
* Quan niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN:
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của
văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất,
xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần
làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế
mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hóa
giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và
mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng
sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản
lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế
để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực
lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và
khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông
qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực của đất nước.
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang
trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế
độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những
khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan
niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
* Nội dung đổi mới lãnh đạo hoạt động quản lý kinh tế:
- Soạn thảo và thông qua đường lối chính lược và chính sách kinh tế trong từng giai đoạn.
- Bảo đảm quán triệt đường lối, chính sách kinh tế, tạo ra sự nhất trí và nhất quán trong hệ thống lãnh đạo.
- Chỉ đạo và kiểm tra quá trình tổ chức thực hiện đường lối chính sách kinh tế của bộ máy nhà nước.
- Tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý kinh tế.
- Đào tạo, sử dụng, kiểm tra đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế.
- Gắn liện hoạt động lãnh đạo, quản lý kinh tế với hoạt dộng lãnh đạo quản lý trong sự nghiệp phát triển văn
hóa, khoa học và công nghệ .
Đảng chủ trương kiên quyết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trước thời kỳ đổi mới, cơ ché QLKT ở nước ta có
đặc trưng: 1) Nền kinh tế được chỉ huy tập trung thống nhất cao độ từ TW đến địa phương chủ yếu thông qua kế
hoạch; 2) Chỉ cho các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm các đơn vị quốc doanh và tập thể được tồn
tại, phát triển, trong đó các đơn vị kinh tế tập thể cũng ngày càng bị “nhà nước hóa”; 3) Là một nền kinh tế
đóng kín về bản chất trao đổi ngoại thương hạn chế; 4) Nền kinh tế mang tính hiện vật là chủ yếu. Cơ chế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta khẳng định quyết tâm chuyển hẳn sang cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị
trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ; thị trường vốn và tiền tệ, thị trường ngoại hối,... xóa bỏ triệt để
mọi hình thức, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới. Cơ
chế quản lý kinh tế thị trường định hướng XHCN có đặc trưng: 1) Nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường,
Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện
thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm
pháp luật; 2) Tất cả các thành phần kinh tế ( kinh tế nhà nước, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thẻ, kinh tế
tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) đều được tạo điều kiện phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. 3) Là nền kinh tế mở, hội nhập mạnh mẽ với thị trường thế giới; 4)
Nền kinh tế mang tính chất hàng hóa – tiền tệ.
Từ chỗ đồng nhất quan hệ sở hữu và tổ chức quản lý trong một chủ thể với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân,
Đảng chủ trường tách giữa quyền sở hữu với quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, khẳng định tính tự chủ cho
mọi loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
19. Phân tích chức năng và mục tiêu Nhà nước trong quản lý lĩnh vực kinh tế ở nước ta
* Khái niệm quản lý kinh tế của nhà nước:
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động đến các yếu tố trong quá trình kinh tế bằng quyền lực Nhà nước
thông qua cơ chế quản lý, nhằm đảm bảo sự ổn định, bền vững nền kinh tế quốc dân.
* Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế:
Trong học thuyết bàn tay vô hình của mình, Adam Smith đã giới hạn vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường vào ba chức năng: 1) Xây dựng và bảo đảm môi trường hòa bình, không thể xảy ra nội chiến, ngoại xâm;
2) Thực hiện được vai trò là trọng tài, đem lại quyền tự do, bình đẳng cho mọi thành viên. Vai trò này gắn với
hai nhiệm vụ cụ thể: thứ nhất, bằng hệ thống pháp luật của mình, nhà nước phải đảm bảo quyền căn bản của
mọi công dân mà trước hết, đó là quyền tư hữ ( sở hữu cá nhân) gắn với những điều kiện, có tính nền tảng, đó là
nhiều quyền thiết yếu khác như: tự do kinh tế, ngôn luận, tín ngưỡng, chính trị, tự do ký kết hợp đồng, tự do cư
trú,… do đó, nhà nước phỉa tạo ra điều kiện môi trường mang tính thể chế; thứ hai, nhà nước phải thông qua hệ
thống pháp luật, dùng nó để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, hạn chế và khắc phục những thủ đoạn cạnh
tranh phi kinh tế, phi đạo đức,…;3) Cung cấp, duy trì và phát triển hàng hóa công cộng. Đây là những điều kiện
đặc biệt cần thiết trong hoạt động kinh tế, thiếu nó không thể tổ chức các hoạt động kinh tế. Ngoài ba chức năng
cơ bản đó, tất cả các vấn đề còn lại đều có thể được giải quyết một cách ổn thỏa và nhịp nhàng bởi bàn tay vô hình.
Ở Việt Nam hiện nay, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước là yếu tố quan trọng đảm bảo định hướng xHCN
của nền kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, đòi
hỏi phải giảm sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong các hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế, nhưng không giảm vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước. Vấn đề là đổi mới sự quản lý đó để nâng
cao vai trò và hiệu lực quản lý. Cụ thể, để quản lý nền kinh tế có hiệu quả, Nhà nước cần thực hiện các chức năng sau:
1) Định hướng sự phát triển đất nước bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế
- xã hội và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Quy hoạch, kế hoạch của Nhà
nước là công cụ và biện pháp quản lý. Công tác quy hoạch, kế hoạch được đổi mới, phù hợp yêu cầu xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩ và hộp nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phát huy tối đa mọi lợi
thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
2) Cung cấp mọi khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc, không chỉ là một hệ
thống pháp luật quy định, mà còn bao hàm các định chế cần thiết để thực hiện, cưỡng chế việc thi hành pháp
luật và giỉa quyết tranh chấp, bao gồm tòa án và các cơ quan cưỡngc hế thi hành luật. Tạo môi trường pháp lý
và cơ chế, chính sách thuận lợi sẽ phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển, nhằm làm cho các chủ thể hoạt
động kinh doanh trong các thành phần kinh tế bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, có trật tự, kỷ cương.
3) Cung ứng hàng hóa công cộng, những hàng hóa và dịch vụ mà thị trường không ucng ứng hay cung ứng
không đầy đủ, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Đây là chức năng cơ bản nhất của Nhà nước trong
các nền kinh tế thị trường nói chung, đặc biệt đối với Việt Nam – nơi mà cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội còn yếu kém.
4) Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã
hội. Trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta còn kém phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng yêu cầu chi
phí đầu tư lớn, chậm thu hồi vốn, lãi suất thấp, thì việc Nhà nước chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là
rất cần thiết. Nhà nước phải quan tâm đúng mức đến việc xóa đói giảm nghèo và cải tạo môi trường. Gắn phát
triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường và cân bằng ính thái để đảm bảo kinh tế phát triển bền vững. Phát
triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để đảm bảo cho cả cộng đồng đều được lợi từ
thành tựu phát triển chung của nền kinh tế, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân cùng tham gia phát triển kinh tế.
5) Đảm bảo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Bằng các công cụ điều tiết của mình, Nhà nước cần đảm bảo sự
bền vững của các cân đối kinh tế như: cung – cầu, thu – chi, xuất – nhập khẩu…, tạo ra xu hướng phát triển để
khuyến khích kinh tế phát triển. Chỉ trên cơ sở một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định và có thể dự
đoán được, thì các gia đình mới yên tâm đầu tư tiết kiệm dài hạn của mình vào thị trường tài chính chính thức,
đồng thời các doanh nghiệp không lo ngại khi đầu tư vào các dự án có thời gian thu hồi vốn lâu dài.
6) Kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế. Nội dung công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước chủ yếu hướng
vào việc thực hiện luật pháp, cơ chế chính sách của Nhà nước. Mục tiêu cuả công tác kiểm tra, giám sát là nhằm
đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế theo đúng quỹ đạo đã định; đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, bất
cập của các chính sách đã ban hành để có những điều chỉnh kịp thời.
Ngoài ra, có thể tiếp cận chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế theo ba khâu cơ bản: 1) Tổ chức: sắp xếp,
tổ chức lại các đơn vị kinh tế, trong đó quan trọng nhất là các doanh nghiệp nhà nước: đào tạo, sắp xếp lại cán
bộ công chức quản lý nhà nước,…; 2) Điều tiết: điều tiết, cho phối thị trường hoạt động theo định hướng của
Nhà nước, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định, công bằng và có hiệu quả. Nhà nước sử dụng hàng loạt biện
phát bao gồm các chính sách, các đòn bẩy kinh tế, các công cụ tài chính,…;3) Kiểm tra, kiểm toán: nhằm thiết
lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, sai
lầm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân.
* Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế:
Quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đạt các mục tiêu sau đây:
1) Góp phần nâng coa hiệu quả, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.
Kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu đối với mọi quốc gia. Đặc biệt, đây là vấn đề sống
còn đối với những nước đi sau, có xuất phát điểm thấp về kinh tế như Việt Nam. Chỉ có tăng trưởng nhanh hơn
và bền vững hơn thì chúng ta mới tránh được nguy cơ tụt hậu, giảm dần khoảng cách về e mức thu nhập so với
các nước phát triển hơn và sẽ sớm được xếp vào nhóm các nước có mức thu nhập trung bình trong khi vực. Hơn
nữa, cũng chỉ có tăng trưởng nhanh hơn và bền vững hơn so với các nước có những điều kiện tương đồng mới
thể hiện được tính ưu việt của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN so với mô hình kinh tế thị trường
truyền thống. Để có thể duy trì tăng trưởng bền vững ở mức cao, Nahf nước ta có vai trò không thể thay thế
trong việc bảo vệ môi trường.
2) Thực hiện công bằng xã hội:
Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, Nhà nước còn phải đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người chứ không phải chỉ một số người được
hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước. Đây là vấn đề cốt lõi của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, một tiêu chí quan trọng bậc nhất để phân định CNXH và CNTB. Trong quá trình phát triển
kinh tế, để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội cần coi trọng mấy vấn đề sau: 1) Đảm bao công bằng về cơ hội
làm việc, bình đẳng trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển, và được đối xử bình đẳng trong các hoạt động
sản xuất kinh doanh theo pháp luật. 2) Đảm bảo công bằng về nghĩa vụ và sự đóng góp cho Nhà nước và cho xã
hội theo pháp luật. 3) Đảm bảo công bằng về hưởng thụ các thành quả phát triển chung của đất nước thông qua
các chế độ phúc lợi công cộng, các dịch vụ công kết hợp với các chính sách xã hội dành ưu tiên cho các đối
tượng có công, đối tượng bị hụt hẫng trong xã hội.
3) Ổn định kinh tế vĩ mô:
Nền kinh tế thị trường tự nó luôn luôn có khuynh hướng dao động, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tích
cực hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Nhà nước cần chủ động sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô
để điều tiết và làm giảm mức độ nghiêm trọng của các dao động kinh tế. Vai trò quản lý – điều hành vĩ mô của
Nhà nước sẽ làm cho nền kinh tế phát triển ổn định hơn. Ổn định kinh tế vĩ mô sẽ là môi trường thuận lợi để
khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, và do đó là điều kiện cần thiết để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng kinh tế nhanh
và vững chắc. Để bình ổn nền kinh tế, Nhà nước trước hết cần đảm bảo các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản như
cân đối thu chi ngân sách, đảm bảo cho các khoản nợ của khu vực công cộng duy trì ở mức có thể quản lý được;
cân đối giữa tích lũy và đầu tư; và cân đối tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán. Ngoài ra, duy trì lãi suất
thực dương và tránh để đồng nội tệ bị đánh giá quá cao, đảm bảo an ninh lương thực và an ninh năng lượng
cũng là những nội dung quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô.
Tóm lại, ba mục tiêu trên cần được ý thức đúng đắn và nhất quán, nhằm tạo nên một hệ mục tiêu không xung
đột, mâu thuẫn với nhau mà đóng vai trò tương hỗ, bổ sung lẫn nhau trong định hướng phát triển kinh tế vì dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
20. Phân tích khái niệm và nhiệm vụ cơ bản của quản lý chính trị. -
Phân tích khái niệm Quản lý chính trị -
Quản lí chính trị là sự quản lý đời sống chính trị của giai cấp cầm quyền thông qua hệ thống chính trị
nhằm duy trì ổn định xã hội, bảo đảm xã hội có kỷ cương, nề nếp. Đó là sự điều chỉnh và kiểm soát của hệ
thống chính trị đối với toàn bộ hoạt động chính trị của các tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước và đông đảo
quần chúng nhân dân. Qlct liên quan đến sinh hoạt chính trị chung của con người, là biện pháp đảm bảo
cho mọi tổ chức chính trị, mọi công dân họa động một cách bình thường. -
Qlct là một phạm trù lịch sử, nó ra đời nhằm đáp ứng sự đòi hỏi của giai cấp thống trị nhằm duy trì sự
thống trị chính trị và có quan hệ chặt chẽ với sự thống trị chính trị. -
Nhiệm vụ của quản lý chính trị
+ Bảo vệ quy phạm chính trị hiện có, tăng cường sự ủng hộ của những quy phạm chính trị này.
+ Bảo vệ tính quyền uy và tính hợp pháp của tổ chức cơ quan chính trị hiện tại tăng cường sự ủng hộ của dân
chúng đối với các cơ quan đó.
+ Điều chỉnh các mâu thuẫn về lợi ích.
+ Bảo đảm trật tự xã hội.
+Bảo đảm các chính sách pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm túc, thuận lợi.
+ Xúc tiến sinh hoạt dân chủ trong nội bộ giai cấp cầm quyền
21. Phân tích đặc trưng quản lý lĩnh vực chính trị.
- Khái niệm quản lý chính trị -
Quản lí chính trị là sự quản lý đời sống chính trị của giai cấp cầm quyền thông qua hệ thống chính trị của
giai cấp câm quyền thông qua hệ thống chính trị nhằm duy trì ổn định xã hội, bảo đảm xã hội có kỷ cương,
nề nếp. Đó là sự điều chỉnh và kiểm soát của hệ thống chính trị đối với toàn bộ hoạt động chính trị của các
tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Qlct liên quan đến sinh hoạt chính
trị chung của con người, là biện pháp đảm bảo cho mọi tổ chức chính trị, mọi công dân họa động một cách bình thường. -
Qlct là một phạm trù lịch sử, nó ra đời nhằm đáp ứng sự đòi hỏi của giai cấp thống trị nhằm duy trì sự
thống trị chính trị và có quan hệ chặt chẽ với sự thống trị chính trị.
- Đặc trưng cơ bản quản lý chính trị
- Đó là sự quản lý của thiểu số đối vớ đa số, chủ thể quản lý chủ yếu là nhà nước khách thể quản lý là đông đảo quần chúng nhân dân.
- Chủ yếu là loại quản lý hành vi, đối tượng của quản lý hành vi có tính chính trị : cụ thể bao gồm tư tưởng
chính trị, thái độ chính trị, ngôn luận chính trị và hoạt động chính trị, môi trường chính trị .
- Là quá trình vận hành quyền lực từ trên xuống dưới.
- Là chức năng của nhà nước có tính quyền uy to lớn.
- Về phương thức tổ chức quản lý chính trị truyền thống năng về cầu toàn, còn quản lý chính trị hiện đại thì lại
áp dụng hợp tác chuyên môn hóa.
- Về phương diện lãnh đạo, quản lý chính trị truyền thống tiến hành theo kiểu độc đoán gia trưởng còn quản lý
chính trị hiện đại thì tiến hành theo chế độ phụ trách tập thể phong cách dân chủ
- Về phương diện người quản lý, quản lý chính trị truyền thống nhấn mạnh chức quyền của người quản lý còn
quản lý chính trị hiện đại thì nhấn mạnh tài năng nội tại của người quản lý
- Về biện pháp cụ thể quản lý chính trị truyền thống dựa vào biện pháp quản lý thủ công, còn quản lý chính trị
hiện đại lại áp dụng công nghệ chính trị, tinh vi,hiệu quả.
22. Phân tích khái niệm “Quá trình chính trị”và các giai đoạn của “quá trình chính trị”
*Khái niệm quá trình chính trị
Qúa trình chính trị là tổng thể hoạt động của tất cả các chủ thể liên quan đến lĩnh vực chính trị, gắn liền với việc
hình thành, thay đổi, cải cách hoạt động của thệ thống chính trị trong một không gian và thời gian nhất định.
Đó là sự thay đổi thực trạng của hệ thống chính trị, bao hàm các sự kiện chính trị rất đa dạng diễn ra theo thời
gian hoặc sự kế thừa liên tục của các sự kiện chính trị nối tiếp nhau
Qúa trình chính trị có mối liên hệ trực tiếp với quá khứ và hướng tới tương lai, mặc dù hiện tại vẫn đang diễn ra.
Qúa trình chính trị thúc đẩy sự thay đổi xã hội . trong quá trình hoạt động xh các cá nhâ, tổ chức tác động đến
hệ thống chính trị và các thành tố cấu thành của nó. Qúa trình chính trị còn được hiểu là sự thay đổi thường
xuyên, liên tục trạng thái hoạt động của hệ thống chính trị , diễn ra tổng thể hoạt động chính trị - xã hội của
caccs chủ thể chính trị, bảo vệ hoặc thay đổi hệ thống chính trị và các quan hệ xã hội.
a. Giai đoạn thiết lập hệ thống chính trị -
Những bươc mang tính chất lịch sử và logic của giai đoạn đầu của quá trình chính trị là sự thiết lập hệ thống
chính trị. Nó biểu lộ và biểu hiện thực tế ý chí của những người đã sáng lập ra hệ thống đó bằng chính khả
năng của mình. Hành vi tương tự như vậy của sự sáng tạo mang tính xã hội trong môi trường chính trị có thể
được thưucj hiện tương đối khác nhau: có thể bằng việc thiết lập các cơ quan chính quyền công khai, hay là
sự thích ứng của cơ cấu pháp lý chính trị cũ với những hoàn cảnh đã bị thay đổi một cách triệt để. Cách thức
thựuc hiện hành vi này của hoạt động xã hội hoàn toàn khác nhau -
Việc thiết lập hệ thống chính tị đó không pahir chỉ có một lần, đơn nhất với cái đã qua mà sau đó nó bị hòa
tan trong những cái không còn tồn tại nữa. nó được phực hồi dần và không ngừng đi lên cho đến khi cũng tự
thể hiện là sự đồng tình của các nhóm, tầng lớp, cá nhân với hệ thống chính tị dã được hình thành – với các
nguyên tắc, chế độ, tiêu chuẩn của nó. Quá tình thiết lập hệ thống chính trị có thể chủ động hoặc thụ động,
cởi mở hoặc ẩn giấu, tự nguyện hoặc ép buộc , có hoặc không có nhận thức, nhưng cần có sự công nhận.
b. Giai đoạn tái hiện lại các thành tố và dấu hiệu của hệ thống chính trị -
Trong giai đoạn này diễn ra sự tái hiện lại, lặp lại và củng cố thêm, thay đổi và khôi phục lại hình thái xã hội
của hệ thống chính trị, bản chất xh của nó. Những mối quan hệ với các chế độ chính trị, những tiêu chuẩn và
giá trị chính trị, dấu hiệu, biểu tượng và ngôn ngữ được khôi phục lại. Chủ thể của các mối quan hệ chính trị
với các vị trí, vai trò, quan điểm là các hành vi cũng được tái hiện lại -
Trong các hệ thống chính trị được thiết lập một cacbhs dân chủ bằng cách khôi phục lại các cơ quan đại
diện, thông qua việc lựa chọn một cách tự do, kín và trực tiếp theo định kì: bằng việc tái hiện lại các tổ chức
điều hành – mà việc bầu cử hoặc bổ nhiệm diễn ra trong quá trình luân phiên hay quá trình tuyển lựa. Các
chủ thể chính trị được hình thành nhờ việc xh hóa chính trị của mỗi thế hệ mới – những người tham gia vào đời sống xh. -
Tính kế thừa là một đặc điểm riêng biệt rõ ràng nhất trong giao đoạn tái hiện lại quá trình chính trị. Tuy
nhiên, ở đây việc sao chép một cách máy móc tất cả những gì đã được hình thânhf không phải là nội dung
của mối liên hệ mang tính kế thừa. Trong các hành vi khôi phục lại hệ thống chính trị luôn luôn xuất hiện
những thuộc tính mới mà trong thời kì đầu có lẽ chúng đã xuất hiện nhưng vẫn chưa được bộc lộ một cách rõ ràng.
c. Giai đoạn thông qua và thực hiện các quyết định của chính trị -
Trình tự của các giai đoạn này được gợi lên bằng những cái mà trong “ không gian” chính trị chúng được
phân bố trong các mức độ khác nhau. Tiếp nhận và thực hiện các quyết định quản lý chính trị hoàn toàn có
thể giải thích một cách cụ thể như mặt trong của vấn đề . Cái cốt lõi cơ cấu tái hiện lại hệ thống chính
trị.Toàn bộ những vấn đề sâu rộng, phức tạp về sự thông qua và thực hiện quyết định quản lý chính trị đa
phầ được nghiên cứu một cách độc lập trong khoa học xã hội và khoa học nghiên cứu pháp luật – chính
trị.Những vấn đề liên quan đến những khâu riêng biệt của việc thông qua và thực hiện quyết định quản lý
chính trị được thể hiện trong những phạm vi của một trong các giai đoạn tích lũy của quá trình chính trị vẫn
chưa được phân tích đầy đủ. -
Cần thấy rằng, chính giai đoạn thông qua và việc thực hiện quyết định quản lý chính trị đã chứng minh rằng,
quá trình chính trị không hề tách rời tất cả những cái đã và đang được quản lý, thông qua những cái đó
quyền lực chính trị đã không thể tách rời khỏi đời sống xã hội.
d. Giai đoạn kiểm soát hoạt động và hướng phát triển của hệ thống chính trị -
Giai đoạn giám sát tình trạng và hoạt động của hệ thống chính trị sẽ được thay thế bằng giai đoạn ngiện cứu
thông qua và thực hiện các quyết định chính trị. Chính giai đoạn này bổ sung và hoàn thiện toàn bộ các
chuỗi mắt xích, sự thống nhất hữu cơ của các giai đoạn đó và cả quá trình chính trị nữa. -
Việc kiểm soát chức năng của hệ thống chính trị được thực hiện một phần nhờ vào sự hỗ trợ các hình thức
khác nhau. Các hình thức này được tiến hành ở những giai đoạn khác của tiến trình chính trị. Nhưng cái xốt
lõi của từng giai đoạn chủ yếu là do các cơ quan chuyên về kiểm soát các hoạt động quyết định -
Giai đoạn kiểm soát chức năng của hệ thống chính trị, khép lại một chu kỳ của quá trình chính trị. Nhưng
đời sống chính trị của xh, sự tiến triển của hệ thốn chính trị chưa kết thức. Theo sau nó là một vòng quay
mới, rồi vòng quay thứ 3 bởi chính bản thân hệ thống chính trị vẫn đang tồn tại và phát triển.
23. Phân tích quan điểm của Đảng về văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa ở nước ta -
Khái niệm về văn hóa: Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy trong lịch sử, phục vụ cho sự tồn tại và phát triển, nhằm hướng tới chân, thiện,mỹ -
Phân tích quan điểm của Đảng
*Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
- Không có văn hóa các hoạt động xã hội không thể văn hành, bản thân xã hội không thể tồn tại
- Văn hóa với hệ giá trị chuẩn mực có thể thúc đảy và điều hành hoạt động của con người.
- Là mục tiêu, động lực của phát triển văn hóa giải phóng và nhân lên tiềm năng sáng tạo vô tận của con người
*Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đàm đà bản sắc dân tộc
- Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII đề ra chủ trương chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đàm đà bản sắc dân tộc
- 5 quan điểm và 10 nhiệm vụ cụ thể phát triển văn hóa.
* Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII là một nhân tố quyết định để nâng cao chất lượng cuộc
sống của nhân dân ta làm cho nền tảng tinh thần của chế độ ta ngày càng vững chắc, tiến bộ, phong phú góp
phần giữ vững độc lập, thống nhất, định hướng XHCN và thúc đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước.
24. Phân tích yêu cầu của quản lý Nhà nước đối với văn hóa ở nước ta hiện nay
* KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA:
- Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận trong quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống, xã hội.
- Nó là sự định hướng, tạo điều kiện và tổ chức điều hành của nhà nước để làm cho văn hóa phát triển theo
hướng vì sự phát triển bền vững của con người và xã hội.
- Quản lý nhà nước về văn hóa còn là sự quản lý nhà nước với toàn bộ hoạt động văn hóa của một quốc gia
bằng quyền lực nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật về thể chế chính sách để đảm bảo sự phát triển của văn hóa dân tộc
* YÊU CẦU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA: -
Nhà nước là người đại diện cho nhân dân bảo đảm các quyền có trong hiến pháp của công dân về văn hóa,
điều tiết sự hài hòa cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa của cá nhóm xã hội các yêu cầu phát triển và thỏa mãn